Từng lo đa tình tổn phạm hạnh, vào núi lại sợ phụ giai nhân.
Thế gian nào được vẹn đôi đường, không phụ Như Lai không phụ nàng?
Cách con sông năm tháng, vẫn luôn đứng ở cõi hồng trần kiếp này, ngắm nhìn người con trai với phong thái ngời ngời, tình sâu nghĩa nặng ở bờ bên kia - Thương Ương Gia Tố, trong lòng tôi trào dâng từng đợt cảm hoài khó tả.
Một câu "Thế gian nào được vẹn đôi đường", đem đủ loại cay đắng được và mất trong nhân thế, đem tình và yêu chẳng thể nắm chặt giữa chốn trần gian hỏi vặn đất trời, hỏi vặn chúng sinh. Chỉ tiếc rằng, dẫu hỏi nát tâm can suốt một đời, hỏi qua ba trăm năm, tất cả cũng chỉ là những khúc ca tuyệt xót xa khiến người đời nuối tiếc khôn nguôi mà chẳng thể đáp lời.
Khoảnh khắc này, bỗng nhiên có giọt lệ đục rơi xuống.
Hãy tha thứ cho tôi vì quá ư đa sầu đa cảm, không kìm được mà ngồi ngay ngắn trước máy tính gõ xuống từng chữ một cho khúc ca lay động lòng người ấy. Có lẽ, trong kiếp trước hay kiếp này, cái chữ "tình" ấy sớm đã vương vấn đầu mày, xua đi không hết, mặc cho ngươi dọc đường gieo trồng khổ bồ đề. Chỉ là, ngoài niệm này ra, dăm ba câu chữ, chúng ta đành mỗi người một ngả, lưu lạc chốn hồng trần muôn trùng.
Hoàng hôn lấp lánh, người cô độc, trái tim đơn côi, đô thị ồn ào mà náo nhiệt. Trong phòng sách vang lên giọng ca u sầu của Hoàng Can: "Hoa hồng vàng ơi, đừng đau buồn, đừng rơi lệ, trong tất cả các loài hoa em là đẹp nhất." Khúc ca hồn bay phách tán, người nghe ruột tằm đứt đoạn.
"Không phụ Như Lai không phụ nàng". Gõ xuống câu thơ này, khiến tôi có khoảnh khắc ngẩn ngơ, tựa hồ đang đặt mình vào một vở kịch tài tử giai nhân, nhấc bút lên nhưng mãi vẫn chưa hạ xuống. Chỉ là nét bút ấy, nếu viết ra, tâm sự tự giam mình trong ngục tù sẽ trào tuôn ra ngoài.
Lại một năm xuân đến sớm, hoa đào vẫn chưa nở rộ ngập lối. Ngoài cửa sổ, xe như nước, ngựa như rồng. Sắc trần của thành phố này quá đỗi nặng nề. Nắm chặt một chén trà nhạt nhòa, tôi đã chẳng thể thốt nên lời. Quá nhiều nỗi buồn vui trong thế gian này khiến chúng ta chẳng thể hội ngộ. Thu lại kim chỉ, cất đi sự mềm lòng. Lá cây cất giọng hát, năm tháng tựa đóa hoa, lạnh lẽo nhường này.
Thời niên thiếu ngây ngô, quay đầu thì người đã đi mất. Rốt cuộc thì cũng đã ngả màu úa vàng, xòe rộng hai bàn tay. Trống rỗng biết bao, như thuở ban đầu lang thang. Sông núi năm tháng trong đời dần phai nhạt, dẫu không có biển cả thương hải, nhưng đứng trước điều này, lại có cảm giác "ngoài núi Vu kia chẳng phải mây".
Hoa đỏ tàn, lá xanh úa. Núi cùng, nước tận.
Gió đông hờ hững, gió tây lừa dối. Từng có đôi tay ngọc ngà, nắm lụa màu múa tặng ngươi một khúc hay chăng? Những ngày tháng từng cùng nhau đau buồn vui vẻ ấy, duyên phận của chúng ta, rốt cuộc là khó bề vẹn toàn hay sao!
Uống cạn ánh trăng và những năm tháng rực rỡ, đời người nếu như chỉ được như lúc mới gặp. Sự đời này hệt như ván cờ mê hồn, nơi quân cờ nhấc lên hạ xuống chính là chốn quy y. Có lẽ, bất cứ ai ở bên bạn, cũng vĩnh viễn chỉ là một mái chèo lướt qua. Còn tôi, lại chẳng thể trốn thoát, y như Thương Ương Gia Tố của ba trăm năm trước.
Câu chữ của tôi, sao có thể gột rửa nét phàm trần? Chỉ là con chữ của tôi, đến đây là dừng lại, thực ra trong lòng tôi cũng hoảng sợ.
Chỉ là, từ nay về sau, khúc nhạc có tấu sai, ai là người đoái hoài?
Đọc thơ Thương Ương Gia Tố, tốt nhất là dưới đêm trăng nghiêng mình bên cửa sổ, bên cạnh xông một lò trầm hương, thắp một ngọn nến phụng, nấu một bình hoàng tửu Thiệu Hưng, trong sự thong thả ấy mà từ từ thưởng thức, không chỉ vì truyền thuyết tốt đẹp kia, mà còn vì tình yêu đang dập dờn trong lòng mỗi người. Vừa nghe rượu hoa điêu "lách tách" sôi trên lò lửa đỏ, vừa ngửi hương trầm thoang thoảng bay lượn trong phòng, giữa muôn vàn phong tình, thu nhặt trọn vẹn sự lãng mạn và bi thương của bài thơ, nuốt trôi cùng bình rượu hoa điêu nóng hổi, trong sự phóng khoáng mà nhẹ nhàng mơn trớn linh hồn cổ xưa, run rẩy của nhà thơ.
Từng lo đa tình tổn phạm hạnh, vào núi lại sợ phụ giai nhân.
Thế gian nào được vẹn đôi đường, không phụ Như Lai không phụ nàng?
Nhẹ nhàng ngâm nga khúc thơ này, lại phát hiện ra từng câu từng chữ đều thấm đượm sự u oán, tĩnh mịch và cõi lòng trống trải thanh thoát trong "Ngõ Mưa" dưới ngòi bút của Đới Vọng Thư, trong xương cốt phảng phất một vẻ đẹp bi oán lạnh lùng kiều diễm. Thất vọng và hy vọng, vỡ mộng và theo đuổi, đều đan xen trong tâm khảm nhà thơ, người con gái mang nỗi buồn vương vấn như đóa đinh hương kia há chẳng phải là Ma Cát A Mễ trong lòng Thương Ương Gia Tố hay sao? Còn kẻ lữ hành cô độc lang thang trong con ngõ mưa kia há chẳng phải là Thương Ương Gia Tố mang đầy tâm trạng bàng hoàng đó sao?
Tương tư là khoảng cách xa xôi, dẫu thân chốn cửa Phật, nhưng Thương Ương Gia Tố vẫn cảm thấy trong sinh mệnh của mình không hề cô độc bước đi một mình, bởi vì vẫn có nỗi nhớ của nàng làm bạn. Khi hoàng hôn buông xuống, luôn có rất nhiều nỗi niềm nhớ nhung trào dâng trong lòng, đặc biệt là lúc chỉ có một mình lại càng nhiều hơn nữa, khi đêm về khuya thanh vắng, những mảnh kí ức liên tục hiện lên trong đầu, hôm nay che đậy hôm qua, hôm kia bắt đầu nhạt nhòa, rồi cứ thế lặp đi lặp lại. Đến một khoảnh khắc nào đó, bỗng nhiên chạm đến sợi dây đàn trong tim, bất kể hôm kia hay hôm qua, tất cả, thậm chí là từ nhiều năm trước, đều nổi bồng bềnh trước mắt, cảm giác cách trở muôn trùng kiếp nhân sinh từ đó mà ra.
Nàng là người đầu tiên, cũng là người duy nhất khiến trái tim anh rung động giữa biển người mênh mông trong cõi đời này, vì nàng, dù vui hay buồn, anh cũng đều vô cùng tình nguyện. Thế nhưng, một vị Phật sống, bỗng chốc lại yêu một người con gái chốn hồng trần, đoạn tình yêu này, ngay từ khởi đầu đã là sai lại càng sai. Người tu hành có giới luật của người tu hành. Ở Tây Tạng, từ thời Tùng Tán Cán Bố, trong tăng chúng đã xuất hiện "Thập thiện kinh" quy định về việc tu dưỡng, trong đó "Mười giới" quy định rõ ràng rằng: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói lời đôi chiều, không nói lời độc ác, không nói dối, không nói lời phù phiếm, không tham lam, không sân hận, không si mê. Mười điều giới luật này, chỉ cần phạm phải một điều là sẽ rơi vào vực sâu muôn kiếp bất phục, mà Thương Ương Gia Tố động lòng phàm, yêu người con gái ấy, chính là đã phạm trọn vẹn cái giới "không tà dâm" đó rồi.
Sự ồn ã của trần gian khiến anh chìm đắm trong giấc mộng đẹp chợt bừng tỉnh, hóa ra tất cả nỗi tương tư đều là sự bốc đồng của anh. Mọi sự tốt đẹp đều xa vời đến thế, thậm chí không kịp để anh nhấm nháp nghiền ngẫm lại, hiện thực phũ phàng lại không kiên nhẫn kéo anh trở về thế gian tang thương. Trở thành Phật sống, nhưng lại phải đánh đổi bằng việc chôn vùi tình yêu, giới luật thế này, dẫu có thành Phật thì đã làm sao?
Anh đang giấu mình giằng xé, anh từng nghĩ đến việc buông bỏ, từng nghĩ đến việc xóa sổ hoàn toàn người con gái ấy ra khỏi tâm trí. Anh ép bản thân không được nghĩ đến nàng, không được vương vấn, tuyệt đối không nhắc đến tên nàng. Anh đang cố gắng, anh không muốn hễ nhìn thấy gì nghe thấy gì là lại nhớ đến gương mặt nàng, nụ cười nàng, bóng lưng nàng, lời nói nàng. Có lẽ sự ràng buộc đối với hồi ức quá đỗi khắt khe, những nỗi tương tư đều bị dán nhãn cấm kỵ, cho nên mỗi khi anh bất chợt nhớ đến nàng là sẽ giằng xé hồi lâu, muốn đến gần nàng trong ký ức để nhìn rõ gương mặt nàng nhưng lại bị sự ràng buộc trong lòng níu kéo.
