Vết bỏng trên mặt và tay làm tôi đau rát. Tôi đi nhanh trở về để tìm thuốc mỡ mà trước đó tôi đã nhìn thấy trong tủ khi tìm thuốc ngủ cho Hari. Vừa mở cửa phòng, tôi giật thót mình kinh hoàng khi nhìn thấy có ai đó đang ngồi trên đi văng, vẫn chiếc đi văng mà Hari đã ngồi trước đó. Vừa dợm bước định bỏ chạy thì thấy người đó ngoảnh mặt lại. Tôi nhận ra Snaut. Chân bắt chéo, ngồi quay lưng lại phía tôi, ông ta đang lật xem những tờ giấy gì đó.
Trên mặt bàn cạnh ông còn có một tập dày giấy má nữa. Ông đăm đăm nhìn tôi một lúc qua phần trống phía trên của chiếc kính đeo trễ trên sống mũi.
Tôi lẳng lặng đi đến bên bồn rửa, lấy từ trong tủ thuốc mỡ bỏng và bắt đầu bôi vào những chỗ bị đau, sau đó dùng gạc đắp lên. Liếc qua gương, tôi thấy Snaut vẫn đang ngồi xếp đôi tay lên hai đầu gối nhọn của mình và nhìn tôi với cái vẻ hơi giễu cợt. Tôi đến bên một chiếc đi văng khác và ngồi xuống sau khi điềm nhiên cất đi chiếc áo váy của Hari còn bỏ lại trên thành ghế. Hiển nhiên là Snaut đã nhìn thấy nó từ trước.
– Thế nào, chúng ta nói chuyện được chứ? - Cuối cùng ông lên tiếng. - Anh có khách phỏng?
– Ừ, - tôi trả lời nhỏ, không chút hưởng ứng vì cái cung cách vào đề vừa thẳng tuột vừa có vẻ giễu cợt của ông ta.
– Và anh đã tống cổ được khách đi hả? Ồ, khá quá đấy.
Tôi im lặng.
– Nhưng anh vào cuộc chắc là còn khá nhũn nhặn, - ông tiếp tục, dường như không để ý tới vẻ mặt cáu kỉnh của tôi. - Nào là các loại thuốc ngủ, thuốc độc, rồi lại vật tự do nữa phỏng?
– Anh muốn gì? Chúng ta đã có thể nói chuyện ngang bằng. Nếu anh còn vòng vo thì tốt nhất hãy đi ra khỏi đây.
– Đôi khi cần phải vòng vo, dù không muốn. Chắc anh không thể làm tôi tin rằng anh đã không định sử dụng búa hoặc dây thừng? Hãy còn chưa ném chai lọ đấy chứ? Chưa hả? - Ông nhăn mặt. - Ồ, anh quả là một thanh niên lịch duyệt. Thậm chí bồn rửa còn nguyên vẹn, à mà tất cả nói chung còn trong trật tự. Vậy là, một, hai, đá thế là xong. - Snaut nhìn đồng hồ rồi kết luận. - Chúng ta còn khoảng hai, có thể là ba giờ tự do.
Ông nhìn tôi cười mới đáng ghét làm sao, rồi bỗng hỏi:
– Chắc rằng anh đang rủa tôi là đồ con lợn?
– Con lợn cuối cùng, - tôi thẳng thừng khẳng định.
– Thật à? Thế liệu anh có tin tôi không nếu như tôi kể hết với anh ngay từ đầu? Có tin không, dù chỉ một lời?
Tôi im lặng.
– Đầu tiên chuyện xảy ra với Gibarian. Ông ta khóa trái phòng và chỉ nói chuyện với chúng tôi qua lớp cửa. Còn hai chúng tôi... anh đoán xem, bọn tôi nghĩ gì?
Đương nhiên là tôi đoán được, nhưng tôi im lặng.
– Rõ rồi. Chúng tôi cho rằng ông ta bị điên. Ông ấy cũng loáng thoáng nói cho chúng tôi, nhưng không phải tất cả. Chắc anh đoán được, tại sao ông ta giấu giếm, ai ở trong phòng ông ấy? Chính anh cũng đã biết: suum cuique[1]. Nhưng ông ta là nhà bác học chính hiệu. Ông ấy đòi hỏi chúng tôi cho ông một cơ hội.
– Cơ hội gì?
– Để có thể tự do hành động. Ông ta muốn kiểm nghiệm mình. Anh có biết ông ấy làm gì không?
– Chắc là biết?
– Các phép tính. Tôi thấy chúng trong ngăn bàn ở trạm vô tuyến. Đấy là của ông ta?
– Đúng. Nhưng khi đó tôi hãy còn chưa biết gì.
– Sự việc này diễn ra có lâu không?
– Một tuần. Chúng tôi chỉ nói chuyện qua cánh cửa. Còn cái gì ở trong... Chúng tôi nghi rằng ông ta bị ảo giác hoặc một cơn sốc thần kinh. Tôi đã đưa cho ông ta Scopolamin[2].
– Sao... cho ông ấy?
– Ừ phải. Ông ấy cầm lấy, nhưng không để cho bản thân. Ông ấy thí nghiệm. Sự việc diễn ra thế đó.
– Thế còn các anh?
– Chúng tôi? Sang ngày thứ ba, bọn tôi quyết định vào phòng ông ta bằng mọi giá, dù có phải phá cửa. Chúng tôi đã hào hiệp tính chuyện chữa trị cho ông ấy...
– A... bởi vậy cho nên!... - Tôi thốt lên.
– Đúng.
– Và ở đó trong tủ...
– Đúng, anh bạn thân mến của tôi. Ừ, ông ta không biết rằng vào thời gian đó khách của chúng tôi cũng đã bắt đầu xuất hiện. Bởi vậy dự định săn sóc ông ta đã không thành. Nhưng ông ta không biết điều đó. Bây giờ... bây giờ trong một chừng mực nhất định, điều đó có nghĩa là...
Những từ tiếp sau ông lẩm bẩm rất nhỏ, tôi nghe không rõ.
– Trời đất, tôi không hiểu, - tôi nói. - Sao lại có thể thế được? Không lẽ các anh không nghe thấy gì? Chính anh đã nói rằng các anh đã nghe trộm. Các anh cần phải nghe thấy hai giọng nói khác nhau, và vì thế...
– Không. Chỉ có mỗi giọng nói của ông ta. Còn về những tiếng động lạ thì, anh hiểu cho, bọn tôi nghĩ rằng là do ông ấy...
– Chỉ có một giọng nói? Nhưng... tại sao?
– Tôi không biết. Thực tế tôi đang có một giả định về chuyện này. Nhưng nghĩ rằng chẳng nên vội vã bởi vì nó cũng không thể giải thích được tất cả. Vậy đó. Nhưng hôm qua rõ ràng là anh đã nhìn thấy cái gì đó, nếu không, anh đã cho rằng cả hai chúng tôi đã bị điên.
– Tôi lại nghĩ rằng chính tôi đã hóa điên.
– Sao, thế anh có thấy gì không?
– Thấy.
– Ai? - Ông vừa hỏi vừa rướn mình lên trên đi văng.
Tôi nhìn khá lâu vào bộ mặt căng thẳng của ông ta trước khi trả lời...
