Tự Thú Của Một Kẻ Nghiện Thuốc Phiện Người Anh

Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những Nỗi Đau Của Thuốc Phiện

❊ ❊ ❊

—như khi một họa sĩ tài ba nhúng

Cây bút của mình vào sự u ám của động đất và nhật thực.

SHELLEY, Cuộc nổi dậy của đạo Hồi.

Hỡi bạn đọc, người đã đồng hành cùng tôi đến đây, tôi phải nhờ bạn chú ý đến một lời giải thích ngắn gọn về ba điểm sau:

1. Vì nhiều lý do, tôi không thể sắp xếp các ghi chú cho phần này trong câu chuyện của mình thành một hình thức mạch lạc và có hệ thống nào. Tôi đưa ra các ghi chú một cách rời rạc đúng như tôi tìm thấy, hoặc theo trí nhớ hiện tại của mình. Một vài ghi chú chỉ rõ thời điểm của chúng, một số tôi đã ghi ngày tháng, và một số thì không. Bất cứ khi nào việc đảo chúng khỏi trật tự tự nhiên hoặc trình tự thời gian có lợi cho mục đích của tôi, tôi đều không ngần ngại làm điều đó. Đôi khi tôi dùng thì hiện tại, đôi khi dùng thì quá khứ. Có lẽ rất ít ghi chú được viết chính xác vào khoảng thời gian mà chúng đề cập; nhưng điều này hầu như không ảnh hưởng đến độ chính xác của chúng, bởi vì những ấn tượng đó sâu đậm đến mức không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi. Rất nhiều thứ đã bị lược bỏ. Tôi không thể, nếu không phải nỗ lực rất nhiều, ép mình vào nhiệm vụ hồi tưởng hoặc cấu trúc lại thành một câu chuyện rành mạch toàn bộ gánh nặng kinh hoàng đang đè nặng lên đại não tôi. Tôi viện dẫn cảm giác này một phần làm lời bào chữa, và một phần vì hiện tại tôi đang ở Luân Đôn, là một kẻ bất lực, thậm chí không thể tự sắp xếp giấy tờ của chính mình nếu không có người giúp đỡ; lại thêm phần bị chia cắt với những bàn tay vẫn thường thay tôi làm công việc của một người chép thuê.

2. Có lẽ bạn sẽ nghĩ rằng tôi quá tâm sự và thổ lộ quá nhiều về lịch sử riêng tư của mình. Có thể là như vậy. Nhưng cách viết của tôi thiên về việc suy nghĩ lớn tiếng và làm theo tâm trạng của chính mình hơn là bận tâm xem ai đang lắng nghe; và nếu cứ chần chừ suy xét điều gì là phải phép khi nói với người này hay người khác, chẳng mấy chốc tôi sẽ đâm ra nghi ngờ liệu có điểm nào hoàn toàn là phải phép hay không. Thực tế là, tôi đặt mình vào thời điểm mười lăm hoặc hai mươi năm sau hiện tại, và tưởng tượng rằng mình đang viết cho những ai sau này sẽ quan tâm đến tôi; và vì muốn có một ghi chép về khoảng thời gian mà không ai có thể biết toàn bộ câu chuyện ngoài chính tôi, tôi viết nó một cách đầy đủ nhất trong khả năng hiện có của mình, bởi vì tôi không biết liệu mình có thể tìm được thời gian để làm lại điều đó hay không.

3. Chắc hẳn bạn sẽ thường tự hỏi: tại sao tôi không tự giải thoát mình khỏi cơn ác mộng thuốc phiện bằng cách từ bỏ nó hoặc giảm bớt liều lượng? Về điều này, tôi phải trả lời ngắn gọn: người ta có thể cho rằng tôi đã quá dễ dãi nhượng bộ trước sự cám dỗ của thuốc phiện, nhưng không thể cho rằng bất kỳ ai lại có thể bị mê hoặc bởi sự kinh hoàng của nó. Do đó, bạn đọc có thể chắc chắn rằng tôi đã vô số lần thử giảm số lượng. Tôi xin nói thêm rằng chính những người chứng kiến sự dằn vặt của những lần thử nghiệm đó, chứ không phải bản thân tôi, là những người đầu tiên nài nỉ tôi hãy dừng lại. Nhưng chẳng lẽ tôi không thể giảm đi một giọt mỗi ngày, hoặc bằng cách thêm nước, chia đôi hay chia ba một giọt ấy sao? Một nghìn giọt được chia đôi như thế sẽ mất tới gần sáu năm mới giảm xong, và cách đó chắc chắn sẽ không hiệu quả. Nhưng đây là một lầm tưởng phổ biến của những người không biết gì về thuốc phiện qua thực tế; tôi xin hỏi những ai đã từng trải nghiệm, rằng có phải người ta luôn thấy việc giảm liều xuống đến một mức độ nào đó là dễ dàng và thậm chí dễ chịu, nhưng sau mốc đó, việc tiếp tục giảm sẽ gây ra sự đau đớn dữ dội hay không? Vâng, nhiều kẻ vô tâm không biết mình đang nói gì thường bảo rằng bạn sẽ chỉ hơi buồn bã và chán nản trong vài ngày. Tôi trả lời rằng không; chẳng có cái gọi là buồn bã nào cả; ngược lại, tinh thần đơn thuần của thể xác lại phấn chấn bất thường: mạch đập tốt hơn, sức khỏe khá hơn. Sự đau đớn không nằm ở đó. Nó không có điểm nào giống với những thống khổ do việc từ bỏ rượu gây ra. Đó là một trạng thái kích thích khôn tả ở dạ dày (chắc chắn chẳng có mấy điểm giống với sự chán nản), đi kèm với những cơn đổ mồ hôi đầm đìa và những cảm giác mà tôi sẽ không cố gắng miêu tả nếu không có đủ không gian.

Bây giờ tôi sẽ đi thẳng vào vấn đề chính, và từ một thời điểm mà nỗi đau do thuốc phiện có thể coi là đạt đến đỉnh điểm, tôi xin kể lại tác dụng làm tê liệt của nó đối với các năng lực trí tuệ.

Việc học tập của tôi đã bị gián đoạn từ lâu. Tôi không thể tự đọc sách với bất kỳ niềm vui nào, hầu như không thể chịu đựng nổi dù chỉ một khoảnh khắc. Thế nhưng, đôi khi tôi vẫn đọc thành tiếng để mang lại niềm vui cho người khác, bởi vì đọc sách là một tài lẻ của tôi, và theo nghĩa lóng của từ “tài lẻ” như một thứ kỹ năng nông cạn và mang tính trang trí, thì đó hầu như là thứ duy nhất tôi sở hữu; và trước kia, nếu tôi có chút hư vinh nào gắn liền với bất kỳ ân huệ hay tài năng nào của mình, thì đó chính là tài đọc sách, bởi tôi nhận ra rằng chẳng có kỹ năng nào hiếm hoi đến thế. Các diễn viên kịch là những người đọc tồi tệ nhất trong tất cả: —— đọc vô cùng tệ hại; và bà ——, người vốn rất nổi tiếng, chẳng thể đọc hay bất cứ thứ gì ngoài các tác phẩm kịch: Riêng Milton thì mụ ta không tài nào đọc cho ra hồn được. Nói chung, người ta hoặc là đọc thơ mà chẳng có chút cảm xúc nào, hoặc là vượt quá giới hạn khiêm nhường của tự nhiên, đọc không ra dáng học giả chút nào. Gần đây, nếu có điều gì khiến tôi cảm động thì đó chính là những khúc ca thương cảm hùng tráng trong Samson Agonistes, hoặc những âm điệu vĩ đại trong các bài diễn văn của Satan trong Paradise Regained, khi được chính tôi đọc thành tiếng. Thỉnh thoảng có một thiếu nữ đến uống trà cùng chúng tôi: theo lời đề nghị của cô ấy và M., thỉnh thoảng tôi lại đọc thơ của W. cho họ nghe. (Nhân tiện xin nói thêm, W. là nhà thơ duy nhất tôi từng gặp có thể đọc thơ của chính mình; quả thực, thường thì ông ấy đọc rất tuyệt vời.)

