Sử Ký II. Liệt Truyện (Thượng)

Lượt đọc: 425 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 65 TÔN TỬ, NGÔ KHỞI LIỆT TRUYỆN

❊ ❊ ❊

Tôn Vũ

Tôn tử tên Vũ, người nước Tề, nhờ giỏi binh pháp nên được tiếp kiến Ngô vương Hạp Lư. Hạp Lư nói: “Mười ba thiên binh pháp của ông, ta đã xem cả rồi, có thể thử bày đội ngũ được chăng?" Đáp rằng: “Được.” Hạp Lư nói: “Dùng phụ nữ để thử được chăng?” Đáp: “Được.” Thế là Hạp Lư cho 180 mỹ nữ trong cung ra thử. Tôn tử chia làm hai đội, dùng hai người được vua sủng ái làm đội trưởng, đều ra lệnh cầm kích. Lệnh hỏi: “Các ngươi có biết tay phải, tay trái, phía trước, phía sau ở đâu không?" Các mỹ nữ đáp: “Biết.” Tôn tử nói: “Hô 'trước' thì nhìn về trước mặt, hô 'trái' thì nhìn phía tay trái, hô 'phải' thì nhìn phía tay phải, hô 'sau' thì nhìn phía sau lưng.” Các mỹ nữ đáp: “Dạ.” Ban bố quy định xong xuôi, bèn bày búa rìu làm hình cụ xử tội, nhắc lại mệnh lệnh mấy lần liền, rồi nổi trống ra lệnh quay sang phải. Các mỹ nữ cười ngặt nghẽo. Tôn tử nói: “Quy định không rõ, truyền lệnh không kỹ, là lỗi của kẻ làm tướng”. Lại giải thích các quy định thêm mấy lần, rồi thúc trống sai quay sang trái. Các mỹ nữ lại cười ngặt nghẽo. Tôn tử nói: “Quy định không rõ, truyền lệnh không kỹ, đó là lỗi của kẻ làm tướng; nếu đã rõ mà không tuân quân pháp, đó là lỗi của binh sĩ.” Bèn chực chém hai đội trưởng. Ngô vương từ trên đài nhìn xuống, thấy định chém phi tần sủng ái của mình thì cả sợ, sai sứ hạ lệnh: “Quả nhân đã biết tài dụng binh của tướng quân. Quả nhân không có hai người họ thì ăn không ngon, xin đừng chém.” Tôn tử nói: “Thần đã vâng mệnh làm tướng, tướng ở trong ở quân, lệnh vua có khi không theo.” Bèn chém hai đội trưởng để thị chúng, dùng người tiếp sau làm đội trưởng, rồi lại thúc trống chỉ huy. Các mỹ nữ quay trái, phải, trước, sau, quỳ, đứng đều đúng quy định, không dám sai sót. Xong xuôi, Tôn tử sai sứ báo với vua rằng: “Binh lính đã chỉnh tề, bệ hạ hãy thử xem, nếu bệ hạ muốn dùng họ, dẫu sai vào nước sôi lửa bỏng cũng có thể được.” Ngô vương nói: “Tướng quân bãi binh về lữ quán nghỉ ngơi, quả nhân không muốn xem tiếp nữa.” Tôn tử nói: “Bệ hạ chỉ thích nói trên sách vở chứ không muốn thi hành trong thực tế.” Hạp Lư biết Tôn tử giỏi dùng binh, sau phong làm tướng. Tây phá nước Sở hùng mạnh, vào tận Dĩnh đô; bắc ra oai với Tề, Tấn, nổi danh chư hầu, đều nhờ công Tôn tử vậy.

