Em gặp hay không gặp tôi
Tôi vẫn ở nơi đó
Không buồn không vui
Em nhớ hay không nhớ tôi
Tình vẫn ở nơi đó
Không đến không đi
Em yêu hay không yêu tôi
Yêu vẫn ở nơi đó
Không thêm không bớt
Em theo hay không theo tôi
Tay tôi nằm trong tay em
Không rời không bỏ
Đến vào ngực tôi
Hoặc là
Để tôi ở trong tim em
Lặng lẽ yêu nhau
Tịch mịch mừng vui
Thương Ương Gia Tố quả hổ thẹn là một bậc tình tăng đời nào, thơ của chàng, dù là nhiệt huyết phóng khoáng hay bình tĩnh u tịch, đều ẩn chứa một thứ tình thâm không thể tháo gỡ. Từ "Năm đó, em dập đầu lạy dài sát đất trên đường núi, chẳng vì yết kiến, chỉ vì áp sát hơi ấm của anh", cho đến "Em theo hay không theo tôi, tay tôi nằm trong tay em, không rời không bỏ", không bài nào là không như thế. Khi tình cảm ập đến, việc làm cho nhiệt tình như lửa, quấn quýt tựa nước rất dễ dàng; nhưng việc làm cho nhạt như bóng mây, lặng như dòng sâu lại thực sự không hề dễ dàng."Gặp hay không gặp" thể hiện chính là một thứ tình thâm tĩnh lặng như vậy, y hệt như gió mát trăng thanh, mưa thấm lá chuối. Tình cảm như thế không có sự cồn cào khao khát, không có sự cảm thán tình sâu duyên cạn, cũng chẳng có sự dằn vặt cháy thịt cháy da, vạn tiễn xuyên tâm.
Rất nhiều người khi đọc bài thơ này, đều bị tình yêu mộc mạc, chân thật, nhiệt liệt và chấp nhất của nhà thơ làm cho cảm động. Thơ ca dư vị kéo dài, tựa như nghe một khúc thiên thai, ngay lập tức đã lay động tâm can.
Có người nói, bài thơ này chỉ có hai đoạn đầu là bút tích thật của Thương Ương Gia Tố, còn những câu phía sau là do người đời sau truyền tụng dần dần bổ sung chỉnh lý, tác giả đã không thể khảo cứu được nữa. Lại có người nói, bài thơ này thực ra là do một người phụ nữ học Phật tên là Trát Tây Lạp Mẫu Đa Đa sáng tác, trong quá trình truyền tay nhau không biết thế nào lại bị nhầm lẫn thành của Thương Ương Gia Tố. Nhưng rốt cuộc có phải do Thương Ương Gia Tố sáng tác hay không thì đã không còn quan trọng, quan trọng là bài thơ này linh động tuyệt xướng, ngòi bút tuyệt vời, dăm ba nét chấm phá ấy chẳng khác nào bức tranh thủy mặc nhạt nhòa, đã phác họa nên một bức tranh tình ái cõi trần vô cùng diễm lệ.
Trong bài thơ này, không có lấy một từ ngữ hoa mỹ, chỉ có tình cảm mộc mạc không chút tô vẽ, chỉ có tình yêu dẫu thế sự đổi thay thế nào thì tình cảm vẫn trước sau như một ở nơi đó, tựa như vì tinh tú trên bầu trời, dẫu trải qua bao tang thương vẫn cổ kim không đổi. Giữa những dòng chữ, chúng ta không nhìn thấy sự luyến ái bịn rịn, thề non hẹn biển, mà lại có thể đọc được một thứ tình thâm kiên định không dời như đá bàn thạch. Chỉ với mấy dòng chữ đơn giản như thế, mấy câu nói rõ ràng như thế, không có âm điệu khúc chiết u hoài, thăng trầm chập chùng, nhưng lại cấu thành một thứ tâm tư tình cảm quanh co trăm bận, dâng trào như sóng biển. Tình cảm ấy tựa như nham thạch đang cuộn trào dưới đáy tầng nham thạch, sức mạnh của nó đủ sức phá vỡ đá núi, mà bề mặt lại vô cùng tĩnh lặng.
"Em gặp hay không gặp tôi, tôi vẫn ở nơi đó, không buồn không vui;" "Em nhớ hay không nhớ tôi, tình vẫn ở nơi đó, không đến không đi;" "Em yêu hay không yêu tôi, yêu vẫn ở nơi đó, không thêm không bớt", toàn bài thơ vận dụng thủ pháp tu từ điệp ngứ, lặp đi lặp lại tụng niệm mối tình thuần khiết dẫu thế sự đổi thay tình này vẫn không đổi trong lòng nhà thơ, nhịp điệu mạnh mẽ, tính mạch lạc tốt, giai điệu mỹ miều, cực kỳ giàu sức lay động nghệ thuật.
