Những Trái Tim Khao Khát

Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đôi Cánh

❊ ❊ ❊

“Lồng ngực ta như một ngục thất bóp nghẹt lấy trái tim này! Ta khát khao một chút tình yêu biết bao, vậy mà chẳng có ai—chẳng có một ai cả!” Shenah Pessah nghẹn ngào rên rỉ khi nàng nhìn ra ngoài khung cửa sổ tầng hầm tối tăm.

Đó là một buổi chiều Chủ nhật tháng Năm rực rỡ, và xuyên qua căn hầm u ám, lạnh lẽo của người quản lý tòa nhà, một tia nắng rụt rè báo hiệu mùa xuân đã đến.

“Ôi chao! Ánh sáng!” Shenah Pessah thở dốc đầy phấn khích, đẩy tung cánh cửa sổ ra. “Lần đầu tiên trong phòng có một chút ánh sáng!” Và nàng thèm thuồng vươn đôi tay về phía mảnh nắng ấm áp.

Tiếng cười vui vẻ của mấy cô thợ may đứng ngoài bậc thềm cùng đám bạn trai, và hình ảnh những bà mẹ trẻ bên chồng con đã thổi bùng lên ngọn lửa đang thiêu đốt lồng ngực nàng.

“Ta đâu có ghen tị!” nàng thở hổn hển, giọng nghẹn ngào. “Trái tim ta đau đớn quá sâu sắc nên chẳng hề muốn cướp đi niềm hạnh phúc của họ. Nhưng cớ sao họ được sống và tận hưởng cuộc đời, còn ta thì chỉ có thể đứng nhìn họ hạnh phúc?”

Nàng bấu chặt lấy cổ họng mình như thể một kẻ đang chết ngạt vì thiếu không khí. “Mày bị sao thế hả? Mày định phát điên lên à? Mày khóc lóc vì điều gì? Ai thèm lắng nghe mày? Ai quan tâm đến chuyện rồi đây mày sẽ ra sao chứ?”

Bị sự cô đơn đè bẹp, nàng ngả người xuống ghế. Suốt một hồi lâu nàng ngồi bất động, tìm thấy một nỗi u sầu kỳ lạ trong những hình thù giễu cợt hằn lên từng mảng vữa bong tróc. Dần dần, nàng cảm thấy một hơi ấm râm ran đang mơn man trên má. Và với một hơi thở hồi sinh, nàng tận hưởng phép màu từ bức tường ngập tràn ánh nắng.

“Chà!” nàng thở dài. “Mỗi năm mặt trời mới ghé qua chiếu sáng dù chỉ một lần cho cái căn hầm tối tăm này, vậy cớ sao Đấng Tối Cao lại không rủ lòng ban cho ta chút ánh sáng nhỏ nhoi?”

Làn sóng hy vọng mới này đã xua đi thực tế phũ phàng rằng nàng chỉ là một ả nhà quê mới chân ướt chân ráo làm nghề quản lý tòa nhà, rằng nàng đã hai mươi hai tuổi, không có của hồi môn, và theo phong tục của người dân nàng, bị coi như một món đồ bỏ xó chẳng ai thèm rước lấy—một sinh vật đáng thương và đáng cười chê.

“Ta đâu có chọn được tuổi tác hay sự nghèo khó của mình!” nàng thét lên với khoảng không điếc đặc. “Ta muốn một chút cuộc đời! Ta muốn một chút niềm vui!”

Tiếng chuông reo sắc lẹm vang lên, và khi nàng quay lại để mở cửa, nàng nhìn thấy một thanh niên ở ngưỡng cửa—tựa như bức tranh bước ra từ những giấc mơ thầm kín nhất của nàng.

Người lạ mặt cất tiếng.

