Viên Áng
Viên Áng, người nước Sở, tự là Ty. Cha vốn tụ tập đồ đảng làm trộm cướp, chuyển đến sống ở An Lăng. Thời Cao hậu, Áng từng làm xá nhân cho Lã Lộc. Đến khi Hiếu Văn đế lên ngôi, anh Áng là Khoái tiến cử Áng làm Trung lang.
Giáng hầu làm Thừa tướng, bãi chầu chạy vội ra ngoài, ra chiều đắc ý. Hoàng thượng dùng lễ đối đãi cung kính, thường đích thân đưa tiễn. Viên Áng tiến lên nói: “Bệ hạ cho Thừa tướng là người thế nào?” Hoàng thượng đáp: “Bề tôi của xã tắc.” Áng nói: “Giáng hầu là bề tôi có công, không phải bề tôi xã tắc. Bề tôi xã tắc, chủ còn mình còn, chủ mất mình mất. Thời Lã hậu, người họ Lã nắm quyền, tự xưng tướng xưng vương, họ Lưu không dứt nhưng chỉ như chiếc đai. Bấy giờ Giáng hầu làm Thái úy, nắm binh quyền, không thể chỉnh đốn. Lã hậu băng, đại thần cùng phản họ Lã, Thái úy cầm binh quyền, đúng lúc được thành công, đó là bề tôi có công, không phải bề tôi xã tắc. Thừa tướng có vẻ kiêu ngạo với chúa. Bệ hạ khiêm nhượng, vua tôi thất lễ, thần trộm vì bệ hạ cho là không được.” Về sau thiết triều, hoàng thượng ngày càng trang nghiêm, Thừa tướng ngày càng thêm nể sợ. Rồi Giáng hầu trách Viên Áng rằng: “Ta với anh mày vốn thân thiết, nay nhãi ranh ngươi lại hủy báng ta giữa triều đình!” Áng không tạ lỗi.
Khi Giáng hầu bị phế bỏ nước phong của Tướng quốc, người trong nước dâng thư tố cáo Giáng hầu làm phản, bị bắt trói hạ ngục, các công khanh trong tông thất không ai dám nói đỡ, chỉ có Viên Áng chứng minh Giáng hầu vô tội. Giáng hầu được thả, đều do công của Áng. Giảng hầu bèn kết giao thân tình với Áng.
Hoài Nam Lệ vương vào chầu, giết Tịch Dương hầu, cư xử rất ngạo ngược. Viên Áng can rằng: “Chư hầu quá kiêu ắt sinh họa, cần biếm trích, tước đất phong.” Hoàng thượng không nghe. Hoài Nam vương càng hoành hành. Đến khi Thái tử Sài Vũ của Cúc Bồ hầu mưu phản bị lộ, trị tội, liên quan đến Hoài Nam vương, Hoài Nam vương bị triệu về, Hoàng thượng nhân đó đày ra đất Thục, dùng xe tù đưa đi. Bấy giờ Viên Áng làm Trung lang tướng, bèn can rằng: “Bệ hạ vốn dung túng Hoài Nam vương, không hề cấm đoán, nay đến nỗi này, xử quá mạnh tay. Hoài Nam vương là người cương liệt, nếu nhiễm sương móc chết trên đường đi, bệ hạ sẽ bị cho là vì thiên hạ không dung người, mang tiếng giết em thì sao.” Hoàng thượng không nghe, vẫn làm như cũ.
