Hành lang vắng ngắt. Đầu tiên tôi đi thẳng, sau đó rẽ phải. Dù đây là lần đầu tiên đến trạm, nhưng tôi hoàn toàn không bỡ ngỡ về đường đi lối lại, vì khi còn ở Trái đất, trong thời gian huấn luyện, tôi đã sống sáu tuần trong mô hình trạm. Tôi biết rõ những bậc thang bằng nhôm này dẫn tới đâu.
Trong thư viện tối om. Tôi nhanh chóng sờ thấy công tắc đèn. Sau khi ấn nút trên thiết bị lưu trữ điện tử, màn hình thông báo cho tôi biết tập I tạp chí hàng năm Solaris và phụ trương của nó cùng với quyển Tiểu phẩm cựu ước hiện không có trong thư viện - trước đó Gibarian đã mượn chúng. Tôi tắt đèn và đi xuống dưới. Đành phải vào phòng của Gibarian một lần nữa. Lo sợ nghĩ đến chuyện có thể bắt gặp người đàn bà da đen trong đó, tôi phân vân đứng trước cửa phòng, rồi cố trấn át nỗi sợ hãi bằng cách huýt sáo miệng và đẩy cửa bước vào.
Trong phòng vắng ngắt. Tôi tìm thấy quyển tập I sau một hồi lục lọi.
Tôi hi vọng có một chỉ dẫn ngoài lề nào đó trong quyển sách. Quả vậy, ở phần phụ lục các tên riêng tôi tìm thấy một mẩu giấy có ghi bằng bút chì đỏ đậm nét cái tên Andre Berton. Dựa vào phần phụ lục tôi tìm trong sách những ghi chú về vụ việc liên quan đến người này, nguyên là phi công phụ trên con tàu của Sennon. Trong thời gian đầu, khi đổ bộ xuống bề mặt hành tinh, đoàn thám hiểm hành động một cách cực kỳ thận trọng. Sau mười sáu ngày người ta phát hiện ra một điều là đại dương huyết tương không những không có những biểu hiện áp chế nào, mà thậm chí còn luôn né tránh những tiếp xúc trực tiếp với con người và các thiết bị máy móc. Và thế là Sennon và người phó của ông, Timolis, đã tự cho phép bỏ qua một số các quy chế an toàn, vì lẽ chúng cản trở và làm chậm trễ việc tiến hành các công việc.
Đoàn được chia thành các nhóm nhỏ hai, ba người. Các nhóm này thực hiện các chuyến bay trên bề mặt đại dương, tới những vùng đôi khi cách rất xa căn cứ trung tâm. Nếu như trước đó, tại mọi nơi, mọi lúc, người ta luôn sử dụng các thiết bị bức xạ trường bảo vệ để đảm bảo tuyệt đối an toàn trong vùng không gian nơi tiến hành công việc, thì nay các thiết bị đo được bỏ lại căn cứ. Bốn ngày đầu diễn ra trôi chảy không có sự cố nào, nếu như không tính đến việc các bình oxi trên các áo giáp bị hư hỏng nhanh hơn trước do các van của chúng quá nhạy đối với tác động ăn mòn của bầu khí quyển độc. Người ta đành phải thay thế chúng gần như hằng ngày.
Sáng ngày thứ năm, tức là ngày thứ hai mươi mốt kể từ thời điểm đổ bộ, hai nhà bác học, Karutri và Fecner (một là nhà vô tuyến sinh học, còn người kia là nhà vật lý) đã tiến hành chuyến bay nghiên cứu trên con tàu đệm khí nhỏ hai chỗ ngồi.
Đã sáu giờ đồng hồ trôi qua mà họ vẫn chưa trở về. Timolis liền phát tín hiệu báo động và cho tất cả những người còn lại ở căn cứ bay đi tìm kiếm.
Một sự trùng hợp ngẫu nhiên không may xảy ra đúng vào ngày này là việc liên lạc vô tuyến bị cắt đứt trong khoảng một giờ sau khi các nhóm nghiên cứu xuất phát. Nguyên nhân là do sự xuất hiện vết đen lớn trên mặt trời đỏ đã tạo nên một cơn bão các dòng hạt bắn phá tầng cao khí quyển. Liên lạc vô tuyến chỉ có thể thực hiện được trên dải sóng cực ngắn, bán kính không quá 200 km. Thêm nữa, trước khi mặt trời lặn, sương mù dày đặc xuất hiện làm cho cuộc tìm kiếm phải kết thúc sớm.