Shenah Pessah chẳng nghe rõ những lời anh nói, nàng chỉ nghe thấy âm thanh du dương từ giọng nói của anh. Nàng ngây người ngắm nhìn trang phục của anh—chiếc áo tu-suy rộng rãi, chiếc áo sơ mi lụa pongee hở một phần cổ, nhưng nàng chẳng thực sự nhìn thấy anh hay những thứ anh mặc. Nàng chỉ cảm thấy một sự hiện diện không thể cưỡng lại đang chiếm lấy tâm hồn mình. Cứ như thể vị thần trong những khát vọng sâu kín nhất của nàng bất ngờ hiện hình thành con người bằng xương bằng thịt và nhấc bổng nàng lên không trung.

“Người quản lý nhà có sống ở đây không?” người lạ lặp lại.

Shenah Pessah gật đầu.

“Cô có thể cho tôi xem căn phòng cho thuê được chứ?”

“Vâng, được chứ ạ, nhưng xin chờ tôi một phút thôi,” Shenah Pessah lắp bắp, lúng túng tìm chiếc chìa khóa trên kệ.

“Đừng có bay bổng lên mây nữa!” Nàng tự nhủ với trái tim đang đập loạn nhịp và cuồng dại của mình, khi bước lên lầu cùng anh. Để lấn át sự hỗn loạn cảm xúc đang làm nàng run rẩy, nàng bắt đầu nói năng một cách căng thẳng: “Bà Stein, người cho thuê phòng, phải đến tối mới về, nhưng tôi có thể nói cho anh biết giá cả và bất cứ điều gì anh muốn biết. Bà ấy nấu ăn tuyệt hảo và anh có thể ăn bữa sáng lẫn bữa tối do chính tay bà ấy nấu—” Nàng chẳng hề có chút ý niệm nào về những điều mình đang nói, cứ thế huyên thuyên không ngừng vì sợ anh nghe thấy tiếng tim nàng đập thình thịch.

“Tôi có thể lắp một chiếc đèn treo thả trần ở đây được không?” người đàn ông hỏi khi đảo mắt quan sát căn phòng.

Shenah Pessah liếc nhìn anh thật nhanh và đầy e thẹn. “Có phải anh là thầy giáo hay nhà văn không ạ?”

“Vâng, thỉnh thoảng tôi có dạy học,” anh đáp, vừa quan sát nàng, bị thu hút bởi tâm hồn đang giãy giũa cất lên tiếng khóc vọng ra từ đôi mắt nàng.

“Nhìn là tôi biết ngay anh là một nhân vật quan trọng nào đó rồi,” nàng nói, ngước lên với một vẻ ngưỡng mộ đầy tha thiết trong ánh mắt. “Chà, thật tuyệt vời biết bao khi được sống chỉ để học tập và suy ngẫm.”

“Đây là nhà của cô sao?”

“Từ năm lên tám tuổi tôi đã chẳng có lấy một mái nhà. Ngay cả ở Nga, tôi cũng toàn phải sống nhờ nhà người dưng.”

“Nga ư?” anh lặp lại với sự chú ý tăng lên rõ rệt. Vậy là anh đã bước vào giữa họ, những con người mà anh đến để nghiên cứu. Cô gái với ánh mắt khao khát và sự tha thiết mãnh liệt ấy giờ đây mang lại một niềm hứng thú mới cho anh.

John Barnes, giảng viên xã hội học trẻ tuổi nhất trường đại học của anh, thầm tự chúc mừng cho may mắn của mình khi tình cờ gặp được một mẫu hình tuyệt vời đến vậy cho công trình nghiên cứu của anh. Anh đang chuẩn bị luận văn về “Các vấn đề giáo dục của người Do Thái gốc Nga”, và để có thể tiếp cận sâu hơn với đề tài của mình, anh đã quyết định đến sống ở khu Đông Cận trong kỳ nghỉ xuân và hè.

Anh tiếp tục đặt câu hỏi cho nàng, vô tình sử dụng tất cả thứ sức mạnh thuyết phục từng khiến bao người phải mở lòng với anh. “Và cô đã ở đây được bao lâu rồi?”

