Siddhartha

Lượt đọc: 44 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
WITH THE CHILDLIKE PEOPLE

❊ ❊ ❊

Siddhartha đến gặp nhà buôn Kamaswami, được dẫn vào một ngôi nhà giàu có, qua những tấm thảm quý giá để vào căn phòng nơi anh chờ gia chủ.

Kamaswami bước vào, một người đàn ông chuyển động nhanh nhẹn, mượt mà với mái tóc rất bạc, đôi mắt rất tinh anh, thận trọng và cái miệng tham lam. Chủ nhà và khách lịch sự chào hỏi lẫn nhau.

“Ta nghe nói,” nhà buôn mở lời, “rằng ngài là một Bà-la-môn, một người uyên bác, nhưng lại muốn đi làm thuê cho một thương gia. Phải chăng ngài đã rơi vào cảnh túng quẫn, hỡi Bà-la-môn, nên mới tìm đường mưu sinh?”

“Không,” Siddhartha đáp, “tôi không túng quẫn và chưa bao giờ túng quẫn cả. Ông nên biết rằng tôi đến từ chỗ các Sa-môn, những người mà tôi đã sống cùng trong một thời gian dài.”

“Nếu ngài từ chỗ các Sa-môn mà đến, sao có thể không túng quẫn cho được? Chẳng phải các Sa-môn hoàn toàn không có chút tài sản nào sao?”

“Tôi không có tài sản,” Siddhartha nói, “nếu đó là điều ông muốn nói. Quả thực, tôi không có tài sản gì. Nhưng tôi tự nguyện như thế, và do đó tôi không hề túng quẫn.”

“Nhưng không có tài sản thì ngài định lấy gì mà sống?”

“Tôi chưa nghĩ đến điều đó, thưa ngài. Đã hơn ba năm nay, tôi không có tài sản và chưa từng nghĩ xem mình sẽ sống bằng gì.”

“Thế ra ngài sống nhờ tài sản của người khác.”

“Chắc là thế rồi. Rốt cuộc, một thương gia cũng sống bằng những gì người khác sở hữu mà thôi.”

“Nói hay lắm. Nhưng anh ta sẽ không lấy không thứ gì của người khác; anh ta phải trao lại hàng hóa của mình để đổi lấy.”

“Xem ra đúng là như vậy. Ai cũng nhận, ai cũng cho, đời là thế.”

“Nhưng nếu ngài không phiền khi tôi hỏi: không có tài sản gì trong tay, ngài muốn đem cho cái gì?”

“Ai có gì thì cho nấy. Chiến binh trao đi sức mạnh, thương gia trao hàng hóa, thầy giáo trao bài học, nông dân trao lúa gạo, ngư phu trao cá tôm.”

“Phải quả thế. Vậy bây giờ ngài có gì để đem cho? Ngài đã học được những gì, ngài có khả năng làm những gì?”

“Tôi biết suy nghĩ. Tôi biết chờ đợi. Tôi biết nhịn ăn.”

“Chỉ có thế thôi sao?”

“Tôi tin rằng thế là đủ!”

“Và những điều đó thì có ích gì? Chẳng hạn như việc nhịn ăn — nó có tác dụng gì chứ?”

“Nó rất có ích đấy, thưa ngài. Khi một người không có gì để ăn, nhịn ăn là việc khôn ngoan nhất mà anh ta có thể làm. Giả sử, nếu Siddhartha không học được cách nhịn ăn, thì trước khi ngày hôm nay kết thúc, anh ta sẽ phải nhận bất kỳ công việc nào, dù là làm việc cho ông hay ở bất cứ đâu, bởi vì cơn đói sẽ buộc anh ta phải làm thế. Nhưng đằng này, Siddhartha có thể bình tĩnh chờ đợi, anh ta không biết nóng vội là gì, không biết túng quẫn là gì, anh ta có thể để cơn đói vây hãm mình trong một thời gian dài mà vẫn có thể mỉm cười với nó. Thưa ngài, nhịn ăn là để ích lợi như thế đấy.”

“Ngài nói đúng, hỡi Sa-môn. Hãy chờ một lát.”

Kamaswami rời khỏi phòng và quay lại với một cuộn giấy, ông đưa nó cho vị khách và hỏi: “Ngài đọc được cái này chứ?”