Trên đường trở về, một trong các nhóm tìm kiếm đã phát hiện ra chiếc tàu đệm khí tại một điểm cách căn cứ khoảng 130 km. Động cơ bình thường và con tàu đang treo lơ lửng trên mặt sóng. Qua lớp vỏ trong suốt của cabin chỉ thấy có một mình Karutri đang bất tỉnh nhân sự.
Con tàu được đưa về căn cứ, và các bác sĩ lập tức tiến hành cứu chữa cho Karutri. Ngay tối hôm đó ông đã tỉnh lại. Karutri không thể nói chính xác được gì về số phận của Fecner. Ông chỉ nhớ rằng trên đường trở về, có một lúc ông cảm thấy bị ngạt thở. Van dưỡng khí bị hỏng và một phần khí độc lọt vào trong áo giáp. Để có thể giúp bạn sửa van, Fecner đã cởi đai an toàn và nhỏm lên. Đó là tình tiết cuối cùng mà Karutri nhớ được.
Theo ý kiến của mọi người, sự việc tiếp theo có thể diễn ra như sau: vì vòm cabin rất thấp làm Fecner khó có thể hành động một cách thoải mái nên ông đã mở nắp cabin. Điều này thực chất là cho phép bởi vì khoang cabin của các tàu đệm khí loại này không kín, nó chỉ có tác dụng bảo vệ người lái khỏi những tác động trực tiếp của môi trường và gió. Chính trong lúc giúp bạn, thiết bị dưỡng khí của chính Fecner có thể đã bị hỏng và do bị choáng ông đã nhoài người ra khỏi thành khoang cabin và bị gió hất xuống dưới.
Đó là câu chuyện về nạn nhân đầu tiên của đại dương. Những cố gắng tìm kiếm thi thể của nhà bác học - trong bộ áo giáp nó phải nổi trên mặt đại dương - đã không đem lại kết quả. Thực ra đây là một việc không dễ dàng gì, vì trong suốt thời gian đó sương mù dày đặc luôn bao phủ mặt đại dương nổi sóng, và khu vực tìm kiếm lại rộng hàng ngàn kilômét vuông. Trước khi màn đêm buông xuống, tất cả các phương tiện bay tìm cứu đã trở về căn cứ trừ chiếc trực thăng lớn, loại chở hàng của Berton.
Chỉ một tiếng sau khi trời tối, mọi người đã bắt đầu cảm thấy lo lắng thì chiếc trực thăng mới trở về.
Berton ở trong trạng thái sốc thần kinh. Ông ra khỏi trực thăng chỉ cốt để có thể chạy trốn một cái gì khủng khiếp. Khi mọi người giữ được thì ông vừa vùng vẫy, vừa khóc và la thét. Đấy là một điều ngạc nhiên đối với một người đàn ông từng trải mười lăm năm tham gia các chuyến bay vũ trụ đôi khi trong những điều kiện vô cùng khắc nghiệt. Các bác sĩ cho rằng ông bị ngộ độc khí quyển. Hai ngày trôi qua, Berton dường như đã trở lại trạng thái bình thường, tuy nhiên ông ở lì trong tên lửa chính của đoàn, không dám ló mặt ra ngoài, thậm chí sợ đến gần cửa quan sát trông về phía mặt đại dương. Ông bày tỏ mong muốn được báo cáo về chuyến bay của mình, và khẳng định rằng sự việc hết sức nghiêm trọng. Các thành viên của hội đồng đoàn thám hiểm sau khi nghe báo cáo của Berton đã nhất trí cho rằng đó là sự tưởng tượng có tính bệnh lý của một người bị ngộ độc khí quyển. Và do vậy người ta không đưa nó vào nhật ký thám hiểm của đoàn mà chỉ đưa vào hồ sơ bệnh án của ông. Sự việc kết thúc ở đây.