“Được hai năm rồi ạ.”

“Có vẻ như cô rất thích học hỏi. Chắc là cô có đi học lớp ban đêm chứ?”

“Từ khi đến Mỹ tôi chưa từng đặt chân tới lớp học ban đêm nào cả. Lấy đâu ra thời gian chứ? Cậu tôi già lắm rồi nên chẳng làm được mấy việc, và ông ấy đã quen trút hết mọi việc trong nhà lên đầu tôi.”

“Thế ra cô ở cùng cậu mình à?”

“Vâng, cậu tôi gửi vé sang Mỹ cho tôi từ hồi mợ tôi còn sống. Mợ ấy đổ bệnh. Mà một ông già như cậu tôi thì làm sao xoay sở nổi chỉ với hai bàn tay?”

“Đó có phải là lý do đủ để cô rời bỏ quê hương không?”

“Ở Savel tôi có cái gì để mà sợ mất chứ? Mấy con bò tôi hay vắt sữa còn được đối xử tử tế hơn tôi. Chúng ít ra còn được ăn no, còn tôi thì làm quần quật từ sáng đến tối mà vẫn phải chịu đói khát.”

“Cô bé tội nghiệp!” thốt lên từ tận đáy lòng người đàn ông, sự tra hỏi mang tính khoa học của nhà xã hội học nhất thời bị cuốn bay bởi lòng trắc ẩn của một con người.

Đã bao giờ có ai gọi cô là “cô bé tội nghiệp” đâu—lại còn bằng giọng điệu ấy nữa? Nước mắt chực trào trong đôi mắt Shenah Pessah. Lần đầu tiên nàng gom đủ dũng khí để nhìn thẳng vào anh. Gương mặt, giọng nói, phong thái của người đàn ông ấy, hoàn toàn khác biệt với bất cứ ai nàng từng biết, vậy mà sao ở anh lại có thứ gì đó khiến nàng cảm thấy vô cùng thoải mái khi ở cạnh? Nàng tiếp tục trò chuyện, bị cuốn đi không cưỡng lại được bởi ánh nhìn ấm áp và thân thiện trong mắt anh.

“Tôi vẫn còn may mắn lắm đấy ạ. Tôi tự học tiếng Anh qua một cuốn sách dạy tiếng Anh cho người Do Thái, và một người ở trọ đã để lại cho tôi một cuốn sách tuyệt vời. Cứ mỗi lần bắt đầu đọc sách là tôi quên bẵng đi rằng mình đang ở trên cõi đời này. Nó chấp cánh cho tôi bay cao với những tư tưởng lớn.” Toàn bộ gương mặt và vóc dáng nàng bừng lên vẻ sống động khi nàng trút hết tâm can trước mặt anh.

“Thế nên ngay giữa chốn bần cùng và nhếch nhác này vẫn tồn tại ‘đôi cánh’ và ‘những tư tưởng lớn’,” anh trầm ngâm suy nghĩ. Lại thêm một tia chớp của kẻ mộng mơ—khát vọng vươn tới và bay cao muôn thủa, vốn là đặc trưng chủng tộc nổi bật của những người nhập cư Nga.

“Tên cuốn sách của cô là gì?” anh hỏi tiếp, tận dụng cơ hội do cuộc gặp gỡ định mệnh này mang lại.

“Đó là cuốn ‘Những giấc mơ’ của Olive Schreiner ạ.”

“Hừm,” anh ngẫm nghĩ. “Thế ra đây chính là ‘đôi cánh’ và ‘những tư tưởng lớn’. Thảo nào đôi má ấy lại ửng hồng—cơn bấn loạn ấy nữa. Quả là một cơ hội tuyệt vời cho một ca nghiên cứu tâm lý, và đồng thời mình cũng có thể giúp cô ấy bằng cách chỉ cho cô ấy lối thoát khỏi thứ cảm xúc mơ hồ này để đặt đôi chân vững chãi xuống mặt đất.” Anh nhanh chóng ghi chép trong đầu về một số cuốn sách sẽ đưa cho nàng đọc và tự hỏi nàng sẽ tiếp thu chúng ra sao.