Trong gần hai năm, tôi tin rằng mình không đọc cuốn sách nào ngoài một cuốn duy nhất; và để đền đáp một ân nghĩa lớn lao, tôi phải nhắc đến tên tác giả và tác phẩm ấy. Những nhà thơ siêu việt và dạt dào cảm xúc hơn, như tôi đã nói, tôi vẫn đọc ngắt quãng và thỉnh thoảng. Nhưng thiên chức thực sự của tôi, như tôi thừa biết, là việc thực hiện tư duy phân tích. Giờ đây, phần lớn các nghiên cứu phân tích đòi hỏi tính liên tục, không thể theo đuổi kiểu ngắt quãng, thất thường hay bằng những nỗ lực vụn vặt. Chẳng hạn như toán học, triết học tinh thần, v.v., tất cả đều đã trở nên không thể dung nạp đối với tôi; tôi co rúm lại trước chúng với một cảm giác bất lực và yếu đuối tựa trẻ thơ, điều đó mang lại cho tôi nỗi đau đớn càng lớn hơn khi nhớ lại thời gian mà tôi từng vật lộn với chúng trong niềm vui sướng mỗi giờ; và vì một lý do nữa là tôi đã cống hiến toàn bộ công sức của cả đời mình, đã dâng hiến trí tuệ của mình, cả hoa trái lẫn nụ tẻ, cho công sức chậm chạp và công phu để xây dựng một công trình duy nhất, mà tôi đã mạo muội đặt cho nó tựa đề của một tác phẩm còn dang dở của Spinoza — tức là, De Emendatione Humani Intellectus. Thứ này giờ đây đang nằm đó, bị khóa chặt như thể bởi băng giá, giống như bất kỳ cây cầu hay cống dẫn nước nào ở Tây Ban Nha, được khởi công với quy mô quá lớn so với nguồn lực của kiến trúc sư; và thay vì hồi sinh tôi như một đài tưởng niệm của những hoài bão ít nhất cũng là ước vọng, và một đời lao động cống hiến để nâng cao bản tính con người theo cách mà Chúa đã trang bị tốt nhất để tôi thúc đẩy một mục tiêu lớn lao như thế, thì nó có nguy cơ trở thành một đài tưởng niệm trước các con tôi về những hy vọng tiêu tan, những nỗ lực sụp đổ, những vật liệu tích lũy vô ích, những nền móng được đặt ra nhưng không bao giờ có thể nâng đỡ nổi một cấu trúc siêu tầng — về nỗi buồn và sự lụi tàn của người kiến trúc sư. Trong trạng thái suy nhược này, để giải khuây, tôi đã hướng sự chú ý của mình sang kinh tế chính trị; trí năng của tôi, vốn trước đây năng động và bồn chồn không kém gì một con linh cẩu, chắc là không thể (chừng nào tôi còn sống) chìm vào cơn hôn mê hoàn toàn; và kinh tế chính trị mang lại lợi thế này cho một người ở trạng thái như tôi, rằng mặc dù nó nổi tiếng là một khoa học hữu cơ (nghĩa là không có phần nào hoạt động mà không tác động đến tổng thể cũng như tổng thể phản ứng lại từng phần), thế nhưng các bộ phận riêng lẻ có thể được tách rời và ngắm nhìn đơn lẻ. Dù năng lực của tôi lúc này suy kiệt đến đâu, tôi vẫn không thể quên đi kiến thức của mình; và trí năng của tôi đã có quá nhiều năm gắn bó thân thiết với những nhà tư tưởng nghiêm cẩn, với logic học và các bậc thầy vĩ đại của tri thức, nên tôi thừa biết sự yếu kém tột cùng của đại đa số các nhà kinh tế học hiện đại. Vào năm 1811, tôi đã bị cuốn vào việc nghiên cứu đống sách vở và tờ rơi về nhiều nhánh kinh tế học khác nhau; và theo ý muốn của tôi, M. thỉnh thoảng đọc cho tôi nghe các chương từ những tác phẩm gần đây hơn, hoặc các phần trong các cuộc tranh luận tại nghị viện. Tôi thấy rằng những thứ này nhìn chung chỉ là cặn bã và nước rửa của trí tuệ con người; và bất kỳ ai có cái đầu tỉnh táo, thành thạo việc vận dụng logic với sự khéo léo uyên bác đều có thể túm lấy toàn bộ viện hàn lâm các nhà kinh tế học hiện đại, bóp cổ họ giữa trời và đất bằng ngón cái và ngón trỏ, hoặc nghiền nát những cái đầu nấm của họ thành bột bằng chiếc quạt của một quý cô. Cuối cùng, vào năm 1819, một người bạn ở Edinburgh đã gửi xuống cho tôi cuốn sách của ông Ricardo; và khi nhớ lại tiên đoán mang tính tiên tri của mình về sự xuất hiện của một nhà lập pháp cho khoa học này, trước khi đọc xong chương đầu tiên, tôi đã thốt lên: “Chính ngài là người đó!” Sự kinh ngạc và tò mò là những cảm xúc đã chết đi trong tôi từ lâu. Thế nhưng một lần nữa tôi lại ngạc nhiên: tôi ngạc nhiên về chính mình vì một lần nữa tôi lại có thể được kích thích để nỗ lực đọc sách, và hơn thế nữa, tôi ngạc nhiên về cuốn sách. Liệu tác phẩm uyên bác này có thực sự được viết ở nước Anh trong thế kỷ mười chín không? Có thể thế được sao? Tôi cứ tưởng tư duy {19} đã tuyệt chủng ở nước Anh rồi chứ. Chẳng lẽ một người Anh, lại không phải ở chốn thâm nghiêm học viện, mà bị đè nặng bởi những âu lo thương mại và nghị trường, lại có thể hoàn thành điều mà tất cả các trường đại học ở Châu Âu và một thế kỷ tư duy đã thất bại ngay cả trong việc thúc đẩy dù chỉ một mảy may? Tất cả các nhà văn khác đều đã bị nghiền nát và đè bẹp bởi sức nặng khủng lồ của các sự kiện và tài liệu. Ông Ricardo đã suy diễn a priori từ chính trí năng những quy luật lần đầu tiên rọi một tia sáng vào mống hỗn độn cồng kềnh của các tư liệu, và đã dựng nên thứ vốn chỉ là một tập hợp những cuộc tranh luận dò dẫm thành một khoa học có tỷ lệ cân đối, giờ đây lần đầu tiên đứng vững trên một nền tảng vĩnh cửu.

Thế là, chỉ một tác phẩm duy nhất của một trí tuệ uyên bác đã mang lại cho tôi niềm sự phấn khích và hoạt động mà tôi đã không còn biết đến trong nhiều năm trời. Nó thậm chí còn đánh thức tôi viết, hoặc ít nhất là đọc cho M. viết hộ. Dường như có một số chân lý quan trọng đã lọt lưới ngay cả “ánh mắt không thể tránh né” của ông Ricardo; và vì những điều này hầu như có tính chất sao cho tôi có thể diễn đạt hoặc minh họa chúng ngắn gọn và tao nhã hơn bằng các ký hiệu đại số thay vì lối diễn đạt vụng về và lê thê thông thường của các nhà kinh tế học, nên toàn bộ sẽ không chiếm đầy một cuốn sổ tay; và vì nó quá ngắn gọn, lại có M. làm người chép thuê, nên ngay cả lúc này đây, dẫu bất lực trước mọi nỗ lực chung, tôi vẫn soạn thảo xong tập Nhập luận cho mọi Hệ thống Kinh tế Chính trị tương lai của mình. Tôi hy vọng người ta sẽ không thấy nó đậm đặc mùi thuốc phiện; dẫu rằng đối với hầu hết mọi người, bản thân đề tài này đã là một chất gây mê đủ mạnh rồi.

Tuy nhiên, nỗ lực này chỉ là một tia chớp thoáng qua, như phần tiếp theo đã cho thấy; bởi vì tôi có ý định xuất bản tác phẩm của mình. Các sự chuẩn bị đã được thực hiện tại một nhà in tỉnh lẻ, cách đó khoảng mười tám dặm, để in ấn nó. Một thợ sắp chữ bổ sung đã được giữ lại trong vài ngày vì việc này. Công trình thậm chí đã được quảng cáo hai lần, và tôi coi như đã cam kết hoàn thành dự định của mình. Nhưng tôi còn phải viết một lời tựa và một lời đề tặng, mà tôi muốn biến nó thành một lời đề tặng thật lộng lẫy gửi ông Ricardo. Tôi thấy mình hoàn toàn bất lực trong việc hoàn thành tất cả những điều đó. Các thỏa thuận bị hủy bỏ, người thợ sắp chữ bị sa thải, và tập “Nhập luận” của tôi nằm nghỉ bình yên bên cạnh người anh cả uy nghi hơn của nó.