Siddhartha nhìn cuộn giấy, trên đó có ghi một bản hợp đồng mua bán, rồi bắt đầu đọc nội dung bên trong.

“Tuyệt vời,” Kamaswami nói. “Và ngài có thể viết giúp tôi một vài chữ lên mẩu giấy này được không?”

Ông đưa cho anh một mẩu giấy và một cây bút, Siddhartha liền viết rồi trả lại tờ giấy.

Kamaswami đọc: “Biết viết là tốt, biết suy nghĩ còn tốt hơn. Khôn ngoan là tốt, kiên nhẫn còn tốt hơn.”

“Chữ viết của ngài thật tuyệt vời,” nhà buôn ca ngợi. “Chúng ta vẫn còn nhiều điều phải bàn với nhau. Còn hôm nay, tôi mời ngài làm khách và ở lại trong ngôi nhà này.”

Siddhartha gửi lời cảm ơn, nhận lời, và từ đó sống trong ngôi nhà của nhà buôn. Y phục được mang đến cho anh, cả giày dép, và mỗi ngày đều có người hầu chuẩn bị nước tắm cho anh. Mỗi ngày hai lần, những bữa ăn thịnh soạn dọn ra, nhưng Siddhartha chỉ ăn một lần trong ngày, không ăn thịt cũng chẳng uống rượu. Kamaswami kể cho anh nghe về việc buôn bán, cho anh xem hàng hóa cùng các kho chứa, chỉ cho anh cách tính toán. Siddhartha được biết thêm nhiều điều mới mẻ, anh nghe rất nhiều nhưng nói rất ít. Và nhớ đến những lời của Kamala, anh không bao giờ luồn cúi trước nhà buôn, buộc ông phải đối xử với mình như một người ngang hàng, vâng, thậm chí còn hơn cả ngang hàng. Kamaswami điều hành việc kinh doanh rất cẩn trọng và thường đầy nhiệt huyết, nhưng Siddhartha nhìn nhận tất cả những điều đó như một trò chơi mà anh cố gắng học thật chuẩn xác các quy tắc, thế nhưng bản chất bên trong lại chẳng mảy may chạm đến trái tim anh.

Anh ở trong nhà Kamaswami chưa bao lâu thì đã tham gia vào công việc làm ăn của chủ nhà. Thế nhưng hằng ngày, vào giờ hẹn, anh vẫn đến thăm nàng Kamala xinh đẹp trong bộ cánh lịch sự, đôi giày tinh tế, và chẳng mấy chốc anh cũng mang theo cả quà cáp cho nàng. Anh học được rất nhiều điều từ đôi môi đỏ thắm và khôn ngoan của nàng. Anh học được rất nhiều từ bàn tay mềm mại, uyển chuyển của nàng. Đối với chuyện ái tình, anh vẫn chỉ là một kẻ khờ dại, có xu hướng lao đầu vào dục vọng một cách mù quáng và vô độ tựa như rơi xuống một cái vực không đáy; chính nàng là người đã dạy dỗ anh từ những bước căn bản nhất về triết lý tình yêu rằng không thể đón nhận khoái cảm nếu không biết trao đi khoái cảm, rằng mọi cử chỉ, mọi âu yếm, mọi cái chạm, mọi ánh nhìn, mọi điểm trên cơ thể dù nhỏ nhoi đến đâu cũng đều ẩn chứa bí mật riêng, điều sẽ mang lại hạnh phúc cho những ai thấu hiểu và khơi gợi nó. Nàng dạy anh rằng những người yêu nhau không được rời xa nhau sau khi tận hưởng hoan ca mà chưa kịp ngắm nhìn nhau, chưa thấy mình vừa chiến thắng lại vừa thất trận, để rồi không ai cảm thấy chán chường hay mệt mỏi, không mang theo cảm giác tồi tệ vì đã lạm dụng hoặc bị lạm dụng. Anh đã trải qua những giờ phút tuyệt vời bên nữ nghệ sĩ xinh đẹp và sắc sảo ấy, trở thành học trò của nàng, người tình của nàng, người bạn của nàng. Giá trị và mục đích cuộc sống hiện tại của anh nằm ở nơi Kamala đây, chứ không phải ở chốn buôn bán của Kamaswami.