– Người đàn bà... da đen...
Snaut không nói gì, ông lấy lại tư thế ngồi thoải mái.
– Dù sao thì, đáng lẽ anh phải báo trước cho tôi biết, - tôi nói với giọng thiếu tin tưởng.
– Thì chính tôi đã cảnh cáo anh trước.
– Nhưng bằng cái cách mơ hồ.
– Đây là cách duy nhất có thể. Hãy hiểu cho, tôi không biết đó là ai. Không ai biết, và không thể biết đó là cái gì...
– Hãy nghe đây! Snaut, tôi muốn hỏi anh một chuyện. Anh đã có một vài... kinh nghiệm nào đó. Người..., phụ nữ ấy... ờ... sẽ ra sao?
– Anh muốn hỏi, cô ta có quay trở lại hay không?
– Sẽ quay lại và sẽ không.
– Thế là thế nào?
– Sẽ trở về cái người như lúc đầu. Có điều, người đó không biết gì, hay đúng hơn, sẽ xử sự cứ như là chưa từng xảy ra chuyện anh đã bằng cách nào đó tống cổ được người đó đi. Nếu không bị bức bách bởi hoàn cảnh thì sẽ không có biểu hiện nguy hại nào từ phía họ.
– Hoàn cảnh nào?
– Cái đó còn tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể...
– Snaut!
– Anh muốn gì?
– Chúng ta không được phép úp mở với nhau điều gì.
– Không phải là úp mở, - ông khô khan ngắt lời tôi - Kelvin, tôi có cảm giác rằng anh vẫn chưa hiểu họ hoặc... à mà khoan đã! - Mắt ông ta sáng lên. - Anh có thể cho tôi biết người đó là ai không?
Tôi nuốt nước bọt và cúi đầu không dám nhìn thẳng vào Snaut. Giá như đó là người khác, chứ không phải ông ta thì... Nhưng không còn cách lựa chọn nào khác. Tôi thở dài:
– Đó là cô gái mà... Cô ta tự tử. Tự tiêm vào cơ thể...
Snaut chờ đợi.
– Tự tử? - Ông hỏi khi thấy tôi im lặng.
– Ừ.
– Thế thôi ư?
Tôi im lặng.
– Không thể chỉ có vậy.
Tôi ngửng phắt lên. Snaut nhìn đi chỗ khác.
– Thôi được, - tôi nói. - Chúng tôi cãi nhau. Nói trắng ra là... Tôi phũ phàng nói với cô ấy... Rồi gói ghém đồ đạc và bỏ đi. Cô ấy cho là tôi hiểu... không nói thẳng, mà điều đó cũng chẳng cần thiết khi người ta biết nhau đã nhiều năm. Khi đó tôi tin rằng cô ta chỉ nói miệng, chứ không dám... Và tôi nói thẳng với cô ấy ý nghĩ đó của mình. Ngày hôm sau tôi sực nhớ ra là trong tủ hãy còn... thuốc độc. Cô ấy biết chuyện đó. Đó là thứ tôi cần cho một thử nghiệm, tôi lấy từ phòng thí nghiệm và đã giảng giải cho cô ấy biết tác dụng của nó. Tôi sợ hãi và đã định quay về nhà, nhưng sau đó nghĩ lại. Tôi đã không trở về vì sợ cô hiểu rằng tôi tin lời dọa dẫm của cô ấy, sang ngày thứ ba, bị nỗi bất an giày vò, cuối cùng, tôi đã quay về nhà. Nhưng khi về đến nơi... cô ấy đã chết.
– Ôi, sự vô tội thần thánh...
Tôi quắc mắt nhìn Snaut, nhưng ngay lập tức hiểu rằng ông không có ý miệt thị tôi. Tôi có cảm giác đây là lần đầu tiên nhìn thấy ông. Trên khuôn mặt nhợt nhạt của ông những nếp nhăn như hằn sâu hơn, chứa đầy nỗi mệt mỏi. Trông ông như người bị ốm.
– Sao anh lại nói thế? - Tôi rụt rè hỏi.
– Bởi vì đấy là một câu chuyện bi thảm. Không, không, - ông nói thêm khi nhận thấy một cử chỉ bất thường của tôi. - Anh hãy còn chưa hiểu hết. Tất nhiên, có thể anh rất đau đớn về chuyện đó, thậm chí có thể tự cho mình là tên giết người nhưng... đấy chưa phải là điều đáng sợ nhất.
– Anh muốn nói gì? - Tôi hỏi giọng khiêu khích.
– Anh đang tự trấn an mình rằng điều tôi nói chẳng đáng quan tâm, chẳng đáng tin. Chuyện xảy ra quả là đáng sợ, nhưng còn khủng khiếp hơn cái... vẫn chưa xảy ra, chưa khi nào.
Tôi không hiểu, hoàn toàn không hiểu.
Snaut gật đầu và nói:
– Một người bình thường. Người bình thường là thế nào? Đó là người không khi nào làm điều đê tiện. Nhưng phải chăng anh ta không bao giờ nghĩ đến điều đó? Không có lẽ. Có ai trong đời chưa từng trải qua một giấc mơ nặng nề? Tuy nhiên rồi anh ta sẽ quên đi và chẳng có gì phải sợ hãi, bởi hiểu rằng điều đó sẽ không bao giờ xảy ra với mình. Và bây giờ, anh hãy hình dung, mười hay hai mươi năm cuộc đời đã trôi qua trong thanh thản để rồi bỗng nhiên, giữa thanh thiên bạch nhật, cái đó xuất hiện bằng máu bằng thịt, nó bám riết lấy anh, không thể tiêu diệt được...
– Nhưng... đó có thể là cái gì vậy? - Tôi ngập ngừng hỏi. - Cả anh lẫn Sartorius đều không phải là tội phạm...
– Anh là nhà tâm lý học kia mà, Kelvin! - Ông hấp tấp ngắt lời tôi. - Đúng, có ai trong đời chưa từng trải qua một giấc mơ nặng nề, một cơn ác mộng? Có những hành vi... những hoàn cảnh... mà người ta chỉ dám hình dung trong đầu, mà không ai dám liều lĩnh thực hiện trong thực tế. Thế rồi, đùng một cái, vào thời điểm suy bại, điên rồ nào đó, ý nghĩ biến thành hành động. Vậy đó.
– Vậy đó - tôi nhắc lại một cách vô thức. Đầu óc tôi trở nên u mơ. - Nhưng trạm Solaris đóng vai trò gì trong câu chuyện này?