Để hiểu thực chất của vấn đề - cái gì đã đưa Berton tới trạng thái hoảng loạn thần kinh - cần phải xem xét chính biên bản báo cáo đó. Tôi lại bắt đầu lục lọi các đống sách để tìm quyển Tiểu phẩm cựu ước, nhưng không thấy. Do mỏi mệt tôi quyết định tạm gác việc tìm tòi đến sáng mai.
Ra khỏi phòng, tôi theo các bậc thang lên phòng thí nghiệm của Sartorius. Có ánh sáng hắt ra từ những ô cửa nhỏ sát trần nhà. Ông làm việc khuya thế sao? Như vậy là có thể hi vọng gặp ông ngay bây giờ.
Tôi thử xoay tay nắm, nhưng đúng như trực giác mách bảo, cửa không mở. Bên trong im lặng, chỉ thỉnh thoảng mới nghe những tiếng kêu oe óe lạ lùng. Tôi gõ cửa - không có ai trả lời.
– Sartorius! - Tôi gọi to. - Tiến sĩ Sartorius! Tôi là người mới đến, Kelvin. Tôi cần gặp ông, hãy mở cửa ra!
Dường như có tiếng giấy sột soạt nhỏ, sau đó lại im lặng.
– Tôi đây, Kelvin! Ông đã nghe nói về tôi rồi kia mà! Tôi vừa bay đến trên tàu “Promete”, cách đây có hai tiếng - Tôi ghé miệng quát to vào chỗ tiếp giáp giữa thành tường và cánh cửa. - Tiến sĩ Sartorius! Ở đây không có ai cả, chỉ mỗi mình tôi. Mở cửa ra!
Im lặng. Sau đó thoáng có tiếng động rất nhỏ.
Rồi vài lần vang lên tiếng kim khí va chạm nhau như có ai đang sắp xếp các dụng cụ bằng kim loại. Và bỗng... Tôi sững sờ. Có tiếng chân bước gấp như kiểu một đứa trẻ đang chạy. Đúng tiếng giậm gấp gáp của đôi bàn chân nhỏ bé. Lạ thật, chẳng lẽ...
– Tiến sĩ Sartorius! - Tôi gào lên. - Ông có mở cửa hay không nào?
Không có tiếng trả lời. Bây giờ, đồng thời với tiếng chân gấp gáp của trẻ nhỏ, tôi nghe rất nhỏ tiếng chân ai đang nhón gót, nhẹ nhàng sải những bước dài. Tôi bắt đầu điên tiết lên:
– Tiến sĩ Sartorius!!! Mười sáu tháng ròng rã bay đến đây không phải để xem các ông diễn hài kịch! Tôi đếm đến mười, sau đó sẽ phá cửa nếu ông không mở!
Chắc chắn là tôi không thể dùng sức mà phá nổi cái cửa này. Chẳng lẽ dùng khẩu súng hơi? Chả đủ để gãi ngứa cho nó. Nhưng sự cương quyết của tôi lúc này lớn đến nỗi tôi sẵn sàng thực hiện lời đe dọa của mình bằng mọi giá, dù có phải vào kho lấy thuốc nổ để phá cửa. Tôi thấy chán ngấy tất cả những gì đã và đang xảy ra ở đây.
Có tiếng động lạ, dường như có hai người nào đó đang đôi co nhau. Sau đó tấm rèm che bên trong cửa ra vào được kéo sang một bên và một cái bóng hiện lên trên ô kính mờ. Rồi một tiếng nói vang lên:
– Tôi sẽ mở, nhưng ông phải hứa là sẽ không vào bên trong.
– Vậy ông mở để làm gì?
– Tôi sẽ ra ngoài.
– Thôi được, tôi hứa.
Có tiếng chìa xoay trong ổ khóa, cửa chỉ hé mở và Sartorius tách mình ra ngoài.
Ông đứng trước mặt tôi, thân chắn cửa ra vào. Ông rất cao và gầy đến mức tôi có cảm tưởng bên trong lớp quần áo kia chỉ có một bộ xương bọc da.
Cổ ông buộc một mảnh khăn đen, vắt ngang vai là cái tạp dề phòng thí nghiệm ố bẩn hóa chất. Ông đeo một cái kính đen lớn choán gần nửa khuôn mặt, cái đầu rất hẹp của ông hơi nghiêng sang một bên.