“Cô có đi thư viện không?”

“Thư viện á? Sao cơ? Ở đâu ạ?”

Sự thiếu hụt kết nối của nàng với các cơ quan hỗ trợ người nhập cư khiến anh kinh ngạc.

“Khi nào đến đây ở, tôi sẽ dẫn cô đi thư viện,” anh nói.

“Ôi! Anh thực sự thích căn phòng này chứ?” Shenah Pessah vỗ tay trong một niềm vui sướng không thể kìm nén.

“Tôi rất thích căn phòng này, và tôi sẽ rất vui lòng nhận nó nếu cô có thể chuẩn bị sẵn sàng cho tôi vào tuần tới.”

Shenah Pessah ngước nhìn người đàn ông. “Ý anh là thế thật á? Anh thực sự muốn đến đây sống, ở cái nơi này ư? Bầu trời sắp sập xuống mặt đất mất thôi!”

“Sống ở đây ư?” Chắc chắn là anh sẽ sống ở đây rồi. Anh bỗng trở nên hào hứng. Nhưng đó là sự hào hứng của một nhà khoa học đối với mẫu vật thí nghiệm của mình—của một nhà điêu khắc đối với khối đất sét sẽ nên hình nên dạng dưới đôi bàn tay anh.

“Tôi sắp chuyển đến đây sống rồi—” Anh ngạc nhiên trước giọng điệu háo hức của chính mình, trước chất men niềm vui bất chợt dâng trào trong huyết quản. “Và tôi sẽ dạy cô đọc những cuốn sách hữu ích, loại sách sẽ giúp ích cho cô nhiều hơn là cuốn sách mơ mộng kia.”

Shenah Pessah nuốt trọn từng lời anh nói bằng một niềm vui sướng đan xen chút sợ hãi, sợ rằng người đàn ông này—biểu hiện hữu hình cho lời cầu nguyện được đáp thưa của nàng—sẽ biến mất bất cứ lúc nào và tan biến vào bầu trời nơi anh thuộc về. Với một bước nhảy nhanh về phía trước, nàng nắm chặt lấy tay anh bằng cả hai bàn tay mình. “Ôi, thưa ông! Ông có muốn dạy kèm tiếng Anh cho tôi luôn không? Đổi lại tôi sẽ giặt áo sơ mi cho ông. Thậm chí nếu ông chỉ trò chuyện với tôi thôi, điều đó đối với tôi còn có giá trị hơn tất cả những cuốn sách trên thế giới này.”

Theo bản năng, anh rụt tay lại trước sự bộc lộ tình cảm quá đỗi nồng nhiệt này. Đôi mắt anh nheo lại và câu trả lời được thốt ra một cách điềm tĩnh. “Ừ, cô nên học tiếng Anh,” anh nói, lấy lại giọng điệu chuyên nghiệp của mình, nhưng cô gái đang quá đỗi xúc động nên chẳng nhận ra sự thay đổi trong thái độ của anh.

“Đúng là thế,” anh tự nhủ trên đường bước ra ngoài. “Đó là toàn bộ bức tranh về người Do Thái gốc Nga—chiếc con lắc dao động từ sự khom lưng cúi đầu đến sự bạo dạn đến cùng cực.”

Shenah Pessah vẫn đứng đó, mỉm cười một mình sau khi ông Barnes rời đi. Nàng chẳng thể nhớ nổi mình đã nói những gì. Nàng chỉ cảm thấy bản thân đang xoay tít giữa không gian, cách mặt đất hàng triệu dặm. Vị thần của những giấc mơ đã đến và không gì trên đời này có thể giữ nàng lại dưới mặt đất được nữa.