Phải làm sao đây? Anh đau đớn khôn nguôi, anh do dự bàng hoàng. Anh cầu cứu Phật pháp, lúc nhớ đến nàng, anh niệm kinh văn của Đại Bảo Pháp Vương: "Bấy giờ thiên ma thừa cơ hội ấy. Bay vào người nhập vào miệng dùng lời kinh pháp mà nói. Người đó cũng không hay biết bị ma ám. Lại nói tự đạt vô thượng Niết-bàn. Đến chỗ thiện nam tử đang tìm kiếm. Trải chỗ ngồi giảng pháp thân hình không đổi. Người nghe pháp bỗng tự thấy thân ngồi tòa hoa sen. Toàn thân hóa thành một cụm ánh sáng tờ mờ màu tía."
Anh nhắm mắt ngồi ngay ngắn, mặc cho kinh văn tuôn trào trên đôi môi mềm mại của mình. Niệm càng nhiều, lòng càng rối bời. Yêu và đau hòa lẫn vào nhau, chẳng phân biệt được đâu là đâu, rốt cuộc là kinh văn rối loạn, hay là lòng rối loạn?
Anh dứt khoát mở mắt ra, quay chuyển luân kinh. Anh biết, quay vòng kinh một lần, liền có thể sánh bằng việc tụng niệm "Đại Tạng Kinh" một lần, anh từng vòng từng vòng quay chuyển luân kinh, cũng là đang cứu rỗi linh hồn chính mình.
Luân kinh còn được gọi là "Pháp luân", hoặc "Mani giải thoát luân", thuộc pháp khí Phật giáo, bên trong chứa đựng kinh văn hoặc chú ngữ, thông qua việc quay theo chiều kim đồng hồ thì tương đương với công đức tụng niệm. Ở Tây Tạng, đi đâu cũng có thể bắt gặp các tín đồ không phân nam nữ già trẻ, trong tay cầm một chiếc luân kinh, không ngừng quay chuyển. Thích Ca Mâu Ni Phật từng nói: "Nhờ uy lực của luân kinh này, tất cả thiện thần ủng hộ, cứu độ, giải thoát mọi tai họa bất ngờ và đau khổ, về con cái, tài sản, sự hưởng thụ, y thực, tôi tớ không ai sánh bằng. Nếu nói thiện hạnh về thân và khẩu không có gì vượt quá sức mạnh lớn lao của luân kinh này." Từ đây có thể chứng minh việc quay luân kinh là sự tu dưỡng thần thánh nhường nào trong tâm trí người Tạng.
Thế nhưng, thế nhưng, luân kinh quay vù vù, kinh văn được quay qua lật lại từng lượt, anh lại phát hiện ra, điều mà bản thân đang khổ sở cầu xin trước Phật, không phải là vì siêu độ, mà chỉ để chạm vào đầu ngón tay nàng từng mơn trớn luân kinh.
Cuối cùng anh cũng mở mắt ra.
Giữa làn khói lượn lờ ấy, giữa tiếng phạn âm văng vẳng không dứt ấy, anh từ từ mở mắt, tràn ngập trong mắt đều là hình bóng nàng.
Chính vào khoảnh khắc ấy, nước mắt anh cùng với những cảm xúc gọi là đau thương, đau đớn, u sầu, bất lực đồng loạt sinh ra. Đó là chuỗi nước mắt vì yêu mà rơi, là chuỗi sinh mệnh tồn tại vì yêu. Ngay khoảnh khắc nó trượt khỏi má anh, anh phát hiện ra ở cách đó không xa có một chùm ngọn lửa nhỏ, đó là thứ tình cảm nồng nhiệt đến mức hóa không ra của nàng. Ngọn lửa ấy sáng rực và ấm áp, anh chấn động. Khoảnh khắc ấy, anh biết rằng, sự ra đời của anh chỉ để đợi nàng châm ngòi ngọn lửa tình ái rồi nhìn thấy nàng, để yêu nàng trước khi giọt lệ tương tư ấy tan biến.
Anh thực sự đã yêu, yêu đến mức vô phương cứu chữa. Ngọn lửa đang bùng cháy hướng lên ấy tựa như đôi cánh đang mở rộng, anh bất chấp tất cả lao về phía nó. Chỉ cần được đến gần nó, anh chẳng màng đến sự hủy diệt.
Anh biết rằng, khi "tương tư" và "sự nhiệt liệt" quấn quýt lấy nhau, chắc chắn sẽ diễn tả nên câu chuyện lãng mạn nhất. Dù cho ngọn lửa có tắt, giọt lệ có tan, thân xác của họ cũng phải hòa quyện chặt chẽ vào làm một; dù có hóa thành làn khói nhẹ, họ cũng phải ôm lấy nhau, vương vấn quấn quýt bay về tận cùng của trời xa, góc tận cùng của biển.
Đó là một tình yêu thiết tha và quyết liệt nhường nào? Anh chẳng thể thốt nên lời.
Năm 1895 công lịch, Thương Ương Gia Tố đã lên hai tuổi. Sáng Kết Gia Tố nghe được truyền thuyết về dị tướng giáng thế ở Môn Yểm tại Lhasa, đặc biệt phái thân tín lạt-ma đi vi hành thăm dò bí mật, sau khi trải qua mười lăm hạng khảo ngạch và nhận diện nghiêm ngặt, Thương Ương Gia Tố đã được bí mật xác định là linh đồng chuyển thế của vị Phật sống đời thứ năm.
Chế độ chuyển thế của Phật sống, khởi nguồn từ đầu thế kỷ XII. Năm 1193 công lịch, Đại sư Đô Tùng Khâm Ba - người sáng lập phái Karma Kagyu của Phật giáo Tây Tạng, lúc lâm chung đã dặn dò đệ tử rằng ngài sẽ chuyển thế vào thời gian nào và địa điểm nào, người đời sau tuân theo di ngôn của đại sư để tìm kiếm và xác định linh đồng chuyển thế, từ đó mở ra tiền lệ linh đồng chuyển thế của Phật giáo Tây Tạng. Từ đó về sau, chế độ tôn giáo hoàn toàn mới mẻ là Phật sống chuyển thế này liên tiếp được các tông phái của Phật giáo Tây Tạng phổ biến tiếp thu, và trong quá trình phát triển lâu dài, dần dần hình thành nên một bộ hệ thống nghiêm ngặt toàn diện từ việc tìm kiếm, xác định, giáo dục linh đồng chuyển thế của Phật sống.
Trong kinh "Đại Phương Quảng Trang Nghiêm", có sự miêu tả thế này về Thương Ương Gia Tố: "Đối với tất cả các đứa trẻ có đầy đủ phẩm chất của bậc đại dũng sĩ, ngài có ba mươi hai tướng tốt: Nhục kế lồi cao đầu lóe ánh phật quang, tóc dài màu cổ áo con công xoắn sang phải rủ xuống, lông mày đối xứng, bạch hào giữa chân mày tựa tuyết bạc, lông mi tựa lông mi vua trâu, mắt đen trắng rõ ràng, bốn mươi chiếc răng phẳng mịn, ngay ngắn, trắng phau, giọng có phạn âm, vị giác nhạy bén nhất, lưỡi vừa dài vừa mỏng, vành hàm như sư tử, đôi vai đầy đặn, đỉnh vai gồ lên, da dẻ mịn màng màu vàng óng, tay dài quá gối, thân trên như sư tử, thân hình cân đối như cây bách, lông tơ mọc đơn, lông tơ tứ chi xoắn hướng lên, đỉnh thế mọc rậm, đùi tròn trịa, ống chân như vua thú buộc ni-da, ngón tay thon dài, gót chân tròn rộng, mu bàn chân cao dày, lòng bàn tay lòng bàn chân phẳng phiu mịn màng, lòng bàn tay có màng mỏng, dưới chân có nghìn bánh xe, đứng vững chãi..."
Sau đó, Thương Ương Gia Tố được bí mật đón đến chùa Phang Ba ở Thố Na, chính thức học tập Phật pháp. Toàn bộ sự sắp xếp này đều được Tang Kết Gia Tố bố trí cực kỳ nghiêm mật, ngoài hai vị cao tăng đắc đạo và hai vị lạt-ma có thể tùy lúc tùy nơi hầu hạ chăm sóc ngài ra, người ngoài tuyệt đối không được đến gần, thậm chí ngay cả cha mẹ ruột thịt của Thương Ương Gia Tố cũng không được.
Thương Ương Gia Tố từ nhỏ đã vô cùng thông minh, khi cậu lên năm tuổi vừa bắt đầu học chữ, ngày đầu tiên đã thành thạo nắm bắt ba mươi chữ cái, và có thể thêm chữ trên dưới, ghép vần từng chữ một. Khi cậu lên bảy tuổi, liền chính thức học tập Phật pháp tại chùa Phang Ba ở địa phương. Thương Ương Gia Tố tám tuổi, đã bắt đầu học "Thổ Cổ Lạp", "Thi thơ chú thích" do Nhậm Bái Ba trước tác, "Trừ cấu kinh", "Thích Ca bách hành truyện" v.v.. Lúc này, cậu còn thử viết một bức thư cho Tang Kết Gia Tố, trình bày tình hình học tập của bản thân.
Chớp mắt một cái, Thương Ương Gia Tố đã mười lăm tuổi.
Cậu thiếu niên mười lăm tuổi, đã từ một đứa trẻ ngây thơ lớn lên thành một thiếu niên xinh đẹp thân hình cân đối. Giữa khoảng thời gian học tập, thỉnh thoảng cậu cũng lén lút chuồn ra ngoài, tản bộ bên ngoài tự viện. Chùa Phang Ba nằm ở Thố Na, Sơn Nam, thuộc vùng cư trú của người Môn Ba, nơi đây bài xích Hoàng giáo, sùng bái Hồng giáo mạnh mẽ, hơn nữa tục sùng bái sinh thực khí thịnh hành, nam nữ hoan ái, tình ca văng vẳng, tăng nhân có thể kết hôn với phụ nữ.
Ở đây, bên ngoài tự viện thường văng vẳng những khúc tình ca vương vấn, những khúc tình ca này, thường ngắt quãng dòng suy tưởng của Thương Ương Gia Tố đối với tư tưởng Phật giáo.