Hàm dưới rất dài và đôi tai thì to khác thường. Mặt ông tua tủa những râu. Chúng tôi đứng nhìn nhau một lúc bằng ánh mắt khó chịu.
– Tôi nghe ông. - Cuối cùng ông ta nói.
Tôi có cảm tưởng rằng ông vừa đợi nghe tôi, vừa căng thẳng nghe ngóng không gian phía sau lưng. Tôi lúng túng mất một lúc vì không tìm ra lời lẽ vào đề,
– Tôi là Kelvin..., hẳn là ông đã nghe nói về tôi. Tôi làm việc... tức là từng làm việc với Gibarian.
Khuôn mặt “Đôngkisốt” của ông không biểu lộ một điều gì.
– Tôi được biết rằng Gibarian... rằng ông ấy không còn nữa, - cổ họng tôi nghẹn lại.
– Vâng. Tôi nghe ông!... - Sartorius sốt ruột.
– Có phải ông ta tự tử không? Ai tìm thấy xác ông ấy, ông hay là tiến sĩ Snaut?
– Sao ông lại đến tìm tôi để hỏi những điều như vậy? Chẳng lẽ tiến sĩ Snaut chưa nói gì với ông hay sao?
– Tôi muốn nghe ý kiến của ông về vấn đề này...
– Ông là nhà tâm lý học?
– Vâng, nhưng sao?
– Là nhà bác học?
– Đúng vậy. Nhưng có quan hệ gì?...
– Thế mà tôi đã nghĩ rằng ông là nhà thám tử hay công an viên gì đó. Bây giờ đã gần hai mươi ba giờ, vậy mà ông, đáng lẽ nếu không nghỉ ngơi thì cũng làm các công việc của mình, đằng này ông lại tìm cách xông vào phòng thí nghiệm và tra khảo tôi cứ như đối với một kẻ bị tình nghi.
Những cố gắng nhẫn nhịn trước đó làm mồ hôi trán tôi vã ra, giờ thì tôi quyết định bằng mọi giá phải làm ông ta tức điên lên:
– Ông bị nghi ngờ, Sartorius. Và chính ông cũng biết rõ như vậy!
– Kelvin, nếu ông không rút lại lời nói của mình vừa rồi, và nếu không xin lỗi tôi thì trong buổi truyền tin tới về Trái đất tôi sẽ kiện ông!
– Vì sao tôi lại phải xin lỗi? Vì cái gì? Thay vì đón tiếp người cộng sự mới, thay vì cho tôi biết chuyện gì xảy ra ở đây, thì ông lại kín cửa ẩn núp trong phòng thí nghiệm... Sao, ông điên rồi hẳn? Ông là ai, nhà bác học hay là đồ hèn mạt? Sao? Thử trả lời xem nào?
Tôi không nhớ là mình còn quát lên những gì nữa. Khuôn mặt Sartorius không mảy may xúc động. Chỉ thấy trên làn da tái mét của ông đọng những hạt mồ hôi rất to. Bỗng tôi vỡ lẽ: ông hoàn toàn không nghe, không hiểu tôi đang nói gì. Bằng cả hai tay giấu sau lưng, ông dùng hết sức mình giữ chặt lấy cánh cửa đang rung lên như có ai từ phía trong đang cố gắng đẩy ra.
– Hãy đi đi... - Ông rên rỉ bằng một giọng gần như khóc. - Hãy đi đi... tôi xin ông. Đi, đi xuống dưới ngay, tôi sẽ đến, sẽ làm tất cả những gì ông muốn. Chỉ xin ông đi ngay đi!
Vẻ đau khổ trong giọng nói của ông làm tiêu tan cơn giận dữ của tôi. Tôi bối rối, bất giác đưa tay ra như muốn giúp ông giữ chặt cánh cửa đang như sắp bị đẩy bật hẳn ra, nhưng ông thét lên một tiếng kinh khủng cứ như là vừa bị tôi gí dao vào bụng. Tôi bắt đầu lùi dần về phía sau, còn ông thì lại gào lên:
– Tôi vào ngay bây giờ! Đang vào, vào ngay? Tôi đang vào! Không!!! Không!!!