Hoài Nam vương đến đất Ung, ốm chết, nghe tin, Hoàng thượng bỏ ăn, khóc rất đau đớn. Áng vào, dập đầu nhận tội. Hoàng thượng nói: “Vì không nghe lời ông mới nên nỗi này.” Áng nói: “Hoàng thượng xin bớt thương đau, chuyện đã qua, có hối được đâu! Vả lại bệ hạ đã làm ba việc vượt hơn người đời, chuyện này không đủ để hủy danh tiếng bệ hạ.” Hoàng thượng hỏi: “Ta có ba việc gì vượt hơn người đời?” Áng đáp: “Khi bệ hạ ở đất Đại, Thái hậu từng mắc bệnh, ba năm trời, bệ hạ không chợp mắt, không thay quần áo, thuốc thang bệ hạ chưa nếm thử thì chưa dâng. Xét Tăng Sâm là kẻ áo vải còn khó làm được, nay bệ hạ thân là vương giả còn làm được, hiếu hơn Tăng Sâm nhiều lắm. Xét họ Lã chuyên quyền, đại thần độc đoán, nhưng bệ hạ từ đất Đại qua sáu lần dịch trạm, vượt vực sâu khôn dò, dẫu dũng như Mạnh Bôn, Hạ Dục cũng không bằng bệ hạ. Bệ hạ đến dinh của Đại vương, hai lần quay mặt về tây nhường ngôi thiên tử, ba lần quay mặt về nam nhường ngôi thiên tử. Xét Hứa Do nhường một lần, còn bệ hạ nhường thiên hạ năm lần, hơn Hứa Do bốn lần. Vả bệ hạ đày Hoài Nam vương, để ông ấy thấy khổ, sửa đổi lỗi lầm, hữu ty bảo vệ không cẩn trọng, nên ốm chết.” Nghe vậy Hoàng thượng nguôi ngoai dần, nói: “Phải làm sao đây?” Áng đáp: “Hoài Nam vương có ba con trai, đều do bệ hạ thôi.” Thế rồi Văn đế lập ba người con làm vương. Áng nhờ đó danh tiếng thêm trọng vọng ở triều đình.
Viên Áng thường dẫn dụng những nguyên tắc lớn, trình bày khảng khái. Hoạn quan Triệu Đồng nhiều lần được sủng ái, từng hãm hại Viên Áng, Viên Áng lo lắng. Con anh trai Áng tên Chủng làm Thường thị kỵ, cầm phù tiết đi hai bên xe, nói với Áng rằng: “Chú đấu với ông ta, hãy làm nhục trên triều, khiến hoàng thượng không theo lời hủy báng nữa.” Hiếu Văn đế ra ngoài cung, Triệu Đồng hầu trên xe, Viên Áng quỳ trước xe nói: “Thần nghe nói thiên tử ngồi cùng xe kẻ cao sáu thước, đó đều là anh hào thiên hạ. Nay nhà Hán dẫu thiếu người, bệ hạ cũng đâu cần ngồi chung với hạng thiến sót!” Thế là Hoàng thượng bật cười, đuổi Triệu Đồng xuống. Triệu Đồng khóc dưới xe.
Văn đế từ Bá Lăng đi lên, muốn từ phía tây phóng ngựa xuống sườn núi. Viên Áng cưỡi ngựa, ngồi cùng xe cầm dây cương. Hoàng thượng hỏi: “Tướng quân có sợ không?” Áng đáp: “Thần nghe nói, con của nhà có ngàn vàng không ngồi dưới xà nhà, con của nhà có trăm vàng không ngồi dựa lan can, bậc thánh chúa không mạo hiểm để cầu may. Nay bệ hạ ruổi xe sáu ngựa phóng xuống sườn núi cao, nếu ngựa sợ, xe hỏng, bệ hạ xem nhẹ bản thân, còn Cao miếu, Thái hậu thì sao?" Hoàng thượng bèn dừng.
Hoàng thượng đến vườn Thượng Lâm, hoàng hậu và Thận phu nhân đi theo. Ở trong cung cấm, hoàng hậu và Thận phu nhân thường ngồi chung chiếu. Đến khi ngồi, Lang thị trưởng trải chiếu, Viên Áng dẫn Thận phu nhân ngồi lui xuống. Thận phu nhân giận, không chịu ngồi. Hoàng thượng cũng giận, đứng lên, vào cung cấm. Áng nhân đó bước lên tâu: “Thần nghe nói cao thấp thứ tự thì trên dưới hài hòa. Nay bệ hạ đã lập hoàng hậu, Thận phu nhân là thiếp, thiếp chủ há có thể ngồi chung! Thế là làm mất tôn ty. Vả lại bệ hạ sủng ái Thận phu nhân, ban thưởng nhiều của cải. Bệ hạ đối đãi với Thận phu nhân như thế, là gây họa cho phu nhân đó. Riêng bệ hạ không thấy 'lợn người'[1] ư?” Thế là Hoàng thượng vui trở lại, triệu Thận phu nhân đến nói. Thận phu nhân tặng Áng năm mươi cân vàng.