Từ xưa đến nay, tình yêu vẫn luôn là chủ đề vĩnh hằng khiến người ta ngâm vịnh, quá nhiều thơ ca câu hay đã chứng minh sự tuyệt diệu của tình yêu, đồng thời cũng chứng minh tình yêu là một thứ tổn thương khiến người ta đứt từng khúc ruột. Nhắm mắt lại, thầm ngâm bài thơ này, liền trượt vào cảnh giới bi thương mang tính thẩm mỹ tuyệt đỉnh ấy.
Đó là một vùng tuyết địa mông lung trống trải. Không thấy bóng người, không nghe thấy tiếng động, không ngửi thấy hương hoa, duy chỉ có trận tuyết lớn bàng bạc nhấn chìm trái tim cô độc của nhà thơ. Thương Ương Gia Tố đa tình khó cưỡng lại nỗi tương tư, đêm trăng đạp tuyết vội vã đi gặp người tình, là duyên hay là kiếp? Khi trời hửng sáng, người ta đọc được dấu chân ban đêm rõ mồn một của một người đàn ông để lại trong vùng tuyết nguyên — dấu chân ấy cuống quýt mạnh mẽ uốn lượn nối dài vào tận sâu trong tiểu hẻm của cung Potala và đường phố Lhasa — thế là nghi ngờ, trầm tư, tiếp đó là kinh ngạc, Thương Ương Gia Tố vừa thản nhiên ca hát nhân danh tình ái, đồng thời cũng viết nên sự phản bội đối với tôn giáo.
Nghĩ lại Thương Ương Gia Tố với tư cách là một vị Phật sống sự bất đắc dĩ và thân bất do kỷ, dù chàng không có cách nào để thay đổi những giới luật thanh quy ấy, nhưng chàng vẫn lựa chọn đi ngược kinh điển, lựa chọn vứt bỏ quyền lực và thay đổi vận mệnh, điều này cần bao nhiêu dũng khí? Nếu không phải yêu đến mức chân thành vô ngã, thì còn là sức mạnh nào khiến chàng từ bỏ quyền lực? Câu trả lời chỉ có một: Bởi vì tình yêu.
Trong dòng sông thời gian mênh mông, thời gian có thể vùi lấp tất cả, thế nhưng có bao nhiêu thứ có thể khiến người ta mãi mãi ghi nhớ? Thế nhưng, Thương Ương Gia Tố đã dùng tình yêu chân thành tuyệt đối cùng thơ ca của mình để làm được điều đó, những bài thơ tình được lưu truyền trên đời của Thương Ương Gia Tố càng khiến người ta mãi mãi khắc ghi chàng, dẫu năm tháng tang thương đã trải qua mấy thế kỷ.
Ngước nhìn lên, ta tựa như đang dẫm lên đóa sen xuyên không đến vùng đất hoang vu ba trăm năm trước. Bông tuyết trên đỉnh đầu vạch ra từng đạo vết thương, rơi lên người bọn họ, cuối cùng thấm nhuần thành nước, hoàn toàn không tìm thấy một chút dấu vết nào. Tuyết lớn bay phấp phới, trong khoảnh khắc liền che khuất dấu chân lúc đến, không tài nào tìm thấy con đường cũ lúc về.
Chàng ôm lấy nàng, dọc theo vùng tuyết địa không chút do dự bước tiếp, mang theo chút ít bơ vơ và bất lực. Khi tình yêu không còn đường lui, sự cô độc liền kéo màn mở đầu, nhưng chàng không muốn thỏa hiệp với thế gian, dứt khoát không kiêng kỵ nữa, không lùi bước nữa, nhân danh yêu nhau mà dũng mãnh tiến lên.
Đọc thứ tình cảm và thơ ca chân thành tinh khôi đến thế này, dâng trào trong lòng không chỉ đơn thuần là sự cảm động và cảm thán, mà còn có một nỗi niềm khó tả. Thơ của Thương Ương Gia Tố tựa như một khúc âm thanh thiên giới chấn động tâm hồn, lay động tâm can, loại tình cảm thuần túy yêu đến mức không vẩn đục lấy một hạt bụi, lâu ngày gõ cửa trái tim tôi.