Ở nơi cực xa của chùa Phang Ba, có một ngọn núi hùng vĩ, đó chính là núi thần Pori nổi tiếng. Trên ngọn núi thần này, có một cây thần khổng lồ, trên cây thần treo đầy những dải kinh phan và vật cúng tế đủ màu sắc, cây này cao chọc trời, thường có mây mù vây quanh, tựa như chốn tiên cảnh. Thương Ương Gia Tố cũng thường xuyên đăm đăm nhìn cây thần này từ ô cửa sổ của tự viện, ngây ngô phỏng đoán ý nghĩa được ca ngợi trong những khúc tình ca kia.
Tháng tư năm ấy, lúa mạch xanh mướt nối tiếp nhau đến tận chân trời, ở tận cùng của tầm mắt, những ngọn đồi thấp khẽ lướt qua bầu trời trong trẻo, yên bình tựa khúc ca thanh thản của chim sơn ca. Thương Ương Gia Tố vẫn còn nguyên nét trẻ con, ở lì trong tự viện lâu ngày, thường xuyên nghe thấy tiếng ca bên ngoài tự viện, không tránh khỏi tâm viên ý mã. Ngày hôm nay nhân lúc các lạt-ma không chú ý, cậu lại một lần nữa lén lút chuồn ra ngoài, đi thẳng đến bên khu rừng rậm rạp bóng râm. Thương Ương Gia Tố phát hiện một đàn cừu không có người trông coi bên đường, bèn nhặt chiếc roi da treo trên cây quất ngang bầu trời, lừa đàn cừu vừa đi vừa cất tiếng hát vang dội, nào ngờ lại nghe thấy tiếng chuông làm say lòng người trong tiếng gió thổi.
Âm thanh ấy phát ra từ một con bò yak màu trắng, mà thứ mà con bò yak cõng trên lưng, chính là một thiếu nữ mặc bạch y như bước ra từ tranh vẽ. Thương Ương Gia Tố cười, có chút thẹn thùng nhìn cô ấy. Ánh mắt liếc xéo của cô ấy liền truyền qua khóe mắt, rơi vào khuôn mặt cậu, bạo dạn và ngông cuồng trêu chọc cậu: "Có gì mà cười chứ? Cậu bé chăn cừu kia!"
"Tôi..." Mặt Thương Ương Gia Tố bỗng chốc đỏ bừng lên, mặc dù cậu đã lớn thành một chàng trai tuấn tú, nhưng lại chưa từng tiếp xúc với người con gái nào thanh khiết xinh đẹp như vậy. Cậu cúi đầu, nghiêng người toan bước qua bên đường.
"Này, tôi đâu phải là dạ xoa, sao anh lại phải tránh mặt tôi mà đi chứ?" Thiếu nữ bạch y phát ra tiếng cười lanh lảnh như chuông bạc, cười đến mức cành hoa run rẩy, lộ ra vòng eo nhỏ quyến rũ động lòng người trong mắt cậu.
"Tôi, tôi cười cô giống tiên nữ vẽ trên tranh Thangka!" Thương Ương Gia Tố quay đầu lại, ánh mắt sáng rực chằm chằm nhìn thiếu nữ bạch y, giờ phút này cậu đang cảm thấy tâm trào sóng dậy, một cảm giác chưa từng trải nghiệm bao giờ đang rạo rực sâu trong cơ thể cậu.
"Tiên nữ á?" Thiếu nữ bạch y khúc khích cười, "Này chú tiểu kia, sao cứ phải giả dạng người chăn cừu ra ngoài dọa người thế? Ồ, tôi biết rồi, chắc chắn là anh lén lút chuồn ra sau lưng các đại lạt-ma đúng không?" Cô ấy tinh nghịch chớp chớp mắt, vươn ngón trỏ bàn tay phải đặt lên khóe môi liếm liếm đầy ngông cuồng, cười càng thêm rạng rỡ phóng khoáng.
"Cô..." Thương Ương Gia Tố khựng lại, mặt đầy vẻ câu nệ nhìn cô ấy, vừa thẹn thùng vừa tò mò.
"Muốn biết làm sao tôi lại biết thân phận thật sự của anh không?" Thiếu nữ bạch y nghiêng đầu, khẽ chỉ vào chuỗi hạt xương đeo trên cổ tay cậu, "Ở đây, chỉ có chú tiểu mới đeo cái này thôi."
"Cô tên là gì thế?" Cô ấy vươn cổ tò mò hỏi.
"Thương Ương Gia Tố."
"Ý anh là, tên anh là Thương Ương Gia Tố?" Thiếu nữ bạch y hé lộ hàm răng trắng ngần mỉm cười nhạt.
"Đúng vậy." Thương Ương Gia Tố ngốc nghếch nhìn cô ấy với nụ cười đẹp như tranh vẽ.
"Thương Ương Gia Tố? Thế có nghĩa là 'Biển phạn âm' hả? Quả là một cái tên hay." Cô ấy bước đến bên cậu, vươn tay đưa đến bên tay cậu, "Tôi tên là Ma Cát A Mễ. Chúng ta làm bạn nhé?"
"Bạn bè? Được chứ!" Thương Ương Gia Tố vươn tay, nhưng vừa mới chạm vào ngón tay thon mềm như không xương của thiếu nữ, tay cậu liền rụt phắt lại.
Thiếu nữ bạch y mỉm cười dịu dàng, tự nhiên rụt tay mình về. "Thương Ương Gia Tố, anh làm chú tiểu ở chùa Phang Ba phía sau à?"
"Đúng vậy."
"Làm lạt-ma ngày nào cũng phải niệm kinh à?"
"Ừ." Thương Ương Gia Tố khẽ gật đầu, vô thức khua khoắng chiếc roi da lùa cừu trong tay.
"Mau ném cái thứ này đi đi. Chốc nữa người chăn cừu quay lại phát hiện mất roi, sẽ đến chỗ đại lạt-ma mách tội anh đấy."
"Ồ." Thương Ương Gia Tố lưu luyến nhìn chiếc roi da trong tay.
"Mau cất về chỗ cũ đi." Thiếu nữ nhận lấy chiếc roi da từ tay cậu, treo lên cành cây ven đường. "Niệm kinh có vui không?"
"Hả?" Cậu trừng to mắt nhìn chằm chằm đôi mắt trong veo như nước của thiếu nữ, hình như cảm thấy khó hiểu trước câu hỏi của cô ấy.
"Kinh thì có gì hay mà niệm?" Thiếu nữ liếc xéo khu rừng phía trước với vẻ mặt rạng rỡ nói, "Hay là cùng tôi vào rừng chơi đi. Trong rừng có thỏ con đáng yêu, lại có rất nhiều nấm, chúng ta cùng nhau hái nấm hầm ăn chịu không?"
"Không được. Tôi lén lút trốn ra ngoài sau lưng đại lạt-ma Mê Nhạ đấy. Chốc nữa họ không thấy tôi chắc chắn sẽ ra ngoài tìm."
"Sợ cái gì? Đằng nào họ có ở đây đâu! Chúng ta chơi một lát thôi, được không?"
Thương Ương Gia Tố lắc đầu: "Tôi phải về ngay đây. Không thì để các đại lạt-ma phát hiện ra tôi biến mất, sau này sẽ chẳng bao giờ tìm được cơ hội như hôm nay để ra ngoài hóng mát nữa đâu."
"Chỉ một lần thôi không được sao?" Cô ấy không cho cậu cơ hội do dự. Cô ấy chộp lấy tay áo cậu, phi nhanh vào khu rừng rậm rạp phía trước. Trong rừng có những cổ thụ cao chọc trời, có thác nước chảy xiết, có khe suối trong vắt, có đá kỳ phong quái thạch, có đủ loại nấm, lại có cả những chú sóc đáng yêu. Tất cả những điều này, khiến Thương Ương Gia Tố ngày ngày ở cùng những vị lạt-ma trầm mặc niệm những bộ kinh tẻ nhạt khan hiếm kia cảm thấy vô cùng mới lạ và thần bí. Thiếu nữ dẫn cậu đùa giỡn nô đùa dưới thác nước, trêu ghẹo sóc, làm hoảng sợ vẹt, chơi mệt rồi thì nằm dài bên bờ suối cỏ xanh tươi tốt, dệt nên những tâm tư vui mừng kín đáo nhất ở sâu thẳm đáy lòng mỗi người.
"Thương Ương Gia Tố?" Cô ấy bĩu môi quay đầu liếc cậu, "Sao không nói gì thế, đang nghĩ tâm sự à?"
Thương Ương Gia Tố lắc đầu: "Tôi đang ngắm trời."
"Trời thì có gì đẹp mà ngắm? Mặt trời mọc mặt trời lặn, ngày nào mà chẳng giống nhau?"
"Nhưng bầu trời hôm nay đẹp bất thường." Thương Ương Gia Tố ngửa đầu nhìn bầu trời trong vắt như được gột rửa với vẻ mặt như ngộ ra điều gì, đột nhiên thở dài nói, "Giá như ngày nào cũng có thể cùng cô chơi đùa trong rừng thì tốt quá."
"Anh thích chơi cùng tôi thế à?"
"Thích." Cậu gật đầu, ánh mắt vẫn dán chặt vào khoảng trời xanh thẳm trên đỉnh đầu.
"Tôi thấy anh nói không thật lòng rồi."
"Sao lại không thật lòng chứ?" Cậu có chút sốt ruột, mặt đỏ bừng bừng.
"Thế sao anh cứ trừng trừng nhìn trời mãi thế? Bộ sợ tôi ăn thịt anh à?"
"Tôi..."
"Thôi được rồi, không làm khó anh nữa. Tôi hỏi anh, đợi sau này lớn lên anh vẫn ở lại chùa Phang Ba làm lạt-ma chứ?"
"Ừm?" Cậu lắc đầu, "Không biết."
"Cái gì mà không biết? Chỉ cần anh muốn, là có thể cưới vợ sinh con, không ở lại chùa làm lạt-ma nữa."
"Hả?" Toàn thân cậu như bị điện giật, khẽ run lên bần bật.
"Nhìn anh kìa, rõ ràng là con trai cơ mà! Sao nhắc đến mấy chuyện này lại còn bẽn lẽn hơn cả con gái thế?" Thiếu nữ trêu chọc cậu, "Anh mà cưới vợ rồi, thì sẽ quên bén mất tôi là ai cho xem."
"Vậy thì tôi cả đời không cưới vợ."
"Chuyện này đâu phải anh muốn thế nào là được thế ấy." Thiếu nữ bỗng ngồi phắt dậy, mặt đầy vẻ thẹn thùng liếc xéo cậu, "Nếu anh muốn làm lạt-ma cả đời, thì tôi sẽ ở lại cái núi này bồi bạn với anh cả đời".