Rồi nàng vội vã chạy trở xuống tầng hầm, cầm lấy mảnh gương vỡ để trên chiếc kệ sát bồn rửa mặt, ngắm nhìn khuôn mặt mình và cố gắng hình dung bản thân qua đôi mắt của anh.

“Có phải chỉ vì lòng thương hại mà anh ấy dừng lại nói chuyện với mình không? Hay là anh ấy đã nhìn thấu những gì ẩn chứa bên trong con người mình?”

Đôi mắt nàng hướng vào nội tâm khi nàng tiếp tục lẩm bẩm một mình trước gương.

“Lạy Chúa trên cao!” nàng cầu nguyện. “Bây giờ con chẳng là gì và chẳng là ai cả, nhưng chà! Con sẽ trở nên xinh đẹp biết bao nếu ánh sáng từ đôi mắt anh ấy chiếu rọi vào con!”

Lấy hai tay che khuôn mặt đang ửng đỏ như để kìm nén cơn bão khát vọng đang dâng trào trong lồng ngực, nàng tựa người vào tường. “Mày là ai mà dám mong mỏi một người đàn ông như thế?” nàng nức nở.

“Nhưng chẳng có ai là quá hèn kém để yêu mến Chúa, Đấng Tối Cao. Trong tình yêu chẳng có kẻ cao sang hay kẻ hèn mọn. Vậy cớ sao ta lại quá thấp hém để yêu anh ấy chứ?”

“Shenah Pessah!” tiếng cậu nàng gọi vang lên đầy giận dữ. “Mày đứng đực ra đó như con ngốc, mơ mộng hão huyền gì thế hả? Mày không nghe thấy mấy người thuê nhà đang đập ống nước đấy à? Họ đang gào lên đòi nước nóng kìa. Mày để lò sủi tắt ngấm rồi đấy.”

Nghe thấy giọng người cậu, mọi “tư tưởng lớn” của nàng bay biến sạch. Chỉ riêng lời nhắc nhở về cái lò sủi với tro tàn và than xỉ đã bóp nghẹt tinh thần phơi phới của nàng, và một lần nữa nàng lại bị đè nặng bởi cái ách ngột ngạt của cuộc sống thường nhật đáng ghét.

Đã tối mịt khi nàng làm xong mọi việc. Đáng ngạc nhiên là nàng không hề cảm thấy chút mệt mỏi quen thuộc nào. Cứ như thể đôi chân nàng đang nhún nhảy bên dưới. Rồi từ khung cửa bếp mở toang, nàng vô tình nghe thấy bà Melker, người làm mai mối, đang nói chuyện với cậu mình.

“Motkeh, lão bán cá, đang tìm vợ để nấu nướng cơm nước và chăm sóc con cái cho lão,” bà ta nói bằng giọng rít lên chói tai. “Thế nên tôi mới nghĩ đây là cơ hội vàng để Shenah Pessah chớp lấy. Cậu biết đấy, một đứa con gái ở cái tuổi này mà lại chẳng có lấy một đồng dính túi, đàn ông độc thân nào thèm liếc nhìn cơ chứ.”

Shenah Pessah rùng mình. Nàng muốn chạy trốn khỏi sự tra tấn nhục nhã từ những lời lẽ thấp hém ấy, nhưng một sự tò mò vô lý lại kéo nàng nán lại lắng nghe.

“Vật giá đắt đỏ lắm,” bà Melker nói tiếp, “đến nỗi đàn ông độc thân chẳng thèm lấy vợ dù là gái trẻ, trừ khi họ được vào một gia đình có tiền để làm vốn khởi nghiệp kinh doanh. Vẫn còn là may mắn cho Shenah Pessah đấy vì Motkeh thích ăn ngon mà lão thì ngấy tận cổ mấy bữa cơm hàng quán rồi. Lão nghe người ta đồn Shenah Pessah nấu ăn giỏi lại tháo vát nên mới cử tôi đến nói với cậu rằng lão sẽ cưới con bé nguyên trạng thế thôi, không cần một xu hồi môn.”