Nhưng Viên Áng nhiều lần can ngăn thẳng thắn, nên không được ở lâu trong triều, bị chuyển đi làm Đô úy ở Lũng Tây. Áng yêu thương sĩ tốt, sĩ tốt đều tranh nhau dám chết. Được thăng làm Tướng quốc nước Tề. Rồi sang làm Tướng quốc nước Ngô, từ biệt lên đường, Chủng nói với Áng: “Ngô vương kiêu căng đã lâu, trong nước nhiều kẻ gian nịnh. Nay nếu muốn hạch tội trừng trị, họ không dâng thư vu cáo chú, sẽ dùng kiếm sắc đâm chú. Phương nam trũng ẩm, chú có thể ngày ngày uống rượu, không gây phiền phức, luôn thuyết phục Ngô vương đừng làm phản thôi. Như thế may thoát được họa.” Áng theo lời Chủng, được Ngô vương rất hậu đãi.
Viên Áng cáo từ trở về, trên đường gặp Thừa tướng Thân Đồ Gia, xuống xe bái yết, Thừa tướng từ trên xe đáp tạ Viên Áng. Viên Áng về, xấu hổ với thuộc lại, bèn đến phủ Thừa tướng đưa danh thiếp, cầu kiến Thừa tướng. Thừa tướng hồi lâu mới gặp. Áng nhân đó quỳ nói: “Xin được gặp riêng ngài.” Thừa tướng nói: “Nếu ông nói việc công, xin đến chỗ Tào quan và Trưởng lại bàn nghị, tôi sẽ tấu việc tâu lên; nếu nói việc riêng, tôi không nghe những lời riêng tư.” Viên Áng liền quỳ hỏi: “Ngài làm Thừa tướng, tự xét so với Trần Bình, Giáng hầu thì thế nào?” Thừa tưởng đáp: “Ta không bằng.” Viên Áng nói: “Phải, ngài tự cho không bằng họ. Xét Trần Bình, Giáng hầu phò tá Cao đế, bình định thiên hạ, làm tướng võ tướng văn, rồi giết họ Lã, bảo tồn họ Lưu; ngài từng làm Tài quan cung thủ, được thăng đội trưởng, tích dần công lao làm đến Quận thú Hoài Dương, không phải có công vạch kế lạ đánh thành, giao chiến bên ngoài. Vả bệ hạ từ đất Đại về, mỗi khi thiết triều, quan lang dâng sớ, chưa từng không dừng xe nghe lời tấu trình, lời nào không thể dùng sẽ để đó, lời nào có thể tiếp thu liền chọn dùng, chưa từng không khen phải. Tại sao vậy? Vì muốn vời hiền sĩ đại phu trong thiên hạ đến. Hằng ngày Hoàng thượng nghe điều chưa được nghe, minh xét những điều chưa tỏ, ngày càng thêm thánh trí; nay ngài tự bịt miệng thiên hạ mà ngày càng ngu tối. Xét thánh chúa trách Thừa tướng ngu tối, không lâu nữa ngài sẽ gặp họa thôi.” Thừa tướng bèn vái hai vái nói: “Gia này quê mùa bỉ lậu nên không biết, may được tướng quân dạy bảo.” Bèn đưa vào ngồi cùng, tôn làm thượng khách.
Áng vốn không ưa Triều Thố, Triều Thố ngồi ở đâu, Áng liền đi; Áng ngồi ở đâu, Thố cũng tránh: hai người chưa từng nói chuyện cùng một chỗ. Đến khi Hiếu Văn đế băng, Hiếu Cảnh để lên ngôi, Triều Thố làm Ngự sử đại phu, sai thuộc lại tra án Viên Áng nhận của cải từ Ngô vương, xử theo luật, chiếu ban xá tội cho làm dân thường.
Ngô, Sở làm phản, nghe tin, Triều Thố bảo quan Thừa sử rằng: “Xét lẽ, Viên Áng nhận nhiều tiền vàng của Ngô vương, vì thế che giấu cho, nói không làm phản. Nay quả làm phản, tôi muốn xin trị tội Áng biết việc mưu phản mà không báo.” Thừa sử nói: “Việc chưa lộ ra, trị ông ta sẽ dứt lòng mưu phản. Nay quân phản nghịch đã sang phía tây, trị tội có ích gì! Vả lại Viên Áng không có mưu gian.” Triều Thố do dự chưa quyết. Có người bảo lại với Viên Áng, Viên Áng sợ, đương đêm đến gặp Đậu Anh, nói nguyên nhân Sở vương làm phản, xin đến trước mặt Hoàng thượng để đối chất. Đậu Anh vào nói với Hoàng thượng, Hoàng thượng bèn triệu Viên Áng vào gặp. Triều Thố đứng phía trước, đến khi Áng xin đuổi người ra tấu riêng, Thố đi ra, vô cùng tức giận. Viên Áng nói lý do Ngô vương làm phản là vì Triều Thố, chỉ có cách chém ngay Thố để tạ lỗi với Ngô vương, quân Ngô mới bãi binh. Những lời ấy chép trong phần “Ngô sự” [Ngô vương Tỵ liệt truyện]. Sai Viên Áng làm Thái thường, Đậu Anh làm đại tướng quân. Hai người vốn thân giao. Khi Ngô vương làm phản, các trưởng giả ở huyện phụ cận cùng các đại phu hiền năng ở Trường An đều tranh quy phụ hai người, xe ngựa đi theo mỗi ngày đến mấy trăm cỗ.