Tôi đã miêu tả và minh họa sự tê liệt trí tuệ của mình bằng những thuật ngữ áp dụng ít nhiều cho mọi giai đoạn trong suốt bốn năm tôi nằm dưới bùa phép Circean của thuốc phiện. Còn về sự khốn khổ và đau đớn, quả thực có thể nói tôi đã tồn tại trong một trạng thái ngủ đông. Tôi hiếm khi có thể tự thuyết phục mình viết một bức thư; một câu trả lời ngắn ngủi cho bất kỳ lá thư nào nhận được đã là điều tối đa tôi có thể làm, và thường thì điều đó chỉ xảy ra khi bức thư đã nằm trên bàn viết của tôi cả tuần hoặc thậm chí cả tháng trời. Nếu không có sự giúp đỡ của M., mọi ghi chép về các hóa đơn đã trả hoặc chưa trả hẳn đã tiêu đời, và toàn bộ nền kinh tế gia đình tôi, dù Kinh tế Chính trị có ra sao đi nữa, chắc chắn đã chìm vào sự hỗn loạn không thể cứu vãn. Sau này tôi sẽ không nhắc lại phần này của câu chuyện nữa. Tuy nhiên, đó là một điều mà người nghiện thuốc phiện cuối cùng sẽ thấy áp bức và dằn vặt chẳng kém gì bất cứ thứ gì khác, từ cảm giác bất lực và suy nhược, từ những rắc rối trực tiếp phát sinh do việc lơ là hoặc trì hoãn các nhiệm vụ thích hợp mỗi ngày, và từ sự ăn năn hối hận vốn phải thường xuyên làm trầm trọng thêm vết chích của những tệ hại này đối với một tâm trí suy ngẫm và lương thiện. Kẻ nghiện thuốc phiện không hề đánh mất bất kỳ sự nhạy cảm hay hoài bão đạo đức nào. Anh ta vẫn ước ao và khao khát tha thiết như xưa để hiện thực hóa những gì mình tin là khả thi, và cảm thấy đó là nghĩa vụ bắt buộc; nhưng nhận thức trí tuệ của anh ta về những gì khả thi lại vượt xa vô tận so với năng lực của anh ta, không chỉ năng lực thực hiện, mà ngay cả năng lực để khởi sự. Anh ta nằm dưới sức nặng của ma quỷ và ác mộng; anh ta nằm trong tầm nhìn của tất cả những gì mình hằng mong muốn thực hiện, giống hệt như một người bị giam cầm cưỡng bức trên giường bệnh bởi sự mệt mỏi tử thần của một căn bệnh làm rã rời cơ thể, kẻ buộc phải chứng kiến cảnh những người mình yêu thương nhất bị tổn thương hoặc lăng mạ: anh ta nguyền rủa bùa phép xiềng xích khiến mình không thể động đậy; anh ta sẵn sàng đánh đổi cả sinh mạng chỉ để được đứng dậy và bước đi; nhưng anh ta bất lực như một đứa trẻ sơ sinh và thậm chí không thể cố gắng đứng lên.

Bây giờ tôi chuyển sang chủ đề chính của những lời thú tội sau này, đó là lịch sử và nhật ký về những gì đã diễn ra trong những giấc mơ của tôi, vì chúng là nguyên nhân trực tiếp và gần kề dẫn đến nỗi thống khổ cùng cực nhất của tôi.

Dấu hiệu đầu tiên tôi nhận thấy về bất kỳ sự thay đổi quan trọng nào đang diễn ra trong phần kinh tế thể xác này chính là sự thức tỉnh trở lại của một trạng thái thị giác thường xuất hiện ở tuổi thơ, hoặc trong những trạng thái kích thích cao độ. Tôi không biết bạn đọc của mình có nhận thức được rằng nhiều trẻ em, có lẽ là hầu hết, đều có khả năng vẽ ra, như thể ngay trên bóng tối, đủ mọi loại ảo ảnh hay không. Ở một số đứa trẻ, khả năng đó đơn thuần là một phản ứng cơ học của mắt; số khác lại có khả năng chủ động hoặc bán chủ động để xua đi hay triệu hồi chúng; hoặc, như một đứa trẻ từng nói với tôi khi tôi gặng hỏi về vấn đề này: “Cháu có thể bảo chúng đi, và chúng đi ——, nhưng thỉnh thoảng chúng vẫn đến dù cháu chẳng bảo chúng đến.” Ngay lúc đó, tôi bảo rằng thằng bé có quyền lực đối với các bóng ma gần như vô hạn chẳng kém gì một vị bách phu trưởng La Mã đối với binh lính của mình. — Vào giữa năm 1817, tôi nghĩ là thế, khả năng này bắt đầu trở thành một nỗi thống khổ thực sự đối với tôi: vào ban đêm, khi tôi nằm thức trên giường, những đám rước khổng lồ diễu qua trong nỗi u sầu trang nghiêm; những bức phù điêu kể những câu chuyện bất tận, đối với cảm xúc của tôi thì buồn bã và thiêng liêng chẳng khác nào những câu chuyện được rút ra từ thời đại trước cả Oedipus hay Priam, trước cả Tyre, trước cả Memphis. Và đồng thời, một sự biến đổi tương ứng cũng diễn ra trong những giấc mơ của tôi; một nhà hát dường như bất ngờ mở ra và bừng sáng bên trong đại não tôi, đêm đêm trình diễn những cảnh tượng lộng lẫy vượt trần gian. Và bốn sự kiện sau đây có thể được nhắc đến như những điều đáng chú ý vào lúc này:

1. Rằng khi trạng thái sáng tạo của thị giác gia tăng, dường như có một sự cộng hưởng nảy sinh giữa trạng thái thức và trạng thái mơ của đại não ở một điểm — đó là bất cứ thứ gì tôi tình cờ triệu hồi và phác họa bằng một hành động tự nguyện trên nền bóng tối đều rất dễ chuyển hóa vào những giấc mơ của tôi, khiến tôi sợ hãi không dám lạm dụng khả năng này; bởi vì, giống như Midas đã biến mọi thứ thành vàng nhưng lại làm tổn hại những hy vọng và đánh lừa những ham muốn nhân phàm của ông ta, thì bất cứ thứ gì có khả năng hiện hình trực quan mà tôi chỉ nghĩ đến trong bóng tối, ngay lập tức đều định hình thành những bóng ma trước mắt; và bằng một quá trình thoạt nhìn cũng không kém phần tất yếu, khi đã được phác họa trong những màu sắc mờ nhạt và huyền ảo như những nét chữ viết bằng mực vô hình, chúng bị lôi ra bởi thứ hóa học dữ dội trong những giấc mơ của tôi thành một vẻ lộng lẫy không thể chịu nổi, cứ cào cấu trái tim tôi.

2. Bởi vì điều này và tất cả những thay đổi khác trong giấc mơ của tôi đều đi kèm với sự lo âu sâu sắc và nỗi u sầu ảm đạm, những thứ hoàn toàn không thể diễn tả bằng lời. Đêm nào tôi cũng có cảm giác như đang chìm xuống, không phải theo nghĩa ẩn dụ, mà là rơi thực sự xuống những khe núi và vực thẳm không có ánh mặt trời, những tầng sâu nối tiếp tầng sâu, từ đó dường như vô vọng để có thể trèo lên lại. Và ngay cả khi thức dậy, tôi cũng không hề cảm thấy mình đã trèo lên được. Tôi không dừng lại ở điều này; bởi vì trạng thái u ám đi kèm với những cảnh tượng nguy nga lộng lẫy ấy, cuối cùng lên đến đỉnh điểm là bóng tối hoàn toàn, tựa như sự tuyệt vọng muốn tự sát, là thứ ngôn từ không thể chạm tới được.

3. Cảm giác về không gian, và cuối cùng là cảm giác về thời gian, đều bị tác động mạnh mẽ. Các tòa nhà, phong cảnh, v.v., hiện ra với tỷ lệ vô cùng lớn lao mà mắt phàm không tài nào tiếp thu nổi. Không gian phình to ra, và được khuếch đại đến mức vô cực không tài nào tả xiết. Tuy nhiên, điều này không làm tôi bận tâm bằng sự giãn nở khổng lồ của thời gian; đôi khi tôi có cảm giác như mình đã sống qua 70 hoặc 100 năm chỉ trong một đêm — thậm chí, đôi khi tôi có những cảm giác tượng trưng cho một thiên niên kỷ trôi qua trong khoảng thời gian đó, hoặc chí ít là một khoảng thời gian vượt xa giới hạn của bất kỳ trải nghiệm nhân sinh nào.