Tôn Tẫn

Tôn Vũ chết, hơn trăm năm sau xuất hiện Tôn Tẫn. Tẫn sinh tại vùng thành A và thành Quyên, cũng là hậu duệ của Tôn Vũ. Tôn Tẫn và Bàng Quyên cùng học binh pháp. Bàng Quyên phụng sự nước Ngụy trước, được Huệ vương phong làm tướng quân, nhưng tự cho mình chẳng bằng Tôn Vũ, bèn ngầm sai sứ triệu Tôn Tẫn đến. Tẫn tới, Bàng Quyên sợ Tẫn giỏi hơn mình, sinh lòng ganh ghét, rồi khép Tẫn chịu tội, chặt lìa hai chân, thích chữ lên mặt, muốn phải lánh mặt không cho ai thấy.

Sứ Tề đến Đại Lương, Tôn Tẫn lấy thân phận tội nhân ngầm gặp, thuyết phục sứ Tề. Sứ Tề cho là bậc kỳ tài, lén đưa lên xe chở về Tề. Tướng quốc nước Tề là Điền Kỵ quý Tẫn, tiếp đãi như tân khách. Nhiều lần Kỵ cùng các công tử nước Tề đua ngựa cá cược. Tôn tử thấy ngựa chạy không thua nhau là mấy. Ngựa chia ba hạng, thượng, trung và hạ. Tôn tử bèn nói với Điền Kỵ: “Ngài cứ đặt cược lớn, tôi sẽ giúp ngài thắng.” Điền Kỵ tin theo, đặt cược cùng vua và các công tử ngàn lạng vàng. Tới khi sắp đua, Tôn tử nói: “Hãy lấy ngựa hạng hạ của ngài đấu với hạng thượng, lấy hạng thượng đấu với hạng trung, lấy hạng trung đấu với hạng hạ.” Đấu ba hạng xong, Điền Kỵ thua một nhưng thắng hai, cuối cùng được ngàn vàng từ vua. Sau đó, Điền Kỵ tiến cử Tôn tử lên Uy vương. Uy vương hỏi về binh pháp rồi tôn làm thầy.

Về sau, Ngụy đánh Triệu, Triệu nguy cấp, xin Tề cứu. Tề Uy vương muốn phong Tôn Tẫn làm tướng, Tẫn từ chối, nói: “Kẻ bị ngục hình không thể làm tướng quân.” Thế là bèn phong Điền Kỵ làm tướng, Tôn Tẫn làm quân sư. Tẫn thường ngồi trong xe có rèm che để hoạch định mưu kế. Điền Kỵ muốn dẫn quân đến Triệu, Tôn Tẫn nói: “Xét lẽ, gỡ chỗ rối thì không phải xốc tay, chữa chỗ đánh nhau thì chẳng cần xông vào, tránh thực dùng hư, khiến họ thấy khó sẽ phải tự bỏ. Nay Lương, Triệu đánh nhau, tinh binh ắt mỏi mệt ở chiến trường, quân già yếu uể oải ở trong nước. Chẳng bằng ngài hãy dẫn quân đến thẳng kinh đô Đại Lương, chặn đứng đường đi, đánh vào chỗ không phòng bị, họ ắt bỏ vây nước Triệu quay về tự cứu nước mình. Như vậy ta cất quân một lần mà giải được vây cho Triệu, dẫn dắt được nước Ngụy.” Điền Kỵ nghe theo, quân Ngụy quả nhiên bỏ Hàm Đan, đánh nhau với Tề Quế Lăng, đại phá quân Lương.

