Hành lang trống rỗng. Tôi đứng nghe ngóng giây lát trước cái cửa vừa đóng. Thành tường chắc là mỏng bởi vì tôi còn nghe được tiếng gió hú bên ngoài. Trên cửa, một mẩu giấy vuông dán hơi nghiêng với chữ viết bằng bút chì “con người”. Chữ viết nguệch ngoạc khó hiểu đó gây trong tôi ý muốn quay trở về phòng Snaut, nhưng tôi hiểu là không thể được.
Lời cảnh cáo kỳ quái hãy còn vang lên trong tai tôi. Một cách vô thức, như để lẩn tránh một kẻ vô hình nào đó, tôi rón rén đi trở về phòng tròn, nơi có năm cái cửa. Trên ba trong số đó có treo bảng: “Tiến sĩ Gibarian”, “Tiến sĩ Snaut”, “Tiến sĩ Sartorius”, cửa thứ tư không thấy treo biển. Hơi do dự, tôi vặn tay nắm. Vào lúc cánh cửa từ từ mở ra, tôi có cảm tưởng là trong phòng đang có người... Tôi bước vào.
Phòng không có ai. Cửa sổ lối nhìn ra biển óng ánh dưới mặt trời như phủ một lớp dầu đỏ. Căn phòng giống ca bin tàu thủy đang tràn ngập ánh sáng màu đỏ tía. Một bên là những giá sách và chiếc giương dính đứng vào tường bởi một cơ cấu treo. Phía bên kia có rất nhiều tủ nhỏ. Giữa chúng, trong các khung bằng ni ken treo những ảnh hành tinh. Trên các giá bằng kim loại để các bình và ống nghiệm nút bông. Ngay dưới cửa sổ có hai dãy hòm tráng men trắng đựng nhiều loại dụng cụ khác nhau. Trong các góc phòng có vòi nước, máy thông khí, máy lạnh và một cái kính hiển vi.
Ngoảnh lại tôi thấy ngay cạnh cửa vào có một cái tủ cánh mở toang. Trong tủ treo mấy bộ đồ bay, áo choàng làm việc và áo bảo vệ. Trên các ngăn tủ để các đồ trải giường, ủng chống phóng xạ và các bình oxi bằng nhôm. Hai cái mặt nạ cùng thiết bị dưỡng khí cá nhân treo lủng lẳng trên thành giường dựng đứng. Sự lộn xộn ngự trị khắp nơi.
Tôi hít sâu không khí vào lồng ngực và thoáng cảm thấy mùi của hóa chất. Tôi bất giác đưa mắt tìm lỗ thoáng khí. Các dải giấy mảnh dán ở trước các mắt lưới của lỗ chao động nhè nhẹ chứng tỏ máy hút khí đang làm việc, đảm bảo sự trao đổi khí. Tôi bắt đầu công việc thu dọn các thứ trong phòng.
Tôi định cởi bộ đồ bay để treo lên mắc. Tay đã cầm lên khóa phecmơtuya, nhưng tức thì hạ xuống. Một sự lo ngại mơ hồ nào đó làm tôi dừng lại. Kiểm tra một lần nữa, tôi thấy cửa đã đóng kín, nhưng không có khóa. Sau một thoáng do dự, tôi quyết định lấy hai cái hòm nặng nhất chặn cửa.
Tôi cởi bộ đồ bay sau khi đã thực hiện biện pháp đề phòng đó. Chiếc gương ở mặt trong của cánh cửa tủ phản chiếu một phần căn phòng. Thoáng thấy một cái gì đó chuyển động, tôi nhảy dựng lên, nhưng rồi hiểu ra rằng đó chính là bóng mình trong gương. Bộ áo liền quần trong người tôi ướt đẫm mồ hôi. Tôi cởi bỏ nốt và đẩy nhẹ cái tủ trôi sang một bên. Phía sau tủ là một cái ngách thông vào buồng tắm mini có tường sáng trắng. Trên sàn, ngay dưới vòi phun có một cái hòm dẹt khá lớn. Tôi phải khó nhọc lắm mới bê được nó vào phòng. Khi đặt hòm xuống nền nhà, chiếc nắp tự bật ra, như có lò xo đẩy làm lộ ra các ngăn chất đầy những vật lạ. Đó là những vật dụng giống như các dụng cụ nguội tôi đã thấy trong phòng, bằng kim loại đen và bị biến dạng méo mó một cách đáng sợ, như là chúng đã được lấy ra từ một đám cháy nào đó, không còn dùng vào việc gì được nữa. Điều kỳ lạ là các biến dạng ở ngay cả trên các cán chuôi bằng gốm, thứ vật liệu gần như không thể nóng chảy. Trong các phòng thí nghiệm, người ta không thể tạo ra nhiệt độ nóng chảy cho nó, ngoại trừ trong lòng của lò phản ứng hạt nhân. Tôi lấy từ trong túi áo bay chiếc đồng hồ đo phóng xạ và gí gần vào các vật dụng trên. Không có dấu hiệu gì của sự phát xạ.