Nhà buôn bắt đầu giao cho anh nhiệm vụ viết những bức thư và hợp đồng quan trọng, rồi dần có thói quen thảo luận mọi vấn đề lớn nhỏ với anh. Ông sớm nhận ra rằng Siddhartha biết rất ít về lúa gạo hay len dạ, về tàu thuyền hay thương mại, nhưng anh lại xử lý mọi việc một cách suôn sẻ đến kỳ lạ, và rằng Siddhartha vượt trội hơn hẳn ông — một nhà buôn chính hiệu — ở sự điềm tĩnh, thản nền, cũng như ở nghệ thuật lắng nghe và thấu hiểu sâu sắc những con người xa lạ trước đó. “Tên Bà-la-môn này,” ông nói với một người bạn, “không phải là một thương gia thực thụ và sẽ chẳng bao giờ làm được thương gia, trong tâm hồn hắn chẳng bao giờ có chút nhiệt huyết nào khi điều hành công việc của chúng ta. Thế nhưng hắn lại có thứ phẩm chất huyền bí của những kẻ mà thành tựu cứ tự nhiên tìm đến, dù đó là do sao chiếu mệnh lúc sinh ra, do bùa phép, hay thứ gì đó hắn học được nơi bọn Sa-môn. Hắn lúc nào cũng có vẻ như chỉ đang đùa giỡn với công việc làm ăn của chúng ta, chúng chưa bao giờ hoàn toàn trở thành một phần trong con người hắn, chưa bao giờ sai khiến được hắn, hắn chẳng bao giờ sợ thất bại, cũng chẳng hề nao núng vì thua lỗ.”

Người bạn khuyên nhà buôn: “Hãy trích cho hắn một phần ba lợi nhuận từ công việc hắn làm cho anh, nhưng cũng bắt hắn phải chịu trách nhiệm với tỷ lệ thua lỗ tương đương nếu việc làm ăn thất bát. Khi ấy, hắn sẽ nhiệt tình hơn thôi.”

Kamaswami làm theo lời khuyên đó. Nhưng Siddhartha chẳng bận tâm mấy. Khi kiếm được lợi nhuận, anh đón nhận nó với sự thản nhiên; lúc thua lỗ, anh bật cười và bảo: “Nào, nhìn xem, hóa ra lần này lại thành ra thế này đây!”

Quả thực có vẻ như anh chẳng mải miết gì chuyện làm ăn. Có lần, anh đi về một vùng quê để mua lại một lượng lớn lúa gạo mới thu hoạch. Nhưng khi đến nơi, số lúa gạo ấy đã bị bán đứt cho một thương gia khác. Mặc dù vậy, Siddhartha vẫn lưu lại ngôi làng đó vài ngày, mời rượu những người nông dân, cho lũ trẻ những đồng tiền đồng, hòa mình vào lễ cưới của một đôi trẻ, rồi trở về sau chuyến đi với sự thỏa mãn vô cùng. Kamaswami trách anh đã không quay về ngay lập tức, rằng anh đã hoài phí thời gian và tiền bạc. Siddhartha đáp: “Xin hãy ngừng quở m trách đi, người bạn thân mến! Chẳng có gì đạt được bằng sự quở trách cả. Nếu đã lỡ thua lỗ, cứ để tôi gánh chịu khoản thua lỗ đó. Tôi vô cùng thỏa mãn với chuyến đi này. Tôi đã được làm quen với rất nhiều hạng người, một vị Bà-la-môn đã trở thành bạn của tôi, những đứa trẻ đã ngồi lên đùi tôi, những người nông dân đã dẫn tôi ra thăm cánh đồng của họ, chẳng một ai biết rằng tôi là một thương gia cả.”

“Tất cả những điều đó nghe hay thật đấy,” Kamaswami phẫn nộ thốt lên, “nhưng thực chất anh vẫn là một thương gia cơ mà, ai mà chẳng nghĩ thế! Hay là anh chỉ đi du lịch để giải trí thôi đấy phỏng?”