"Cái gì?" Thương Ương Gia Tố thẹn thùng nhìn cô ấy, cậu dường như có thể hiểu được ý nghĩa sâu xa ẩn giấu đằng sau câu nói này của cô ấy, chỉ là cậu không dám, cũng không nợ nói toạc ra, đành ngây ngốc nhìn đắm đuối gương mặt đẹp như hoa của cô ấy, say đắm vì nó.
Thiếu nữ bạch y mỉm cười. Cô ấy giơ tay vén mái tóc dài bị gió thổi bay, kiễng chân lên, đem cơ thể thoang thoảng hương hoa sen khẽ dịch chuyển đến trước mặt Thương Ương Gia Tố, nhân lúc cậu không đề phòng, đột nhiên dùng sức hôn mạnh lên mặt cậu một cái, rồi lại đứng phắt dậy chạy biến đi mất.
Tiếng cười của thiếu nữ bạch y vang vọng khắp bầu trời trống trải. Thương Ương Gia Tố mặt đỏ bừng ngồi trên thảm cỏ, đối mặt với tình cảnh diễn ra đột ngột mà tỏ ra luống cuống không biết phải làm sao, hai bàn tay giơ lên rồi lại hạ xuống, đành ngốc nghếch dang ra ở đó.
"Thương Ương Gia Tố, tôi sẽ nhớ anh đấy!" Thiếu nữ bạch y vừa chạy về phía trước vừa ngoảnh đầu nhìn Thương Ương Gia Tố đang thần hồn nát thần tính.
Cậu đột ngột đứng phắt dậy, ngẩng cao đầu, lớn tiếng hỏi vọng về hướng thiếu nữ chạy đi một câu: "Cô tên là gì?"
"Tôi tên là Ma Cát A Mễ! Mới vừa nói với anh xong mà, quên nhanh thế cơ à?" Tiếng cười lanh lảnh như chuông bạc của thiếu nữ bạch y lại một lần nữa xé toạc bầu trời chui vào tai cậu.
Ma Cát A Mễ. Ma Cát A Mễ. Thiếu nữ bạch y đã cưỡi trên lưng con bò yak trắng thong thả rời đi. Thương Ương Gia Tố vươn tay phủi bụi bẩn trên người, thâm tình đăm đăm nhìn bóng lưng khuất xa của thiếu nữ. Ma Cát A Mễ. Cô ấy tựa như nàng tiên nữ không tỳ vết bên cạnh Cát Tường Thiên. Không, cô ấy chính là tiên nữ bên cạnh Cát Tường Thiên. Cô ấy thuần khiết nhường ấy, thánh thiện nhường ấy, chẳng lẽ đều vì cô ấy tên là Ma Cát A Mễ sao?
Thương Ương Gia Tố gật đầu. À, cái tên này trong tiếng Tạng, có nghĩa là thiếu nữ thuần khiết không tỳ vết, thánh thiện. Cậu ngẩng đầu nhìn bầu trời xanh ngắt, ngượng ngùng mỉm cười. Đây là lần đầu tiên cậu cười sảng khoái và rạng rỡ đến thế kể từ khi rời xa quê hương đến chùa Phang Ba ở Thố Na nghiên cứu Phật pháp.
Thương Ương Gia Tố vừa đi dọc đường, vừa ngây ngô tơ tưởng về thiếu nữ bạch y tên là Ma Cát A Mễ ấy. Bây giờ cậu đã hiểu rất nhiều rồi, biết rằng người Sơn Nam đa số đều tín phụng Hồng giáo, mà Hồng giáo lại cho phép tăng nhân và phụ nữ kết hôn với nhau. Vậy thì, sau này cậu có khả năng sẽ cưới người con gái tên là Ma Cát A Mễ này làm người vợ thân yêu của mình không nhỉ?
Liên tiếp mấy ngày liền, sau khi tan lớp kinh điển, cậu đều tranh thủ lúc các đại lạt-ma không để ý lén lút chuồn ra ngoài, chạy thẳng đến vùng rừng rậm ấy. Cậu đang đợi Ma Cát A Mễ, thiết tha mong mỏi cô ấy mặc một bộ y phục màu xanh ngọc bích, cưỡi bò yak một lần nữa xuất hiện trong tầm mắt của cậu. Thế nhưng mười ngày liên tiếp trôi qua, cậu mãi vẫn không đợi được bóng dáng rực rỡ tựa rây mây của Ma Cát A Mễ.
Hôm ấy, đại lạt-ma Mê Nhạ dẫn theo các lớn nhỏ lạt-ma rời khỏi chùa Phang Ba đến nhà một người dân nào đó làm Phật sự, ngôi chùa lớn như vậy chỉ còn lại Thương Ương Gia Tố và thị tòng thân cận của ngài. Thương Ương Gia Tố dùng chút mưu kế nhỏ liền dễ dàng phái thị tòng ra chỗ khác, mang theo đầy niềm vui sướng chạy vụt ra ngoài. Lúc bước ra khỏi chùa Phang Ba thì trời đã xẩm tối, trên mặt đất là một lớp cỏ nhỏ xốp mềm, ánh nắng chiếu xiên từ bầu trời phía trên chùa Phang Ba xuống, thảm cỏ, tự viện đều được nhuộm thành màu vàng cam dịu dàng. Thương Ương Gia Tố mang theo sự dịu dàng tràn ngập trong tim, ngước đầu nhìn xa xa, mấy đóm lửa lấm tấm bên ngoài tự viện bất chợt lọt vào tầm mắt cậu, thấp thoáng còn có thể nghe được tiếng ca u hoài thanh thoát phát ra từ tận chín tầng mây.
Thương Ương Gia Tố rảo bước, ở ngã rẽ, có một người con gái dáng người uyển chuyển thướt tha lướt qua, người con gái ấy che khăn voan trên đầu, quay đầu mỉm cười với cậu một cái, rồi uyển chuyển bước đi.
Thương Ương Gia Tố ngây ngốc đứng đó, đôi ánh mắt lấp lánh như ngọc lưu ly kia, chẳng phải là Ma Cát A Mễ - người đã trao nụ hôn thơm ngát cho cậu trong khu rừng hôm đó hay sao? Ma Cát A Mễ, à, Ma Cát A Mễ! Ma Cát A Mễ phiêu dật linh tú khiến cậu say đắm, khiến cậu khao khát, vô tình vô tứ, cậu ngắm cô ấy đến mức ngẩn ngơ cả người, hồi lâu không thể thoát ra khỏi cảm xúc ấy. Chợt ngoảnh đầu nhìn lại, bóng dáng tuyệt sắc giai nhân nào còn ở ngay trước mắt, người nọ sớm đã đi mất tăm mất tích chẳng thấy bóng dáng đâu nữa.
Thương Ương Gia Tố thất vọng tràn trề, dọc theo khe suối lảo đảo bước đi, đi thẳng đến bên ngoài cánh cửa ngôi nhà mà đại lạt-ma Mê Nhạ đang làm Phật sự. Vừa mới ngẩng đầu lên, liền nhìn thấy Ma Cát A Mễ khẽ vén chiếc khăn voan mỏng như cánh ve, đáp lại cậu bằng một nụ cười ngọt ngào. Cậu sững sờ, chẳng lẽ người con gái mà cậu ngưỡng mộ chính là tiểu thư của gia đình này sao?
Ma Cát A Mễ vươn ngón trỏ bàn tay phải đặt lên khóe môi khẽ ra hiệu "suỵt" một tiếng với cậu, đoạn len lỏi qua đám đông đi đến góc hiên nhà, mím môi làm hiệu với cậu, chỉ về hướng khu vườn trái cây rậm rạp ven đường. Cậu hiểu ý bèn quay người bước thẫn thờ vào khu vườn trái cây mà cô chỉ định, chẳng mấy chốc, Ma Cát A Mễ cũng đi theo vào.
"Anh tên là Thương Ương Gia Tố à?" Ma Cát A Mễ kéo tay cậu ngồi phịch xuống thảm cỏ, hứng thú trừng to mắt nhìn cậu đánh giá từ trên xuống dưới, "Anh tên là Thương Ương Gia Tố phải không, tôi nhớ không nhầm chứ?"
Cậu gật đầu, nở nụ cười ngốc nghếch.
Cậu ấy có nhớ tôi tên là gì không? Cô ấy ngẩng đầu lên, nụ cười rạng rỡ như hoa.
"Ma Cát A Mễ." Cậu đỏ mặt hạ thấp giọng nói.
"Cái gì?" Cô ấy trừng mắt nhìn đôi mắt trong veo như nước của cậu, "Nói to lên chút đi, tôi không nghe thấy."
"Ma Cát A Mễ!" Cậu lấy hết can đảm lớn tiếng gọi tên cô ấy.
"Gọi to thế làm gì? Anh muốn cho đại lạt-ma Mê Nhạ biết chúng ta trốn ở đây chơi à?"
"Là cô bảo tôi gọi to lên mà." Cậu ngẩn ngơ nhìn cô ấy, mặt đầy vẻ thẹn thùng.
"Anh đúng là dễ bảo thật đấy, bảo gì nghe nấy. Giờ tôi bảo anh đi giết người, anh cũng đi à?"
"Tôi..." Mặt cậu đỏ bừng lên, "Tôi là..."
"Ấy da, trêu anh tí thôi mà!" Ma Cát A Mễ cười khúc khích như chuỗi ngọc, "Anh là chú tiểu, đương nhiên tôi sẽ không xúi giục anh đi làm mấy chuyện giết người phóng hỏa rồi."
"Thế cô sẽ bảo tôi làm gì?" Thương Ương Gia Tố dần thả lỏng người, quay đầu chằm chằm nhìn cô ấy hỏi.
"Sao anh cứ nhìn tôi chằm chằm thế?" Ma Cát A Mễ bĩu môi, "Tôi vẫn còn là một thiếu nữ đấy nhé, anh cứ nhìn tôi thế này, tôi sẽ ngại lắm đấy."
"Vậy tôi..." Thương Ương Gia Tố nhanh chóng cúi đầu, trên mặt lan tràn từng vòng sóng đỏ ửng.
"Anh thú vị thật đấy." Ma Cát A Mễ khúc khích cười, "Nói anh một câu là đỏ mặt ngay được, còn thẹn thùng hơn cả con gái nữa."
"Ai bảo tôi thẹn thùng chứ?" Thương Ương Gia Tố mím môi nhỏ giọng phản bác lại cô ấy.
"Không thẹn thùng á? Được, không thẹn thùng thì hát một bài cho tôi nghe đi."