4. Những chi tiết nhỏ nhặt nhất thời thơ ấu, hay những khung cảnh đã lãng quên từ những năm tháng sau này, thường xuyên được hồi sinh: không thể nói là tôi nhớ lại chúng, bởi vì nếu được kể cho nghe khi thức, tôi sẽ không thể nhận ra chúng là một phần trải nghiệm quá khứ của mình. Nhưng khi được đặt trước mặt tôi, trong những giấc mơ giống như những sự thấu thị trực giác, và được khoác lên mình mọi chi tiết mong manh cùng cảm xúc đi kèm, tôi liền nhận ra chúng ngay lập tức. Một người thân cận từng kể cho tôi nghe rằng, khi còn nhỏ bị ngã xuống sông và suýt chết nếu không có sự cứu trợ kịp thời ngay phút chót, cô ấy đã nhìn thấy trong chớp mắt toàn bộ cuộc đời mình, từ những chi tiết nhỏ nhặt nhất, hiện ra trước mắt đồng thời như trong một tấm gương; và cô ấy bỗng nhiên phát triển một năng lực thấu hiểu toàn bộ lẫn từng chi tiết nhỏ. Dựa trên một số trải nghiệm thuốc phiện của bản thân, tôi có thể tin điều đó; quả thực, tôi đã thấy điều tương tự được khẳng định hai lần trong các sách vở hiện đại, đi kèm với một nhận xét mà tôi tin là xác thực; đó là: cuốn sách tài khoản đáng sợ mà Kinh Thánh nhắc tới thực ra chính là tâm trí của mỗi cá nhân. Ít nhất thì về điều này, tôi cảm thấy vô cùng chắc chắn: tâm trí con người không hề có cái gọi là sự quên lãng; hàng nghìn biến cố có thể và sẽ dựng lên một bức màn ngăn cách giữa ý thức hiện tại của chúng ta với những dòng chữ khắc bí mật trong tâm trí; những biến cố cùng loại cũng sẽ xé toạc bức màn ấy đi; nhưng dù bị che đậy hay hé mở, những dòng chữ khắc ấy vẫn tồn tại mãi mãi, giống như các vì sao dường như rút lui trước ánh sáng ban ngày bình thường, trong khi thực ra tất cả chúng ta đều biết rằng chính ánh sáng đã trùm lên chúng như một bức màn, và chúng đang chờ được hé lộ khi ánh sáng ban ngày làm mờ kia lui đi.

Sau khi đã lưu ý bốn sự kiện này như những đặc điểm đáng nhớ phân biệt giấc mơ của tôi với giấc mơ của một người khỏe mạnh, bây giờ tôi xin dẫn một trường hợp minh họa cho sự kiện thứ nhất, rồi sau đó sẽ dẫn bất kỳ trường hợp nào khác mà tôi còn nhớ, theo trình tự thời gian hoặc bất kỳ trình tự nào khác có thể mang lại hiệu quả hình ảnh mạnh mẽ hơn cho người đọc.

Thời trẻ, và thậm chí cho đến tận bây giờ, tôi vẫn là một người rất thích đọc Livy để giải trí những lúc rảnh rỗi, tôi thú nhận rằng mình thích ông hơn bất kỳ sử gia La Mã nào khác, cả về văn phong lẫn nội dung; và tôi vẫn thường cảm thấy hai từ xuất hiện rất nhiều lần trong tác phẩm của Livy vang lên như những âm thanh vô cùng trang nghiêm, kinh hãi, và biểu thị rõ ràng nhất sự uy 𝓁ịch của nhân dân La Mã — Consul Romanus, đặc biệt là khi vị chấp chính quan được giới thiệu trong tư cách quân sự của ông. Ý tôi muốn nói là những từ như vua, sultan, nhiếp chính, v.v., hay bất kỳ tước hiệu nào khác của những kẻ hội tụ trong thân thể họ sự uy nghiêm tập thể của một dân tộc lớn, đều có sức mạnh kém hơn đối với cảm xúc tôn kính của tôi. Dù không phải là một người ham đọc lịch sử, tôi cũng đã tự trang bị cho mình sự am hiểu tường tận và sắc sảo về một giai đoạn trong lịch sử nước Anh, đó là thời kỳ Chiến tranh Nghị viện, vì bị thu hút bởi sự vĩ đại về mặt đạo đức của một số nhân vật nổi bật thời bấy giờ, và bởi rất nhiều hồi ký thú vị còn lưu lại từ những thời kỳ bất ổn ấy. Cả hai phần trong kho tàng đọc sách nhẹ nhàng này, sau khi đã thường xuyên cung cấp cho tôi chất liệu để suy ngẫm, giờ đây lại cung cấp chất liệu cho những giấc mơ của tôi. Thường thì sau khi phác họa một dạng tổng duyệt trên nền bóng tối trống rỗng khi còn thức, tôi hay nhìn thấy một đám đông các quý bà, và có lẽ cả một buổi tiệc tùng cùng những điệu nhảy. Và tôi nghe thấy người ta nói, hoặc tôi tự nhủ với chính mình: “Đây là những quý bà người Anh đến từ thời kỳ bất hạnh của vua Charles I. Đây là những người vợ, người con gái của những kẻ từng gặp nhau trong hòa bình, cùng ngồi chung một bàn, và có quan hệ họ hàng hay thông gia; thế nhưng, sau một ngày nhất định vào tháng 8 năm 1642, họ chưa bao giờ mỉm cười với nhau nữa, chưa bao giờ gặp lại nhau ngoại trừ trên chiến trường; và tại Marston Moor, tại Newbury, hay tại Naseby, họ đã cắt đứt mọi mối dây tình ái bằng thanh gươm tàn nhẫn, và rửa trôi trong máu kỷ niệm của tình bạn xưa.” Các quý bà khiêu vũ và trông đáng yêu như triều đình của George IV. Thế nhưng ngay cả trong giấc mơ, tôi vẫn biết rằng họ đã nằm dưới mộ được gần hai thế kỷ. Cảnh tượng lộng lẫy này sẽ đột ngột tan biến; và theo một tiếng vỗ tay, âm thanh làm chấn động cõi lòng của Consul Romanus sẽ vang lên; và ngay lập tức, “lướt qua” trong những chiếc áo choàng lộng lẫy, là Paulus hoặc Marius, được bao quanh bởi một nhóm các bách phu trưởng, với chiếc áo tunic màu đỏ thẫm giương cao trên ngọn giáo, và theo sau là tiếng hô alalagmos của các quân đoàn La Mã.

Nhiều năm trước, khi tôi đang lướt xem cuốn Tác phẩm Cổ vật La Mã của Piranesi, ông Coleridge đang đứng bên cạnh đã miêu tả cho tôi nghe một bộ bản khắc của nghệ sĩ đó, gọi là Những giấc mơ, ghi lại khung cảnh những thị kiến của chính ông ta trong cơn mê sảng vì sốt. Một số bức trong số đó (tôi chỉ miêu tả lại theo trí nhớ về lời kể của ông Coleridge) miêu tả những sảnh đường Gothic rộng lớn, trên sàn nhà bày đủ loại động cơ và máy móc, bánh xe, cáp, ròng rọc, đòn bẩy, máy bắn đá, v.v., thể hiện sức mạnh to lớn được phát huy và sự kháng cự bị khuất phục. Bò dọc theo các bức tường, bạn nhận ra một cầu thang; và trên đó, đang dò dẫm bước lên trên, chính là Piranesi: hãy theo dõi bậc thang thêm một đoạn nữa và bạn sẽ nhận thấy nó đột ngột chấm dứt hoàn toàn mà không có bất kỳ lan can nào, không cho phép kẻ đã đến tận cùng bước thêm một bước nào nữa ngoài việc rơi xuống vực thẳm bên dưới. Dù số phận của tội nghiệp Piranesi ra sao đi nữa, ít nhất bạn cũng cho rằng công sức của ông ta phải chấm dứt ở đây theo một cách nào đó. Nhưng hãy ngước mắt lên, và kìa, một dãy cầu thang thứ hai cao hơn nữa, trên đó người ta lại thấy Piranesi, nhưng lần này đứng ngay trên bờ vực thẳm. Lại nâng mắt lên một lần nữa, một dãy cầu thang còn mang đậm chất hư không hơn hiện ra, và tội nghiệp Piranesi lại tiếp tục bận rộn với những nỗ lực vươn cao của mình; cứ thế cho đến khi cả chiếc cầu thang dang dở lẫn Piranesi đều chìm khuất vào bóng tối phần trên của sảnh đường. Kiến trúc trong giấc mơ của tôi cũng tiến triển với cùng một sức mạnh tăng trưởng vô tận và tự tái tạo như thế. Trong giai đoạn đầu của căn bệnh, sự lộng lẫy trong những giấc mơ của tôi quả thực chủ yếu mang tính kiến trúc; và tôi đã chứng kiến vẻ tráng lệ của những thành phố và cung điện chưa từng được mắt phàm chiêm ngưỡng ngoại trừ trong những đám mây. Từ một nhà thơ lớn hiện đại, tôi xin trích dẫn một phần đoạn thơ miêu tả, như một hiện thực được nhìn thấy giữa những mây trời, những gì mà trong nhiều chi tiết tôi đã thường xuyên bắt gặp khi ngủ:

Hiện thân vừa thoáng chốc mở bày,

Là một đô thị lớn — xin cứ nói thẳng

Là một hoang mạc những công trình chìm đắm

Tự thu mình vào cõi thẳm kỳ diệu sâu xa,

Chìm sâu vào ánh hào quang — vô tận khôn cùng!