– Sao vậy? Anh giả vờ không hiểu phải không? - Snaut kêu lên, ông nhìn tôi thăm dò. - Chính là tôi luôn nói về Solaris, chỉ về Solaris chứ không phải về các gì khác. Không phải lỗi tại tôi, nếu như điều đó khác với cái anh chờ đợi. Hơn nữa, anh cũng đã nếm trải đủ để có thể nghe tôi nói đến cùng. Bay vào vũ trụ, chúng ta đã được chuẩn bị để sẵn sàng đón nhận tất cả: sự cô đơn, nỗi đau khổ, tranh đấu và hi sinh. Do khiêm tốn, chúng ta không phát biểu điều đó bằng lời lẽ, nhưng, trong thâm tâm, chúng ta cho mình là những con người cao cả. Tuy nhiên, xét cho cùng, sự sẵn sàng của chúng ta chỉ là một tư thế. Nói chung, chúng ta không có ý định chiếm đoạt vũ trụ, mà chỉ muốn mở mang Trái đất đến những giới hạn của nó. Những hành tinh, khi là những hoang mạc như sa mạc Xahara, khi thì phủ đầy băng như các vùng cực lạnh giá của Trái đất khi thì oi nóng như các cánh rừng nhiệt đới Brazin. Chúng ta, những kẻ nhân đạo và cao thượng không mong muốn chinh phục các thế giới sinh vật khác mà chỉ hướng tới việc truyền đạt cho họ các giá trị của mình, và để đổi lại, tiếp nhận những di sản tiên tiến của họ. Chúng ta tự coi mình là những hiệp sĩ của cuộc tiếp xúc thần thánh. Đấy là điều dối trá thứ hai. Chúng ta không cần cái gì khác ngoài những con người. Chúng ta không cần những thế giới khác. Chúng ta cần một tấm gương phản chiếu. Chúng ta không biết phải làm gì với những thế giới khác. Chỉ riêng điều đó cũng đã đủ để trừng phạt. Chúng ta muốn tìm hình ảnh lý tưởng hóa của chính mình, đó phải là những thế giới có nền văn minh cao hơn của chúng ta. Còn trong những thế giới khác, chúng ta hi vọng tìm thấy những hình ảnh quá khứ thô thiển của chúng ta, và về mặt này, có những cái chúng ta không thể, hay không muốn tiếp nhận, muốn lẩn tránh. Thế nhưng chúng ta mang theo từ Trái đất không phải chỉ những tinh hoa giá trị của mình! Chúng ta bay tới đây với cái “tôi” vốn có trong thực tế của mình, và khi cái mặt trái mà chúng ta muốn bưng bít đó được “nó” chỉ ra, chúng ta đã không thể chịu đựng được.
– Rồi sao nữa? - Tôi hỏi, cố nhẫn nại nghe.
– Chúng ta đã đạt được điều mong muốn: tiếp xúc với nền văn minh khác. Và những điều tồi tệ, những trò hề và sự ô nhục của chúng ta được tái hiện và phóng đại lên như dưới kính hiển vi!!! - Giọng Snaut run lên vì giận dữ.
– Vậy theo anh đó là... đại dương. Nhưng nó là cái gì vậy? Để làm gì? Vấn đề bằng cách nào hãy tạm gác sang một bên, nhưng để làm gì? Anh có cho rằng nó muốn trêu ngươi chúng ta? Hay là muốn trừng phạt? Đấy dù sao cũng là trò ma quái hủ lậu. Một con quỷ rất lớn bao bọc hành tinh, đề thỏa mãn tính khôi hài quái đản của mình đã phù phép ra những nhân tình cho các thành viên của một đoàn nghiên cứu khoa học. Có lẽ nào chính anh cũng tin cái trò ngu xuẩn đến trọn vẹn như vậy.
– Con quỷ này không ngu ngốc như anh tưởng đâu. - Snaut rít lên qua kẽ răng.
Tôi sửng sốt nhìn ông ta. Hay là thần kinh của ông không còn bình thường nữa. “Bệnh tâm thần “.
Tôi vừa thoáng nghĩ như vậy thì Snaut bật cười khan.
– Anh đang chẩn đoán bệnh cho tôi? Đừng vội vã. Thực chất anh hãy còn chưa biết gì, bởi vì cái “món quà” nó dành cho anh là thứ vô hại.
– A ha, con quỷ ấy có lòng ưu ái với tôi, - tôi nói giễu cợt. Cuộc nói chuyện đã bắt đầu làm tôi chán ngấy.
– Đừng quá quắt. Anh còn muốn gì nữa. Muốn tôi nói cho biết, đại dương huyết tương đang có những âm mưu gì chống lại chúng ta? Mà có thể chẳng có gì cả.
– Sao, chẳng có gì? - Tôi ngạc nhiên.
– Anh cần phải biết rằng, khoa học chỉ nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên được diễn ra như thế nào, bằng cách nào, chứ không xem xét mục đích tự thân của chúng... Mọi sự bắt đầu khoảng tám hoặc chín ngày sau cuộc thí nghiệm với các bức xạ rơnghen. Có lẽ đại dương đã đáp lại các bức xạ của chúng ta bằng các bức xạ khác nào đó là có thể bằng cách đó đã xâm nhập vào não của chúng ta và lấy đi các thông tin có liên quan đến các quá trình tâm lý khép kín, những dấu ấn sâu kín và dễ bị kích động nhất của kỷ niệm. Nó tiếp nhận những cái đó như là một công thức, một cấu trúc... Chính anh cũng biết rất rõ cơ chế sinh lý và cơ sở của các quá trình ghi nhớ. Đó là những tinh thể không đối xứng của các nhiễm sắc thể và của các liên kết nuclein của xerebrozit... Đây là lĩnh vực của anh, tôi không hiểu sâu lắm. Vậy đó, đại dương khui những cái đó ra từ não của chúng ta, còn sau đó... anh biết, cái gì sau đó rồi. Nhưng làm thế nhằm mục đích gì? Ít nhất thì cũng không phải là để tiêu diệt chúng ta. Nếu muốn, nó có thể làm việc đó đơn giản hơn nhiều. Nói chung là với một năng lực công nghệ như vậy nó có thể làm được tất cả. Chẳng hạn, thậm chí có thể gửi tới cho chúng ta những người anh em sinh đôi...
– A! - Tôi thốt lên. - Bây giờ tôi đã hiểu tại sao anh lại hoảng sợ khi lần đầu tiên thấy tôi.
– Ừ, cũng có thể. Nhưng do đâu anh có thể đoán chắc rằng tôi đúng là ông già Horek khả ái, người đã bay đến đây từ hai năm trước?
Snaut bắt đầu cười không thành tiếng, có trời mới biết ông đang thích thú điều gì. Rồi ngay lập tức ông lại trở nên nghiêm túc.
– Không, không, - ông nói. - Chẳng cần như vậy cũng đã quá đủ để... Có thể có sự khác biệt lớn trong hoàn cảnh của chúng ta, tuy nhiên, tôi có thể nói với anh một điều: chúng ta có thể bị giết chết.
– Thế còn họ thì không?
– Tôi không khuyên anh làm thử. Đó là cảnh tượng ghê rợn!
– Không thể bằng cách nào?
– Tôi không biết. Ít nhất thì cũng là vô dụng, những thứ như thuốc độc, dao, dây thừng v.v...
– Thế còn súng nguyên tử?
– Liệu anh có dám thử chăng?
– Không biết. Nhưng nếu tôi có một niềm tin rằng đó không phải là những con người.
– Nhưng nếu trong một ý nghĩa nào đó họ đúng là những con người? Xét về chủ quan họ là những con người. Có điều đặc biệt là họ hoàn toàn không biết gì về xuất xứ của mình. Hẳn anh cũng nhận thấy điều đó.
– Ừ. Nào, anh tiếp tục đi... điều gì diễn ra?