Đây chính là tình yêu của Thương Ương Gia Tố, chính là lời hứa mà chàng đã hứa với Ma Cát A Mễ. Bi thương mà thần thánh, thuần khiết mà thề nguyền chân chính. Thế nhưng, trong xã hội hiện thực mang tính thực dụng vô cùng tận ngày nay, có bao nhiêu người tình yêu có thể đạt đến cảnh giới vô ngã chân thành thuần túy đến mức này? Lại có bao nhiêu người tình yêu dẫu thế sự đổi thay thế nào thì tình này vẫn không đổi thay? Thế nhưng Thương Ương Gia Tố đã làm được, chàng yêu một cách chân thành thuần khiết, không màng một chút danh lợi, vì yêu mà đi ngược kinh điển, quả quyết vứt bỏ địa vị và quyền lực.
Bông tuyết, từng phiến nở rộ, bay múa, lượn lờ, lụi tàn, toàn bộ thế giới quay về với sự thuần khiết thời viễn cổ. Bọn họ tay trong tay, tiếp tục đi tới, phía sau, là một vùng đất hoang vu trắng xóa tuyết phủ.
Bọn họ hướng về phía tận cùng thuở hồng hoang mà đi tới. Đó là tình yêu chân thật lao đầu vào lửa, phấn thân tan xương, không màng đại giới, vượt qua cả không gian và thời gian.
Tình cảm như thế, tựa như cỏ con quyến luyến mặt đất, mây trời quyến luyến bầu trời, các vì sao ngưỡng mộ mặt trăng. Tôi sẽ không làm phiền cuộc sống của em, cũng sẽ không làm phiền sự bình yên của em, tôi chỉ cứ thế âm thầm lặng lẽ thích em, không rời không bỏ! Yêu em, đã trở thành một thứ thói quen. Tình yêu như thế từ đầu đến cuối chỉ là một chữ đợi, hơn nữa lại là một chữ đợi đã dự báo trước mọi thứ từ lâu. Tôi biết rõ tình yêu như thế sẽ không có kết cục, cũng biết rõ sự đợi chờ như thế đã chú định là một sự đợi chờ vô vọng, là sự đợi chờ kiếp này kiếp sau cũng chẳng thể nắm tay nhau, tôi vẫn sẽ không thay đổi sơ tâm ban đầu.
Điều này khiến chúng ta nhớ đến tình yêu của người mẹ dành cho con cái, nhớ đến tình yêu của Bồ Tát dành cho chúng sinh, đây là một loại tình yêu vô điều kiện, đại ái vô ngôn.
Sự đợi chờ như thế, tựa như một sự đợi chờ từ trong xương tủy, là một sự đợi chờ có từ bẩm sinh, sự đợi chờ này sẽ không vì em có ngoảnh đầu lại hay không, có luyến tiếc hay không, mà tăng thêm nửa phần, hoặc giảm bớt nửa phần. Sự đợi chờ này hoàn toàn xuất phát từ một sự tự nhiên, giống như khe suối uốn lượn quanh khe rãnh chậm rãi chảy trôi, giống như tiếng tiêu xuyên qua rừng trúc vờn quanh tựa làn khói. Đây là một sự đợi chờ bắt nguồn từ chính sinh mệnh, giống như chờ đợi mặt trời mọc trăng lặn mỗi ngày đơn giản nhường ấy, giống như chờ đợi hoa xuân nở rộ, tiếng ve mùa hạ, lá rụng mùa thu, bông tuyết mùa đông tự nhiên nhường ấy.
Lúc đợi chờ, có thể đọc sách viết chữ, có thể ngâm thơ vẽ tranh, có thể thưởng hoa gảy đàn; có thể thưởng trà thơm, nghe tiếng côn trùng, ngắm bông liễu bay lả tả, ngửi tiếng tuyết rơi không tiếng động, chỉ là chưa từng quên mất em. Em biết hay không biết đều không sao cả, em hiểu hay không hiểu cũng không quan trọng; em nói thích cũng được mà không thích cũng tốt, tôi hoàn toàn không so đo. Tình yêu như thế dẫu không có thề non hẹn biển nhưng lại có tâm nguyện ôm cột vĩnh cửu; tình yêu như thế sẽ không vì sự nhiễu nhương phân tranh bên ngoài mà dời bước đổi dời, bởi vì bọn chúng từ đầu đến cuối chỉ ở một góc nhỏ tĩnh lặng trong đáy lòng. Đúng như lời dạy của đại sư Hoằng Nhất: Yêu là một thứ từ bi, bốn mùa thay đổi, thứ lướt qua vội vã chỉ là thời gian. Mà tình cảm của tôi dành cho em mãi mãi định hình trong sự thấu hiểu lúc ban đầu. Không ham muốn, không cầu xin, không buồn bã, không đau thương, cách ngàn ngọn núi, vạn dòng khe, tôi cũng không cho là xa; gần ngay trước mắt, kẽ tóc chân tơ, tôi cũng không cho là gần. Yêu em, chờ đợi em là một tâm trạng tốt đẹp, sẽ không vì trăng khuyết mà cô đơn, sẽ không vì trăng tròn mà tịch mịch. Bóng lưng thanh đạm của em, sẽ luôn luôn đồng hành cùng tôi, trong mỗi độ xuân hạ thu đông, âm thầm tưởng niệm, ngóng trông. Dù cho chúng sinh mình yêu có yêu mình hay không cũng không quan trọng, chỉ cần tôi yêu em, tình yêu liền tồn tại trong tim tôi. Đây chính là điều mà nhà Phật gọi là khổ cũng chẳng khổ. Chỉ cần có tình ở đó, gặp hay không gặp, đều là như nhau!