Cởi nốt quần áo lót bước tới vòi phun, những tia nước nóng làm tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Tôi vặn mình, xoa bóp cơ thể và thở mạnh phì phò hầu như nhờ nó tôi có thể xua đuổi những mối hoài nghi, nỗi sợ hãi về những điều bí ẩn trên trạm này.
Tôi tìm thấy trong tủ một bộ quần áo thể thao mỏng, mặc vào và chuyển số đồ đạc hết sức khiêm nhường của mình vào cái túi của nó. Giữa các trang giấy của quyển sổ tay tôi sờ thấy vật gì cứng: chiếc chìa khóa căn hộ của tôi trên Trái đất, nhờ một sự ngẫu nhiên kỳ diệu nào đó mà đã nằm ở đây. Tôi xoay chiếc chìa khóa trên tay ngắm nghía một lúc rồi chẳng biết làm gì với nó, tôi liền đặt xuống bàn. Tôi bỗng nảy ra ý nghĩ có lẽ sẽ chẳng thừa nếu như có một thứ vũ khí nào đó trên mình. Con dao nhíp đa dụng không thích hợp lắm, nhưng ngoài nó ra tôi chẳng còn thứ gì cả. Thực ra tôi chưa hoang mang đến mức cần phải đi tìm một khẩu súng hạt nhân hoặc một thứ gì na ná như vậy. Tôi ngồi xuống chiếc ghế bằng kim loại nằm giữa một khoảng trống, cách xa mọi đồ vật khác. Thật thú vị, còn những nửa tiếng đồng hồ nữa mới đến giờ hẹn với Snaut. Tôi cứ muốn ngồi một mình mãi thế này. Kim của chiếc đồng hồ hai mươi bốn vạch chỉ vào số bảy. Mặt trời đang lặn. 7 giờ, giờ địa phương, tức là 20 giờ trên khoang “Promete”. Trên màn ảnh của Moddard chắc Solaris lúc này chỉ như như một đốm sáng, chẳng khác gì các vì sao. Nhưng tàu Promete còn liên quan gì đến tôi nữa? Tôi nhắm mắt lại. Một sự im lặng tuyệt đối nếu không kể đến tiếng những giọt nước rỏ xuống nền trong buồng tắm.
Gibarian không còn nữa. Và nếu tôi hiểu đúng lời Snaut, thì cái chết của ông ta mới xảy ra cách đây có vài tiếng đồng hồ.
Người ta làm gì với thi thể ông ta? Có chôn không? Thực ra thì việc đó không thể thực hiện được ở đây, trên Solaris. Tôi nghĩ về vấn đề này một lúc cứ như thể số phận tiếp theo của kẻ đã chết là rất quan trọng. Hiểu ra sự vô nghĩa của những ý nghĩ tương tự, tôi đứng dậy và bắt đầu đi lại trong phòng, đôi khi giẫm cả lên vài quyển sách còn nằm vương vãi. Tôi nhặt lên từ nền nhà một cái bình đựng nước bằng thủy tinh màu sẫm, rất mỏng và nhẹ như được làm từ giấy. Hướng về cửa sổ, đưa sát chiếc bình lên mắt và qua nó tôi ngắm nhìn những tia lửa ảm đạm cuối cùng của hoàng hôn đang nhòa nhòa trong màn sương mờ. Điều gì xảy ra với tôi vậy? Sao tôi lại có thể thích thú cái trò ngốc nghếch, vô tích sự này được nhỉ?
Đèn phòng bỗng bật sáng làm tôi giật mình. Đó là tế bào quang điện đã chịu tác động của bóng tối. Tôi thấy chán cảnh ngồi không, thần kinh lại bắt đầu trở nên căng thẳng đến mức làm tôi thấy gai gai phía sau lưng. Cần phải làm một cái gì đó.
Tôi kéo ghế đến bên giá sách và chọn một quyển rất quen thuộc với tôi, đó là tập II bộ chuyên khảo Lịch sử Solaris của Hudzes và Egla. Đặt cuốn sách trên đùi, tôi bắt đầu lật giở từng trang.