– Họ tái sinh với một tốc độ không tưởng, thẳng ngay trước mắt, hãy tin như vậy Kelvin. Và sau đó lại bắt đầu xử sự cứ như, như...
– Như thế nào?
– Như cách hình dung của chúng ta về họ, y theo bản ghi trong trí nhớ, mà theo đó...
– Đúng, đúng như vậy. Thế Gibarian có biết...
Tôi hỏi nhanh.
Snaut nhìn tôi chăm chú.
– Anh muốn hỏi ông ta có biết tất cả những gì chúng ta vừa nói tới?
– Ừ!
– Biết, chắc thế.
– Do đâu anh kết luận như vậy, ông ta có nói gì với anh không?
– Không. Nhưng tôi tìm thấy trong phòng ông ta một quyển sách...
– Tiểu phẩm cựu ước? - Tôi nói, thân hình rướn lên.
– Ừ. Nhưng tại sao anh biết? - Ông sửng sốt hỏi, đôi mắt lo lắng nhìn xoáy vào mặt tôi.
Tôi chặn ông bằng một cái phẩy tay.
– Hãy bình tĩnh. Anh thấy đấy, da mặt tôi còn cháy xám đây, và sẽ chẳng có sự tái sinh nào đâu. Gibarian để lại thư cho tôi.
– Anh nói gì? Thư? Trong thư viết gì?
– Ít thôi. Thực ra không phải thư, mà chỉ là vài chữ trên một mảnh giấy. Đó là chỉ dẫn thư mục về một phụ trương Solaris và quyển này. Đó là cái gì vậy?
– Một sự vụ cũ. Có thể nó có một cái gì chung liên quan với tất cả những chuyện này. Hãy cầm lấy.
Ông lấy từ trong túi quần một quyển sách mỏng, bìa da và đưa cho tôi.
– Thế còn Sartorius? - Tôi hỏi.
– Sartorius cái gì? Trong hoàn cảnh này mọi người đều cố gắng đứng vững. Ông ta cố tỏ ra bình thường đối với ông ấy đó là nguyên tắc. Còn anh, anh có đề nghị gì không?
– Tôi muốn được yên tĩnh.
– Không, tôi nói nghiêm chỉnh đấy. Anh không còn là người mới nữa, chúng ta cùng biết như nhau về tất cả. Anh có chương trình gì không?
– Anh kỳ quá. Tôi còn đang chưa hình dung nổi điều gì sẽ diễn ra khi... cô ấy lại xuất hiện. Nhất định sẽ xuất hiện.
– Chắc chắn vậy.
– Nhưng họ làm thế nào mà vào được bên trong? Trạm kín kia mà. Hay là vỏ trạm có vấn đề.
– Không có chuyện đó. Chính tôi cũng không hiểu. Thông thường chúng ta nhìn thấy khách sau khi tỉnh dậy, mà dù ít dù nhiều thì giấc ngủ cũng là cần thiết.
Tôi đứng dậy. Snaut cũng đứng lên theo.
– Nghe đây, Snaut... Hay là chúng ta hủy trạm? Nếu muốn, các anh có thể coi như đó là sáng kiến của tôi.
Snaut lắc đầu:
– Điều đó không đơn giản. Đương nhiên là chúng ta có thể bỏ chạy bất cứ lúc nào, chẳng hạn lên trạm quỹ đạo quanh hành tinh, và từ đó phát tín hiệu S.O.S. Có lẽ người ta sẽ cho rằng chúng ta bị điên, và... rồi chúng ta sẽ được nghỉ ngơi tại một trại dưỡng bệnh nào đó trên Trái đất cho tới khi chúng ta quên hẳn đi tất cả những chuyện này. Trường hợp điên tập thể không phải là không thể xảy ra... Mà có thể đó không phải là lối thoát tốt nhất... Vườn cây, sự yên tĩnh, những áo bờ lu trắng, nhưng cuộc dạo chơi với các bà hộ lý...
Hai tay đút túi, mắt nhìn vào góc phòng, Snaut nói điều đó với vẻ nghiêm chỉnh, bình thản. Mặt trời đỏ đã biến mất sau chân trời. Bề mặt đại dương trông như một sa mạc đen trải dài cùng với bầu trời còn cháy đỏ tạo nên một bức tranh với hai màu tương phản gợi một cảm giác buồn khó tả.
– Vậy hãy nói luôn, anh có muốn chạy trốn hay không? Muốn hay không?
Ông nhếch mép:
– Những kẻ chinh phục đầy ý chí... rõ ràng là anh chưa có cái may mắn cảm giác thấy điều đó, nếu không, anh đã không tỏ ra khăng khăng như vậy. Vấn đề không phải ở chỗ muốn hay không, mà là ở chỗ cái gì là có thể.
– Vậy cái gì?
– Đấy, chính cái đó tôi còn chưa biết.
– Vậy là chúng ta sẽ ở lại. Theo anh, chúng ta sẽ tìm ra cách?...
Snaut nhìn tôi. Khuôn mặt mệt mỏi đầy những nếp nhăn của ông thoáng nét cười buồn.
– Ai mà biết được. Nói chung, chúng ta sẽ chẳng biết được cái cần biết. Tuy nhiên, có thể, về chính bản thân mình thì...
Bỏ lửng câu nói, ông cầm lấy mớ giấy má của mình và đi ra khỏi cửa. Tôi đến bên cửa sổ và hướng mắt nhìn vô định về phía đại dương. Một ý nghĩ thoáng qua: có thể chui vào trong một chiếc tên lửa nào đó rồi khóa trái lại. Rồi tôi lại cười thầm bởi cái ý nghĩ ngây thơ đó - sớm hay muộn gì thì cũng phải chui ra. Cầm lấy quyển sách Snaut đưa khi nãy, tôi ngồi xuống bên cửa sổ.
Đó là những sao chép lại một số các bài báo và công trình có liên quan đến Solaris của Otto Ravintser nào đó, tiến sĩ triết học. Mỗi một ngành khoa học, cùng với sự tồn tại của nó, đều làm nảy sinh một ngụy tạo khoa học tương ứng nào đó.
Chẳng hạn, thiên văn học được phản ánh một cách méo mó, nực cười trong chiêm tinh học, hóa học... trong thuật giả kim. Cũng dễ hiểu, sự phát sinh bộ môn Solaris phải kéo theo một chuỗi bùng nổ những ý tưởng quái gở. Hẳn là Ravintser biết rất rõ điều đó bởi vì ngay trong lời mở đầu của cuốn sách, ông đã khéo léo chặn trước những cái đầu nóng sẵn sàng sử dụng cuốn sách của ông như một món ăn tinh thần. Ông tự cho rằng những ghi chép của ông chỉ có giá trị như một tài liệu đối với các nhà sử học và tâm lý học.
Báo cáo của Berton chiếm một vị trí xứng đáng trong quyển sách. Nó gồm vài phần riêng biệt. Phần thứ nhất là bản sao nhật ký bay của ông, rất ngắn gọn.
“Độ cao 1000, 1200, 500 mét. Không có gì đặc biệt, đại dương vắng ngắt”. Những mẩu ghi chép ngắn tương tự được nhắc đi nhắc lại vài lần trong khoảng thời gian từ mười bốn đến mười sáu giờ bốn mươi phút theo thời gian quy ước.