“Chắc chắn rồi,” Siddhartha cười vang, “chắc chắn là tôi đi du lịch để giải trí rồi. Còn vì mục đích gì khác nữa chứ? Tôi đã được biết thêm người, biết thêm chốn, tôi đã nhận được sự tử tế và lòng tin, tôi đã tìm thấy tình bạn. Này bạn hiền, nếu tôi là Kamaswami, tôi đã quay về ngay trong cơn bực dọc và vội vã ngay khi thấy việc mua bán bất thành, và khi ấy thời gian cùng tiền bạc quả thực đã bị bỏ phí. Nhưng đằng này, tôi đã có những ngày tháng tốt đẹp, tôi đã học hỏi, đã có niềm vui, tôi chẳng làm hại mình hay ai khác bằng sự bực bội và hấp tấp. Và nếu mai sau tôi có quay lại đó, có lẽ để mua vụ mùa sắp tới, hoặc vì bất kỳ mục đích nào đi nữa, những con người thân thiện ấy sẽ đón tiếp tôi niềm nở và vui vẻ, và tôi sẽ tự khen bản thân vì đã không tỏ ra vội vã hay khó chịu vào lúc đó. Thế nên, hãy cứ để mọi chuyện như thế đi, bạn tôi ơi, và đừng tự làm hại mình bằng những lời quở m trách! Nếu có ngày anh thấy rằng: chính Siddhartha này đang làm hại tôi, thì cứ lên tiếng và Siddhartha sẽ tự bước đi con đường của mình. Nhưng cho đến lúc đó, chúng ta hãy cứ bằng lòng với nhau đi.”

Những nỗ lực của nhà buôn nhằm thuyết phục Siddhartha rằng anh nên ăn tấm bánh của chính mình làm ra cũng trở nên vô ích. Siddhartha ăn tấm bánh của chính anh, hay nói đúng hơn là cả hai người đều đang ăn tấm bánh của người khác, tấm bánh của tất cả mọi người. Siddhartha chẳng bao giờ bận tâm đến những nỗi lo của Kamaswami, mà Kamaswami thì lại có vô vàn nỗi lo. Dù có một thương vụ đang đứng trước bờ vực đổ vỡ, hay một lô hàng có nguy cơ thất lạc, hoặc một con nợ tỏ ý không muốn trả tiền, Kamaswami cũng chẳng bao giờ có thể thuyết phục được đối tác của mình rằng việc thốt lên vài lời lo lắng hay giận dữ, việc nhíu mày hay ngủ không yên giấc là có ích lợi gì. Có lần, khi Kamaswami trách móc rằng anh đã học được tất cả những gì mình biết từ ông, Siddhartha liền đáp: “Xin ông đừng đùa cợt với những câu chuyện cười như thế! Những gì tôi học được từ ông chỉ là một giỏ cá có giá bao nhiêu và tiền cho vay thì được tính lãi suất thế nào mà thôi. Đó mới là lĩnh vực chuyên môn của ông. Tôi đâu có học cách suy nghĩ từ ông, hỡi Kamaswami thân mến, chính ông mới là người nên tìm cách học hỏi từ tôi thì đúng hơn.”

Quả thật, tâm hồn anh không đặt nơi chốn buôn bán. Công việc làm ăn đủ sức mang lại cho anh tiền bạc để cung cúc cho Kamala, thậm chí nó còn kiếm ra nhiều hơn số anh cần. Ngoài điều đó ra, sự quan tâm và tò mò của Siddhartha chỉ hướng về con người — những kẻ mà việc làm ăn, nghề nghiệp, nỗi lo âu, niềm vui thích cùng sự dại khờ từng có lúc xa lạ và cách biệt với anh chẳng khác nào ánh trăng trên trời. Dẫu cho anh dễ dàng trò chuyện với tất cả mọi người, dễ dàng sống chung với họ và học hỏi từ họ bao nhiêu, anh vẫn luôn ý thức được rằng có một ranh giới tách biệt anh khỏi họ, và yếu tố chia cắt ấy chính là việc anh vốn là một Sa-môn. Anh nhìn nhân loại trôi nổi qua cuộc đời theo một cách thức ngây ngô như trẻ thơ hoặc vô tri như loài vật, một lối sống mà anh vừa yêu mến lại vừa khinh miệt. Anh nhìn họ nhọc nhằn, nhìn họ đau khổ, và cạn mòn tuổi thanh xuân vì những thứ vốn dĩ hoàn toàn không đáng với cái giá ấy: vì tiền bạc, vì những niềm vui cỏn con, vì chút danh hão huyền; anh nhìn họ mắng chửi, lăng mạ lẫn nhau, nhìn họ than van về những nỗi đau mà một Sa-môn chỉ mỉm cười cho qua, và chịu đựng những sự thiếu thốn mà một Sa-môn chẳng mảy mang cảm giác.