Người ta phát hiện ra Solaris khoảng 100 năm trước khi tôi ra đời. Hành tinh quay xung quanh hệ hai mặt trời. Một đỏ và một xanh lam. Trong hơn 40 năm kể từ ngày đó, không có một con tàu vũ trụ nào đến gần hành tinh. Vào thời kỳ đó chẳng có ai nghi ngờ tính đúng đắn của thuyết Camon - Senli về sự không thể xuất hiện sự sống trên các hành tinh của các hệ sao kép. Quỹ đạo của những hành tinh như vậy thay đổi liên tục do sự không ổn định của lực hấp dẫn gây ra bởi chuyển động tương hỗ của hai mặt trời.
Sự thay đổi trường hấp dẫn sẽ làm cho quỹ dạo chuyển động của hành tinh khi thì bị thu hẹp lại lúc thì bị căng ra, và những mầm sống của sự sống nếu như chúng đã từng xuất hiện, sẽ bị tiêu diệt bởi sự chênh lệch nhiệt độ quá lớn trên hành tinh. Những sự thay đổi này xảy ra theo chu kỳ vài triệu năm, tức là rất ngắn theo quy mô vũ trụ hoặc quy mô tiến trình phát triển của sinh vật, bởi vì sự tiến hóa đòi hỏi hàng trăm triệu, nếu như không nói hàng tỉ năm.
Theo các tính toán sơ bộ thì quỹ đạo của Solaris cao khoảng năm trăm ngàn năm sẽ thu hẹp về phía mặt trời đỏ độ một phần hai đơn vị thiên văn[1], và sau một triệu năm tiếp theo sẽ lướt sát qua các vực lửa của nó. Tuy nhiên, sau đó vài năm, một điều được sáng tỏ là quỹ đạo của hành tinh không tuân thủ những thay đổi mà người ta chờ đợi.
Những quan sát và tính toán được lặp lại và lần này với độ chính xác cực đại, cũng chỉ khẳng định cái điều người ta vừa phát hiện. Và thế là, nếu như trước đây Solaris chỉ thuộc một trong số vài trăm hành tinh được phát hiện ra hàng năm, mà trong các tài liệu thống kê người ta chỉ dành vài chục dòng ghi các số liệu chuyển động, thì nay nó trở thành một vật thể vũ trụ đáng được thu hút sự chú ý cao nhất.
Bốn năm sau phát hiện này, một đoàn thám hiểm dưới sự lãnh đạo của Ottenseld đã bay xung quanh Solaris và nghiên cứu nó từ tàu vũ trụ “Laocon” và hai phi thuyền phụ trợ. Cuộc thám hiểm này mang tính chất thăm dò sơ bộ, hơn nữa, họ đã không thể đổ bộ xuống bề mặt hành tinh. Các nhà khoa học đã phóng nhiều vệ tinh quan sát tự động với các quỹ đạo gần các cực và đường xích đạo của hành tinh. Nhiệm vụ chủ yếu của các vệ tinh là đo các lực hấp dẫn. Ngoài ra, chúng còn nghiên cứu đại dương gần như bao phủ trọn hành tinh và vài ốc đảo nhô lên trên bề mặt. Tổng diện tích các phần nhô lên này còn nhỏ hơn diện tích châu Âu, dù rằng đường kính của Solaris lớn hơn của Trái đất tới hai mươi phần trăm. Những mảng hoang mạc đá này tập trung chủ yếu ở bán cầu nam. Người ta đã xác định được trong thành phần khí quyển hoàn toàn không có oxi, thực hiện các phép đo cực kỳ chính xác mật độ hành tinh albedo[2] và các thông số thiên văn khác. Đúng như chờ đợi, không ở đâu, cả trên cạn lẫn trong đại dương, người ta bắt gặp dấu vết của sự sống.
Trong mười năm tiếp đó Solaris làm sửng sốt mọi người bằng việc phô diễn xu hướng bảo toàn quỹ đạo ổn định của mình mà không phụ thuộc vào sự thay đổi của trường hấp dẫn. Trung tâm sự chú ý của tất cả mọi người hướng vào khu vực này của vũ trụ. Có những cuộc tranh luận gay gắt nổi lên. Một số ý kiến của những kẻ bảo thủ cho rằng các kết quả quan sát đó là không chính xác do lỗi của một số người nhất định hoặc do sự chưa hoàn thiện của các máy tính mà những người đó sử dụng.
Do thiếu phương tiện, việc gửi một đoàn thám hiểm nữa lên Solaris còn phải bị chậm trễ trong ba năm nữa, cho đến khi Sennon nhận được ba con tàu vũ trụ tải trọng “C” thuộc lớp “Bệ phóng vũ trụ”. Một năm rưỡi trước khi đoàn thám hiểm do Sennon lãnh đạo bay đến Solaris từ phía sao Hoàng Đạo α, một nhóm nghiên cứu đi tiền trạm đã đưa vào quỹ đạo gần hành tinh vệ tinh tự động “Luna - 247”. Sau ba lần tu sửa định kỳ, vệ tinh này còn hoạt động cho đến ngày hôm nay. Những số liệu mà vệ tinh thu thập được đã khẳng định lần cuối cùng các kết quả nghiên cứu của đoàn Ottenseld về chuyển động tích cực của đại dương.