Cửa hơi hé mở và tôi thấy ông lao bổ vào trong.
Trước khi cửa đóng sập lại tôi còn kịp nhìn thấp thấp thoáng một cái gì đó màu vàng vàng vút ngang tầm ngực ông. Rồi có tiếng cười của trẻ thơ ré lên. Rồi tiếng chân bước gấp gáp, tiếng kính vỡ loảng xoảng.
Điều gì xảy ra ở trong đó? Đôi chân tôi run lên như không chịu nổi sức nặng của cơ thể. Đã yên lặng trở lại. Tôi luống cuống nhìn quanh rồi lảo đảo tiến tới cái bệ cửa sổ thấp bằng nhựa, ngồi xuống. Tôi cứ ngồi như vậy rất lâu, không hiểu là để chờ đợi cái gì, hay chỉ vì do sự kiệt quệ cả về thể xác lẫn tinh thần, thậm chí không muốn đứng lên nữa.
Ở đâu đó trên cao vang lên một tiếng động khô khốc và đồng thời xung quanh trở nên sáng hơn.
Từ chỗ tôi ngồi chỉ có thể nhìn thấy một phần hành lang ôm lấy phòng thí nghiệm. Đây là tầng cao nhất của trạm, sát trên đã là mái thượng. Thành tường ở đây hơi nghiêng lồi ra phía ngoài và các ô cửa sổ trông như những lỗ châu mai nằm cách nhau vài mét, những tấm che ngoài các cửa sổ đã được kéo lên phía trên.
Ngày của mặt trời xanh đang kết thúc. Các tia sáng của mặt trời xuyên qua lớp kính dày của cửa sổ chiếu vào hành lang làm tôi bừng tỉnh. Tôi cúi nhìn đôi bàn tay đặt trên đùi xám xịt bởi thứ ánh sáng quái dị của buổi chiều tà. Trong lòng bàn tay phải là khẩu súng hơi mà tôi không hiểu đã lấy nó ra khỏi vỏ từ lúc nào. Cửa phòng thí nghiệm vẫn đóng im ỉm. Tôi thở dài và đút khẩu súng hơi vào bao.
Tôi cảm nhận sức nặng vật chất của những chùm tia sáng đang bắn ra từ cái đĩa lửa khổng lồ đang từ từ ngụp xuống mặt đại dương, trông như một vụ nổ bom khinh khí. Tôi đứng dậy và đi xuống dưới.
Dừng lại một phút dưới chân cầu thang, tôi phân vân tự hỏi: đi đâu bây giờ? Chợt tôi nảy ra ý muốn vào xem các kho chứa ở tầng dưới cùng.
Khi ngang qua trạm vô tuyến, tôi thấy cửa phòng mở toang, còn Snaut thì đang ngủ ngồi trên ghế bành, vẫn trong cái tư thế như lúc tôi ra khỏi đây. Nghe tiếng chân bước của tôi, ông giật mình choàng dậy.
– Kelvin! - Giọng ông khàn khàn.
Tôi dừng lại im lặng.
– Thế nào, có gì mới mẻ không? - Ông hỏi.
– Có, trên kia không chỉ có một mình Sartorius.
– Nói tiếp đi, nào! Có thế chứ. Vậy là, anh nói rằng ông ta có khách.
– Tôi không hiểu. Tại sao các anh không nói cho tôi biết đó là cái gì. Đằng nào rồi tôi cũng sẽ biết. Bí mật để làm gì?
– Sẽ đến cái lúc mà chính anh cũng có khách, khi đó tự anh sẽ hiểu.
Tôi có cảm giác rằng ông ta không muốn tiếp tục câu chuyện vì hình như đang sốt ruột chờ đợi một cái gì đó.
– Anh đi đâu vậy? - ông gọi với khi tôi đã quay đi.
Tôi không trả lời.
Cầu thang dẫn xuống kho nằm ở rìa sân phóng. Tại đây cảnh vật vẫn không có gì thay đổi. Khoang đổ bộ cháy xám của tôi đứng im lìm trên phần nền nhô cao.