Cao nguyên Tây Tạng thế kỷ mười bảy, bao trùm bởi một tầng mây đen bất an dao động, chính trị, đấu tranh tôn giáo phong vân biến ảo. Vì chính trị, vì thống nhất, vì tranh quyền, vì mưu lợi, các phe lар các ngả lần lượt nhắm vào vùng đất cổ xưa mà lại thần bí này. Lúc bấy giờ, trong các giáo phái Phật giáo Tây Tạng thì phái Karma có thế lực hùng mạnh nhất, đồng thời nhận được sự ủng hộ của kẻ thống trị Tây Tạng lúc bấy giờ là Tsangpa Desi. Đối với phái Gelug tức Hoàng giáo đang ngày một quật khởi, bọn họ ôm lòng đố kỵ, liên tục hãm hại. Để đối kháng lại sự bức hại của phái Karma, Dalai Lama đời thứ V Ngô Vượng Lạng Tang Gia Tố cùng sư phụ của mình là Panchen Lama đời thứ IV Lạng Tang Khúc Kết Kiên Tán vào năm Sùng Triệu Trinh thứ mười bốn nhà Minh (năm 1641) đã phái đặc sứ đến Thanh Hải, mời Gushri Khan của bộ tộc Khoshut Mông Cổ ở Thanh Hải dẫn binh vào Tây Tạng. Lúc bấy giờ bộ tộc Khoshut thế lực hùng mạnh, năm sau, Gushri Khan theo lời mời dẫn binh vào Tây Tạng, chinh phục Tạng Trước và Tạng Hậu, tiêu giết Tsangpa Desi, tôn Dalai Lama, Panchen Lama làm lãnh tụ giáo phái Gelug, để cho bọn họ lần lượt chủ trì Phật sự Tạng Trước và Tạng Hậu, còn Gushri Khan thì chịu trách nhiệm phòng vụ Tây Tạng, lần đầu tiên sáng lập chế độ Thê Ba (quan hành chính) ở Tây Tạng. Từ đó, bộ tộc Khoshut cùng Dalai, Panchen đã thiết lập chế độ thống trị liên hiệp ở Tây Tạng, Dalai và Panchen cũng lần lượt tiếp nhận sự sách phong của nhà Thanh.
Sau khi Gushri Khan qua đời, Dalai Lama đời thứ V đã tăng cường kiểm soát chính vụ Tây Tạng, ngài không những dần được chấp nhận làm lãnh tụ tôn giáo toàn cõi Tây Tạng, mà còn trở thành lãnh tụ thế tục toàn cõi Tây Tạng. Năm Khang Hi thứ hai mươi mốt (năm 1682), Dalai Lama đời thứ V viên tịch. Người đảm nhiệm chức Thê Ba lúc bấy giờ là Tang Kết Gia Tố - đệ tử tâm phúc được Dalai Lama đời thứ V dồn hết tâm huyết tinh tế bồi dưỡng (cũng có truyền thuyết cho rằng Tang Kết Gia Tố chính là con tư sinh của ngài). Tang Kết Gia Tố tuân thủ nghiêm ngặt di nguyện của Dalai Lama đời thứ V, vì không để đại quyền rơi vào tay kẻ khác, ngài giấu giếm không phát tang, ngụy ngôn rằng Dalai Lama phải nhập định thiền thất, bế quan tu hành, không gặp người ngoài, mọi việc đều do ngài thông truyền chuyển đạt, bắt đầu mượn uy quyền của Dalai để chưởng quản sự vụ phái Gelug, đồng thời bài xích thế lực con cháu Gushri Khan tại Tây Tạng, đạt được mục đích độc lãm đại quyền chính giáo Tây Tạng.