Một con tàu của Sennon ở lại trên quỹ đạo xa, còn hai chiếc khác sau các công việc chuẩn bị kỹ lưỡng đã đổ bộ xuống một dải đá có diện tích gần một ngàn kilômét vuông nằm ở bán cầu nam của hành tinh. Sau mười tám tháng; công việc của đoàn đã kết thúc rất tốt đẹp, nếu không kể đến một vài sự cố kỹ thuật của máy. Tuy nhiên, các nhà bác học của đoàn đã chia thành hai nhóm chống đối nhau kịch liệt.
Nguyên nhân của cuộc cãi vã là đại dương. Trên cơ sở các phân tích, đại dương được công nhận là có cấu trúc hữu cơ (chưa ai dám mạnh dạn gọi nó là cơ thể sống). Nếu như các nhà sinh vật học thấy trong nó một cấu trúc rất cổ sơ, một cái gì đó như một tế bào lỏng mới sản sinh (họ gọi đó là “hình thái trước sinh vật”) bao phủ toàn bộ hành tinh dưới dạng một màng bầy nhầy, có những chỗ sâu vài kilômét, thì các nhà thiên văn và vật lý học lại khẳng định rằng đó phải là một cấu trúc có tổ chức siêu cao mà độ phức tạp của nó phải vượt xa các cơ thể sống trên Trái đất, do lẽ nó đã có thể tác dụng một cách tích cực lên hình dạng của quỹ đạo hành tinh. Không thể tìm ra được cách giải thích khác về tính ổn định của Solaris. Ngoài ra, các nhà vật lý hành tinh đã xác lập được mối liên hệ giữa các hiện tượng nhất định xảy ra trong đại dương huyết tương với các dao động cục bộ của trường hấp dẫn, mà theo họ, chúng phụ thuộc vào quá trình “trao đổi chất” của nó.
Và thế là các nhà vật lý, chứ không phải các nhà sinh vật học, đã đưa ra cái khái niệm lạ lùng “bộ máy huyết tương” với ngụ ý một cấu trúc phi động vật theo cách hiểu của chúng ta, nhưng có khả năng tác động một cách hợp lý vào các quá trình với quy mô vũ trụ.
Cuộc tranh luận đã lôi cuốn nhiều nhà bác học danh tiếng nhất. Lần đầu tiên sau tám mươi năm, thuyết Gamon - Senli bắt đầu bị lung lay. Có những người còn gắng bảo vệ thuyết này trong một thời gian. Họ cho rằng đại dương chẳng có gì liên hệ với sự sống, rằng nó thậm chí chẳng phải là hình thái trước sinh vật, mà chỉ là một hình thái địa chất bình thường, tuy nhiên, có khả năng làm ổn định quỹ đạo của hành tinh nhờ thay đổi trọng lực. Những người đưa ra quan điểm này đã dựa chủ yếu vào định luật Lơ Satele.
Một trong những giả thiết đáng chú ý nhất xuất hiện vào thời kỳ này là giả thiết Trivit - Vitta. Theo đó, đại dương là kết quả của sự phát triển biện chứng. Từ trạng thái ban đầu, trước đại dương dung dịch các chất hóa học yếu - dưới ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài (tức là sự thay đổi quỹ đạo đe dọa sự tồn tại của nó), nó có thể bỏ qua các giai đoạn phát triển như trên Trái đất, bỏ qua sự hình thành các cấu trúc đơn-đa bào và quá trình tiến hóa thực vật, động vật để thực hiện bước nhảy vọt tới giai đoạn “đại dương tự thích ứng”. Nói một cách khác là nó không trải qua giai đoạn hàng trăm triệu năm để thích nghi dần dần với điều kiện môi trường, và để rồi phát triển thành sinh vật có lý trí như trên Trái đất, mà lập tức trở thành chủ nhân của môi trường.
Ý kiến trên quả là độc đáo, dù rằng, cũng như trước đây, chẳng một ai biết, bằng cách nào cái thứ xiro quánh đó có thể làm ổn định quỹ đạo của một vật thể vũ trụ. Đã từ lâu mọi người đều biết rằng, có thể tạo ra trường hấp dẫn nhân tạo nhờ các máy trường lực. Nhưng không ai có thể hình dung nổi, một chất keo vô định hình làm thế nào để đạt được cái kết quả mà chỉ có thể thực hiện được trong các máy trường lực tưởng tượng với các phản ứng nguyên tử phức tạp và một nhiệt độ vĩ đại. Một cơn bão táp trong giới khoa học đã bùng nổ. Những thuyết khoa học được coi là không thể thay đổi, từng được trọng vọng nhất, giờ đứng trước nguy cơ sụp đổ. Một sự hỗn loạn chưa từng có xuất hiện trên tất cả các sách báo khoa học.