"..."
"Sao thế? Không muốn hát à? Còn bảo là không thẹn thùng cơ đấy!" Ma Cát A Mễ làm mặt quỷ trêu chọc cậu.
"Hát thì hát!" Thương Ương Gia Tố không muốn mất mặt trước mặt Ma Cát A Mễ, khẽ nhún vai, nhìn những quả trĩu trịt trên cây đối diện, không kìm được mà cất cao giọng hát vang: "Nhà quyền quý có con gái mới lớn, dáng người uyển chuyển nhan sắc đoan trang. Tựa như quả thơm trong vườn hoa, tươi tắn chín mọng treo đầu cành."
"Anh hát cái gì thế?" Ma Cát A Mễ khó hiểu nhìn chằm chằm cậu, "Sao tôi chưa từng nghe bài này bao giờ thế?"
"Đương nhiên là cô chưa nghe bao giờ rồi, bởi vì đây là bài do tôi vừa mới sáng tác ra mà."
"Do anh sáng tác á?" Ma Cát A Mễ bán tín bán nghi liếc xéo cậu, cắn ngón tay đặt lên môi một cái, "Nếu là do anh sáng tác, thì ma quỷ cũng chui ra nhảy múa mất!"
"Nhà quyền quý có con gái mới lớn, dáng người uyển chuyển nhan sắc đoan trang. Tựa như quả thơm trong vườn hoa, tươi tắn chín mọng treo đầu cành." Thương Ương Gia Tố đắc ý liếc xéo Ma Cát A Mễ, hát lại bài hát vừa ngẫu hứng sáng tác thêm một lần nữa.
Ma Cát A Mễ nghe đến ngây người say đắm: "Bài hát này thực sự là do vừa nãy anh nghĩ ra á?"
"Chứ còn giả nữa à?"
"Thế bài hát này có ý nghĩa gì?"
"Đương nhiên là hát về cô rồi chứ gì!" Thương Ương Gia Tố ra vẻ kiêu hãnh, "Cô giống như quả thơm trên cây kia, tươi tắn xinh đẹp treo trên đầu cành."
"Cái gì? Anh hát về tôi á?" Ma Cát A Mễ tức khắc đỏ bừng mặt, chớp chớp đôi mắt to tròn sáng long lanh trừng trừng nhìn Thương Ương Gia Tố, "Ấy da, anh đúng là! Anh xấu lắm, anh xấu chết đi được!" Ma Cát A Mễ đột ngột đứng phắt dậy từ thảm cỏ, che mặt, lao như bay về phía sâu trong khu vườn trái cây.
"Ma Cát A Mễ!" Thương Ương Gia Tố đuổi theo sau lưng cô ấy, lúc này trăng đã lên giữa không trung, trong rừng trong hồ nước phản chiếu ánh trăng, ánh trăng phản chiếu ngược lại hồ nước, trên thảm cỏ một dải sáng ngời. Ở chính giữa thảm cỏ, chính là thiếu nữ thuần khiết tên là Ma Cát A Mễ ấy, lúc này đang chớp chớp đôi mắt tinh nghịch liếc xéo cậu, hoàn toàn không còn vẻ thẹn thùng đầy mặt vừa nãy nữa.
Thương Ương Gia Tố ngây ngốc đứng đó, ngắm đến ngẩn ngơ, nhất thời hoàn toàn không biết nên mở lời thế nào cho phải.
Hai người đối diện mà không nói lời nào. Hồi lâu, Ma Cát A Mễ nhìn cậu phá vỡ sự im lặng, che miệng cười hỏi cậu rằng: "Anh nói xem, bài hát đó thực sự là hát về tôi á?"
Thương Ương Gia Tố dùng sức gật đầu.
Ma Cát A Mễ mím môi liếc xéo cậu: "Thế bài hát này là viết cho tôi à?"
Thương Ương Gia Tố vẫn dùng sức gật đầu.
Ma Cát A Mễ lại cười, cười đến mức cành hoa run rẩy. "Anh đúng là người, thẹn thùng đến mức làm người ta rét lạnh, bộ anh không biết nói câu nào cho ra hồn à?"
Thương Ương Gia Tố nhìn giai nhân đẹp tựa hoa trước mặt ngượng ngùng mỉm cười, lộ ra hàm răng đều đặn trắng phau của mình.
Nhìn anh kìa, chỉ biết cười ngốc nghếch, chẳng khác gì chú tiểu ngốc nghếch gặp ở ven rừng lần trước tẹo nào!"
Thương Ương Gia Tố vẫn cười ngốc nghếch. Ma Cát A Mễ bất đắc dĩ nhún nhún mắt với cậu. Lúc này không nói gì còn hơn nói, họ cứ thế lẳng lặng đối diện nhau dưới ánh trăng rực rỡ, ánh trăng rải ngang sang, trên người hai người tựa như khoác một lớp phật quang thần thánh, tô điểm cho tâm tư thuần khiết thanh thoát của họ rõ mồn một không sót gì.
Ma Cát A Mễ thâm tình đăm đăm nhìn Thương Ương Gia Tố, đột nhiên xích lại gần cậu nói: "Biết gì không? Tôi cứ có cảm giác hình như mình đã từng gặp anh ở đâu rồi, từ kiếp trước cơ. Cảm giác này, từ lần đầu tiên chúng ta gặp nhau đã vô cớ chiếm lấy tâm can tôi rồi. Tôi cũng không biết rốt cuộc là vì sao nữa."
"Cái gì?" Thương Ương Gia Tố tò mò liếc xéo cô ấy, Phật giáo vốn tin vào luân hồi và nhân quả, cậu cũng muốn biết kiếp trước của mình và người con gái này rốt cuộc có vướng mắc gì, tại sao lại phải gặp nhau ba lần bốn lượt như thế, lại còn không thể dứt ra được đến thế.
Cô ấy nhìn cậu tiếp tục nói: "Ở kiếp trước, anh là thiếu gia Banh Giác tôn quý của nhà thổ ty, còn tôi, là vu nữ hạ cổ ẩn náu cùng mẹ ở sâu trong núi rừng. Nhà thổ ty là gia tộc hiển hách nhất ở địa phương, có huyết thống cao quý và địa vị hống hách không coi ai ra gì. Nhà họ có vô số ruộng đất và đồng cỏ, đằng sau viện nhà họ còn có một rừng trúc xanh mướt, mà tôi và mẹ vẫn luôn thả cổ ở khu rừng lớn đằng sau rừng trúc đó."
"Hạ cổ? Vu nữ?" Thương Ương Gia Tố nghe cô ấy kể, lắc đầu, vô thức khúc khích cười thành tiếng. Kiếp trước của cậu rõ ràng là Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ V, sao có thể là thiếu gia Banh Giác của nhà thổ ty được chứ? Hơn nữa Ma Cát A Mễ trước mắt thuần khiết tựa băng tuyết, kiếp trước của cô ấy sao lại là vu nữ độc ác được cơ chứ? Cậu đăm đăm nhìn cô ấy, càng lúc càng cảm thấy người con gái này đáng yêu, đặc biệt là vẻ mặt ngây thơ ấy, dưới ánh trăng lại càng khiến người ta thương yêu vô bờ.
"Anh không tin à?" Cô ấy trừng trừng nhìn cậu.
"Mẹ tôi kiếp trước lúc còn trẻ đã yêu một người đàn ông, yêu đến mức chết đi sống lại, nhưng người đàn ông đó cuối cùng vẫn vứt bỏ bà ấy mà đi. Sau đó một mình bà ấy sống trong núi sâu rừng thẳm, không còn tiếp xúc với thế giới bên ngoài nữa, cứ thế bình yên trải qua mấy chục năm, bà ấy lại phát cuồng vì yêu một người đàn ông, và sinh ra tôi, nhưng vẫn không thể thoát khỏi số phận bị vứt bỏ, từ đó về sau, bà ấy thề rằng, nhất định phải khiến tất cả đàn ông trên thiên hạ này đều phải chịu trừng phạt, cho nên hễ có đàn ông đi ngang qua cửa, bà ấy sẽ hạ cổ hại chết bọn họ. Sau này, người bị hại nhiều lên, ai nấy đều kính nhi viễn chi với chúng tôi, đợi tôi lớn lên, bà ấy liền ép tôi ra ngoài dùng sắc đẹp quyến rũ những người đàn ông đó, số đàn ông chết dưới tay tôi đếm không xuể..."
"Sao lại thế được chứ?" Cậu trìu mến nhìn cô ấy, "Đây chỉ là sự tưởng tượng của cô thôi, hoàn toàn không phải sự thật đâu."
"Là sự thật." Cô ấy nghiêm túc nói, "Tôi cảm nhận được mà. Tôi của kiếp trước đã nợ vô số nghiệt nghiệp, cho nên kiếp này mới phạt tôi phải trả bằng nỗi đau đớn cả cuộc đời."
"Không đâu."
"Sao lại không?"
"Bởi vì..." Cậu đỏ mặt, "Bởi vì tôi tin cô!"
"Anh tin tôi á?" Cô ấy mỉm cười dịu dàng, giữa hàng mày mang theo nỗi buồn nhè nhẹ, "Nhưng kiếp trước tôi đúng là vu nữ hạ cổ thật mà. Người đàn ông bị tôi hạ cổ bao gồm cả anh của kiếp trước đấy."
"Cái gì? Tôi á?"
Cô ấy gật đầu. Bất lực, u sầu.
"Kết quả thì sao?" Cậu cố tình hỏi cô ấy.
Cô ấy ngẩng mặt lên, trịnh trọng nói cho cậu biết: "Thiếu gia Banh Giác của nhà thổ ty, là đứa con độc đinh ba đời, từ trong bụng mẹ ra cậu ấy đã là hòn ngọc quý trên tay các bậc bề trên, từ nhỏ đã sống cuộc sống gấm vóc lụa là, không lo không nghĩ. Vì quá được sưng chiều chuộng, cậu ấy đâm ra kiêu ngạo vô lối, chỉ cần là chuyện cậu ấy muốn làm thì không có chuyện gì là không làm được, thế nhưng ngặt nỗi có một chuyện cậu ấy không tài nào làm nổi, đó chính là vợ chồng thổ ty nghiêm cấm cậu ấy xông vào khu rừng ở đằng sau rừng trúc. Rừng vốn là lãnh địa của nhà thổ ty, sau rừng trúc còn có đường mòn thông đến đó, nhưng kể từ khi cặp đôi vu nữ hạ cổ ẩn náu ở đó rồi, thì rất ít người đi con đường đó nữa. Thiếu gia Banh Giác vẫn luôn thắc mắc tại sao mọi người không cho cậu ấy bén mảng đến gần rừng trúc nửa bước, trong mắt cậu ấy, khu rừng đằng sau rừng trúc đẹp đến thế, núi non xanh tươi đến thế, nước trong vắt đến thế, cậu ấy luôn muốn đến đó chơi, thế cho nên vào mùa đông năm cậu ấy mười lăm tuổi, cậu ấy vẫn giấu thổ ty, lén lút chuồn ra ngoài, dọc theo con đường mòn ở sân sau chạy thẳng ra ngoài, chạy đến tận sâu trong khu rừng, không tìm được đường về nhà, lạnh và đói run lẩy bẩy..."