Khi Triều Thố đã bị giết, Viên Áng lấy thân phận Thái thường đi sứ Ngô. Ngô vương muốn Áng làm tướng quân, Áng không chịu. Muốn giết Áng, sai một viên Đô úy đem năm mươi người vây chặt quân doanh Áng. Viên Áng khi làm Tướng quốc nước Ngô, có viên lại đi theo trộm yêu con hầu của Áng, Áng biết việc đó, không tiết lộ, vẫn đối đãi như trước. Có người báo với viên lại kia: “Tướng quốc biết việc ông tư thông với cô hầu rồi”, y bèn trốn về. Viên Áng đích thân đánh xe đuổi theo, đem người hầu gái kia tặng cho, vẫn cho làm tòng lại. Đến khi Viên Áng đi sứ nước Ngô bị vây giữ, viên tòng lại chính là Hiệu úy tư mã vây giữ Áng, liền đem hết hành trang của cải đổi lấy hai thạch rượu ngon, đúng hôm trời lạnh, sĩ tốt đói khát, uống rượu say, lính ở góc tây nam đều ngủ, đương đêm Tư mã dựng Viên Áng dậy, nói: “Ngài có thể đi được rồi, Ngô vương định sáng mai chém ngài đấy.” Áng không tin, hỏi: “Ông là ai?” Tư mã đáp: “Tôi trước là viên tòng lại trộm hầu gái của ngài đó.” Áng bấy giờ kinh ngạc cảm tạ rằng: “Ông may mắn còn song thân, ta không đáng để liên lụy đến ông.” Tư mã nói: “Ngài cứ đi đi, tôi cũng sẽ trốn, đem cha mẹ theo, ngài không phải lo!” Rồi dùng dao rạch trướng, mở đường từ trong đám quân say rượu đi thẳng ra ngoài. Tư mã cùng Viên Áng chia đường đi, Viên Áng tháo cờ tiết ôm vào lòng, chống gậy, đi bộ bảy tám dặm, trời sáng, thấy kỵ mã nước Lương, bèn cưỡi ngựa ra đi, rồi về báo.
Ngô, Sở đã bị phá, Hoàng thượng đổi con trai Sở Nguyên vương là Bình Lục hầu Lễ làm Sở vương, Viện Áng làm Tướng quốc nước Sở. Từng dâng thư tâu việc, không được dùng. Viên Áng thác bệnh về nhà, nổi chìm cùng người làng, theo đi chọi gà đua chó. Kịch Mạnh ở Lạc Dương từng qua thăm Viên Áng, Áng đối đãi chu đáo. Có phú hộ ở An Lang nói với Áng rằng: “Tôi nghe nói Kịch Mạnh là tay cờ bạc, tướng quân sao qua lại với hắn?” Áng đáp: “Kịch Mạnh tuy cờ bạc, nhưng khi mẹ chết, khách đến tống táng đến hơn nghìn cỗ xe, y cũng có chỗ hơn người. Vả người ta ai chẳng có lúc nguy cấp. Xét lẽ, một sớm kia có người nguy cấp đến gõ cửa, không thể giải thích vì song thân còn sống được, không thể chối từ vì chuyện còn mất được, chỗ thiên hạ trông về, chỉ Quý Tâm, Kịch Mạnh thôi. Nay ông có mấy kỵ mã theo cùng, một ngày nào đó nguy cấp, liệu đủ làm chỗ trông cậy chăng?” Mắng phú hộ ấy, không giao du nữa. Các vương công nghe vậy, đều rất trọng Viên Áng.