Mười ba năm sau, Ngụy và Triệu đánh Hàn, Hàn báo nguy với Tề. Tề sai Điền Kỵ đem quân sang, đến thẳng Đại Lương. Tướng Ngụy là Bàng Quyên biết tin, bỏ Hàn rút về thì quân Tề đã sang phía tây rồi. Tôn Tẫn nói với Điền Kỵ: “Quân Tam Tấn[1] vốn dũng mãnh nên khinh quân Tề, quân Tề có tiếng là khiếp nhược, người giỏi đánh trận sẽ lựa theo tình thế mà dẫn dắt để có lợi cho mình. Binh pháp nói, tiến quân gấp trăm dặm để đoạt lợi thì chủ tướng cũng kiệt quỵ, tiến gấp năm chục dặm thì chỉ nửa số quân đến nơi. Sai quân Tề vào Ngụy làm mười vạn bếp, hôm sau bớt đi còn năm vạn, hôm sau nữa bớt còn ba vạn.” Bàng Quyên tiến quân ba ngày, thấy vậy cả mừng, nói: “Ta vốn biết quân Tề nhát gan, vào đất ta có ba ngày mà quân lính đã trốn quá nửa rồi.” Bèn bỏ quân bộ, cùng quân khinh kỵ ngày đêm gấp rút đuổi đánh. Tôn tử tính hành trình quân địch, biết buổi tối sẽ đến Mã Lăng. Đường Mã Lăng hẹp, hai bên hiểm trở, có thể phục binh, bèn chặt cây lớn tước vỏ lộ phần trắng, viết lên rằng: “Bàng Quyên chết ở dưới cây này”. Thế rồi sai vạn tay cung thiện xạ trong quân Tề mai phục hai bên đường, hẹn rằng: “Buổi tối, nếu thấy nổi lửa thì nhất tề bắn tên”. Đêm ấy, quả nhiên Bàng Quyên đến chỗ cây nọ, thấy trên cây thân trắng có dòng chữ, bèn đốt đuốc lên xem, đọc chưa xong thì vạn tay cung nước Tề nhất loạt bắn ra, quân Ngụy đại loạn, không ứng cứu được nhau. Bàng Quyên tự biết trí cùng binh bại, liền tự vẫn, nói: “Ta làm thằng nhãi nổi danh rồi?” Quân Tề thừa thắng phá tan quân Ngụy, bắt được thái tử Thân nước Ngụy làm tù binh rồi rút về. Từ đó, danh tiếng Tôn Tẫn vang lừng thiên hạ, binh pháp của ông được lưu truyền ở đời.

Ngô Khởi

Ngô Khởi người nước Vệ, thích dùng binh, thường học binh pháp của Tăng tử[2], thờ vua Lỗ. Người Tề tấn công Lỗ, Lỗ muốn phong Ngô Khởi làm tướng, nhưng phải lấy vợ nước Tề nên còn nghi ngờ. Ngô Khởi muốn lập danh, bèn giết vợ để tỏ mình không can hệ gì với Tề. Cuối cùng nước Lỗ phong Ngô Khởi làm tướng. Ngô Khởi cầm quân đánh Tề, cả phá được.

Người nước Lỗ có kẻ gièm Ngô Khởi rằng: “Khởi làm người, quá nhẫn tâm. Lúc trẻ, nhà có ngàn vàng, đi du thuyết hòng làm quan không thành, đến nỗi phá tán toàn bộ sản nghiệp, làng xóm chê cười, Ngô Khởi giết hơn ba mươi người chê cười mình, rồi rời nước Vệ đi sang phía đông. Khi chia tay mẹ già, Khởi bèn cắn vào cánh tay mà thề: 'Khởi không làm nên khanh tướng, không về nước Vệ nữa.' Rồi thờ Tăng tử làm thầy. Không lâu sau, mẹ mất, Khởi vẫn không về. Tăng tử cho Khởi là người bạc bẽo nên cắt đứt quan hệ thầy trò. Khởi bèn sang nước Lỗ, học binh pháp rồi thờ vua Lỗ. Vua Lỗ nghi ngờ Khởi, Khởi liền giết vợ để mong làm tướng. Xét lẽ, Lỗ là nước nhỏ, nếu có danh nghĩa chiến thắng, chư hầu sẽ đánh nước Lỗ. Vả Lỗ và Vệ là nước anh em, nếu vua Lỗ dùng Khởi thì mất lòng nước Vệ.” Vua Lỗ nghi ngờ nên từ chối Ngô Khởi.

Ngô Khởi nghe nói Ngụy Văn hầu hiền đức, muốn thờ ông ta. Văn hầu hỏi Lý Khắc: “Ngô Khởi là người thế nào?" Lý Khắc đáp: “Khởi tham lam hiếu sắc, nhưng dùng binh thì Tư Mã Nhương Tư cũng không hơn được.” Thế là Ngụy Văn hầu cho làm tướng. Khởi cầm quân đánh Tần, hạ được năm thành.