Tiếp đó, vào lúc 16 giờ 40 phút: “Sương mù đỏ bốc lên. Tầm nhìn xa 700 mét. Đại dương vắng ngắt Vào 17 giờ 00: “Sương mù trở nên dày đặc hơn, lặng gió, tầm nhìn xa 400 mét. Xuống thấp 200 mét”.
17 giờ 20: “Tôi trong sương mù. Độ cao 200 mét. Tầm nhìn 20 - 40 mét. Lặng gió. Lên cao 400 mét”.
17 giờ 45: “Độ cao 500 mét. Sương mù bốc lên khắp bốn phía. Trong sương mù có những lỗ hổng hình phễu trông thẳng xuống bề mặt đại dương. Tôi thử bay vào một trong số chúng”.
17 giờ 52: “Có cái gì đó giống như xoáy nước - bọt váng nổi lên xung quanh. Bức tường sương mù bao quanh tôi. Độ cao 100 mét. Tôi hạ thấp 20 mét”.
Nhật ký bay của Berton kết thúc ở đây. Tiếp theo là biên bản ghi báo cáo lời của Berton và những câu hỏi của các thành viên hội đồng thẩm tra:
BERTON: Khi xuống tới 30 mét tôi bắt đầu cảm thấy khó giữ vững độ cao, bởi vì lúc này xuất hiện những cơn gió giật mạnh. Do phải tập trung cao độ sự chú ý vào cần lái, nên trong khoảng mười, mười lăm phút tôi đã không nhìn ra ngoài cabin. Do vậy, một luồng gió mạnh đã cuốn tôi vào trong sương mù. Đó không phải là thứ sương mù bình thường mà là cái gì đó giống như một chất keo, bám chặt lấy thành kính. Cần gạt hầu như không làm sạch được thành kính vì thứ keo đó rất dính. Lực cản của sương mù làm tiêu hao ít ra cũng khoảng độ ba chục phần trăm công suất của động cơ, và tôi bắt đầu mất dần độ cao. Loại trực thăng này được trang bị bốn đầu tên lửa đẩy gia tốc, nhưng tôi không dùng đến vì sợ tình thế có thể khó hơn, xấu hơn, khi đó sẽ cần đến chúng. Cánh quạt quay hết tốc độ làm trực thăng rung chuyển mạnh. Tôi hiểu rằng thứ sương mù quái dị này đã bám dính vào cánh quạt, đồng hồ chỉ lực nâng vẫn chỉ ở con số không, tôi lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan. Trong sương mù, dù không nhìn thấy mặt trời, nhưng tôi vẫn biết nó nằm ở phía nào, vì theo phương đó màu sương sáng đỏ. Tôi cứ bay ở tầm thấp như vậy với hi vọng cuối cùng sẽ lao được vào vùng không gian không có sương mù. Quả nhiên, khoảng nửa giờ sau tôi đã gặp may. Tôi đang ở trong một vùng không gian thoáng đãng được giới hạn bởi bức tường sương mù đường kính vài trăm mét. Tại vùng biên, sương mù cuộn bốc lên như những dòng thác. Tôi cố gắng điều khiển cần lái để sao cho khỏi phải rời xa trung tâm - tại đây không khí yên ả hơn cả. Lúc đó tôi bỗng nhận thấy có sự thay đổi trên bề mặt đại dương. Sóng hầu như đã biến mất, bề mặt đại dương dần dần trở nên gần như trong suốt, và tôi đã có thể nhìn thấu lớp chất lỏng bề mặt - thứ chất lỏng tạo nên đại dương - tới độ sâu dăm mét. Từ phía dưới, một thứ chất bùn lầy nào đó màu vàng sáng theo từng dải mảnh nổi lên trên bề mặt, lấp lánh ánh thủy tinh, rồi chúng sôi lên và sủi bọt, sau đó hòa nhập với nhau thành một thứ chất lỏng trong như một loại xirô đặc sệt. Tiếp đó, chất bùn nhớt này nhô hẳn lên trên bề mặt đại dương thành nhiều gò nhấp nhô trông như những cây bắp cải màu, rồi từ những gò, đống đó xuất hiện những tạo hình khác nhau. Lúc này chiếc trực thăng của tôi suýt nữa thì bị cuốn vào bức tường sương mù, bởi vậy tôi đành bỏ việc quan sát trong vài phút để chuyển hướng bay gần hơn về khu trung tâm. Sau đó tôi lại tiếp tục việc quan sát và thấy ở bên dưới có cái gì đó giống như vườn cây. Đúng, vườn cây. Tôi nhìn thấy cây cối cằn cỗi, những rào giậu và những con đường nhỏ. Không phải thật, tất nhiên chúng được làm từ chính cái chất bùn nhớt lúc nãy mà giờ đây theo tôi, đã rắn lại. Tất cả đều màu vàng, lấp loáng phản chiếu ánh sáng mặt trời. Tôi hạ xuống thấp tới mức có thể nhìn thấy được rõ hơn.
HỘI ĐỒNG: Những cây cỏ mà anh nhìn thấy có lá không?
BERTON: Không, chỉ đơn giản là chúng có hình dạng như vậy, giống như mô hình vườn cây. Đúng thế. Mô hình. Mô hình, nhưng hình như có kích thước tự nhiên. Sau đó tất cả bắt đầu rạn vỡ, từ những vết nứt đen thẫm một thứ bùn đậm đặc trào lên trên, sôi sùng sục và bọt sủi lên trùm kín tất cả. Đồng thời, từ khắp bốn phía bức tường sương mù khép lại, bởi vậy tôi phải tăng vòng quay và cất lên cao 300 mét.
HỘI ĐỒNG: Anh hoàn toàn tin rằng cái cảnh tượng mà anh nhìn thấy giống như một khu vườn chứ không phải như một cái gì khác?
BERTON: Đúng. Chính là tôi đã nhận thấy nhiều chi tiết riêng biệt. Chẳng hạn, ở một chỗ tôi nhìn thấy có những chiếc hộp vuông đứng thẳng hàng. Về sau tôi nghĩ rằng có thể đó là khu nuôi ong.
HỘI ĐỒNG: Sau đó anh mới nghĩ vậy chứ không phải ngay lúc đó?
BERTON: Bởi vì tất cả dường như được làm từ thạch cao. Tôi còn nhìn thấy những vật khác nữa.
HỘI ĐỒNG: Vật gì?
BERTON: Tôi không thể nói chính xác đó là cái gì vì không kịp nhìn thật kỹ. Hình thù của chúng gợi cho tôi nhớ tới những máy làm vườn. Riêng điều này tôi không hoàn toàn tin chắc, còn những điều nói trên thì chắc chắn tôi không lầm.
HỘI ĐỒNG: Anh không nghĩ rằng đó là ảo giác?