Tôi đi theo một cầu thang rất dốc xuống tầng dưới cùng, chỗ các kho chứa. Tiếp đến là một hành lang hẹp đưa tôi đến thẳng cửa kho lạnh. Khi cánh cửa dày ước chừng một gang tay với lớp gioăng cao su viền quanh nặng nề mở rồi tôi rùng mình bởi luồng hơi lạnh thấu xương xông thẳng vào người. Hòm xiểng các cỡ phủ một lớp tuyết chất đầy phòng. Thành tường hai bên của nhà kho uốn thuôn hình chum và chụm lại ở đầu đằng kia. Tại đó có treo một chiếc rèm, trên bám đầy những chuỗi nước đá long lanh. Tôi tiến lại gần và gạt rèm che sang bên. Trên một cái bệ nhôm có đặt một vật gì đó dài và rộng được phủ kín bởi một miếng vải màu xám. Vừa lật hé mép vải lên tôi liền nhìn thấy khuôn mặt bị biến dạng của Gibarian. Mớ tóc đen tuyệt đẹp với lọn tóc điểm bạc trước trán chải mượt mà trên đầu. Đôi mắt khô ráo của ông nhìn thẳng lên trần nhà. Một giọt nước đá đùng đục đọng ở khóe mắt phải. Tôi phải nghiến chặt hàm răng để khỏi rét run trước nhiệt độ lạnh cắt da, cắt thịt ở đây. Tôi đưa tay chạm nhẹ vào má ông. Da mặt sần sùi, đầy những chấm đen và cứng như gỗ. Đường uốn cong của bờ môi ông thể hiện một nỗi khiếp sợ vô hạn. Tôi vừa kéo mép tấm vải phủ xuống thấp hơn chút nữa thì bỗng nhìn thấy bên cạnh đó, phía bên kia chỗ gần vai ông thò ra mấy cái gì trông giống như những ngón chân người, đen sì. Tôi giật mình, đứng lặng...
Đúng là những cái ngón của hai bàn chân người mà tôi nhìn thấy từ phía lòng bàn chân. Nằm dưới tấm vải liệm là người đàn bà da đen.
Bà ta nằm úp mặt xuống dưới dường như đang trong giấc ngủ say. Tôi từ từ kéo tấm vải liệm. Mái tóc cuộn thành từng búi nhỏ phủ từ đầu xuống hai bờ vai nần nẫn những thịt. Làn da láng đen bóng và căng thẳng. Hoàn toàn không có một chút chuyển động nhỏ nào trên cái cơ thể to lớn ấy. Tôi nhìn lại lần nữa lòng bàn chân bà ta và bỗng sửng sốt bởi một chi tiết lạ lùng, hai bàn chân hoàn toàn không bị bẹt, vẹt bởi cái sức nặng mà nó phải mang, thậm chí không lên chai mà đáng lẽ phải có do đi chân trần, trái lại, lớp da ở đây hoàn toàn mỏng manh giống như ở các bộ phận khác như cánh tay và vai. Tôi kiểm tra cái ấn tượng đó của mình bằng cách sờ vào lòng bàn chân bà ta. Và điều không tưởng đã xảy ra: bà ta rụt nhanh chân lại - vậy là bà ta còn sống, sống trong cái nhiệt độ 200 dưới không của kho lạnh.
“Bà ta sẽ chết ở đây vì lạnh”, - tôi nghĩ. Tuy nhiên cái cơ thể đó hoàn toàn không biểu lộ một chút gì chứng tỏ là đang bị cóng, trên các ngón tay tôi còn đọng lại cảm giác mềm mại của lần đụng chạm vừa rồi. Tôi lùi dần lại phía sau, kéo rèm và nhanh chóng ra khỏi kho. Tôi có cảm giác nhiệt độ ngoài hành lang sao mà nóng đến thế. Lên đến sân phóng tôi mệt mỏi ngồi xuống một cái cuộn dù, hai tay ôm đầu. Tôi không rõ điều gì đã xảy ra với mình. Vượt quá sức chịu đựng của con người, tôi chỉ muốn mình ngã vật ra bất tỉnh hoặc được chết ngay.