Anh rộng mở đón nhận mọi thứ mà những con người ấy mang đến. Nhà buôn mang vải lanh đến bán được anh chào đón, con nợ đến xin vay thêm khoản tiền cũng được anh chào đón, kẻ ăn xin kể lể suốt một tiếng đồng hồ về cảnh nghèo túng của mình dù chẳng nghèo bằng một nửa bất kỳ vị Sa-môn nào cũng được anh chào đón. Anh đối xử với vị thương gia ngoại quốc giàu có chẳng khác gì người thợ cạo râu cho anh hay kẻ hàng rong bên đường mà anh sẵn sàng để hắn lừa một ít tiền lẻ khi mua chuối. Khi Kamaswami đến tìm anh để phàn nàn về những nỗi lo hay trách móc chuyện làm ăn, anh đều lắng nghe với sự tò mò và niềm vui thích, cảm thấy thú vị trước con người ấy, cố gắng thấu hiểu ông, thừa nhận rằng ông có hơi đúng một chút — chỉ chừng mực mà anh cho là cần thiết — rồi lại quay đi, hướng về phía người tiếp theo đang tìm đến mình. Và có rất nhiều người tìm đến anh, nhiều kẻ đến để buôn bán, nhiều kẻ đến để lừa gạt, nhiều kẻ muốn rút tỉa một bí mật nào đó từ anh, nhiều kẻ cầu mong sự đồng cảm, nhiều kẻ đến xin lời khuyên. Anh đưa ra lời khuyên, anh thương cảm, anh ban phát quà cáp, anh để họ lừa mình một chút, và toàn bộ trò chơi ấy cùng với niềm đam mê mà tất cả mọi người đổ dồn vào đó đã chiếm trọn tâm trí anh chẳng khác nào các vị thần và các bậc Bà-la-môn từng ngự trị trong tâm trí anh thuở nào.

Đôi khi, tận sâu trong lồng ngực, anh cảm nhận được một tiếng nói nhỏ nhoi, lụi tàn đang thầm lặng quở trách, thầm lặng tiếc nuối; anh hầu như chẳng mảy may để ý đến nó. Và rồi, trong chốc lát, anh nhận ra cuộc sống kỳ lạ mà mình đang dẫn dắt, nhận ra mình đang làm rất nhiều việc chỉ như một trò chơi, rằng dẫu có lúc cảm thấy hạnh phúc và vui sướng, thì cuộc đời đích thực vẫn trôi tuột qua anh mà chẳng hề chạm đến anh. Tựa như một vận động viên chơi bóng đùa giỡn với những quả bóng, anh đùa giỡn với những thương vụ, với những con người xung quanh, quan sát họ, tìm kiếm niềm vui ở họ; nhưng bằng cả trái tim, bằng cội nguồn bản ngã, anh không hề thuộc về họ. Dòng suối nguồn vẫn đang chảy đâu đó, mãi tận phía xa xôi, cứ róc rách trôi đi trong vô hình, chẳng còn dính dáng gì đến cuộc đời anh nữa. Và có những lúc, anh chợt cảm thấy sợ hãi trước những suy nghĩ ấy, ao ước gì mình cũng được ban cho khả năng hòa mình vào những bận rộn ngây thơ trẻ con ban ngày ấy bằng tất cả nhiệt huyết và trái tim, để được thực sự sống, thực sự hành động, thực sự tận hưởng thay vì chỉ đứng nhìn với tư cách một kẻ bàng quan. Thế nhưng hết lần này đến lần khác, anh lại quay về bên nàng Kamala xinh đẹp, học nghệ thuật ái tình, thực hành thứ tín ngưỡng dục vọng — nơi mà việc cho và nhận hòa quyện làm một nhiều hơn bất cứ đâu — trò chuyện cùng nàng, học hỏi từ nàng, cho nàng lời khuyên và đón nhận lời khuyên. Nàng thấu hiểu anh hơn cả Govinda thuở trước, nàng giống anh hơn.