BERTON: Không. Tôi cho rằng đó là ảo ảnh, ít ra thì cũng là như vậy. Còn ảo giác thì, chắc chắn không phải, bởi vì khi đó trạng thái sức khỏe, tinh thần của tôi hoàn toàn tốt. Tôi muốn được tiếp tục. Từ độ cao 300 mét tôi có thể quan sát được một vùng khá rộng phía dưới. Nhiều lỗ hổng đan trên màn sương trông thẳng xuống mặt đại dương. Trong một số lỗ chẳng có gì, và tôi có thể nhìn thấy sóng biển đang chao động, trong một số lỗ khác thì có những cái gì đó đang cuộn lên nhấp nhô. Tôi sà xuống một trong những lỗ hổng đó, và từ độ cao 40 mét tôi nhìn thấy ngay dưới bề mặt đại dương một bức tường. Một bức tường như của một tòa nhà lớn hiện rõ mồn một dưới lớp sóng, có cả hàng dãy những ô vuông trông như các cửa sổ. Tôi thậm chí còn cảm thấy có những cái gì đó chuyển động trong một số ô cửa sổ. Sau đó bức tường từ từ nhô hẳn lên trên bề mặt đại dương. Dọc theo bức tường, một thứ chất lỏng gì đó nhầy và quánh tuôn chảy xuống dưới. Rồi bỗng nhiên bức tường tách ra làm hai mảnh và chìm xuống rất nhanh, biến mất. Tôi cất lên cao và tiếp tục bay sát ngay trên màn sương, hai càng máy bay gần như chạm vào nó. Chẳng mấy chốc tôi lại gặp một lỗ hổng khác, lớn hơn vài lần so với lỗ đầu. Từ xa tôi đã nhìn thấy một vật gì đó đang trôi nổi trên mặt sóng. Vật đó màu sáng, gần như trắng, và tôi đã thoáng nghĩ tới bộ đồ bay của Fecner, bởi vì vật đó có hình dáng trông tựa như một con người. Tôi ngoặt gấp trực thăng, lòng hồi hộp sợ bỏ qua cơ may. Cùng lúc, cái thân hình kia hơi động đậy, hình như nó đang bơi hoặc đứng giữa sóng. Tôi vội vã sà xuống thật thấp đến mức cảm thấy càng máy bay chạm vào cái gì đó mềm mại, chắc là đỉnh sóng. Con người, đúng, đúng, một con người không mặc đồ bay. Và mặc dù vậy, nó vẫn chuyển động như thường.
HỘI ĐỒNG: Anh có nhìn thấy mặt người đó không?
BERTON: Có.
HỘI ĐỒNG: Đó là ai vậy?
BERTON: Một đứa trẻ.
HỘI ĐỒNG: Đứa trẻ nào? Trước đây anh đã bao giờ nhìn thấy nó chưa?
BERTON: Chưa. Chưa khi nào. Ít ra thì tôi cũng không nhớ rằng có một lần như vậy. Khi bay đến gần hơn, cách khoảng 40 mét hoặc hơn chút ít, tôi nhận thấy ở nó có cái gì đó khác thường.
HỘI ĐỒNG: Anh có thể nói cụ thể hơn không?
BERTON: Vâng, ngay bây giờ. Thoạt đầu tôi không rõ sự khác thường là ở chỗ nào. Chỉ sau một lát tôi chợt hiểu: đứa trẻ to lớn dị thường. Phải nói là khổng lồ mới đúng. Chiều cao của nó có lẽ khoảng bốn mét. Thật khó mà nói chính xác, chỉ biết rằng có một lúc, khi mà càng trực thăng của tôi chạm vào mặt sóng, tôi để ý thấy mặt đứa trẻ còn ở cao hơn tầm đầu tôi, mà tôi thì ngồi ở trong cabin, tức là cách bề mặt đại dương ba mét.
HỘI ĐỒNG: Tại sao anh lại cho rằng đó là đứa trẻ nếu như nó có thân hình to lớn như vậy?
BERTON: Đó là đứa trẻ còn rất bé.
HỘI ĐỒNG: Anh không thấy câu trả lời của mình là không lôgíc sao?
BERTON: Không. Hoàn toàn không. Bởi vì tôi nhìn thấy mặt nó. Cả tỉ lệ cơ thể cũng là của trẻ con. Tôi có cảm giác đó là của trẻ sơ sinh. Không, nói thế hơi quá. Chắc là nó khoảng độ hai ba tuổi. Tóc nó đen, mắt xanh da trời, to tròn! Trần truồng hoàn toàn, da ướt và láng bóng. Cảnh tượng này làm tôi kinh hãi. Tôi đã chẳng còn tin vào ảo ảnh nào nữa. Tôi nhìn thấy nó quá rõ, quá chi tiết. Đứa trẻ nhấp nhô lên xuống trên sóng, và còn chuyển động nữa. Thật là kinh tởm!
HỘI ĐỒNG: Tại sao? Nó làm cái gì vậy?
BERTON: Trông nó... cứ như trong nhà bảo tàng, giống như con búp bê, nhưng mà là búp bê sống. Miệng mấp máy, thực hiện nhiều động tác khác nhau. Thật kinh tởm. Đấy không phải là chuyển động của nó.
HỘI ĐỒNG: Có nghĩa là thế nào?
BERTON: Tôi không tới thật sát nó. Có lẽ khoảng độ hai chục mét là tối đa. Nhưng như tôi đã nói, vì nó quá to lớn nên tôi nhìn thấy rất rõ ràng. Mắt nó sáng long lanh, và nói chung nó tạo cho tôi ấn tượng về một đứa trẻ sống, chỉ có điều những chuyển động của nó, cứ như là có ai thử... dường như là có ai đó đang nghiên cứu nó...
HỘI ĐỒNG: Hãy cố gắng trình bày chính xác hơn.
BERTON: Không hiểu liệu tôi có thể không. Cảm tưởng đó là do trực giác, và tôi không suy ngẫm về điều đó. Chuyển động của đứa trẻ không tự nhiên.
HỘI ĐỒNG: Hay là anh muốn nói, chẳng hạn, cánh tay của nó có thể làm những động tác mà con người không thể thực hiện nổi do tính linh động có giới hạn của các khớp xương?
BERTON: Không. Hoàn toàn không phải vậy... Nhưng... chuyển động của nó hoàn toàn không có ý nghĩa nào cả. Mỗi một động tác nói chung phải có ý nghĩa nào đó, để làm gì thì...
HỘI ĐỒNG: Anh nghĩ vậy sao? Những động tác của một hài nhi không nhất thiết phải mang một ý nghĩa nào đó.
BERTON: Tôi biết. Nhưng đó phải là những động tác vô trật tự, vô định. Đằng này... a, tôi hiểu rồi! Đó là những chuyển động có hệ thống, được thực hiện có trật tự, theo các nhóm loại. Dường như có ai đó muốn làm sáng tỏ những khả năng của đứa trẻ này có thể thực hiện những chức năng gì bằng tay, miệng, thân mình. Tệ hại nhất là bộ mặt, có lẽ bởi đó phải là phần sinh động nhất của cơ thể con người, nhưng ở đây thì... không, tôi không thể diễn tả nổi. Bộ mặt đó sống động nhưng, vâng, đó không phải là của một con người. Tôi muốn nói những đường nét thì hoàn toàn bình thường, cả mắt, cả màu sắc, và tất cả, nhưng...
HỘI ĐỒNG: Phải chăng đó là bộ mặt nhăn nhó? Anh đã bao giờ nhìn thấy mặt người khi lên cơn động kinh chưa?