Viên Áng tuy ở nhà, Cảnh đế vẫn thường sai người đến hỏi han sách lược. Lương vương muốn được kế vị, Viên Áng khuyên can, việc lập Lương vương mới dứt. Lương vương vì thế oán Áng, từng sai người hành thích Áng. Người đi hành thích đến Quan Trung, hỏi Viên Áng, mọi người đều ca tụng. Bèn đến gặp Viên Áng, nói: “Tôi nhận vàng của Lương vương đến hành thích ngài, ngài là bậc trưởng giả, không nỡ hành thích ngài. Sau đây còn có hơn chục người đến giết ngài, hãy phòng bị!” Viên Áng trong lòng không vui, nhà cũng có nhiều việc kỳ quái, bèn đến xem bói chỗ Bồi Sinh. Trở về, bọn thích khách Lương vương phái đến sau quả nhiên chặn đường đâm chết Viên Áng ở ngoài cổng thành An Lăng.
Triều Thố
Triều Thố, người Dĩnh Xuyên. Học thuyết hình danh của Thân Bất Hại và Thương Ưởng từ Trương Khôi Tiên người đất Chỉ, chung thầy với Tống Mạnh và Lưu Lễ ở Lạc Dương. Triều Thố nhờ tài văn chương học vấn nên được làm Thái thường.
Thố là người nóng tính, cương trực nhưng khắc nghiệt. Thời Hiếu Văn đế, thiên hạ không ai nghiên cứu Thượng thư, chỉ nghe có viên Bác sĩ nhà Tần trước đây là Phục Sinh ở Tế Nam, chuyên nghiên cứu Thượng thư, đã hơn chín mươi tuổi, già nên không triệu đến, bèn hạ chiếu cho Thái thường sai người đến đó học. Thái thường sai Thố đi học Thượng thư ở chỗ Phục Sinh. Trở về, nhân tâu Hoàng thượng những việc tiện lợi, dùng Thượng thư dẫn dụ. Hạ chiếu cho làm các chức Thái tử xá nhân, Môn đại phu, Gia lệnh. Do có tài biện bác được Thái tử sủng ái, người nhà Thái tử gọi là “túi khôn”. Thời Hiếu Văn đế, Thố nhiều lần dâng thư, nói việc tước bỏ quyền lực chư hầu, đến việc thay đổi pháp lệnh. Thứ dâng mấy chục lần, Hiếu Văn đế không nghe, nhưng cho là kỳ tài, thăng làm Trung đại phu. Bấy giờ, Thái tử cho kế sách của Thố hay, Viên Áng và các đại công thần phần nhiều không ưa Thố.
Cảnh đế lên ngôi, lấy Thố làm Nội sử. Thố từng nhiều lần xin gặp riêng tâu việc, vua đều nghe theo, được sủng ái hơn cả cửu khanh, nhiều pháp lệnh chế định lại. Thừa tướng Thân Đồ Gia trong lòng bất mãn, sức không đủ làm phương hại đến Thố. Phủ Nội sử ở phía trong miếu Thái thượng, cửa ra phía đông, không tiện, Thố bèn trổ hai cổng ra hướng nam, đục tường vây của miếu Thái thượng. Thừa tướng Gia nghe chuyện, cả giận, muốn nhân lỗi ấy tâu xin chém Thổ. Thố nghe tin, đương đêm xin gặp riêng, nói rõ mọi việc cho hoàng thượng. Thừa tướng tâu việc, nhân nói việc Thố đục tường vây miếu Thái thượng làm cổng, xin giao Đình úy xử chém. Hoàng thượng nói: “Đó không phải tường vây của miếu, mà là tường bao khu đất trống, không phải phạm pháp.” Thừa tướng xin tạ tội. Bãi chầu, Thừa tướng giận nói với Trưởng sử: “Ta nên chém trước tâu sau, nay lại tâu trước, nên bị thằng nhãi kia bán đứng, thực là sai lầm.” Thừa tướng phát bệnh rồi chết. Thố nhờ thế càng thêm tôn quý.