Tựa hồ cấu trúc từ kim cương và vàng ròng,

Với những mái vòm bằng thạch cao tuyết trắng, những ngọn tháp bằng bạc,

Và từng lớp từng lớp hiên bậc rực lửa, vươn cao

Tột đỉnh; nơi đây những gian lẹm thanh bình rực rỡ

Bố trí theo các đại lộ; nơi kia những tòa tháp được vây quanh

Bởi những tường thành mà trên trán chúng không yên bình

Mang những vì sao — sự bừng sáng của mọi loại ngọc ngà!

Bởi tự nhiên trần thế, hiệu ứng ấy đã được tạo thành

Trên những chất liệu u tối của trận cuồng phong

Giờ đây đã lắng dịu; trên chúng, và trên các vịnh nhỏ,

Cùng những sườn núi và đỉnh non, nơi mây mù

Đã rút lui — để rồi đóng đô ở đó dưới bầu trời xanh thẳm. V.v.

Chi tiết siêu việt, “những tường thành mà trên trán chúng không yên bình mang những vì sao,” có lẽ đã được sao chép từ những giấc mơ kiến trúc của tôi, bởi vì nó xuất hiện rất thường xuyên. Người ta kể lại rằng Dryden và Fuseli, vào thời cận đại, đã nghĩ ra cách ăn thịt sống để có được những giấc mơ lộng lẫy: thật tốt biết bao nếu cho một mục đích như vậy mà họ ăn thuốc phiện, thế nhưng tôi không nhớ có nhà thơ nào được ghi chép là đã làm điều đó, ngoại trừ nhà soạn kịch Shadwell; và vào thời cổ đại, tôi nghĩ Homer được ca tụng một cách chính đáng là kẻ đã thấu triệt những công hiệu của thuốc phiện.

Tiếp nối kiến trúc của tôi là những giấc mơ về các hồ nước và những khoảng nước lấp lánh như bạc: chúng ám ảnh tôi nhiều đến mức tôi sợ rằng (dù có lẽ điều này sẽ có vẻ buồn cười đối với một bác sĩ) một trạng thái hoặc xu hướng phù thũng nào đó của đại não có thể đang tự biến mình (theo một thuật ngữ siêu hình) thành hiện thực khách quan; và cơ quan cảm giác tự phóng chiếu chính nó thành đối tượng của mình. Trong hai tháng, tôi bị đau đầu dữ dội, một phần trong cấu trúc cơ thể vốn trước nay vốn hoàn toàn không bị vấy bẩn hay chạm trỏ bởi bất kỳ sự yếu đuối nào (ý tôi là về mặt thể lý) đến mức tôi thường nói về nó, giống như cách vị Huân tước Orford cuối cùng nói về dạ dày của mình, rằng nó có vẻ sẽ sống thọ hơn phần còn lại cơ thể tôi. Cho đến tận lúc đó, tôi chưa bao giờ cảm thấy dù chỉ là một cơn đau đầu, hay bất kỳ nỗi đau nhỏ nhặt nào ngoại trừ những cơn đau thấp khớp do chính sự dại dột của mình gây ra. Dù sao đi nữa, tôi cũng đã vượt qua được cơn bạo bệnh này, dù nó chắc hẳn đã tiệm cận một điều gì đó vô cùng nguy hiểm.

Những vùng nước giờ đây thay đổi bản chất — từ những hồ nước trong vắt tỏa sáng như gương, chúng biến thành biển cả và đại dương. Và rồi một sự thay đổi khủng khiếp ập đến, từ từ mở ra như một cuộn giấy qua nhiều tháng trời, hứa hẹn một nỗi thống khổ trường tồn; và thực tế là nó không bao giờ rời bỏ tôi cho đến tận khúc cuối của vụ việc. Cho đến lúc đó, khuôn mặt con người vẫn thường hòa lẫn trong giấc mơ của tôi, nhưng không mang tính áp chế hay có bất kỳ sức mạnh hành hạ đặc biệt nào. Nhưng giờ đây, thứ mà tôi gọi là sự bạo ngược của khuôn mặt con người bắt đầu bộc lộ. Có lẽ một phần cuộc sống ở Luân Đôn của tôi phải chịu trách nhiệm cho chuyện này. Dù thế nào đi nữa, chính lúc này đây, trên những con sóng chòng chèo của đại dương, khuôn mặt con người bắt đầu xuất hiện; mặt biển dường như được lát bằng vô số khuôn mặt ngẩng lên trời — những khuôn mặt cầu xin, giận dữ, tuyệt vọng, trào dâng thành từng cơn bởi hàng nghìn, hàng vạn, bởi từng thế hệ, qua hàng thế kỷ: sự dao động của tôi là vô tận; tâm trí tôi cuộn trào và quằn quại cùng đại dương.

Tháng 5 năm 1818

Gã mã lai đã trở thành một kẻ thù đáng sợ trong suốt nhiều tháng trời. Qua hắn, đêm nào tôi cũng bị đưa đến những khung cảnh châu Á. Tôi không biết liệu có ai khác có chung cảm xúc với tôi về điểm này hay không; nhưng tôi vẫn thường nghĩ rằng nếu mình buộc phải từ bỏ nước Anh, phải sống ở Trung Hoa, giữa những phong tục, lối sống và phong cảnh Trung Hoa, chắc tôi phát điên mất. Nguyên nhân của nỗi kinh hoàng trong tôi bám rễ sâu xa, và một số trong số đó chắc hẳn phải là điều chung cho nhiều người. Nam Á nói chung là sào huyệt của những hình ảnh và liên tưởng đầy kinh hãi. Chỉ riêng tư cách là cái nôi của nhân loại cũng đủ khiến nơi đây gắn liền với một cảm giác mờ ảo và tôn kính. Nhưng còn những lý do khác. Không ai có thể cho rằng những tín điều hoang dã, dã man và thất thường của châu Phi, hay của các bộ lạc hoang dã nơi khác, lại tác động đến họ theo cách mà những tôn giáo cổ xưa, mang tính tượng đài, tàn bạo và tinh vi của Ấn Độ, v.v., tác động. Bản thân sự cổ xưa của những thứ thuộc về châu Á, của các thể chế, lịch sử, tín ngưỡng của họ, v.v., quá đỗi ấn tượng, đến nỗi đối với tôi, tuổi đời vĩ đại của giống nòi và danh xưng ấy đã lấn át đi cảm giác tuổi trẻ của từng cá nhân. Một thanh niên Trung Hoa đối với tôi giống như một con người thời tiền hồng thủy được hồi sinh. Ngay cả những người Anh, dù không lớn lên với bất kỳ hiểu biết nào về những thể chế như vậy, cũng không khỏi rùng mình trước sự cao cả huyền bí của các đẳng cấp đã chảy song song, từ chối hòa trộn qua những khoảng thời gian vô thủy vô ấy; cũng không ai có thể không cảm thấy kinh ngạc trước những cái tên như Hằng Hà hay Ơ-phơ-rát. Một điều góp phần lớn vào những cảm xúc này là Nam Á đang và đã là nơi tập trung đông đúc nhất sự sống con người trên Trái Đất trong hàng nghìn năm qua, cái nôi vĩ đại sinh ra các dân tộc. Con người chỉ là cỏ dại ở những vùng đất đó. Những đế chế khổng lồ nơi dân số đông đảo của châu Á luôn được dung thân cũng mang lại một vẻ hùng vĩ sâu sắc hơn cho những cảm xúc gắn liền với mọi cái tên hay hình ảnh phương Đông. Ở Trung Hoa, vượt lên trên những gì chung với phần còn lại của Nam Á, tôi cảm thấy kinh hãi trước lối sống, trước phong tục, và trước bức tường ngăn cách của sự căm ghét tột cùng cùng sự thiếu đồng cảm được đặt giữa chúng ta bởi những cảm xúc sâu xa vượt quá khả năng phân tích của tôi. Thà sống với những kẻ tâm thần hoặc súc vật còn hơn. Tất cả những điều này, và nhiều hơn thế nữa mà tôi không thể nói hoặc không có thời gian để nói, người đọc phải thấu hiểu trước khi có thể lĩnh hội được nỗi kinh hoàng không thể tưởng tượng nổi mà những giấc mơ về hình ảnh phương Đông và sự tra tấn thần thoại này đã áp đặt lên tôi. Dưới cảm giác kết nối của cái nóng vùng nhiệt đới và ánh nắng mặt trời thẳng đứng, tôi gom lại tất cả các sinh vật, chim chóc, thú dữ, loài bò sát, mọi cây cối thực vật, tập tục và hiện tượng được tìm thấy ở tất cả các vùng nhiệt đới, và tập hợp chúng lại ở Trung Hoa hay Ấn Độ. Từ những cảm xúc tương tự, tôi nhanh chóng quy tụ Ai Cập và tất cả các vị thần của xứ sở đó vào cùng một khuôn luật. Tôi bị nhìn chằm chằm, bị la ó, bị nhăn nhở cười cợt, bị nhại lại bởi những con khỉ, những con vẹt xanh, những con vẹt mào. Tôi chạy trốn vào các ngôi chùa, và bị giam cầm suốt hàng thế kỷ trên đỉnh tháp hoặc trong những căn phòng bí mật: tôi chính là thần tượng; tôi chính là thầy tế; tôi được tôn thờ; tôi bị đem làm vật hiến tế. Tôi chạy trốn cơn thịnh nộ của Brahma qua khắp các khu rừng châu Á; Vishnu căm ghét tôi; Shiva rình rập tôi. Tôi bất ngờ bắt gặp Isis và Osiris: họ bảo rằng tôi đã làm một điều khiến cho cò Ibis và cá sấu phải run sợ. Tôi bị chôn vùi suốt một nghìn năm trong những cỗ quan tài bằng đá, cùng với những xác ướp và nhân sư, trong những căn phòng chật hẹp ở tâm của những kim tự tháp vĩnh cửu. Tôi bị những con cá sấu hôn bằng những nụ hôn ung thư; và bị vứt bỏ, lẫn lộn với mọi thứ nhầy nhụa không thể tả, giữa những rặng sậy và bùn lầy sông Nile.