Tất cả những sự kiện này xảy ra nhiều năm trước khi tôi ra đời. Lúc tôi còn cắp sách đến trường trung học, Solaris đã được công nhận là một hành tinh có sự sống, nhưng chỉ có một sinh vật duy nhất. Đó là một kết luận vững chắc rút ra sau một loạt những công trình nghiên cứu hành tinh, tiếp theo những diễn biến kể trên.
Tôi lướt qua các trang với những biểu đồ và đồ thị mẫu, các bảng phân loại và các phân tích. Cả một quyển sách dày cộm càng về sau càng đầy các công thức và phép tính hóa học.
Tôi đặt quyển sách nặng nề lên giá và lấy tập tiếp theo. Cuốn sách được chia làm hai phần. Phần thứ nhất nói về vô số các cuộc thí nghiệm với mục đích thiết lập sự tiếp xúc với đại dương. Các nỗ lực này chính là nguồn gốc của biết bao chuyện cười, châm biếm trong thời sinh viên của tôi. Triết học Trung cổ chắc còn sáng ngời chân lý hơn so với những ý tưởng mơ hồ nảy sinh từ vấn đề này.
Những thử nghiệm đầu tiên được tiến hành nhờ những thiết bị điện tử đặc biệt truyền xung hai chiều. Có những dấu hiệu chứng tỏ đại dương đã ngấm ngầm làm thay đổi một số các chi tiết trong các thiết bị được đưa vào lòng nó, kết quả là các nhịp xung bị biến đổi, các dụng cụ thu ghi nhận được một tập hợp các tín hiệu làm người ta liên tưởng tới những đoạn rời rạc của một công thức khổng lồ nào đó. Nhưng điều đó nói lên cái gì? Phải chăng nó thể hiện trạng thái bị kích thích đột ngột của đại dương? Hay là bằng ngôn ngữ điện toán, đại dương muốn truyền đạt những biểu thức về các chân lý bất diệt của mình? Cũng có thể đó là các tác phẩm nghệ thuật? Hoặc các tín hiệu báo hiệu sự hình thành các cấu trúc khổng lồ của nó ở đâu đó cách xa hàng ngàn hải lý? Làm sao có thể tìm được lời giải đáp khi mà thậm chí đại dương không có các phản ứng như nhau đối với cùng một dạng tín hiệu. Có lúc lời đáp là một chuỗi bùng nổ các tín hiệu mà thiếu chút nữa hủy diệt luôn các máy móc, khi khác thì lại là sự im lặng. Và như vậy không một thử nghiệm nào có thể được lặp lại. Thậm chí có lúc đại dương đã im lặng trước cả một kích thích hết sức mãnh liệt. Đó là trường hợp con tàu phụ trợ của đoàn thám hiểm thứ hai của Heze bị sự cố kỹ thuật, rơi từ độ cao ba trăm kilômét xuống bề mặt hành tinh và kèm theo là vụ nổ với công suất khủng khiếp của các động cơ nguyên tử của nó.
Cảm giác việc giải mã cái khối lượng khổng lồ những tín hiệu thu thập được chỉ còn khoảng cách rất ngắn. Những bộ óc điện tử được thiết kế đặc biệt nhằm mục đích cho phép phân tích những thông tin mà trước đó chưa từng xuất hiện trong bất kỳ một chương trình khoa học nào. Trên thực tế đã đạt được một số kết quả nhất định. Đại dương - nguồn phát các xung điện trường, từ trường và trường hấp dẫn, nhờ sử dụng thuyết tập hợp và bằng các phép phân tích trừu tượng nhất người ta đã phân loại được một số cơ cấu phát xạ điện từ, sự tương quan giữa các đại lượng năng lượng và các thông số địa, vật lý, các hạt và các trường, v.v... Tất cả những cái đó hướng các nhà bác học tới khuynh hướng cho rằng trước mắt họ là một sinh vật có lý trí, một cái gì như một biển não nguyên sinh vĩ đại đang phát triển, bao phủ trọn vẹn hành tinh, và bộ não đó đang bỏ công nghiên cứu trên một quy mô dị thường các lý thuyết về sự tồn tại của vũ trụ. Còn về những gì mà các thiết bị của chúng ta ngẫu nhiên ghi nhận được thì đó chẳng qua chỉ là các đoạn rời rạc tiếng nói của đại dương, vượt ra ngoài giới hạn hiểu biết của con người. Một số người cho giả thiết này như một biểu hiện của sự coi thường khả năng của con người, là sự cúi đầu sùng phục trước một điều bí ẩn mà chúng ta còn chưa hiểu. Một số khác thì cho rằng, nếu đó không phải là những chuyện đơm đặt vô bổ, vô căn cứ thì cũng là những tác phẩm thần thoại hiện đại của các nhà toán học khi trong các giả thiết của mình họ thấy trong bộ não khổng lồ kia - bất kể là não điện tử hay não hữu cơ - cái đích tối cao, kết quả cuối cùng của sự tồn tại.