BERTON: Vâng, tôi đã từng thấy. Tôi hiểu. Không, ở đây có cái gì đó khác cơ. Khi lên cơn động kinh ta thấy những chuyển động co giật, còn những chuyển động này thì đều đặn và liên tục, khéo léo, nếu có thể nói được như vậy, và có hệ thống. Tôi không biết cách diễn tả nào khác hơn. Người ta không thể làm cho một nửa bên mặt thì vui, còn nửa khác thì buồn, hay là nửa này thì hung hãn, còn nửa kia thì hân hoan. Vậy mà với đứa trẻ này thì điều đó đã diễn ra. Cái trò biểu diễn này nhanh khác thường. Tôi ở đó không lâu, chừng độ mười giây, mà cũng có thể ít hơn.
HỘI ĐỒNG: Và anh nghiêm túc khẳng định rằng đã kịp nhận biết tất cả những cái đó trong khoảng thời gian ngắn như vậy? Hơn nữa, do đâu anh biết rằng thời gian diễn ra lâu hay nhanh? Anh xem đồng hồ?
BERTON: Không. Tôi không xem đồng hồ. Nhưng tôi đã bay mười sáu năm. Trong nghề của tôi cần phải biết đánh giá thời gian với độ chính xác tới đơn vị giây. Đó là phản xạ. Người phi công nếu không thể xác định, trong mọi hoàn cảnh, một sự việc nào đó đã diễn ra trong năm hay mười giây thì anh ta sẽ chẳng đáng giá là bao.
HỘI ĐỒNG: Anh không nhìn thấy gì hơn nữa?
BERTON: Có thấy. Nhưng những việc tiếp theo tôi không nhớ rõ ràng. Có thể bởi vì như thế cũng đã quá đủ đối với tôi. Đầu óc tôi trở nên bịt bùng. Sương mù đã bắt đầu khép dần lại và tôi bắt buộc phải bốc lên cao. Tôi không nhớ mình đã lên cao khi nào và bằng cách nào. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi suýt gặp nạn. Hai tay tôi lúc đó run lên, cầm cần lái không vững nữa. Hình như lúc đó tôi đã thét lên, đã gọi căn cứ dù biết rằng liên lạc không được.
HỘI ĐỒNG: Khi đó anh đã thử quay về?
BERTON: Không. Sau khi bốc lên cao tôi nghĩ rằng có thể tìm thấy Fecner ở một trong những lỗ hổng đó. Giờ đây tôi biết rằng ý nghĩ đó là hoang tưởng, nhưng quả thật là khi đó tôi đã nghĩ như vậy, đã hi vọng tìm thấy Fecner. Bởi vậy tôi quyết định bay tiếp vào các lỗ hổng còn lại. Nhưng ở lỗ hổng tiếp theo tôi đã nhìn thấy cái mà vì nó tôi phải khó nhọc lắm mới điều khiển được trực thăng bay lên cao, và hiểu rằng tất cả đã quá sức chịu đựng của mình. Không thể làm gì hơn được nữa. Toàn thân tôi rã rời, tinh thần suy sụp. Trước đây tôi chưa từng lâm vào trạng thái như vậy.
HỘI ĐỒNG: Đó là dấu hiệu của sự ngộ độc, Berton.
BERTON: Có thể. Tôi không biết. Nhưng cái mà tôi nhìn thấy nhất định không phải do tưởng tượng mà ra, cũng không thể giải thích được bằng sự ngộ độc.
HỘI ĐỒNG: Do đâu anh có thể đoán chắc vậy?
BERTON: Đó không phải là ảo giác. Ảo giác - đó chính là sản phẩm tưởng tượng của não, có phải vậy không?
HỘI ĐỒNG: Đúng.
BERTON: Vậy đó. Còn não của tôi lại không sáng tạo một cái gì tương tự. Không khi nào, tôi không tin nó có thể làm được việc đó.
HỘI ĐÔNG: Hãy kể lại tỉ mỉ, anh đã thấy cái gì.
BERTON: Đối với tôi, đó là nguyên tắc. Tôi đã nói rằng đã nhìn thấy cái mà suốt đời không thể nào quên. Nếu hội đồng quyết định rằng tất cả những chuyện tôi vừa kể dù chỉ có một phần trăm sự thật, và do vậy sẽ cần phải tiến hành nghiên cứu đại dương một cách thích ứng thì tôi sẽ kể hết. Còn nếu hội đồng cho rằng đó là ảo giác thì tôi sẽ không nói gì nữa.
HỘI ĐỒNG; Tại sao?
BERTON: Bởi vì nội dung của những ảo giác của tôi, nếu có và có thế nào đi nữa, thì đó là chuyện riêng của tôi. Còn nội dung của những nghiên cứu của tôi trên Solaris lại là chuyện khác, không còn là chuyện riêng nữa.
HỘI ĐỒNG: Phải chăng điều đó có nghĩa là anh từ chối tiếp tục trả lời cho tới khi có kết luận của hội đồng? Chắc anh cũng hiểu rằng hội đồng không có trách nhiệm phải tức khắc đưa ra kết luận của mình.
BERTON: Đúng.
Biên bản thứ nhất kết thúc tại đây. Tiếp theo là trích đoạn biên bản của cuộc đối chất thứ hai diễn ra sau đó mười một ngày.
CHỦ TỊCH: ... Trên cơ sở những điều này, hội đồng, mà thành phần gồm có ba bác sĩ, ba nhà sinh vật học, một nhà vật lý học, một kỹ sư cơ khí và phó chỉ huy đoàn thám hiểm, đã đi đến kết luận rằng những thông tin mà Berton cung cấp là sản phẩm của ảo giác do bị ngộ độc khí quyển hành tinh mà, triệu chứng biểu hiện ở trạng thái nửa hôn mê, các vùng chức năng tưởng tượng của vỏ não bị kích thích và do vậy những thông tin mà đương sự cung cấp là không có hoặc gần như không có trong thực tế.
BERTON: Xin lỗi. Có nghĩa là thế nào cái “không có hoặc gần như không có?”. Ở mức độ nào cái gọi là “gần như không có”, đó?
CHỦ TỊCH: Tôi còn chưa kết thúc. Biên bản ghi nhận ý kiến riêng của tiến sĩ vật lý Atribal Messedzer. Theo ông, những điều Berton kể ra có thể đã diễn ra trong thực tế, và do vậy cần phải có những nghiên cứu kỹ lưỡng theo hướng đó. Có vậy thôi.
BERTON: Tôi nhắc lại câu hỏi của mình.
CHỦ TỊCH: Rất đơn giản. “Gần như không có” nghĩa là có những cảnh tượng có thực nào đó có thể đã gây ra những ảo giác của anh. Một người bình thường nhất, trong những điều kiện thích hợp nào đó có thể lầm tưởng một bụi cây đang lay động là một sinh vật nào đó. Và đây là một hành tinh hoàn toàn xa lạ, mà não của người quan sát lại bị tác động bởi khí độc, mọi sự đều có thể. Ở đây không có gì đáng bị coi là xúc phạm tới anh cả. Anh có ý kiến gì về những điều đã nói trên?
BERTON: Trước tiên, tôi muốn biết ý kiến riêng của tiến sĩ Messedzer có một ý nghĩa như thế nào?