Tôi xin trình bày với bạn đọc một vài nét khái quát ngắn gọn về những giấc mơ mang màu sắc phương Đông của mình, những giấc mơ luôn lấp đầy tôi bằng sự kinh ngạc trước khung cảnh quái dị đến mức nỗi kinh hoàng dường như bị nuốt chửng trong chốc lát bởi sự ngỡ ngàng tuyệt đối. Sớm muộn gì thì một dòng cảm xúc trào ngược cũng sẽ đến, nuốt chửng sự ngỡ ngàng đó, và để lại cho tôi không phải là sự kinh hãi mà là sự căm thù và ghê tởm đối với những gì mình đã thấy. Trùm lên mọi hình thù, mọi lời đe dọa, mọi hình phạt, và sự giam cầm tối tăm không một bóng người là một ý thức về sự vĩnh hằng và vô tận đã đẩy tôi vào một sự áp bức tựa như cơn điên loạn. Chỉ trong những giấc mơ này, với một vài ngoại lệ nhỏ, các tình tiết kinh dị về thể xác mới xuất hiện. Tất cả những gì trước đó chỉ là nỗi kinh hoàng về mặt luân lý và tinh thần. Nhưng ở đây, các nhân vật chính lại là những con chim xấu xí, hoặc loài rắn, hoặc cá sấu; đặc biệt là loài sau cùng. Con cá sấu bị nguyền rủa ấy đã trở thành đối tượng gây ra cho tôi nhiều nỗi kinh hoàng hơn hầu hết mọi thứ khác. Tôi bị buộc phải sống chung với nó, và (như hầu như luôn xảy ra trong giấc mơ của tôi) trong suốt hàng thế kỷ. Đôi khi tôi trốn thoát được, và thấy mình ở trong những ngôi nhà Trung Hoa, với bàn ghế mây, v.v. Tất cả các chân bàn, ghế sofa, v.v., chẳng mấy chốc đều trở nên tràn trề sự sống: cái đầu gớm ghiếc của con cá sấu, cùng đôi mắt liếc dọc của nó, nhòm ngó tôi, nhân lên thành hàng nghìn lần lặp lại; và tôi đứng đó vừa ghê tởm vừa bị thôi miên. Và loài bò sát gớm ghiếc ấy đã ám ảnh giấc mơ của tôi thường xuyên đến mức rất nhiều lần, chính cõi mộng hệt như thế lại bị phá vỡ bằng một cách hệt như thế: tôi nghe thấy những giọng nói dịu dàng thì thầm với mình (tôi nghe được mọi thứ khi đang ngủ), và ngay lập tức tôi bừng tỉnh. Lúc đó là giữa ban ngày, và các con tôi đang đứng, tay nắm tay, bên giường tôi — đến để khoe những đôi giày thêu màu, những chiếc áo đầm mới, hoặc để tôi ngắm chúng diện đồ đi chơi. Tôi xin thề rằng sự chuyển đổi từ con cá sấu đáng nguyền rủa cùng những quái vật và bào thai không thể tả khác trong giấc mơ của tôi, sang khung cảnh của bản tính con người ngây thơ và tuổi thơ trong sáng, quá đỗi kinh ngạc và đột ngột đến mức trong cơn chấn động tâm trí mạnh mẽ và bất ngờ ấy, tôi đã bật khóc, không sao kìm nén được khi hôn lên gương mặt chúng.

Tháng 6 năm 1819

Trong nhiều giai đoạn của cuộc đời, tôi từng có dịp nhận xét rằng cái chết của những người ta yêu thương, và quả thực là sự chiêm nghiệm về cái chết nói chung, thường (cæteris paribus) mang tính xúc động mạnh mẽ hơn vào mùa hè so với bất kỳ mùa nào khác trong năm. Và lý do là ba điều sau đây, theo tôi nghĩ: thứ nhất, bầu trời hữu hình vào mùa hè có vẻ cao hơn rất nhiều, xa xôi hơn rất nhiều và (nếu có thể châm chước cho một lối nói sai ngữ pháp như thế) vô tận hơn rất nhiều; những đám mây — thứ chủ yếu giúp mắt ta ước lượng khoảng cách của chiếc lầu xanh căng trên đầu — vào mùa hè trông bề thế hơn, tụ tập và tích tụ thành những khối cao ngất và sừng sững hơn nhiều. Thứ hai, ánh sáng và quang cảnh của mặt trời lúc lặn và hoàng hôn phù hợp hơn rất nhiều để làm biểu tượng và ký hiệu cho sự Vô tận. Và thứ ba (đây là lý do chính), sự phung phí tràn trề và ngút ngàn của sự sống một cách tự nhiên thúc đẩy tâm trí mạnh mẽ hơn hướng tới ý thức đối lập về cái chết, và sự hoang vu lạnh giá của nấm mồ. Bởi vì có thể nhận thấy chung một điều là, bất cứ khi nào hai ý nghĩ đứng cạnh nhau theo quy luật đối kháng, và tồn tại theo kiểu bài xích lẫn nhau, chúng rất dễ gợi nhắc về nhau. Chính vì những lý do này mà tôi thấy không thể nào xua đi ý nghĩ về cái chết khi đi dạo một mình trong những ngày hè bất tận; và bất kỳ cái chết cụ thể nào, nếu không gây xúc động nhiều hơn, thì ít nhất cũng ám ảnh tâm trí tôi một cách ngoan cố và bức bách hơn vào mùa đó. Có lẽ nguyên nhân này, cùng một sự cố nhỏ mà tôi xin lược bỏ, có thể là những ngọn nguồn trực tiếp dẫn đến giấc mơ sau đây, tuy nhiên, một tiền đề vẫn luôn tồn tại sẵn trong tâm trí tôi; nhưng một khi đã được đánh thức thì nó không bao giờ rời bỏ tôi, và chia rẽ thành hàng nghìn biến thể kỳ ảo — những thứ thường đột ngột hội tụ trở lại, cấu thành nên giấc mơ nguyên thủy ban đầu.