Nhóm khác nữa thì... mà thôi, các nhà nghiên cứu và các giả thiết nhiều vô cùng. Cần phải nói thêm, ngoài công cuộc “thiết lập sự tiếp xúc”, còn có những chương trình khác nữa... xuất hiện nhiều phân khoa về Solaris mà đặc tính chuyên ngành đi xa đến mức nhà điều khiển học Solaris gần như không hiểu nhà hình thái học. “Làm sao các anh có thể hiểu được đại dương, nếu như chính các anh cũng không thể hiểu nhau”. Đó là câu nói vui hồi nào của Vâybec, người lãnh đạo viện của tôi. Trong câu nói vui đó có nhiều phần sự thật.
Đặt trả quyển sách nặng nề về chỗ cũ, tôi nghĩ tới điều được gọi là những hiểu biết về Solaris của chúng ta đang chồng chất trong các thư viện. Thực ra chúng chỉ là một mớ vô tích sự các dữ kiện, và chúng ta đã giẫm chân mãi tại điểm xuất phát cách đây bảy mươi tám năm. Thật quả là tệ hại khi mà trong ngần ấy năm biết bao công sức và trí tuệ đã bỏ ra để không gặt hái được gì đáng kể.
Dần dần trong giới khoa học đã bắt đầu xuất hiện những kiến nghị đòi ngừng tăng chi phí cho công cuộc nghiên cứu tiếp theo. Đối với họ, “chiến dịch Solaris” đồng nghĩa với “chiến dịch của những thất bại”. Tuy nhiên vẫn chưa có một ai dám đề nghị chấm dứt hoàn toàn việc nghiên cứu, bởi vì điều đó chẳng khác nào sự đầu hàng vô điều kiện.
Nhưng đối với nhiều người, đặc biệt là giới trẻ, “vụ Solaris”, ngày càng hấp dẫn họ hơn, bởi theo họ đó là cơ hội để thử thách các giá trị của bản thân.
Đối với họ đây không chỉ đơn thuần là việc nghiên cứu nền văn minh Solaris, mà còn lớn lao hơn thế, chúng ta đặt vào đây chính giá trị của bản thân, đó là vấn đề về các giới hạn của tri thức con người.
Trong nhiều năm, ý kiến phổ biến cho rằng đại dương là một bộ não khổng lồ, vượt trước nền văn minh của chúng ta hàng triệu năm phát triển, vừa là một “lực sĩ yoga vũ trụ”, vừa là nhà thông thái với trí tuệ vô biên. Và lại dương từ lâu đã hiểu sự vô ích của mọi hoạt động, nên đã từ chối sự tiếp xúc với chúng ta.
Điều đó hoàn toàn không đúng bởi lẽ đại dương có hoạt động, tuy nhiên các hoạt động đó không được biểu hiện theo cách hình dung truyền thống của chúng ta, đó là không xây nhà cửa, cầu cống, không làm các phương tiện bay, không tìm cách chiến thắng không gian (đây chính là một trong những xuất phát điểm để những người bảo thủ chứng minh tính hơn trội của con người) mà được thể hiện trên một khía cạnh khác: đó là nghiên cứu các quá trình biến hóa phức tạp, “những biến thái bản thể”, và những gì đó nữa, mà để mô tả chúng các thuật ngữ khoa học trong tất cả các công trình nghiên cứu về Solaris chắc hãy còn chưa đủ. Solaris trở thành vấn đề hàng đầu của thời đại. Mỗi một nhà nghiên cứu độc lập đều cố gắng đóng góp vào kho tàng các công trình về Solaris.
Dưới ánh sáng trắng của các ngọn đèn điện, tôi trải lên mặt bàn nhựa bản đồ Solaris. Đại dương có những vùng nhô cao và những vùng trũng sâu. Các đảo được phủ một lớp nham thạch mỏng bị phong hóa - chứng tỏ rằng chúng đã từng là đáy đại dương. Có thể đại dương điều khiển sự xuất hiện và biến mất của các hình thái đá ngầm trong lòng nó. Một cảm giác choáng ngợp xâm chiếm trong tôi. Nhìn vào hai nửa quả cầu khổng lồ màu xanh và tím trên bản đồ, không biết là lần thứ mấy trong cuộc đời, tôi lại cảm thấy rung động và sửng sốt, bàng hoàng y như ngày còn nhỏ đi học, lần đầu tiên nghe nói về sự tồn tại của Solaris.