Chẳng cần phải tìm đến Snaut hay Sartorius làm gì. Tôi không thể nào hình dung được là có kẻ nào đó đã sắp xếp một cách có hệ thống tất cả những sự việc và sự vật mà tôi đã phải trải qua, đã nhìn thấy bằng mắt, sờ thấy bằng tay. Cách giải thích và cứu cánh duy nhất đó là do tôi bị điên. Ừ, chắc là tôi đã phát điên ngay sau khi đổ bộ. Đại dương bằng cách nào đó đã tác động lên não tôi, tôi đã sống với những ảo giác. Và nếu vậy thì chẳng việc gì phải tốn công vô ích tìm cách giải thích những vấn đề không có thực, mà cái cần thiết nhất bây giờ là chữa chạy y tế, thông báo vô tuyến cho “Promete” hoặc một con tàu nào đó, đánh tín hiệu S.O.S...
Cái điều mà tôi không chờ đợi đã xảy ra: ý nghĩ là mình đang bị điên làm tôi thấy yên lòng.
Tôi nhớ lại và chợt hiểu những câu nói của Snaut - đấy là giả sử cho rằng có tồn tại một Snaut nào đó và có một lúc nào đó tôi đã từng nói chuyện với ông ta. Biết đâu đấy, có thể tôi hiện giờ hãy còn đang ở trên tàu Promete, đang bị hành hạ bởi một cơn loạn thần kinh và như vậy tất cả những gì tôi đã trải qua chỉ là những ảo hình bệnh hoạn. Mà nếu đã ốm thì có thể tôi sẽ khỏi bệnh, sẽ thoát khỏi cơn ác mộng Solaris đang diễn ra. Cần phải thực hiện ngay một thí nghiệm lôgic nào đó để kiểm tra chính bản thân mình. Nó sẽ chỉ ra cho biết, có thực sự là tôi bị điên và trở thành nạn nhân của những hình ảnh tưởng tượng không, hay là mặc dù phi lý, nhưng tất cả những gì tôi trải qua là có thật.
Có thể nghĩ ra một cái thí nghiệm như vậy chăng? Thoạt đầu tôi cho là không, bởi vì cái đầu bệnh hoạn của tôi (đương nhiên, nếu như nó bị bệnh thật) sẽ sáng tác ra bất kỳ những ảo giác nào mà tôi đòi hỏi. Thực vậy, không chỉ những lúc bệnh tật mà ngay cả trong một giấc ngủ bình thường ta cũng có thể mơ thấy đang nói chuyện với những người không quen biết, đặt ra cho họ những câu hỏi và nghe họ trả lời, thêm nữa, dù rằng những người đó chỉ là sản phẩm của óc tưởng tượng mộng mị của ta, nhưng ta không thể biết trước họ sẽ nói gì (trong mơ) trước khi họ thực sự lên tiếng. Mà thực ra thì chính những lời nói đó lại được sinh ra ngay trong đầu óc ta, cho nên ta phải biết nội dung của chúng vào đúng cái thời điểm khi mà ta nghĩ ra và đặt chúng vào miệng lưỡi kẻ đối thoại hư ảo. Trong một hoàn cảnh như vậy thì bất kỳ một cuộc thực nghiệm nào cũng chẳng chứng tỏ cho tôi thấy một điều gì chân thực, khách quan. Cả Snaut lẫn Sartorius trong thực tế có thể không tồn tại, cho nên việc đưa ra cho họ các câu hỏi sẽ là một hành động vô nghĩa.
Hay là dùng thuốc, một loại mạnh nào đó có tác dụng gây ảo giác hoặc tạo nên cảm giác về màu sắc của mắt? Sự xuất hiện hiệu quả của thuốc sẽ chứng tỏ rằng thứ thuốc tôi dùng đó là một thực thể và là một phần của thế giới vật chất bao quanh. Không ổn, tôi tiếp tục nghĩ, đó không phải là thí nghiệm quyết định mà tôi cần, bởi vì tôi đã biết trước công hiệu của thứ thuốc mà tôi sẽ chọn, và rất có thể rằng, từ việc tôi uống thuốc cho tới sự xuất hiện công hiệu của nó đều là sản phẩm của óc tưởng tượng của tôi.
Khi mà tôi cảm thấy thất vọng vì không tìm được lối thoát ra khỏi các vòng tròn luẩn quẩn này thì một ý đồ bỗng lóe lên trong óc, rất đơn giản mà lại công hiệu làm sao.