CHỦ TỊCH: Thực tế là không. Điều đó có nghĩa là sẽ không có những nghiên cứu theo hướng này.
BERTON: Những gì chúng ta nói đây có được ghi vào biên bản không?
CHỦ TỊCH: Có.
BERTON: Vậy tôi xin được nói ý kiến của mình rằng: hội đồng đã thể hiện sự không tôn trọng không phải cá nhân tôi, vì tôi chẳng là gì cả, mà ngay chính tinh thần của cuộc thám hiểm. Tôi quyết định từ chối trả lời mọi câu hỏi tiếp theo.
CHỦ TỊCH: Đó là tất cả?
BERTON: Vâng. Tuy nhiên tôi muốn gặp tiến sĩ Messedzer. Có được không?
CHỦ TỊCH: Tất nhiên.
Biên bản thứ hai kết thúc ở đây. Những trang tiếp theo là ghi chú về chuyện ngày hôm sau tiến sĩ Messedzer đã có cuộc gặp gỡ trong ba giờ đồng hồ với Berton, sau đó ông đã kiến nghị với ban lãnh đạo đoàn thám hiểm về việc cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng những thông tin của viên phi công. Ông khẳng định rằng những thông tin bổ sung mà Berton cung cấp cho ông sẽ là một hậu thuẫn vững chắc cho kiến nghị của mình. Tuy nhiên, ông tuyên bố sẽ không tiết lộ những thông tin đó cho tới khi ban lãnh đạo chưa có một quyết định tích cực đối với kiến nghị của ông. Ban lãnh đạo đoàn thám hiểm gồm Sennon, Timolis và Trake đã từ chối đề nghị của ông. Sự việc kết thúc ở đây.
Trong quyển sách có in bản sao ảnh một trang bức thư (có lẽ là bản nháp) của Messedzer tìm thấy sau khi ông chết. Ravintser đã không thể làm sáng tỏ vấn đề, bức thư này đã được gửi đi chưa, và nếu đã gửi thì tác giả của nó thu được những kết quả gì?
“... Vì chăm lo đến uy tín của mình, ban lãnh đạo, nói chính xác hơn là Sennon và Timolis (bởi vì tiếng nói của Trake hầu như rất ít trọng lượng) đã khước từ đề nghị của tôi. Hiện nay tôi đang liên hệ trực tiếp với viện về vấn đề này, tuy nhiên, chắc anh cũng hiểu rằng hầu như không thể hi vọng gì. Thật tiếc rằng tôi không thể bằng lời viết trong thư này mà trình bày với anh những điều Berton đã kể cho tôi. Rõ ràng rằng một trong những nguyên nhân để ban lãnh đạo đoàn thám hiểm có thể quyết định như vậy là việc Berton, người đem tới cho họ những phát hiện đó, là người không có một bằng cấp khoa học nào, mặc dù không một nhà nghiên cứu nào lại không ganh tị với anh ta về một ý chí phi thường và khả năng quan sát cực kỳ nhạy bén. Thiết tha đề nghị anh gửi cho tôi nhũng cứ liệu sau đây:
1. Tiểu sử Fecner từ thuở thơ ấu.
2. Tất cả những gì anh biết về họ hàng và các quan hệ nhân thuộc của anh ta, dường như anh ta có để lại đứa con mồ côi còn nhỏ .
3. Các bức ảnh chụp địa bàn nơi anh ta lớn lên.
Theo nhận định của tôi, tất cả những gì Berton nhìn thấy là một phần của đồ án “Con người” của con quái vật lỏng đó. Nguồn gốc trực tiếp của những tạo hình mà Berton quan sát được chính là Fecner - bộ não của ông ta, thông qua một quá trình “giải phẫu thần kinh” nào đó mà ta không thể hiểu nổi. Có lẽ đại dương đã thực hiện một cuộc thực nghiệm tái hiện lại những dấu vết (có thể là bền vững nhất) trong trí nhớ của Fecner.
Tôi biết rằng điều đó xem ra có vẻ hoang tưởng, biết rằng có thể tôi sai lầm. Mong anh giúp đỡ. Tôi đang ở Alaric và sẽ đợi anh tại đấy.
Thân ái.
A.”
Vụ việc mà tôi quan tâm kết thúc ở đây. Bằng vào những gì chính mình đã trải qua, tôi tin rằng đây là một tài liệu hoàn toàn chân thực. Tôi quay người nhìn ra cửa sổ. Trời đã tối hẳn, không gian màu tím sẫm. Phía chân trời vài áng mây sáng, trông như những ngọn lửa đang tắt dần. Đại dương và bóng tối hòa nhập làm một.
Sự yên lặng tuyệt đối ngự trị trên trạm. Tôi thoáng ngạc nhiên về tâm trạng thư thái, dửng dưng trong lòng. Tôi chẳng còn muốn quan tâm xem ai là “khách” của Snaut hay Sartorius nữa.
Qua một thời gian nữa, - tôi nghĩ - chúng ta sẽ hết ngượng ngùng với nhau. Nếu như không thể loại bỏ “khách” thì có thể quen với họ, sống cùng với họ cũng được. Còn nếu như kẻ sáng tạo ra họ thay đổi trò chơi, chúng ta sẽ lại thích ứng với hoàn cảnh mới, không loại trừ khả năng là sẽ xuất hiện những khó khăn mới trong buổi đầu, thậm chí có kẻ nào đó trong chúng ta sẽ tự giết mình, nhưng rồi cuối cùng cũng sẽ đâu vào đó, sẽ lại là trạng thái cân bằng!
Bóng tối nuốt chửng lấy căn phòng, chỉ những đường viền của bồn rửa và gương còn nhìn thấy nhờ nhờ trắng. Thật giống như trên Trái đất. Tôi đứng dậy, đi tới bên giường và nằm xuống. Ở đâu đó phía trên tôi có tiếng xào xạc rất nhỏ của những băng giấy dán trước máy thông khí. Tôi không nhìn thấy thậm chí cả cửa sổ, tất cả chìm trong bóng tối. Tôi giơ tay lên trước mắt xem giờ chiếc đồng hồ dạ quang. Còn một giờ nữa mặt trời xanh sẽ mọc. Bóng tối làm tôi khoan khoái, tôi hít thở thật sâu, đầu óc giải thoát khỏi mọi ý nghĩ.
Khi cựa mình, tôi chợt chạm phải cái hộp máy ghi âm. A, Gibarian. Tiếng nói của ông ta được ghi lại trên băng. Tôi thậm chí không muốn nghe băng nữa. Tất cả những gì có thể làm cho ông ta, tôi đã làm.
Tôi cầm lấy máy ghi âm và định giấu xuống dưới giường thì bỗng nghe tiếng sột soạt nhỏ, rồi tiếng rít khẽ của cánh cửa đang mở ra.
– Cris! - Có tiếng gọi tôi nho nhỏ, gần như thì thầm. - Anh ở đây hả. Cris? Tối quá.
– Không sao, - tôi nói. - Đừng sợ. Lại đây.
[1] Của riêng cho một người (tiếng Latin) (ND).
[2] Một loại thuốc có tác dụng ức chế hoạt tính của axeticotin - chất trung gian truyền các kích thích thần kinh, có trong hệ thần kinh của người và động vật (ND).