Tôi tưởng tượng đó là một buổi sáng Chủ nhật tháng Năm, là Chủ nhật Phục sinh, và trời hãy còn rất sớm. Tôi đang đứng, có vẻ như vậy, ở ngưỡng cửa ngôi nhà tranh của mình. Ngay trước mắt tôi là khung cảnh thực sự có thể nhìn thấy từ vị trí đó, nhưng được nâng tầm lên, như thường lệ, và trở nên trang nghiêm bởi quyền năng của những giấc mơ. Vẫn là những ngọn núi ấy, và thung lũng đáng yêu ấy dưới chân chúng; nhưng những ngọn núi được đẩy lên cao hơn cả chiều cao của dãy Alps, và khoảng không gian giữa chúng rộng lớn hơn nhiều với những đồng cỏ và thảm cỏ rừng; những hàng rào rực rỡ hoa hồng trắng; và không một bóng người sinh vật nào xuất hiện, ngoại trừ việc trong nghĩa trang xanh ngắt có những con đàn gia súc đang yên bình nghỉ ngơi trên những nấm mồ xanh cỏ, và đặc biệt là xung quanh ngôi mộ của một đứa trẻ mà tôi từng hết mực yêu thương, đúng như những gì tôi thực sự đã chứng kiến, chút ít trước lúc mặt trời mọc vào cùng mùa hè ấy, khi đứa trẻ đó qua đời. Tôi đăm đăm nhìn khung cảnh quen thuộc, và lớn tiếng tự nhủ (như tôi nghĩ): “Trời hãy còn lâu mới mọc, và hôm nay là Chủ nhật Phục sinh; đó là ngày người ta kỷ niệm hoa trái đầu mùa của sự phục sinh. Ta sẽ đi dạo; những nỗi buồn xưa cũ sẽ được chôn vùi ngày hôm nay; bởi vì không khí thật mát mẻ và tĩnh lặng, những ngọn đồi thật cao vươn thẳng tận trời xanh; những khoảng rừng thưa tĩnh mịch như nghĩa trang, và với làn sương sớm, ta có thể rửa trôi cơn sốt trên vầng trán mình, và khi ấy ta sẽ không còn bất hạnh nữa.” Và tôi quay người như thể định mở cổng vườn, và ngay lập tức ở bên trái, tôi nhìn thấy một khung cảnh khác hẳn, nhưng quyền năng của những giấc mơ đã dung hòa nó thành một thể hài hòa với khung cảnh kia. Đó là một khung cảnh phương Đông, và ở đó cũng là Chủ nhật Phục sinh, trời rất sớm buổi sáng. Và ở một khoảng cách vô cùng xa, hiện ra như một vết bẩn trên đường chân trời là những mái vòm và tháp tròn của một thành phố lớn — một hình ảnh hoặc sự trừu tượng mờ nhạt, có lẽ chớp lấy được từ thời thơ ấu trong một bức tranh về thành Jerusalem. Và cách tôi không xa bằng một mũi tên bắn, trên một phiến đá và được che bóng bởi những rặng cọ xứ Judea, có một người phụ nữ đang ngồi, tôi nhìn kỹ, và đó chính là — Ann! Cô ấy đăm đăm nhìn tôi đầy quả quyết, và cuối cùng tôi cất lời với cô ấy: “Thế là, cuối cùng tôi cũng tìm thấy em rồi.” Tôi chờ đợi, nhưng cô ấy không đáp lại tôi dù chỉ một lời. Gương mặt cô ấy vẫn y như lần cuối tôi nhìn thấy, nhưng sao lại khác biệt đến thế! Mười bảy năm trước, khi ánh đèn đường rọi lên gương mặt cô ấy, lúc tôi đặt nụ hôn lần cuối lên đôi môi ấy (đôi môi hỡi Ann, đối với tôi chưa từng bị vấy bẩn), đôi mắt cô ấy đầm đìa nước mắt: những giọt nước mắt giờ đây đã lau khô; cô ấy trông có vẻ xinh đẹp hơn so với thời điểm đó, nhưng về mọi phương diện khác thì vẫn y nguyên, và không hề già đi. Ánh nhìn của cô ấy vô cùng tĩnh lặng, nhưng mang một vẻ trang nghiêm khác thường, và giờ đây tôi nhìn cô ấy với một chút kính sợ; nhưng đột ngột, nét mặt cô ấy mờ dần, và khi quay sang nhìn những ngọn núi, tôi nhận thấy những làn sương mù đang cuồn cuộn trôi giữa chúng tôi. Chỉ trong khoảnh khắc, mọi thứ đã biến mất, bóng tối dày đặc ập đến, và trong chớp mắt, tôi đã ở rất xa những ngọn núi, dưới ánh đèn đường trên phố Oxford, lại đang đi dạo cùng Ann — hệt như cách chúng tôi đã đi dạo mười bảy năm về trước, khi cả hai còn là những đứa trẻ.

Để làm ví dụ cuối cùng, tôi xin trích dẫn một trường hợp mang sắc thái khác, từ năm 1820.

Giấc mơ bắt đầu với một thứ âm nhạc mà giờ đây tôi thường nghe thấy trong cõi mộng — một thứ âm nhạc của sự chuẩn bị và sự hồi hộp chờ đợi lúc khai màn, một thứ âm nhạc tựa như khúc dạo đầu của Bản thánh ca Lễ đăng quang, và giống như thế, nó mang lại cảm giác về một cuộc hành quân vĩ đại, của những đoàn kỵ mã vô tận đang nối đuôi nhau diễu hành, và tiếng bước chân của vô số quân đoàn. Buổi sáng của một ngày vĩ đại đã đến — một ngày của sự khủng hoảng và hy vọng cuối cùng cho nhân loại, lúc bấy giờ đang gánh chịu một nhật thực thần bí nào đó, và đang oằn mình trong một bước đường cùng đầy kinh hãi. Ở một nơi nào đó, tôi không biết ở đâu — bằng cách nào đó, tôi không biết bằng cách nào — bởi những sinh thể nào đó, tôi không biết là ai — một trận chiến, một cuộc tranh chấp, một nỗi thống khổ đang diễn ra, đang phát triển giống như một vở kịch lớn hoặc một bản giao hưởng, khiến sự đồng cảm của tôi càng trở nên không thể chịu nổi bởi sự bối rối của tôi về địa điểm, nguyên nhân, bản chất và kết cục có thể xảy ra của nó. Tôi, như thường lệ trong những giấc mơ (nơi chúng ta buộc phải đặt bản thân làm trung tâm của mọi chuyển động), vừa có quyền năng, lại vừa không có quyền năng để định đoạt nó. Tôi có quyền năng, nếu tôi có thể nâng tâm trí mình lên để khao khát nó, nhưng rồi lại không có quyền năng, bởi vì sức nặng của hai mươi đại dương Atlante đang đè nặng lên tôi, hoặc sự áp bức của tội lỗi không thể dung thứ. “Sâu hơn bất kỳ dây dọi nào từng chạm tới,” tôi nằm bất động. Rồi giống như một khúc hợp xướng, cảm xúc càng lúc càng dâng trào sâu sắc hơn. Một lợi ích lớn lao hơn đang bị đe dọa, một chính nghĩa vĩ đại hơn chưa từng có thanh gươm nào từng phò tá, hay tiếng kèn nào từng tuyên bố. Rồi những tiếng báo động bất ngờ kéo đến, sự ngược xuôi tất bật, nỗi sợ hãi của vô số kẻ đào vong — tôi không biết là từ chính nghĩa hay tà đạo, bóng tối và ánh sáng, bão tố và những khuôn mặt người, và cuối cùng, với cảm giác rằng tất cả đã mất, những bóng dáng phụ nữ, và những nét mặt đáng giá hơn cả thế giới đối với tôi, chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi được cho phép — và những bàn tay đan chặt, những cuộc chia ly xé lòng, và rồi — những lời từ biệt vĩnh viễn! Và kèm theo một tiếng thở dài, tựa như tiếng thở dài từ những hang cùng Địa Ngục khi người mẹ loạn luân thốt lên cái tên đáng tởm của sự chết chóc, âm thanh ấy vang vọng lại — những lời từ biệt vĩnh viễn! Và lại vang vọng lần nữa, rồi lại lần nữa — những lời từ biệt vĩnh viễn!

Và tôi vùng vẫy bừng tỉnh, lớn tiếng kêu lên — “Ta sẽ không ngủ nữa.”

Nhưng giờ đây tôi được kêu gọi để khép lại một câu chuyện vốn đã kéo dài đến mức bất hợp lý. Trong một không gian rộng rãi hơn, những chất liệu tôi đã sử dụng có lẽ đã được khai triển tốt hơn, và nhiều điều tôi chưa dùng đến có lẽ đã có thể được thêm vào để tạo hiệu ứng. Tuy nhiên, có lẽ chừng đó là đủ rồi. Giờ đây, tôi còn lại nhiệm vụ phải nói đôi điều về cách thức mà cuộc chiến đấu chống lại những nỗi kinh hoàng này cuối cùng đã được đưa đến điểm mổ xẻ. Bạn đọc hẳn đã biết (từ một đoạn gần phần đầu của lời tựa cho phần thứ nhất) rằng kẻ nghiện thuốc phiện đã, bằng cách này hay cách khác, “gỡ gạc gần như đến mắt xích cuối cùng chiếc xích ác nghiệt đã trói buộc hắn.” Bằng cách nào? Nếu kể lại điều này theo dự định ban đầu thì nó sẽ vượt xa không gian hiện cho phép. Thật may mắn, vì có một lý do thuyết phục như vậy để rút gọn nó, rằng khi nhìn nhận vấn đề một cách chín chắn hơn, tôi lại vô cùng miễn cưỡng làm tổn hại, bằng những chi tiết không có sức lay động ấy, ấn tượng của chính câu chuyện, như một lời kêu gọi đối với sự thận trọng và lương tâm của kẻ nghiện thuốc phiện hãy còn chưa vững vàng — hoặc thậm chí (dù là một cân nhắc nhỏ nhoi hơn rất nhiều) làm tổn hại đến hiệu quả của nó như một tác phẩm văn học. Sự quan tâm của bạn đọc tinh tế sẽ không chủ yếu hướng vào chủ đề của những bùa phép mê hoặc, mà hướng vào quyền năng mê hoặc ấy. Không phải kẻ nghiện thuốc phiện, mà chính thuốc phiện mới là anh hùng thực sự của câu chuyện, và là tâm điểm chính đáng nơi sự chú ý xoay quanh. Mục tiêu là để bày tỏ tác dụng kỳ diệu của thuốc phiện, dù là mang lại niềm vui hay nỗi đau: nếu điều đó đã hoàn thành, hành động của vở kịch đã khép lại.