Cái bản đồ lạ lùng cuốn hút tôi mạnh đến nỗi đối với tôi lúc này, ngay cả cái chết bí hiểm của Gibarian lẫn cái ngày mai bí ẩn của tôi đều trở nên vặt vãnh. Những vùng riêng biệt của hành tinh sống mang tên của các nhà bác học đã nghiên cứu chúng. Đang chăm chú xem xét một quần đảo thuộc vùng biển Tecsall trên xích đạo thì tôi bỗng cảm thấy có ai đó đang nhìn mình.
Tôi vẫn đang, cúi nhìn tấm bản đồ mà không thấy gì, toàn thân như tê liệt bởi nỗi sợ hãi. Cửa trước vẫn đóng và được chèn bởi các hòm và tủ. “Có lẽ một người máy tự động nào đó”, - tôi nghĩ như vậy dù rằng trước đó không hề nhìn thấy một chiếc nào trong phòng, và nó cũng không thể vào phòng sau đó mà tôi không hề nhận biết. Da trên cổ và lưng trở nên nóng bỏng. Cảm giác về một cái nhìn chăm chú và nặng nề làm tôi không chịu đựng nổi. Bất giác tôi ngoái cổ lại phía sau, thân tì mạnh vào chiếc bàn làm nó trượt trên nền phòng. Cú hẫng làm tôi sực tỉnh và tôi vụt xoay người hẳn về phía sau. Không có ai ở đằng sau. Chỉ có bóng đen thăm thẳm ngoài cửa sổ lớn hình bán nguyệt. Nhưng cái cảm giác lạ lùng trong tôi vẫn còn. Chính cái bóng tối vô hình, thăm thẳm vô biên, không có mắt đó đang nhìn tôi. Nó đen tuyệt đối, thậm chí không le lói dù chỉ một ngôi sao. Tôi kéo rèm che cửa sổ. Chỉ chưa đầy một tiếng đồng hồ mà tôi đã bắt đầu hiểu vì sao những người trên trạm lại có trạng thái thần kinh bất thường như vậy. Tôi bất giác liên hệ sự việc này với cái chết của Gibarian. Tôi biết khá rõ ông ta và từng cho rằng trí lực của con người đó không thể bị suy sụp trong bất kỳ tình huống nào. Giờ đây niềm tin đó đã hết.
Tôi vẫn đứng giữa phòng, cạnh bàn. Nhịp thở đã trở lại bình thường, mồ hôi lạnh còn vã trên trán. Tôi vừa nghĩ về cái gì nhỉ? À, về các máy tự động. Thật lạ, tôi hoàn toàn không thấy một chiếc nào trong phòng thí nghiệm và ngoài hành lang. Chúng đi đâu hết cả vậy? Máy tự động duy nhất liên lạc với tôi tuy nhiên từ khoảng xa, trước khi hạ cánh là thuộc hệ thống tự động phục vụ sân phóng vũ trụ. Thế còn những chiếc khác?
Tôi nhìn đồng hồ. Sắp đến giờ hẹn với Snaut.
Hành lang nhờ nhờ sáng. Đi ngang qua hai cửa phòng, tôi dừng lại ở cánh cửa thứ ba với cái biển mang tên Gibarian. Tôi xoay tay vặn, cánh cửa hé mở, đèn phòng tự động bật sáng. Sau một thoáng do dự, tôi bước nhanh vào phòng và đóng ngay cửa lại.
Tựa lưng vào cửa, nhìn căn phòng, lớn hơn phòng của tôi. Cửa sổ toàn cảnh được khép ba phần tư diện tích bởi một chiếc rèm với những bông hoa nhỏ màu lam và hồng. Chiếc rèm này rõ ràng là được mang tới từ Trái đất như một đồ dùng cá nhân vì nó không có trong danh mục các trang bị của trạm. Dọc các bức tường là các giá sách và tủ nhỏ với lớp phủ bằng gốm màu xanh bạc. Các thứ không nằm ở chỗ của mình trên các giá và tủ mà nằm ngổn ngang, chất đống trên nền, giữa các ghế bành. Chắn ngay trước mặt tôi là hai chiếc bàn nhỏ, trên đó đầy các tạp chí vương vãi ra từ các kẹp bìa các tông rách bươm. Các trang sách rách nát, thấm chất lỏng từ các bình và lọ vỡ. Tôi không sao hiểu được bằng cách nào những chai lọ dày như vậy lại có thể vỡ được cho dù chúng có rơi xuống từ độ cao nào đi nữa. Ngay dưới cửa sổ có một chiếc bàn đổ nằm, đèn bàn vỡ, chiếc ghế với hai cái chân thọc vào ngăn kéo bàn đang mở. Trên nền nhà phủ đầy một lớp các loại giấy má. Nhận ra nét chữ của Gibarian tôi nhặt lên vài tờ.