"Còn nữa thì sao?"
"Anh không biết đâu, kiếp trước của anh ngày hôm đó xuất hiện trước cửa nhà tôi. Nữ vu già hạ cổ ngày hôm ấy vừa hay đi xa nhà, trong nhà chỉ còn lại tiểu vu nữ một mình. Tiểu vu nữ thấy cậu ấy tuấn tú như hoa, lại thuần khiết không tỳ vết, không nỡ tổn thương cậu ấy, bèn quyết định giấu nữ vu già lén lút tha cho cậu ấy một con đường sống. Cứ như thế, thiếu gia nhà thổ ty và tiểu vu nữ đã lập lời thề non hẹn biển quấn quýt tình thâm trong thung lũng. Cho đến cuối cùng, thiếu gia đã được nông nô nhà thổ ty tìm thấy, khi thổ ty biết chuyện giữa con trai mình và tiểu vu nữ thì vô cùng nổi giận, để ngăn cản họ yêu nhau, thổ ty đã phái người đưa thiếu gia đi nơi xứ người xa ngàn dặm ngay trong đêm."
"Sau đó thì sao?"
"Sau đó thiếu gia Banh Giác học tập buôn bán ở bên ngoài, cuối cùng trở thành đại gia nổi đình nổi đám một thời, nhưng lại nhiễm những thói hư tật xấu ở bên ngoài, ngày ngày lưu luyến chốn lầu xanh kỹ viện, chẳng mấy chốc đã quên sạch tiểu vu nữ, sau đó nữa, vì để phát triển việc buôn bán, cậu ấy đã cưới tiểu thư của nhà quyền quý ở địa phương. Vào ngày tân hôn của thiếu gia Banh Giác và tiểu thư, tiểu vu nữ có linh tính tương thông bấm tay tính toán, biết được người tình của mình đã phản bội tình yêu của họ, bèn khóc lóc thảm thiết, đau đớn tâm can trong thung lũng cách xa ngàn dặm, run rẩy vì yêu."
Thương Ương Gia Tố dần bị câu chuyện này cuốn hút, cậu chăm chú lắng nghe.
Ma Cát A Mễ nói tiếp: "Cuối cùng, thiếu gia Banh Giác nhiễm bệnh dịch, chết khách tha hương. Thi thể của cậu ấy được người trục thây đưa về quê nhà an táng. Lúc quan tài hạ thổ, tiểu vu nữ mặc một thân bạch y váy trắng đột nhiên từ trong núi rừng xa xôi chạy đến, phủ phục trên nắp quan tài gào khóc thảm thiết, suốt đêm không chịu rời đi. Chẳng ai biết tiểu vu nữ là ai, chỉ kinh ngạc trước nhan sắc đẹp tựa thiên tiên của cô ấy, thậm chí còn hoài nghi cô ấy là tiên nữ hạ phàm từ chín tầng trời. Thế nhưng cuối cùng vẫn có người nhận ra cô ấy, đó là một người đàn ông, từng là một người đàn ông cao lớn vạm vỡ, giờ đây lại mang bộ dạng yếu ớt suy nhược, anh ta bước ra, run rẩy ngón tay chỉ vào cô ấy nói cho mọi người biết, người con gái mặc bạch y trước mắt chính là tiểu vu nữ ẩn nấp trong núi sâu rừng thẳm để hạ cổ, thế là phẫn nộ công phẫn, dưới hiệu lệnh của thổ ty, tiểu vu nữ bị gia đinh đè chặt xuống đất, mặc cho cô ấy cầu xin thế nào, cũng nhất quyết không cho cô ấy cơ hội dập đầu thêm một cái lạy dài với người đàn ông cô ấy yêu."
"Tiểu vu nữ cuối cùng bị trói ở bãi đất trống gần nghĩa địa, xung quanh cô ấy, ngọn lửa đang rực cháy phừng phừng. Cô ấy biết rằng, đây sẽ là sự niết-bàn của mình, nhưng cô ấy không hối hận, bởi vì có tình yêu, cô ấy nguyện vì anh ấy mà chết một lần, hoàn toàn tình nguyện, không oán không hối. Tiểu vu nữ bị thiêu chết rồi, máu tươi của cô ấy theo vết nứt mặt đất lan rộng đến trước mộ thiếu gia Banh Giác, sau đó, ở nơi máu tươi cô ấy chảy qua mọc lên một cây tương tư, thường xuyên có người nhìn thấy hai chú chim tương tư hót vang vui vẻ trên cây."
Thương Ương Gia Tố chăm chú lắng nghe, dần dần bị câu chuyện tình yêu bi thảm này đả động, trong lòng cậu, từ từ dâng lên một bức tranh quấn quýt bi thương.
Đó là chuyện từ khi nào nhỉ? Cậu lắc đầu, cố gắng theo dòng suy nghĩ của Ma Cát A Mễ để tưởng tượng. Lúc đó cậu còn rất nhỏ, tay đeo chuỗi hạt Phật do A-mát cầu xin từ tự viện, lén lút mở cánh cửa nhỏ ở sân sau thông ra rừng trúc sau lưng mọi người trốn ra ngoài. Cậu vẫn luôn tràn ngập sự tưởng tượng và khao khát đối với khu rừng đằng sau rừng trúc đó, cho nên cậu nhất định phải tận mắt nhìn xem đó rốt cuộc là một nơi thần kỳ nhường nào.
Lúc này, thiếu nữ xinh đẹp mặc một thân bạch y đột nhiên xuất hiện trước mắt cậu. Cô ấy trừng to mắt tò mò đăm đăm nhìn cậu hỏi: "Mày là con nhà ai, có biết đây không phải là nơi mày có thể tùy tiện ra vào hay không?"
"Cái gì?" Cậu ưỡn ngực ngẩng cao đầu, "Ta là thiếu gia Banh Giác nhà thổ ty, non nước cây cỏ lớn nhỏ ở đây đều là lãnh địa nhà ta, chẳng lẽ ta lại không có tư cách xuất hiện ở đây sao?"
"Mày là thiếu gia Banh Giác nhà thổ ty á?"
"Chẳng lẽ không phải sao?" Cậu kiêu ngạo đăm đăm nhìn cô ấy, "Ta bảo này, không dư không dung, sao mày lại xuất hiện ở nơi khỉ ho cò gáy này?"
"Liên quan gì đến mày? Đường cái thênh thang, tao thích đi đâu thì đi!" Cô ấy liếc cậu hừm một tiếng nói, "Này, mày thực sự là thiếu gia Banh Giác nhà thổ ty á?"
Cậu gật đầu: "Con đường mày đang đi là lãnh địa nhà ta, ta có thể không cho mày đi qua con đường này đấy."
"Mày á?" Cô ấy phì cười thành tiếng, "Dựa vào mày á? Mày có biết tao ở đây bao lâu rồi không?"
"Ở bao lâu?" Cậu không giấu vẻ khinh miệt liếc xéo cô ấy, "Nhìn mày tối đa cũng chỉ sạt sạt tuổi tao, cho dù tao cho mày ở đây cả đời đi nữa, thì cũng chỉ là mấy chục năm xuân xanh mà thôi."
"Mấy chục năm?" Cô ấy cười ha hả, "Mày có biết mẹ tao ở đây bao lâu rồi không? Thôi bỏ đi, không nói với mày nữa, nói ra sợ dọa chết mày đấy."
"Dọa chết ta?" Cậu sinh ra hứng thú với cô ấy, nghiêng cổ đánh giá cô ấy thật kỹ, "Mày tên là gì?"
"Tao?" Cô ấy ngông cuồng nhìn cậu cười, "Tao tên là Tuyết Y."
"Tuyết Y?" Cậu nhấm nháp cái tên của cô ấy, "Quả là một cái tên hay, là A-mát của mày đặt cho mày à?"
Cô ấy lắc đầu: "Mày đúng là một đứa trẻ, vừa mở miệng là hỏi mãi không ngừng." Vừa nói vừa vươn ngón tay chỉ vào khu vườn trái cây đằng sau, "Tao ở trong núi sâu phía sau vườn trái cây ấy, ở đó có rất nhiều loại quả mà bình thường tụi mày không đời nào thấy được, có muốn cùng tao đi hái nếm thử không?"
"Ta..." Cậu chần chừ, "Mày thực sự ở trong núi sâu đằng sau vườn trái cây à?"
"Tao gạt mày làm gì?" Cô ấy kéo tay cậu cười xinh xắn, "Mày đi theo tao không phải sẽ biết ngay sao? Quả ở đó vừa thơm vừa ngọt, bảo đảm mày ăn xong vứt cả mồm."
Cậu đi theo cô ấy xuyên qua vườn trái cây, đi thẳng đến vùng núi sâu rợp bóng râm. Trong núi sâu có thác nước, có những loài kỳ hoa dị thảo không gọi nổi tên, có đông trùng hạ thảo, có sóc, có thỏ, cậu và cô ấy chơi đùa vui quên trời đất, cho đến khi hoàng hôn buông xuống, vẫn không nỡ rời đi.
"Chỗ tao thế nào?" Cô ấy mang ánh mắt ngập tràn tình ý nhìn cậu.
"Đẹp!"
"Thế sau này mày còn đến chơi với tao nữa không?"
"Đương nhiên!" Cậu trịnh trọng gật đầu.
"Vậy được, chúng ta ngoắc tay đi." Cô ấy vươn ngón trỏ bàn tay phải khẽ lướt trước mắt cậu.
"Ngoắc tay?" Cậu khó hiểu nhìn chằm chằm cô ấy.
"Ừm. Đây là quy tắc trò chơi của trẻ con người Hán. Ngoắc tay rồi thì lời mày nói không được nuốt lời đâu đấy. Một khi nuốt lời, ngón tay của mày sẽ thối rữa đấy." Cô ấy chớp chớp đôi mắt ươn ướt nước, "Sao thế, mày không dám à?"