Khởi làm tướng, ăn mặc giống sĩ tốt thấp nhất, nằm không trải chiếu, đi không ngựa xe, chia bớt phần lương, san sẻ khỏ nhọc cùng binh sĩ. Quân lính có kẻ bị u nhọt, Khởi dùng miệng hút mủ cho. Mẹ binh lính đó biết chuyện bật khóc. Có người hỏi: “Con bà là lính mà được tướng quân dùng miệng hút mủ cho, sao lại phải khóc?” Bà mẹ đáp: “Không phải đâu. Khi trước Ngô công hút mủ cho cha nó, cha nó xông pha chiến đấu rồi chết trong tay địch. Nay Ngô công lại hút mủ cho nó, tôi không biết rồi nó sẽ chết ở đâu, vì thế mà khóc.”

Văn hầu cho Ngô Khởi giỏi dụng binh, liêm khiết công bằng, khéo thu phục nhân tâm binh sĩ, bèn phong làm Thái thú Tây Hà để chống Tần và Hàn.

Ngụy Văn hầu chết, Khởi thờ con trai ông là Vũ hầu. Vũ hầu đi thuyền từ Tây Hà xuống, giữa dòng quay lại bảo Ngô Khởi: “Đẹp thay, non sông hiểm trở, đó chính là báu vật của nước Ngụy vậy.” Khởi đáp: “Cốt ở đức chứ không ở đất hiểm yếu. Xưa, Tam Miêu bên trái có hồ Động Đình, bên phải có bến Bành Lãi, không sửa sang đức nghĩa, bị Hạ Vũ tiêu diệt. Chỗ vua Kiệt nhà Hạ ở, trái là sông Hoàng sông Tế, phải là Thái Sơn, Hoa Sơn, núi Y Khuyết ở phía nam, núi Dương Trường trấn mạn bắc, nhưng chính trị bất nhân, bị Thành Thang xua đuổi. Nước của vua Trụ nhà Ân, trái có núi Mạnh Môn, phải có Thái Sơn và Hành Sơn, Thường Sơn ở mạn bắc, sông Hoàng Hà rộng lớn chắn phía nam, nhưng chính sự không dùng đức, bị Vũ vương giết chết. Từ đó mà xét, cốt ở đức chứ không ở đất hiểm hay không. Nhà vua không tu đức, người trong thuyền thảy đều là người nước địch vậy.” Vũ hầu nói: “Phải lắm”.

Ngô Khởi làm Thái thú Tây Hà, rất có danh tiếng. Ngụy lập Tưởng quốc, phong cho Điền Văn. Ngô Khởi không vui, bảo Điền Văn rằng: “Xin luận công với ngài, được chăng?” Điền Văn đáp: “Được.” Khởi hỏi: “Thống lãnh ba quân, khiến sĩ tốt vui lòng xông vào chỗ chết, nước địch không dám động binh, ngài với Khởi ai hơn?" Văn đáp: “Tôi không bằng ngài.” Khởi hỏi: “Sắp đặt trăm quan, muôn dân quy thuận, kho đụn đầy ắp, ngài với Khởi ai hơn?” Văn đáp: “Tôi không bằng ngài.” Khởi hỏi: “Trấn giữ Tây Hà mà quân Tần không dám quấy rối phía đông, Hàn, Triệu quy phục, ngài với Khởi ai hơn?" Văn đáp: “Tôi không bằng ngài.” Khởi hỏi: “Ba việc đó ngài đều kém tôi, mà địa vị lại trên tôi, cớ làm sao?” Văn đáp: “Vua tuổi còn nhỏ, nước vẫn chưa yên, đại thần chưa quy phục, trăm họ chưa tin theo, vào lúc này đây, giao ngài làm Tướng quốc hay giao cho tôi?” Khởi trầm ngâm hồi lâu, đáp: “Giao cho ngài.” Văn nói: “Chính thế tôi ở chức cao hơn ngài vậy.” Ngô Khởi tự biết mình không bằng Điền Văn.