Bà Melker làm bộ đấm ngực đầy kịch tính.

“Tôi thề có quỷ thần chứng giám, nếu tôi điêu ngoa thì sống không qua nổi ngày mai, thề không sống để nhìn thấy con cái mình cưới vợ gả chồng, rằng tôi mai mối vụ án này chẳng vì vài đồng bạc lẻ mà lão Motkeh trả công đâu, mà chỉ vì muốn làm điều phước đức cho một đứa trẻ mồ côi tội nghiệp. Tôi cũng là một người mẹ, và trái tim tôi thắt lại khi nhìn thấy một đứa con gái trạc tuổi này mà vẫn chưa chịu lấy chồng.”

“Thế ai sẽ nấu cơm nước cho tôi ăn nếu tôi để nó đi?” cậu nàng giận dữ ngắt lời. “Rồi ai sẽ làm việc nhà thay nó? Chẳng phải tôi đã mất đứt năm mươi đô la để gửi vé sang Mỹ cho nó đấy ư? Chẳng lẽ tôi không được nhờ vả gì từ nó sau từng ấy tiền tôi đã bỏ ra lo cho nó sao?”

“Hãy nghĩ đến Chúa đi!” bà Melker quở trách. “Con bé là đứa mồ côi và thời gian đang trôi đi vùn vụt trước mắt nó. Cậu có muốn nó ngồi đó cho đến khi tóc bạc trắng mới chịu cho nó lấy chồng à? Sách Talmud có dạy rằng người ta sẵn sàng cắt miếng mồi cuối cùng trong miệng để giúp một đứa trẻ mồ côi lấy chồng cơ mà. Cậu hãy tự xin cho mình một chỗ trên thiên đường ở thế giới bên kia đi—”

“Ở nước Mỹ này người ta không thể sống bằng hy vọng ở thế giới bên kia được. Ở Mỹ ai nấy đều phải tự lo lấy thân. Tôi mà để nó đi thì phải bỏ luôn việc quản lý tòa nhà này, lúc đó thì tôi ra cái thớ gì nữa?”

“Cậu cũng sống gần hết đời rồi. Hãy cho nó một cơ hội ngẩng mặt lên với đời đi chứ. Cậu không thể tự vào viện dưỡng lão được à?”

“Thời buổi này vào viện dưỡng lão cũng phải có tiền đấy. Người ta nói rồi đấy, có bôi mỡ vào bánh xe thì xe mới chạy được. Tay không bắt giặc thì chẳng kiếm được gì ở nước Mỹ này đâu.”

“Thế ra cậu chẳng có chút lòng trắc ẩn nào với đứa cháu mồ côi và chính ruột thịt của mình sao? Suốt bao nhiêu năm tuổi trẻ nó phải chôn vùi trong tăm tối, và giờ đây khi chút ánh sáng vừa hé lộ cho nó, một người đàn ông có thể kiếm sống đàng hoàng muốn lấy nó—”

“Rồi ai sẽ thương hại tôi nếu tôi buông tay để nó đi? Mà cái lão Motkeh này là ai cơ chứ? Lão ta khá giả không? Tôi có chỗ nào để ngả cái đầu già nua này không? Gánh hàng rong của lão đang bày ở đâu cơ chứ?”

“Ở đường Essex gần phố Delancey.”

“Ôi chao! Ý cô là Motkeh Pelz đấy á? Chà, tôi biết lão ta từ mấy năm trước cơ. Người ta đồn vợ lão chết vì đói đấy. Bà ấy phải nhai cả đất đá trước khi xin được một xu từ tay lão. Ở với tôi ít ra Shenah Pessah còn được ăn no mặc ấm. Tôi hỏi cô, đáng đời lắm hay sao mà phải vớ lấy một thằng chồng để rồi chết đói vì nó hả?”