"Ai bảo tao không dám?" Cậu bắt chước điệu bộ của cô ấy vươn ngón trỏ bàn tay phải, đưa đến bên tay cô ấy.
Bàn tay hai người siết chặt vào nhau. Bốn mắt nhìn nhau, cậu bỗng cảm thấy cô ấy đẹp quá chừng đẹp, ngẩng đôi mắt ngây thơ của mình lên, ưỡn ngực nhìn cô ấy nói: "Tuyết Y, đợi sau này ta lớn lên sẽ đến rước mày về nhà làm vợ."
"Cái gì?"
"Ta nói đợi sau này ta lớn lên sẽ cưới mày về nhà làm vợ."
Cô ấy khúc khích cười: "Đồ ngốc ạ, đợi mày lớn lên, sớm đã quên sạch sành sanh tao rồi."
"Không, mày đợi tao đi, tao nhất định sẽ đến cưới mày." Cậu bướng bỉnh nhìn cô ấy nói.
Cô ấy cười càng thêm rạng rỡ phóng khoáng, nhưng hàng mày lập tức lại nhăn lại.
"Thiếu gia Banh Giác! Thiếu gia Banh Giác!" Từ đằng xa truyền đến từng hồi tiếng gọi sốn xang.
"Có người đến tìm mày kìa." Cô ấy liếc cậu, không giấu vẻ thất vọng khẽ cắn tai cậu nói.
"Đó là nông nô chăn cừu cho nhà ta."
"Thế mày về nhà đi, tao cũng phải đi đây." Cô ấy ngẩng đầu nhìn ánh hoàng hôn đang lặn về Tây thở dài nói.
"Tuyết Y", cậu lưu luyến không nỡ nhìn cô ấy, "Đến bao giờ ta mới lại được gặp mày đây?"
"Có một ngày, đợi khi nào mày nhớ tao, tao sẽ lại đến."
"Ngày nào ta cũng sẽ nhớ mày." Cậu ngây ngô nhìn cô ấy.
"Đồ ngốc ạ, những việc mày phải làm mỗi ngày nhiều như thế, lại còn phải học tập chăm chỉ dưới cửa sổ, làm gì có nhiều thời gian lúc nào cũng nhớ đến tao chứ?" Cô ấy vươn tay chọc chọc đầu cậu, "Thôi được rồi, mau về đi thôi, không thì A-pít với A-mát của mày lại lo lắng cho mày đấy."
"Ừm." Cậu gật đầu quay người bước về hướng con đường mòn phát ra âm thanh của người nông nô đang tìm mình, vừa đi, vừa ngoảnh đầu nhìn cô ấy, lưu luyến hỏi: "Mày thực sự sẽ đến thăm ta chứ?"
"Sẽ chứ." Cô ấy nghiêm túc gật đầu.
"Thế mày làm sao biết được là ta nhớ mày chứ?"
"Tự khắc tao sẽ có cách của tao thôi." Cô ấy cười quay người lại, từ từ biến mất khỏi tầm mắt của cậu.
Đợi bóng lưng cô ấy hoàn toàn biến mất khỏi tầm mắt mình, thiếu gia Banh Giác mới vô cùng miễn cưỡng đi theo nông nô với tâm trạng nơm nớp lo sợ trở về nhà. Thố nạn A-pít đang ngồi trên chiếc ghế thái sư cao lớn, trong tay cầm một chén trà đậm, thong thả thổi hơi vào chén trà, ra vẻ cao lớn và uy nghiêm. Vừa ngẩng đầu liếc thấy thiếu gia Banh Giác đã về, tức giận không chỗ phát tiết chỉ vào cậu gầm thét hỏi: "Nghiệp chướng, bảo mày bao nhiêu lần rồi, không được ra ngoài một mình, mày coi lời của A-pít gió thoảng ngoài tai hay sao thế hả?"
"Con..." Cậu liếc xéo A-mát đang đứng sau lưng A-pít, ấp ú nói, "Con ở nhà ngột ngạt quá chịu không thấu, cho nên mới chạy ra ngoài hóng mát."
"Hóng mát? Mày chạy đi đâu hóng mát? Mày chạy ra ngoài chơi bời vui vẻ một mình, mày có biết ta với A-mát ở nhà lo lắng, căng thẳng vì mày đến nhường nào không?" Thố nạn trợn mắt nhìn cậu hỏi, "Nói mau, rốt cuộc mày lại chạy đi đâu quậy phá rồi?"
"Con vào khu rừng sau rừng trúc chơi."
"Khu rừng sau rừng trúc?" Khuôn mặt A-mát thò ra từ sau vai A-pít, tái mét và sợ hãi. "Mày vào đó làm gì? Không phải đã bảo mày rồi sao, một mình tuyệt đối không được đến đó!"
"Con chỉ vào đó chơi thôi mà!"
“Chơi?” Tù trưởng trừng to mắt nhìn hắn, “Mày chẳng lẽ không biết... Được rồi, bây giờ nói cho Aba, mày đã nhìn thấy những gì trong rừng? Phải nói thật, thừa một câu không được, thiếu một câu cũng không xong!”
“Con ư?” Trước mắt hắn bỗng chốc hiện lên bóng dáng yểu điệu trong bộ y phục trắng cùng dung mạo xuất sắc, “Con nhìn thấy một cô gái mặc áo trắng, tên của cô ấy là Tuyết Y.”
“Cái gì? Cô gái mặc áo trắng?”
“Vâng.”
“Cô gái mặc áo trắng nào cơ?” Ama căng thẳng nhìn chằm chằm nó, “Sao từ trước tới nay mẹ chưa từng nghe nói quanh đây có cô gái nào tên là Tuyết Y cả, con nghe nhầm hay là thế nào?” Ama hình như cảm thấy có chỗ nào không ổn, vội vàng quay người nhìn tù trưởng đầy sợ hãi mà nói, “Chẳng lẽ là...”
“Là cái gì?” Tù trưởng thiếu kiên nhẫn trừng vợ một cái. “Bà cứ nghe nó nói nhảm, chỗ chúng ta lấy đâu ra cô gái mặc áo trắng nào? Trong khu rừng đó vốn dĩ không có một hộ gia đình nào cả, hơn nữa nếu không có sự cho phép của tôi, người ngoài hoàn toàn không thể bước vào trong đó!”
“Chính vì thế nên tôi mới nghi ngờ...”
Tù trưởng nghe vợ nói vậy, lông mày liền nhíu lại, ông liếc nhìn Ban Giác thiếu gia, lại liếc nhìn vợ: “Ý bà là... truyền thuyết kia...”
Ama nặng nề gật đầu: “Chỉ sợ là... Từ khi lệnh cấm của chúng ta được ban hành, thì không còn ai bén mảng đến khu rừng núi đó nữa, cặp vu nữ kia cũng đã rất nhiều năm không hại người rồi, nghe nói hễ là đànàn ông chạm mặt bọn họ, sẽ bị bọn họ hạ cổ, chưa từng có ai đi ra mà còn sống sót cả, chẳng lẽ người con trai của chúng ta chạm trán cô gái áo trắng chính là...”
“Vu nữ với chả không vu nữ cái gì chứ?” Nó trừng đôi mắt ngây thơ nhìn bố mẹ đang đầy hoảng sợ nói, “Cô ấy là một cô gái xinh đẹp lắm, con chưa từng thấy cô gái nào xinh đẹp như cô ấy cả!”
“Mày câm miệng lại cho tao!” Tù trưởng liếc nó gầm lên một tiếng, “Còn nói nhảm nữa tao nhốt mày lại đấy!”
“Con không nói nhảm, đợi sau này con lớn lên còn cưới cô ấy về làm vợ cơ!” Nó bĩu môi hờn dỗi nói.
“Cái gì?” Tù trưởng nổi giận lôi đình, phẫn nộ đập vỡ chiếc cốc trong tay, hai đôi tay đã vì hoảng sợ mà không kìm được run rẩy lên. “Người đâu, mau đưa Ban Giác thiếu gia ra sân sau nhốt lại! Không có lệnh của ta, không ai được phép thả nó ra!”
“Aba!”
“Đừng gọi ta!” Tù trưởng chỉ vào nó lớn tiếng mắng, “Nhìn mày xem, cái đồ khốn nạn này, mày xem mày đã quậy phá thành cái dạng gì ở đây rồi hả?!”
Các gia nhân nghe thấy tiếng gọi, kéo tiểu thiếu gia đi thẳng ra sân sau. Ama hồn vía lên mây nhìn chằm chằm tù trưởng: “Phải làm sao đây? Chuyện này tính thế nào đây? Nghe nói cặp vu nữ đó căm hận đàn ông thấu xương, hễ là đàn ông bị bọn họ chạm trán thì sẽ chẳng có kết cục tốt đẹp đâu, nếu Ban Giác thực sự đụng phải bọn họ, chỉ sợ lành ít dữ nhiều rồi! Ôi trời ơi, Ban Giác là đứa con cục cưng của chúng ta cơ mà, ông mau nghĩ cách cứu nó đi chứ!”
“Tôi không phải đang nghĩ đó sao?” Tù trưởng ngẩng đầu thở dài thật sâu, bất chợt vung tay quát lớn một tiếng, “Xem ra chỉ còn cách này thôi!”
“Cách gì?”
“Đưa nó đi, đưa đi càng xa càng tốt.”
“Đưa đi?”
“Đây là cách duy nhất cứu nó.”
Ama chợt ngã sụp xuống ghế, vươn tay lau nước mắt. Xem ra cũng đành phải làm vậy thôi.
Sau đó tiểu thiếu gia bị cưỡng ép lôi lên xe ngựa, bị đưa đi nơi xa đọc sách. Trên xe ngựa, thiếu niên không sự đời ấy đầm đìa nước mắt, giãy giụa hướng về phía sâu trong rừng núi lớn tiếng khóc gào: “Tuyết Y! Tuyết Y, cậu đang ở đâu? Tuyết Y, cậu chờ tớ, tớ sẽ quay lại tìm cậu!”
Đêm hôm đó, trăng lạnh tựa nước, trong khu rừng núi tịch mịch, Tuyết Y với một thân y phục trắng nhíu chặt chân mày canh gác trên sườn dốc cao, nhìn chiếc xe ngựa chở Ban Giác thiếu gia đi khuất dần, cho đến khi bánh xe kẽo kẹt nghiền trên con đường núi ẩm ướt biến mất ở tận cùng ánh trăng.