Được thăng làm Ngự sử đại phu, xin tấu tội lỗi của chư hầu, tước đất phong, thu các quận lân cận của họ. Tâu lên Hoàng thượng, Hoàng thượng lệnh các công khanh, liệt hầu, tông thất tập hợp để thương nghị, không ai dám làm khó, riêng Đậu Anh tranh luận, từ đấy sinh hiềm khích với Thố. Thố thay đổi ba mươi chương luật lệnh, chư hầu đều nhao nhao ghét Triều Thố. Cha Thố biết việc đó, từ Dĩnh Xuyên đến, bảo Thố rằng: “Hoàng thượng mới lên ngôi, ngươi nắm quyền chính sự, xâm đoạt chư hầu, chia rẽ cốt nhục người ta, ai nấy đều bàn nghị, phần lớn oán ngươi, tại sao vậy?” Triều Thố đáp: “Vốn phải thế. Nếu không thế, thiên tử không được tôn quý, tông miếu không được yên ổn.” Cha Thố nói: “Họ Lưu đã yên, còn họ Thố sẽ gặp nguy, ta bỏ mày mà về thôi!” Bèn uống thuốc độc chết, nói: “Ta không nỡ nhìn họa đến thân ta.” Chết được hơn chục hôm, Ngô, Sở bảy nước quả nhiên làm phản, viện cớ giết Thố. Đến khi Đậu Anh, Viện Áng tâu lên, Hoàng thượng sai Triều Thố mặc triều phục rồi đem chém ở chợ đông.
Sau khi Triều Thố chết, yết giả Bộc xạ Đặng Công làm Hiệu úy, làm tướng đi đánh quân Ngô, Sở. Trở về, dâng thư nói việc quân, rồi vào yết kiến. Hoàng thượng hỏi: “Ông từ trong quân đến, nghe tin Triều Thố đã chết, Ngô, Sở có bãi binh không?” Đặng Công đáp: “Ngô vương làm phản mấy chục năm rồi, giận vì bị tước đất phong, nên mượn danh nghĩa giết Thố, kỳ thực ý ông ta không phải vì Triều Thố vậy. Và thần sợ kẻ sĩ trong thiên hạ nín lặng, không dám nói nữa.” Hoàng thượng hỏi: “Sao vậy?” Đặng Công đáp: “Xét lẽ, Triều Thố sợ chư hầu lớn mạnh, không thể khống chế, nên đề nghị tước đất phong để đề cao kinh sư, là mối lợi cho muôn đời. Kế hoạch mới thi hành, cuối cùng bị giết, sẽ khiến trong triều trung thần bị chặn miệng, bên ngoài chư hầu sẽ báo thù, thần trộm vì bệ hạ cho là không nên.” Thế rồi Cảnh đế trầm ngâm hồi lâu, nói: “Ông nói phải, ta cũng hối hận về việc đó.” Bèn phong Đặng Công làm Trung úy ở Thành Dương.
Đặng Công, người Thành Cố, có nhiều kế lạ. Thời Kiến Nguyên, Hoàng thượng vời hiền lương, công khanh nói có Đặng Công, bấy giờ Đặng Công thôi chức, khởi dụng từ nhà làm đến cửu khanh. Được một năm, lại thác bệnh xin nghỉ về nhà. Con trai ông là Chương nhờ nghiên cứu đạo Hoàng - Lão mà nổi tiếng hơn cả Công khanh.
Thái sử công bàn rằng: Viên Áng dẫu không ham học, cũng giỏi phụ hội, lấy lòng nhân làm gốc, dẫn thuật đại nghĩa, khảng khái dâng lời. Gặp lúc Hiếu Văn đế mới lên ngôi, tài trí gặp thời. Thời thế thay đổi, Ngô Sở làm phản, đưa ra một thuyết, thuyết tuy được thi hành, nhưng vẫn không thỏa chí. Thích danh tiếng, khoe khoang tài năng, cuối cùng vì danh mà bại. Triều Thố khi làm Gia lệnh, nhiều lần tấu việc nhưng không được dùng; sau chuyên quyền, thay đổi nhiều pháp lệnh. Chư hầu phát binh gây áp lực, không uốn nắn ngay để cứu nước, toan báo thù riêng, trái lại mất mạng. Tục ngữ nói: “Thay đổi chế độ thời cổ, làm rối loạn phép thường, không chết cũng phải bỏ trốn” có lẽ nói bọn Triều Thố chăng?
[1] Hán Cao tổ sủng ái Thích phu nhân. Sau khi Cao tổ chết, Thích phu nhân bị Lã hậu chặt chân tay, chọc mù mắt, cho uống thuốc cấm rồi vứt vào nhà xí, gọi đó là "lợn người". Xem trong phần "Lã Thái hậu bản kỷ".