Để đối kháng với thế lực Mông Cổ, Tang Kết Gia Tố vô cùng cung thuận với triều đình nhà Thanh, đồng thời lấy danh nghĩa Dalai Lama đời thứ V thỉnh cầu triều đình nhà Thanh sắc phong mình làm "Tạng Vương"; đồng thời, con cháu Gushri Khan của bộ tộc Khoshut cùng những kẻ ủng hộ họ lại không lúc nào không suy nghĩ cách lật đổ sự thống trị của Tang Kết Gia Tố ở Tây Tạng, nắm giữ lại quyền thế. Bọn họ coi ngài là cái gai trong mắt, cái đinh trong thịt, rục rịch động thủ.
Giữa thời khắc sinh tử tồn vong, một nhân vật quan trọng đã bước vào tầm ngắm của Tang Kết Gia Tố, ngài chính là Galdan. Galdan là con trai thứ sáu của Batur Khong Tayiji - thủ lĩnh bộ tộc Dzungaria ở Mông Cổ Mạc Tây, từng nghiên cứu Phật pháp dưới tọa lạc Dalai Lama đời thứ V. Năm Khang Hi thứ chín (1670), anh trai ngài là Sengge bị giết trong cuộc nội chiến quý tộc Dzungaria; năm sau, Galdan từ Tây Tạng trở về Mông Cổ đánh bại kẻ địch chính trị, đoạt lấy quyền thống trị bộ tộc Dzungaria.
Galdan là một kẻ có dã tâm, một lòng muốn thôn tính Nội Ngoại Mông Cổ, tự lập làm vương và lật đổ vương triều nhà Thanh. Năm Khang Hi thứ mười lăm, Galdan đánh bại và bắt sống người thúc phụ của mình là Chokhur Ubashi, năm sau lại đánh bại thủ lĩnh bộ tộc Khoshut là Ochirtu Khan; tháng hai năm thứ mười bảy, lại hướng về phía đông đến Thanh Hải, đi mười một ngày sau, sợ binh sĩ nhà Thanh đóng giữ ngoài cửa ải Cam Túc cắt đứt đường rút lui của mình, bèn giữa chừng kéo quân về; mùa hè năm thứ mười tám, lại liên tiếp xuất binh hai lần, chiếm lĩnh Cáp Mật, Turpan, do đó Dalai Lama đời thứ V đã sắc phong ngài là "Boshoktu Khan"; năm thứ hai mươi bảy, xuất binh tiến đánh bộ tộc Tushet Khan của Khalkha Mông Cổ, tiếp đó tiến quân vào khu vực Urad Nội Mông Cổ, uy hiếp Bắc Kinh.
Để củng cố chính quyền của mình, Tang Kết Gia Tố buộc phải liên minh với Galdan vốn cũng là đệ tử của Dalai Lama đời thứ V. Trong một loạt cuộc binh biến xâm lược của Galdan, Tang Kết Gia Tố đã nhiều lần mượn danh nghĩa Dalai Lama đời thứ V phái lạt ma ra, ngoài mặt là hòa giải phân tranh Nội Ngoại Mông Cổ, thực chất là kiềm chế quyền thế của con cháu Gushri Khan ở khu vực Tạng. Đáng tiếc vui chẳng tày gang, Galdan thua trận như núi lở, năm 1696, Khang Hi hoàng đế ngự giá thân chinh, đại phá Dzungaria tại địa phương Jao Modo Mông Cổ Mạc Bắc (núi Khentei Nam, Nội Mông Cổ ngày nay), quân chủ lực của Galdan bị quân Thanh đánh tan tác, bộ chúng phản bội, và qua đời vào tháng ba năm sau tại Kobdo. Khang Hi hoàng đế hay tin từ lời khai của tù binh người Tạng rằng Dalai Lama đời thứ V đã qua đời từ nhiều năm trước, Thê Ba Tang Kết Gia Tố vẫn luôn che giấu không báo cáo sự thật. Thình lình nghe được tin này, Khang Hi hoàng đế không khỏi lôi đình giận dữ, vốn định triệu kiến Panchen Lama đời thứ V vào kinh để tìm hiểu sự thật, lại bị Tang Kết Gia Tố dùng đủ mọi lý do như Panchen chưa mọc đậu mùa và sợ bị quân phản loạn Dzungaria bắt giữ giữa đường, uyển chuyển từ chối lời mời của Khang Hi đế. Khang Hi đế bị từ chối lửa giận khó tiêu, lập tức hạ chiếu mắng nhiếc nghiêm khắc đối với Tang Kết Gia Tố, và có ý định xuất chinh. Tang Kết Gia Tố tự biết binh lực khó lòng chống lại, đành dùng lời lẽ nhún nhường tự trách, biện bạch rằng việc giấu giếm không phát tang là tuân theo di ngôn lúc lâm chung của Dalai Lama đời thứ V, nguyên nhân là lo lắng chính trị, xã hội Tây Tạng xảy ra biến loạn, đồng thời giải thích linh đồng chuyển thế đã tìm thấy, lúc này đang ở Tsona nghiên cứu Phật pháp.