Tôi nhổm dậy, chạy bổ về phía trạm vô tuyến. Không có ai ở đây. Tôi liếc nhìn đồng hồ điện treo tường. Bốn giờ sáng. Ngoài kia những tia sáng đầu tiên của bình minh đỏ đã xuất hiện. Tôi nhanh chóng mở máy liên lạc vô tuyến, đồng thời điểm lướt trong đầu các bước của cuộc thí nghiệm.
Nhờ bảng chỉ dẫn treo phía trên bàn điều khiển tôi tìm được mã số gọi trạm quỹ đạo tự động của hành tinh. Tám giây sau khi phát tín hiệu gọi, tôi liền nhận được trả lời. Tôi yêu cầu bộ óc điện tử của trạm quỹ đạo cho biết tọa độ của trạm vào đúng 4 giờ 00 với độ chính xác tới một phần trăm nghìn đơn vị. Độ năm phút sau thì tôi nhận được trả lời. Dứt băng giấy ghi số liệu ra khỏi máy, tôi giấu ngay vào trong ngăn kéo mà hoàn toàn không liếc mắt đọc nó. Sau khi chạy vào thư viện và đem về một lô những tài liệu cần thiết cùng với bản đồ sao, tôi liền bắt tay vào thực hiện các phép tính để tìm lời giải đáp cho chính câu hỏi đó. Việc lập các phương trình tốn mất gần một tiếng đồng hồ. Tôi không nhớ rõ là lần cuối cùng vào thời gian nào tôi đã phải bận rộn với một khối lượng lớn các phép tính như vậy. Chắc là vào những năm của thời sinh viên, khi phải trả bài thi môn thiên văn học.
Máy tính điện tử giúp tôi thực hiện các phép tính. Ý định của tôi như sau: tôi sẽ so sánh hai số liệu thu được bằng hai con đường khác nhau, một từ trạm quỹ đạo và một bằng cách tính toán lý thuyết với sự trợ giúp của máy tính điện tử tối tân. Hai dãy số đó cần phải trùng nhau tới chữ số thứ tư sau dấu phẩy, sự khác biệt chỉ có thể có ở chữ số thứ năm, nó phản ánh những tác động bất thường có thể có của đại dương. Nếu như thông số nhận được từ trạm quỹ đạo trên thực tế chỉ là sản phẩm của óc tưởng tượng bệnh hoạn của tôi thì nhất định nó không thể trùng với kết quả tính toán lý thuyết. Bộ não tôi có thể bị bệnh thật, tuy nhiên, trong bất cứ điều kiện nào nó cũng không thể tưởng tượng ra nổi các dãy số mà để thu được, nếu không nhờ máy tính điện tử, cần phải nhiều tháng ròng làm việc liên tục. Còn nếu như các số liệu đó trùng nhau, điều đó có nghĩa là tôi thực sự đang trong trạm vô tuyến, đã sử dụng một máy tính điện tử có thật, tất cả, tất cả đều là sự thực chứ không phải trong cơn mê sảng.
Tay tôi run lên khi lấy ra từ ngăn kéo băng điện tín nhận từ trạm quỹ đạo để so sánh với kết quả thu được từ máy tính điện tử. Hai dãy số, đúng như giả thiết của tôi, trùng nhau đến con số thứ tư sau dấu phẩy. Vậy là máy tính tồn tại hiển nhiên, không phụ thuộc vào ý thức của tôi. Và trạm Solaris cùng với tất cả những gì ở đây đều là có thực.
Tôi gạt các băng giấy vào ngăn kéo và định đóng lại thì chợt để ý thấy trong đó còn có một mớ giấy ghi chằng chịt các phép tính. Tôi cầm lên xem. Hóa ra có ai đó cũng đã làm một thí nghiệm tương tự như tôi, chỉ có khác ở chỗ, thay cho các số liệu về tọa độ trên bản đồ sao, người này tính các thông số albero của Solaris.
Tôi không bị loạn thần kinh. Tia hi vọng cuối cùng đã tắt. Tôi tắt các thiết bị, uống nốt chút xúp loãng còn lại trong phích rồi đi về phòng mình.