Shenah Pessah không thể nghe thêm được nữa.

“Cậu không phải lo lắng giùm con đâu ạ,” nàng vừa nói vừa xông xáo bước vào phòng. “Cậu đừng thương hại tuổi tác của con. Con đang sống ở Mỹ chứ không phải ở Nga. Con không bám víu vào cổ ai để người ta nuôi nấng mình đâu. Ở Mỹ, nếu một con gái tự kiếm sống được thì dẫu có năm mươi tuổi đầu mà vẫn chưa chồng, cũng chẳng ai thèm thương hại nó cả.”

Túm lấy chiếc khăn choàng, nàng lao ra đường. Nàng chẳng biết đôi chân đưa mình đi đâu nữa.

Nàng chỉ có duy nhất một khao khát—được rời đi. Một sự phản kháng dữ dội chống lại tất cả mọi người và mọi thứ đang cuộn trào trong lòng, thúc giục nàng cho đến khi nàng cảm thấy ngột ngạt vì căm hận.

Bỗng nhiên, nàng nhìn thấy một gương mặt và nghe thấy một giọng nói. Sự u tối và ngột ngạt đến nghẹt thở của chốn ngục tù càng lớn bao nhiêu, thì ánh sáng từ vị khách lạ kỳ diệu—người đã dừng chân trò chuyện với nàng dù chỉ chốc lát—lại rực rỡ bấy nhiêu. Cứ như thể giữa đáy vực tối tăm, bầu trời bỗng mở ra và những niềm hy vọng ẩn giấu bắt đầu cất tiếng ca.

Cậu nàng đã ngủ say khi nàng trở về. Dưới ánh đèn gas mờ ảo, nàng nhìn gương mặt hốc hác, vàng vủng vì nhọc nhằn của ông với một niềm trắc ẩn mới dâng tràn trong tim. “Lão già tội nghiệp!” nàng thưa thẩn nghĩ khi quay bước về phòng mình. “Chẳng có điều gì tốt đẹp từng xảy đến với ông ấy cả. Ngoài nỗi lo cơm áo gạo tiền ra thì ông ấy có gì trong đời chứ? Biết đâu đấy, giả như một vị thần như thế từng chiếu rọi vào đời ông ấy—” Nàng chìm vào giấc ngủ và tỉnh dậy với những ảo ảnh cứ thế nối tiếp nhau mở ra trước mắt về những thế giới tươi mới, ngập tràn niềm vui và hy vọng. Nàng bật dậy khỏi giường, cất cao tiếng hát—một bài hát mà nàng đã không còn được nghe kể từ hồi còn là đứa trẻ thơ trong ngôi nhà của mẹ.

Vài lần trong ngày, nàng lại bắt gặp chính mình đang đứng trước mảnh gương vỡ, dùng đôi bàn tay lóng ngóng để chải chuốt và bới lại mái tóc đen rối bù. Nàng run lên bần bật vì sự phấn khích đến nghẹt thở khi cố bắt chước kiểu tóc bồng bềnh của cô con gái nhà chủ trọ—người vốn có rất nhiều kẻ theo đuổi.

Lần đầu tiên nàng nhận ra quần áo của mình mới tơi tả và quê mùa làm sao. “Ôi chao!” nàng vặn xoắn hai bàn tay vào nhau. “Tôi sẵn sàng dâng hiến mọi thứ trên đời chỉ để có một bộ cánh thật đẹp diện cho anh ấy ngắm. Cả cuộc đời tôi giờ đây phụ thuộc vào việc tôi trông sẽ thế nào trong đôi mắt anh. Tôi phải có một chiếc mũ và một bộ váy mới. Tôi không thể cứ mãi quàng cái khăn choàng ‘nhà quê’ mỗi khi đi chơi với một người Mỹ được.”