Dưới sự xâm kích của áp lực chính trị chưa từng có, năm 1697, năm Hỏa Ngưu chu kỳ thứ mười hai theo lịch Tạng, Tạng Vương Thê Ba Tang Kết Gia Tố tuyên bố linh đồng chuyển thế của Dalai Lama đời thứ V đã được tìm thấy, hơn nữa đã là một thiếu niên tuấn tú mười lăm tuổi. Lúc này, linh đồng Thương Ương Gia Tố cũng khởi hành từ Tsona, đi về Lhasa, dọc đường tạm trú ở Lhokha.
Lhokha, tiếng Tạng có nghĩa là "chóp mũi màu trắng", nằm ở địa khu Sơn Nam Tây Tạng. Ở Lhokha có một hồ nước, tên là hồ thánh Yamdrok Yumtso. Hồ thánh Yamdrok Yumtso gọi tắt là hồ Yamdrok, tiếng Tạng có nghĩa là "hồ ngọc bích", cách Lhasa chưa đầy một trăm cây số, cùng với hồ Namtso, hồ Manasarovar được mệnh danh là ba hồ thánh lớn của Tây Tạng, là hồ nội lục lớn nhất ở sườn phía bắc dãy Himalaya, vẻ đẹp của cảnh hồ non nước, đứng đầu Nam Tạng. Trong truyền thuyết, Yamdrok Yumtso do một vị tiên nữ hóa thành, người dân tôn sùng nàng là Yamdrok Yumtso Dakini, tức chủ nhân hồ lớn Yamdrok là Dorje Gekyi Tso tức chúa tể chướng ngại Kim Cương, là nữ thần hộ mệnh của vùng Tạng. Cho nên, Yamdrok Yumtso vừa là hóa thân của long nữ, vừa là nơi trú ngụ của nữ hộ pháp thần, kiêm dung nhiều công năng và thần lực.
Bên cạnh Yamdrok Yumtso, là một ngọn núi tuyết hùng vĩ, tên là Nojin Kangsang, tiếng Tạng có nghĩa là "núi tuyết cao quý nơi vị thần Yaksha sinh sống", truyền thuyết kể rằng đây là nơi ở của một trong bốn đại sơn thần Phật giáo Tây Tạng — sơn thần phương Tây Norzang Sangpo. Đỉnh núi này thể núi hùng vĩ, vách đá chênh vênh, phần đỉnh nhọn hoắt đột ngột dựng đứng, hình dáng như mỏ đại bàng, là đỉnh chính của dãy núi Lhagang, đồng thời cũng là một trong bốn ngọn núi tuyết lớn ở miền trung Tây Tạng.
Thương Ương Gia Tố đứng sững bên hồ thánh xanh ngắt, ngước nhìn ngọn núi tuyết lớn Nojin Kangsang, lặng thinh không nói. Trời dần dần tối đi, trong màn đêm, ngọn núi tuyết lớn hùng vĩ và hồ thánh ánh chiếu lẫn nhau, mang một vẻ đẹp cô độc thánh thiện.
Thương Ương Gia Tố lặng lẽ nhìn chằm chằm mặt nước, chàng không biết, tại sao mình lại đến nơi này, sau này còn phải đi về đâu. Chàng nhẹ nhàng ngẩng đầu lên, chàng biết rằng, trên người mình đang gánh vác một nhiệm vụ gian khổ khiến chàng khó lòng gánh nổi, bản thân nhất định phải hoàn thành nó thì mới có thể trở về quê hương nhìn thấy Ma Cát A Mễ mà chàng thầm thương trộm nhớ. Còn về việc tại sao bọn họ lại chọn mình, nhiệm vụ phải hoàn thành lại là gì, thì lại không có ai đến nói cho chàng biết.