Tuy nhiên, vì một số người, bất chấp mọi quy luật trái ngược, vẫn cứ khăng khăng hỏi điều gì đã xảy ra với kẻ nghiện thuốc phiện, và giờ đây tình trạng của hắn ra sao, tôi xin trả lời thay hắn thế này: Bạn đọc hẳn biết rằng thuốc phiện từ lâu đã không còn xây dựng đế chế của nó trên những bùa phép vui sướng nữa; chính nhờ những nỗi thống khổ gắn liền với sự cố gắng từ bỏ nó mà nó mới giữ được quyền kiểm soát. Thế nhưng, vì những sự thống khổ khác, người ta có thể nghĩ rằng cũng chẳng kém gì thế, đi kèm với việc không từ bỏ một bạo chúa như vậy, nên chỉ còn lại một sự lựa chọn giữa các tai họa; và người ta cũng có thể chọn cái tai họa mà dẫu bản thân nó có khủng khiếp đến đâu, lại hé mở một viễn cảnh cuối cùng được khôi phục về lại hạnh phúc. Điều này có vẻ đúng; nhưng logic tốt đẹp đã không trao cho tác giả sức mạnh để hành động dựa trên nó. Tuy nhiên, một thời khắc khủng hoảng đã đến đối với cuộc đời tác giả, và một thời khắc khủng hoảng đối với những mục tiêu khác thậm chí còn thân thương hơn đối với ông — và những mục tiêu ấy sẽ luôn thân thương hơn đối với ông gấp bội so với cuộc sống của chính mình, ngay cả bây giờ khi nó đã lại là một cuộc sống hạnh phúc. Tôi nhận thấy mình phải chết nếu tiếp tục dùng thuốc phiện. Do đó, tôi quyết định rằng nếu điều đó là cần thiết, tôi sẽ chết trong công cuộc vứt bỏ nó. Lúc bấy giờ tôi đang dùng liều lượng bao nhiêu thì tôi không thể nói rõ, bởi vì thuốc phiện tôi dùng đã được một người bạn mua hộ, người sau đó đã từ chối không cho tôi trả tiền; thế nên tôi thậm chí không thể xác định được số lượng mình đã dùng trong suốt cả năm. Tuy nhiên, tôi đoán rằng mình đã dùng nó rất thất thường, dao động từ khoảng năm sáu mươi hạt cho đến 150 hạt một ngày. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là giảm nó xuống bốn mươi, ba mươi, và nhanh nhất có thể xuống mười hai hạt.

Tôi đã chiến thắng. Nhưng chớ có nghĩ, hỡi bạn đọc, rằng những đau khổ của tôi vì thế mà chấm dứt, cũng đừng nghĩ về tôi như một kẻ đang ngồi trong tâm trạng chán nản. Hãy nghĩ về tôi như một kẻ, ngay cả khi bốn tháng đã trôi qua, vẫn còn đang quằn quại, oằn oại, giật giật, phập phồng, tan nát, và có lẽ phần lớn ở trong tình trạng của kẻ từng bị tra tấn trên giá kéo, đúng như tôi hình dung về những nỗi thống khổ của trạng thái đó qua lời kể đầy xúc động do một nạn nhân vô tội tuyệt đối {20} để lại từ thời vua James I. Trong khi đó, tôi chẳng thu được lợi ích gì từ bất kỳ loại thuốc nào, ngoại trừ một loại được kê đơn bởi một bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng ở Edinburgh, đó là cồn amoni valerian. Do đó, về mặt y tế cho sự giải thoát của tôi, tôi không có nhiều điều để kể, và ngay cả chút ít đó, qua tay một kẻ ngu ngốc về y học như tôi, có lẽ chỉ dẫn đến sự hiểu lầm mà thôi. Dù thế nào đi nữa, đặt nó vào hoàn cảnh này sẽ là không phù hợp. Bài học đạo đức của câu chuyện này được gửi gắm đến kẻ nghiện thuốc phiện, và do đó phạm vi ứng dụng của nó chắc chắn bị giới hạn. Nếu anh ta được dạy cho biết sợ hãi và run rẩy, thì chừng đó là đã đạt được mục đích. Nhưng anh ta có thể nói rằng kết cục trong trường hợp của tôi ít nhất là bằng chứng cho thấy thuốc phiện, sau mười bảy năm sử dụng và tám năm lạm dụng quyền năng của nó, vẫn có thể bị từ bỏ, và rằng anh ta có thể may mắn mang lại nỗ lực lớn hơn tôi, hoặc với một thể chất mạnh mẽ hơn tôi, anh ta có thể đạt được những kết quả tương tự với ít khó khăn hơn. Điều này có thể đúng. Tôi không dám lấy sức mình ra để đo lường nỗ lực của những người khác. Tôi chân thành chúc anh ta có nhiều nghị lực hơn. Tôi chúc anh ta đạt được thành công như vậy. Tuy nhiên, tôi có những động lực bên ngoài bản thân mà rất có thể anh ta không có được, và chính những điều đó đã cung cấp cho tôi những điểm tựa lương tâm mà những lợi ích cá nhân thuần túy có thể không đủ sức mang lại cho một tâm trí đã bị thuốc phiện làm cho suy nhược.

Jeremy Taylor phỏng đoán rằng việc được sinh ra có lẽ cũng đau đớn chẳng kém gì cái chết. Tôi nghĩ điều đó là khả dĩ; và trong suốt khoảng thời gian giảm dần thuốc phiện, tôi đã trải qua những nỗi thống khổ của một kẻ đang bước từ phương thức tồn tại này sang phương thức tồn tại khác. Kết cục không phải là cái chết, mà là một dạng tái sinh về thể xác; và tôi xin bổ sung thêm rằng kể từ đó cho đến nay, cứ cách quãng, tôi lại được phục hồi tinh thần vượt xa cả thời trai trẻ, dẫu phải đối mặt với những khó khăn mà trong một trạng thái tâm trí kém hạnh phúc hơn, tôi chắc chắn đã gọi chúng là những bất hạnh.

Một kỷ vật về hoàn cảnh trước đây của tôi vẫn còn tồn tại — những giấc mơ của tôi vẫn chưa hoàn toàn tĩnh lặng; cơn cuồng phong và sự dao động đáng sợ của bão tố vẫn chưa hoàn toàn lắng xuống; những quân đoàn từng đóng trại trong đó đang rút đi, nhưng vẫn chưa rời đi hết; giấc ngủ của tôi vẫn còn náo động, và giống như cánh cổng Thiên Đàng đối với thủy tổ chúng ta khi nhìn lại từ chốn xa xăm, nó vẫn còn (theo câu thơ hùng tráng của Milton)

Tràn ngập những gương mặt kinh hoàng, và những thứ vũ khí rực lửa.

{19} Bạn đọc phải nhớ điều tôi ngụ ý ở đây là gì khi nói đến tư duy, bởi vì nếu không, đây sẽ là một biểu đạt rất tự phụ. Nước Anh, dạo gần đây, vô cùng giàu có về những nhà tư tưởng xuất chúng, trong các lĩnh vực tư duy sáng tạo và kết hợp; nhưng lại có một sự thiếu hụt đáng buồn về những nhà tư tưởng nam tính trong bất kỳ con đường phân tích nào. Một người Scotland mang tên tuổi lừng lẫy gần đây đã nói với chúng tôi rằng ông ấy buộc phải từ bỏ cả toán học vì thiếu sự khích lệ.

{20} William Lithgow. Cuốn sách của ông ấy (Du hành, v.v.) viết dở và mang nặng tính bác học; nhưng lời kể về những nỗi thống khổ của chính ông ta trên giá tra tấn ở Malaga thì gây xúc động mạnh mẽ đến ngộp thở.

❀ ❀ ❀

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.