Có lần, anh nói với nàng: “Em giống anh, em khác biệt với phần lớn mọi người. Em là Kamala, chẳng là ai khác, và trong sâu thẳm con người em có sự bình yên cùng chốn dung thân — nơi em có thể lui tới vào bất cứ giờ phút nào trong ngày để tìm về với chính mình, giống như anh cũng có thể làm vậy. Ít ai có được điều đó, thế nhưng tất cả mọi người lẽ ra đều có thể có.”

“Đâu phải ai cũng khôn ngoan,” Kamala nói.

“Không,” Siddhartha bảo, “đó không phải là lý do. Kamaswami cũng khôn ngoan chẳng kém gì anh, vậy mà vẫn chẳng có nổi một chốn dung thân trong tâm hồn. Những kẻ khác có được điều đó, dẫu cho trí tuệ của họ chẳng khác gì trẻ nhỏ. Đa số mọi người, Kamala ạ, giống như một chiếc lá khô bị gió thổi bay, xoay tít giữa không trung, dập dềnh rồi rơi xuống mặt đất. Nhưng số khác, chỉ một vài người, giống như những vì sao; họ đi trên một quỹ đạo cố định, chẳng ngọn gió nào chạm tới được, họ mang trong mình luật lệ và con đường của riêng mình. Trong số tất cả những bậc hiền triết và Sa-môn mà anh từng biết rất nhiều, có một người như thế, một bậc đã viên thành, anh sẽ chẳng bao giờ có thể quên được ông ấy. Đó chính là Gotama, đấng tối cao, người đang truyền bá những giáo lý kia. Hàng ngàn tín đồ lắng nghe lời ngài mỗi ngày, tuân theo chỉ dạy của ngài từng giờ, nhưng tất cả bọn họ đều chỉ là những chiếc lá khô, trong lòng họ chẳng có lấy giáo lý và luật lệ nào cả.”

Kamala nhìn anh mỉm cười. “Anh lại nhắc đến ông ta rồi,” nàng nói, “anh lại mang những suy nghĩ của một Sa-môn rồi.”

Siddhartha không nói gì, và họ lại chơi trò chơi ái tình, một trong ba bốn mươi trò chơi khác nhau mà Kamala biết. Thân hình nàng uyển chuyển như loài báo đốm và như cây cung của người thợ săn; kẻ đã học nơi nàng cách ái tình ấy tường tận rất nhiều hình thái dục vọng, rất nhiều bí mật. Trong một thời gian dài, nàng đùa giỡn với Siddhartha, khêu gợi anh, cự tuyệt anh, ép buộc anh, ôm lấy anh: tận hưởng những kỹ nghệ thượng thừa của anh cho đến khi anh kiệt sức và nằm nghỉ ngơi mệt mỏi bên cạnh nàng.

Kỹ nữ cúi người nhìn anh, đăm đăm ngắm khuôn mặt anh, ngắm đôi mắt đã trĩu nặng nét mệt mòa.

“Anh là người tình tuyệt vời nhất,” nàng trầm ngâm nói, “mà em từng gặp. Anh khỏe mạnh hơn những người khác, uyển chuyển hơn, sẵn lòng hơn. Anh đã học rất tốt nghệ thuật của em, Siddhartha. Mai sau, khi em già đi, em rất muốn sinh con cho anh. Thế nhưng, người yêu của em ạ, anh vẫn mãi là một Sa-môn, và suy cho cùng anh chẳng yêu em, anh chẳng yêu ai cả. Phải thế không nào?”

“Rất có thể là như vậy,” Siddhartha mệt mỏi đáp. “Anh cũng giống như em thôi. Em cũng đâu biết yêu — bằng cách nào khác mà em có thể biến ái tình thành một nghề nghiệp cơ chứ? Có lẽ, những kẻ thuộc loại người như chúng ta không thể biết yêu. Những con người ngây thơ như trẻ nhỏ mới biết yêu; đó là bí mật của họ.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.