Chàng nhớ đến A Bpa ở tận Tawang, nhớ đến A Mẹ ở bên cạnh A Bpa. Bọn họ bây giờ có phải vẫn đang trải qua cuộc sống chăn cừu vô ưu vô lo hay không? Bọn họ có phải cũng giống như mình tha thiết nhớ nhung đối phương hay không? Thương Ương Gia Tố để nước mắt làm mờ tầm nhìn, chàng nhẹ nhàng quay đầu lại, chậm rãi bước về phía Lạt ma Losang đang đứng sau tảng đá vẫn luôn chăm sóc sinh hoạt hằng ngày của chàng.
"Phật gia!" Lạt ma Losang chắp hai tay, cung kính vái chào ngài. "Trời lạnh rồi, chúng ta nên quay về thôi."
"Ta còn muốn ở lại đây một lát." Chàng khẽ xua tay với lạt ma Losang, "Ta đã đánh rơi nỗi sầu muộn của mình ở Tawang rồi, bây giờ, ta muốn nhặt chúng gom lại lần nữa, mang thẳng đến cung Potala ở Lhasa."
"Cái gì?" Lạt ma Losang không dám tin nhìn thẳng vào đôi mắt tuấn tú của ngài. "Sầu muộn? Phật gia, ngài nên mang về cung Potala là một tâm hồn vui vẻ, một tâm hồn mưu cầu phúc lợi cho người Tạng chứ!"
"Nhưng ta nhớ A Bpa của ta, còn có A Mẹ nữa. Không biết năm nay trâu cừu bọn họ chăn thả có nhiều hơn mấy năm trước không?" Nước mắt Thương Ương Gia Tố trượt qua chiếc mũi cao vút rơi xuống mặt nước trong vắt, "Ta nhớ lúc ta rời nhà được đưa đến Tsona, có một con cừu non giật mình thoát khỏi vòng tay của cừu mẹ, cứ bám theo chiếc xe ngựa chở ta rời đi đuổi theo mấy dặm đường, không biết nó bây giờ còn nhớ bãi cỏ xanh mướt trước cửa nhà năm xưa hay không?"
"Phật gia!" Lạt ma Losang ho nhẹ một tiếng, nhìn thẳng vào đôi mắt Thương Ương Gia Tố, không giấu vẻ đau đớn nói, "Có lẽ đáng lẽ ra tôi nên nói tin này cho ngài biết từ sớm, nhưng Thê Ba lo lắng sẽ ảnh hưởng đến việc ngài nghiên cứu Phật pháp ở Tsona, cho nên..."
"Ngài muốn kể cho tôi nghe câu chuyện về con cừu non đó sao?" Thương Ương Gia Tố nghịch ngợm ngón tay, "Tôi nghĩ bây giờ nó chắc đã là bố của rất nhiều con cừu non nhỏ hơn rồi. Giống như cha của tôi, nó nhất định cũng rất yêu thương con cái của mình."
"Phật gia, tôi cảm thấy vô cùng đau buồn vì tin dữ sắp sửa mang đến cho ngài, nhưng nhìn thấy ngài đau lòng buồn bã như thế, tôi vẫn không kìm nổ muốn nói cho ngài biết sự thật đó." Gò má lạt ma Losang co giật, "Tám năm trước, ở Ugyenling ở Nam Tạng đã xảy ra một chuyện lớn, A Bpa Trát Tây Đan Tăng của ngài đã qua đời rồi."
Vẻ kinh ngạc và bi thương chỉ xẹt qua trong tích tắc trên khuôn mặt Thương Ương Gia Tố, thực ra ngài sớm đã cảm ứng được sự thật bất hạnh này rồi. Đó là khi ngài bảy tuổi, không vì cớ gì bỗng nhiên đổ bệnh một trận lớn, không phân biệt ngày, cũng không biết đêm là lúc nào, ngay lúc thoi thóp sắp chết, lại nằm mơ thấy A Bpa Trát Tây Đan Tăng đang cầu nguyện trước tôn tượng Liên Hoa Sinh, thà dùng sinh mạng của chính mình để đổi lấy sự bình an của con trai, không ngờ giấc mơ ấy lại ứng nghiệm trong hiện thực.
Đúng vậy, ngài sớm nên biết rồi, A Bpa vì cứu ngài mà dâng hiến sinh mạng quý giá, ngài bắt đầu hận sự vô dụng và hèn nhát của bản thân, nếu như ngài không giáng sinh trong gia đình Trát Tây Đan Tăng, thì A Bpa của ngài đã không chết, thế nhưng tất cả sự trách cứ này thì có ích lợi gì? A Bpa đi rồi, trong nhà chỉ còn lại một mình A Mẹ cô độc không nơi nương tựa, người vừa mất con lại mất chồng ấy phải kiên cường sống tiếp thế nào đây?