Đúng lúc đó, bình minh của mặt trời xanh bắt đầu. Trạm nằm tại miền vĩ độ mà ở đó đêm chỉ kéo dài một tiếng để sau đó xuất hiện mặt trời thứ hai của hành tinh - mặt trời xanh. Dải lửa xanh trải dài một phần ba chân trời lớn lên trong khoảnh khắc.
Đèn phòng tự động tắt. Trở lại với công việc của mình, tôi cầm bản sao nội dung một cuộc thí nghiệm mà theo kế hoạch đã tiến hành cách đây ba tuần. Theo đó, tôi biết rằng Gibarian đã chuẩn bị cho đại dương chịu những tác động của bức xạ rơnghen với cường độ cực mạnh. Và người thực hiện thí nghiệm, theo chương trình, là Sartorius.
Mắt tôi bắt đầu nhức nhối bởi thứ ánh sáng chói lòa, phản xạ từ những tờ giấy trắng. Ngày của mặt trời xanh cho một khung cảnh khác hẳn với những gì tôi đã chứng kiến trước đây hơn một tiếng đồng hồ. Không còn bầu trời màu da cam, không thấy đại dương màu tím sẫm lấp loáng sắc máu và màn sương màu hồng nối mây và sóng. Không gian ngoài cửa sổ cháy sáng lòa thứ ánh sáng của những chiếc đèn thạch anh cực mạnh. Ánh sáng xuyên qua rèm che cửa sổ, làm thay đổi hẳn mọi thứ trong phòng. Bàn tay rám nắng của tôi trông xanh mai mái. Những vật dụng vốn màu đỏ giờ trở nên có màu đồng thau, còn những thứ màu trắng, xanh và vàng thì sáng chói cứ như chính chúng là những nguồn sáng. Tôi nhắm mắt, tay quờ quạng tìm lối vào nhà tắm. Tìm được chiếc kính râm ở đó tôi đeo vào và tiếp tục đọc các giấy tờ. Đây là bản ghi những nghiên cứu đã được tiến hành. Tại một khu vực cách trạm hai ngàn kilômét về phía đông bắc, liên tục trong bốn ngày, người ta đã bắn phá đại dương bằng những chùm tia rơnghen. Việc sử dụng bức xạ rơnghen đã bị cấm bởi một công ước quốc tế do những tác hại của nó. Tôi tin chắc rằng những người trên trạm đã tiến hành thí nghiệm mà không hề xin phép Trái đất.
Mỗi lúc một nóng nực hơn. May thay lớp cửa kính thứ hai, bên ngoài cửa sổ đã từ từ tự động khép lại. Phòng chỉ kịp tối lại trong khoảnh khắc, để rồi ánh đèn điện lại tự động bật sáng, tỏa ra một thứ ánh sáng mà theo cảm giác của tôi lúc này mới tù mù làm sao.
Tuy nhiên, vẫn chưa hết nóng nực. Qua tiếng rít tôi biết các máy điều hòa nhiệt độ trên trạm đang làm việc với công suất tối đa.
Có tiếng bước chân của ai đó ngoài hành lang. Tôi nhảy vọt đến bên cửa. Tiếng bước chân dừng lại ngay ngoài cửa ra vào. Rồi tay nắm từ từ xoay. Chẳng một chút suy tính tôi bất giác đưa tay nắm chặt lấy nó. Ai đó ngoài cửa và tôi cứ âm thầm ghìm nhau, kẻ xoay, người giữ, trong một khoảng thời gian nào đó. Rồi người kia bỏ tay ra... tiếng chân nhè nhẹ xa dần... Tôi còn đứng nghe ngóng một lúc... Yên tĩnh hoàn toàn.
[1] Một đơn vị thiên văn bằng khoảng cách trung bình từ Trái Đất đến Mặt Trời, bằng 149,6 triệu km (ND).
[2] Albedo - đại dương vật lý đặc trưng cho độ phản xạ bề mặt đối với các bức xạ điện tử hoặc các chùm hạt. Được đo bằng tỷ số giữa chùm tia phản xạ và chùm tới. Là một trong những đơn vị thiên văn quan trọng của các hành tinh (ND).