Điền Văn chết, Công Thúc làm Tướng quốc, lấy công chúa nước Ngụy, ghét bỏ Ngô Khởi. Kẻ hầu của Công Thúc nói: “Khởi dễ trừ thôi.” Công Thúc hỏi: “Tại sao?” Y đáp: “Ngô Khởi là người liêm khiết nhưng hiếu danh. Ngài nói trước với Vũ hầu rằng: 'Ngô Khởi là người hiền mà nước của Vũ hầu thì nhỏ, lại giáp Tần mạnh, thần e Khởi không có ý ở lại lâu dài.' Vũ hầu sẽ hỏi: 'Tại sao?' thì ngài đáp: 'Thử gả công chúa cho Khởi, nếu Khởi có ý ở lại lâu dài sẽ chấp thuận, bằng không sẽ từ chối. Từ đó sẽ biết thôi.' Nhân thế, ngài triệu Ngô Khởi đến nhà, cố ý khiến công chúa giận mà coi thường ngài. Ngô Khởi thấy công chúa coi thường ngài thì ắt từ chối.” Quả nhiên, Ngô Khởi thấy công chúa coi thường Tướng quốc nước Ngụy, liền từ chối yêu cầu của Ngụy Vũ hầu. Vũ hầu nghi ngờ Ngô Khởi nên không tin dùng nữa. Ngô Khởi sợ đắc tội, bèn bỏ đi, đến nước Sở.

Sở Điệu vương vốn nghe danh Khởi hiền tài, vừa đến lập tức phong làm Tướng quốc. Ngô Khởi thẩm xét rõ pháp lệnh, bỏ các chức quan không cần thiết, cắt bổng lộc những người họ xa với vua để cấp phát cho chiến binh. Coi trọng quân đội hùng mạnh, đả phá những kẻ du thuyết. Vì thế phía nam bình định Bách Thành; phía bắc thôn tính Trần và Sái, đẩy lùi Tam Tấn; phía tây đánh Tần. Chư hầu lo sợ trước sự hùng mạnh của Sở. Do quý tộc nước Sở thảy muốn hại Ngô Khởi nên sau khi Điệu vương chết, các đại thần trong tông thất làm loạn, công kích Ngô Khởi, Khởi chạy núp ở chỗ đặt thi thể nhà vua. Bọn công kích bèn bắn Ngô Khởi, trúng cả thi thể Điệu vương. Chôn Điệu vương xong, thái tử lên ngôi, bèn lệnh giết bọn đã bắn Ngô Khởi và thi thể nhà vua. Những kẻ liên quan bị diệt tộc lên đến hơn bảy mươi nhà.

Thái sử công bàn rằng: Người đời xưng tụng chuyện quân lữ, đều nói đến 13 thiên Tôn tử và sách binh pháp của Ngô Khởi. Các sách này người đời phần nhiều đều có, nên không bàn thêm, chỉ bàn về cách hành sự của họ. Có câu: “Người làm giỏi chưa chắc nói giỏi, người nói giỏi chưa chắc làm giỏi.” Tôn tử tính toán tường minh mưu kế của Bàng Quyên nhưng không sớm nghĩ đến việc bị Bàng Quyên gia hại. Ngô Khởi nói với Vũ hầu coi trọng thế hiểm yếu chẳng bằng tu đức, nhưng thi hành chính sự ở nước Sở lại tàn khốc ít lòng nhân, đến nỗi phải mất mạng. Buồn thay!

[1] Nước Tấn sau bị chia làm ba nước là Hàn, Triệu và Ngụy. Bàng Quyên cầm quân nước Ngụy, một trong ba nước tách ra từ nước Tấn, cho nên gọi là "Tam Tấn".

[2] Tăng tử: cao đồ của Khổng tử, tác giả sách Đại học, hậu thế xưng tụng là "Tông thánh".

Phạm Văn Ánh (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.