Chàng không khóc, chỉ nâng tay áo nhẹ nhàng lau đi giọt nước mắt đã nhòe từ lúc nào, khẽ kéo tay áo lạt ma, phóng tầm mắt nhìn về phía ngọn núi tuyết sau hồ thánh, cầu nguyện cho A Mẹ của ngài, cầu nguyện bà có thể hạnh phúc vui vẻ giống như tiên nữ bên cạnh Cát Tường Thiên, cầu nguyện âm thanh phạm âm êm tai của trời cao sẽ đồng hành cùng bà suốt đời, thay bà xua đi muộn phiền và sầu lo vô tận.
Trong tư liệu lịch sử có hạn, ghi chép về Trát Tây Đan Tăng ít ỏi đến đáng thương. Từ tư liệu văn chữ có thể tra cứu hiện nay, chúng ta chỉ biết ông là một tăng nhân phái Nyingma nghèo túng mà lại thanh cao. Nhìn lại cuộc đời ông, lúc nào cũng đang đấu tranh không ngừng nghỉ với sự nghèo khó và hèn mọn. Tuy nhiên, trong cuộc đời tẻ nhạt vô vị của ông, cũng từng có một lần vinh quang vô thượng, đó chính là lạt ma đến từ Lhasa nói với ông rằng, đứa con của ông chính là linh đồng chuyển thế của Dalai Lama đời thứ V, là vị thần tôn quý nhất trên đời. Sau vinh quang này, đứa con trai yêu dấu Thương Ương Gia Tố bị đại lạt ma do Thê Ba Tang Kết Gia Tố phái đến bí mật mang đi, bầu bạn với ông đi hết chặng đường đời ngắn ngủi chỉ còn lại sự tiêu điều vô tận cùng nỗi nhớ nhung con trai vĩnh viễn.
Trát Tây Đan Tăng chết trong sự cô độc và già nua, lúc lâm chung, có hai tín đồ phái Nyingma vì mộ danh mà đến thăm hỏi linh đồng nhỏ Thương Ương Gia Tố đã đi xa đến Tsona từ lâu, bèn ở lại làm qua loa tang lễ cho ông. Vị tăng nhân dâng hiến cả đời cho tôn giáo này, cứ thế sơ sài kết thúc cuộc đời lưu lạc và cô khổ của mình. Sự tiếc nuối duy nhất của ông, chính là không được nhìn thấy Thương Ương Gia Tố thêm một cái nữa. Tương truyền rằng, trước lúc lâm chung, trong miệng ông lầm rầm niệm vẫn là tên của Thương Ương Gia Tố.
Ở Tây Tạng, đã từng có quá nhiều tình cảm bị che giấu như thế này, vì tôn giáo và tín ngưỡng, bọn họ âm thầm dâng hiến tiền bạc, tín ngưỡng của mình, thậm chí cả người thân và sinh mạng. Bọn họ rất hèn mọn, thế nhưng chính vì sự hèn mọn của bọn họ, sự cống hiến âm thầm của bọn họ, mới khiến cái tên vĩ đại như Thương Ương Gia Tố xé rách bầu trời lịch sử, để lại tuyệt xướng chưa từng có.
Trát Tây Đan Tăng, chúng ta nên vĩnh viễn khắc ghi cái tên này.
Đối diện với hồ thánh Yamdrok Yumtso và núi thánh Nojin Kangsang, Thương Ương Gia Tố không nói một lời nào. Chàng quỳ xuống hướng về phía quê hương, quỳ lạy sát đất quanh hồ thánh, mặc cho nước mắt chảy trong tim, tang chế cho A Bpa đã khuất bóng một cách bi thương, nhưng lại quật cường không để bất kỳ tiếng khóc đau đớn nào làm ô uế sự tưởng niệm của chàng dành cho A Bpa.
Cái chết, có lẽ sẽ tiếp tục tồn tại theo một phương thức khác. Người Tạng tin vào sự luân hồi, vậy thì, sự luân hồi của kiếp sau, bóng dáng của A Bpa sẽ lại xuất hiện ở đâu? Là dưới chân núi Tawang, trong ngôi chùa ở Tsona, hay là trước quảng trường thần thánh của cung Potala?
Bên cạnh hồ nước cô độc, dưới ngọn núi tuyết tịch mịch, một thiếu niên đau đớn xé lòng dưới ánh trăng, bi thương cầu nguyện, chàng hy vọng linh hồn của A Bpa có thể nhận được sự an ninh và yên bình vĩnh hằng trên thiên quốc.