Thương Ương Gia Tố đã bị cô gái áo trắng xinh đẹp trong câu chuyện làm cho rung động sâu sắc. Hắn đăm đăm ngắm nhìn Ma Cát A Mễ với đôi mắt chứa đựng một vũng nước mùa thu, trong ánh mắt tràn ngập vẻ yêu chiều vô hạn. Trái tim hắn trở nên dịu dàng tràn trề, không kìm được nắm chặt đôi tay mảnh mai không xương của nàng, nhỏ giọng hỏi người đẹp như hoa trước mắt: “Vậy kiếp này, em còn muốn làm cô gái áo trắng đó, đứng trên sườn dốc cao kia chờ anh không?”
“Không.” Nàng khẽ lắc đầu, vẻ ưu sầu leo lên vầng trán nàng. “Kiếp này, anh phải giống như Tuyết Y, vì em mà bi thương, quặn thắt, run rẩy, dốc cạn toàn bộ sức lực của cơ thể để thành toàn cho một mối tình vĩnh cửu.”
“Chỉ vậy thôi sao?” Thương Ương Gia Tố ôm chặt nàng vào lòng. Ánh trăng mới mọc làm cho gương mặt tựa nước của nàng càng thêm phần trong sạch tinh thuần, hắn không khỏi thầm niệm trong lòng: Ma Cát A Mễ, dù sau này có xảy ra chuyện gì đi nữa, cho dù mất đi tất cả sự tự do, anh cũng sẽ dốc cạn toàn lực để yêu thương cưng chiều em, chỉ cần anh còn sống, sẽ không để em chịu một chút uất ức nào, mãi mãi, vĩnh viễn.
Vào lúc đèn hoa thưa thớt, dưới ánh mắt bịn rịn không nỡ rời của Ma Cát A Mễ, hắn từng bước một ngoảnh đầu đi về hướng tự viện Ba Tang. Phía bên ngoài cổng tự viện Ba Tang, một đám lạt ma thần sắc lạnh lùng đứng ngay ngắn dưới chân tường, đang đợi vị Hoạt Phật của bọn họ trở về. Trong cơn hoảng loạn, hắn ngoảnh đầu liếc về hướng Ma Cát A Mễ, đợi xác định nàng đã biến mất dưới đêm trăng, mới bước ra từ bóng râm đen kịt. Dù thế nào đi nữa, hắn cũng sẽ không phản bội Ma Cát A Mễ, mặc kệ xảy ra chuyện gì, hắn cũng sẽ một mình đối mặt với tất cả trách phạt của đại lạt ma Mai Nhạ.
Đến khi hắn đi qua con đường mòn tuy không dài nhưng lại có vẻ xa xôi ấy xuất hiện trước cửa tự viện Ba Tang, lại chợt phát hiện ra, ngoài rất nhiều lạt ma quen thuộc ra, trong và ngoài tự viện còn đứng một đám tùy tùng ăn mặc kỳ lạ, đen nghịt một mảng, uy nghiêm và tráng lệ. Hắn biết bọn họ đang đợi mình, lại tò mò vì sao bọn họ lại có khí thế lớn đến vậy.
Phía bên trái ngoài cổng tự viện đậu một chiếc xe ngựa vô cùng sang trọng, còn lộng lẫy xa hoa hơn cả chiếc xe ngựa đón hắn từ Ô Kiên Lâm của Đạt Vawang đến Thố Na năm nào. Đứng cạnh xe ngựa là một số đại lạt ma khí phách hiên ngang, những vị lạt ma này người nào người nấy thần sắc trang nghiêm u tịch, hoàn toàn không hề hòa ái dễ gần như những vị lạt ma dạy kinh nghĩa cho mình, thế nhưng đối với hắn lại vô cùng cung kính. Đại lạt ma Mai Nhạ, người vẫn luôn truyền thụ Phật pháp cho Thương Ương Gia Tố, bảo hắn rằng việc tu hành ở tự viện Ba Tang của hắn đã kết thúc, tiếp theo phải khởi hành đi Lãng Khách Tử rồi, ở đó, sẽ có một nhân vật vĩ đại nhất đang đợi hắn, ông ấy sẽ dẫn hắn về cung Bố Đạt La ở Lhasa để ngự tòa.
Về ư? Thương Ương Gia Tố mở to đôi mắt ngơ ngác, Lhasa và cung Bố Đạt La đối với hắn từ trước đến nay chỉ là một ảo ảnh xinh đẹp không thể nắm bắt, thậm chí chưa từng xuất hiện trong bất kỳ giấc mơ trong trẻo nào của hắn, thế mà bọn họ lại nói hắn vốn dĩ xuất phát từ nơi đó. Hắn thậm chí còn không biết, trong lòng bọn họ, hắn chính là Hoạt Phật của bọn họ, là hóa thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm thần thánh Lạng Tang Gia Tố.
Tiếng Phạn ca chiều muộn. Thương Ương Gia Tố còn chưa kịp nói gì, đã được các đại lạt ma cung kính mời lên xe ngựa.
“Kinh sách của con!” Thương Ương Gia Tố vén rèm xe lên, trừng đôi mắt nghi hoặc liếc nhìn đại lạt ma Mai Nhạ Lạc Châu Gia Tố của tự viện Đạt Vawang, người đã dạy kinh nghĩa cho hắn, “Sư phụ, kinh sách của con!”
“Đến Lhasa rồi, kinh sách gì mà chẳng có?” Lạc Châu Gia Tố, người được mọi người tôn kính gọi là đại lạt ma Mai Nhạ, vẫy vẫy tay với hắn, “Đi đi! Nguyện đức Phật phù hộ cho con, đứa trẻ ngoan.”
“Ma Cát A Mễ!” Hắn ngồi trên xe ngựa ngây ngốc niệm.
“Cái gì?” Lạc Châu Gia Tố ở ngoài xe còn chưa kịp hiểu hắn đang lẩm bẩm cái gì, “bốp” một tiếng roi vụt lên, xe ngựa liền chậm rãi chuyển bánh.
“Ừm.” Thương Ương Gia Tố liếc nhìn quê hương lần cuối cùng, non nước quê hương, rừng cây quê hương, tiếng cười giòn giã rộn rã đơm hoa kết trái trong rừng cây. Thế nhưng, giờ phút này đây, trong lòng hắn lại thầm nhớ nhung thiếu nữ mặc áo trắng cưỡi bò Tây Tạng trắng kia, cô gái tên là Ma Cát A Mễ ấy. Hắn thầm thề trong lòng, bản thân tuyệt đối sẽ không quên nàng, cho dù đi đến đâu, đi về hướng nào, đợi hắn học thành tài trở về, nhất định vẫn phải trở về cố hương. Phải, hắn nhất định phải trở về, hắn phải quay về tìm kiếm Ma Cát A Mễ với tiếng cười rủng rỉnh ngọc châu, nụ cười đẹp tựa bức họa ấy.
Đội ngũ rầm rộ tiến về phía cung điện của trời nối liền với chân trời. Thương Ương Gia Tố ngồi ngay ngắn ở chiếc pháp xa cốt lõi nhất trong số đó. Tất cả mọi người bắt đầu gọi hắn là Hoạt Phật, thế nhưng, Hoạt Phật là gì chứ?
Hắn đem mối nghi ngờ trong lòng nói cho lạt ma Lạng Tang đến từ Lhasa, người lúc này đang ngồi bên cạnh bầu bạn với hắn.
Lạt ma Lạng Tang giải thích với hắn rằng: “Hoạt Phật, chính là chỉ người đã tu hành thành Phật, sau khi ngài viên tịch, vì hoàn thành đại nguyện phổ độ chúng sinh, xuất hiện bằng thể xác của người bình thường, lại một lần nữa chuyển thế làm người.”
“Nói vậy, kiếp trước của con, là đại sư đắc đạo sao?”
Trên mặt lạt ma Lạng Tang là một vẻ thần sắc khó dò, ông khẽ vén màn trướng của pháp xa, nhìn vùng đất Tạng vô tận bên ngoài pháp xa, đầy thâm ý nói: “Lãng Khách Tử sắp đến rồi, qua Lãng Khách Tử thì cách Lhasa không xa nữa, cung Bố Đạt La ở ngay đó. Đến thánh cung rồi, Hoạt Phật nhất định phải ngự tòa tu hành, con nhất định có thể trở thành Pháp vương kiệt xuất nhất của Tây Tạng.”
Lúc lạt ma Lạng Tang nói câu cuối cùng, Thương Ương Gia Tố nhìn thấy rõ ràng trên mặt ông lóe lên một thứ ánh sáng thần bí nào đó. Hắn không thể dò ra đây là loại tình cảm gì, giống như hắn không thể dự đoán trước bản thân có thể trở thành Pháp vương kiệt xuất nhất hay không vậy.
Hắn cứ thế rời khỏi tự viện Ba Tang, rời khỏi Thố Na, cũng giống như nhiều năm trước rời khỏi Ô Kiên Lâm của Đạt Vawang, rời khỏi Môn Ngu.
Năm nay hắn mười lăm tuổi, kể từ sau đó, cho đến mãi năm hai tuổi qua đời vì bệnh bên bờ hồ Thanh Hải, hắn rốt cuộc không còn cơ hội quay về cố hương lấy một lần nào nữa. Cố hương khiến hắn vương vấn khôn nguôi đó, cũng chỉ có thể hết lần này đến lần khác khiến hắn hồn xiêu phách lạc sau tấm màn trướng của cung Bố Đạt La và trên đường phố Lhasa.
Thế nhưng, Thương Ương Gia Tố đối với cố hương vẫn luôn ôm ân tình lưu luyến sâu đậm, tuy không thể trở về cố hương, nhưng cố hương khiến hắn chung thủy đến chết cũng không đổi dường như vẫn luôn tuôn chảy trong thơ ca của hắn, và được truyền tụng rộng rãi khắp nơi ở Tây Tạng. Người Tạng ở Môn Ngu cũng yêu mến và kính trọng một vị Hoạt Phật nặng tình nặng nghĩa nhường ấy. Trong khu vực sinh sống của người Môn Ba, một bài dân ca ca ngợi Thương Ương Gia Tố cho đến nay vẫn được truyền tụng rộng rãi tựa như lửa cháy:
Đỉnh cung Bố Đạt La,
Mọc lên vầng thái dương vàng chói.
Đó chẳng phải vầng thái dương vàng chói nào,
Mà là ánh hào quang của Thương Ương Gia Tố.