“Nhưng lấy đâu ra tiền mua quần áo mới chứ? Ôi chao! Thật cay đắng làm sao khi không có nổi một đồng trong tay! Khổ thân tôi! Không mẹ, không bạn bè, chẳng có ai giúp tôi ngóc đầu lên khỏi đống giẻ rách nhà quê này.”

“Sao không đem cầm chiếc đệm lông vũ mà mẹ để lại cho mày?” Nàng giật mình trước ý nghĩ đó.

“Cái gì? Mày không có tim à? Không có cảm xúc chắc? Lại đem cầm món đồ duy nhất còn sót lại của người mẹ đã khuất ư?”

“Tại sao lại không? Chẳng có gì là quá đắt đỏ đối với anh ấy cả. Giả như mẹ mày có thể chui lên từ nấm mồ, bà ấy cũng sẵn sàng tự băm vẩy thân mình, sẵn sàng giật tung mặt trời và những vì sao trên bầu trời xuống để làm cho mày trở nên thật xinh đẹp trước mặt anh ta.”

Đêm muộn hôm ấy, Zaretsky đang ngồi trong tiệm cầm đồ, mải miết đếm số tiền kiếm được trong ngày, thì Shenah Pessah, với chiếc khăn choàng trùm đầu và một bọc đồ lớn trên vai, rụt rè lách mình bước vào cửa hàng. Đặt món đồ hy sinh của mình lên quầy, nàng đứng ngây ra và lo lắng vò vò mấy tua rua trên khăn choàng.

Lão chủ tiệm cầm đồ ngẩng khuôn mặt bủn xỉn của mình khỏi hộp đựng tiền và liếc nhanh vào dáng người đang run rẩy của cô gái.

“Nu?” Zaretsky cất giọng khàn đục, cắt sợi dây thừng buộc bọc đồ và giở chiếc đệm lông vũ ra. Bàn tay lão sờ nắn và nhận ra đó là loại lông vũ thượng hạng nhất. “Mày đòi giá bao nhiêu?”

Ánh nhìn quỷ quái và sắc sảo của lão khiến nàng tê liệt vì sợ hãi. Cổ họng nàng nghẹn đắng và nàng ngập ngừng không thốt nên lời.

“Ta trả năm đô la,” Zaretsky nói.

“Năm đô la?” Shenah Pessah thảng thốt kêu lên. Đôi bàn tay nàng vội vã đưa lại về phía chiếc đệm lông vũ, những ngón tay bấu chặt lấy nó như thể đó là một sinh sống. Nàng hoảng loạn đảo mắt nhìn căn phòng tối tăm của tiệm cầm đồ với những món trang sức giả rẻ tiền trong tủ kính; những chồng quần áo cũ treo lủng lẳng trên đầu, rồi dừng lại ở khuôn mặt ghê rợn của chủ tiệm. Tiếng tích tắc kỳ dị phát ra từ những chiếc đồng hồ rẻ tiền trên kệ phía sau Zaretsky, đối với nàng giống như tiếng tim đập nghẹn ngào của những con người cũng từng bị dồn ép phải mang những vật quý giá cuối cùng ra đổi lấy vài đồng bạc lẻ giống như nàng.

“Mày mang đi cầm cho chính mày đấy à?” lão hỏi, có chút xao động kỳ lạ trước nỗi đau đớn câm lặng trong đôi mắt cô gái. Cái nhà xác chứa đầy những vật dụng đã chết này từng chứng kiến số phận của biết bao nạn nhân đáng thương của đómi khát. Nhưng chưa bao giờ Zaretsky lại bị dao động đến thế. Người ta thường mặc cả, phản kháng và tranh đấu với lão trên sân nhà của lão. Nhưng sự bất lực đến câm lặng của cô gái này cùng việc cô tìm đến lão vào một giờ muộn màng thế này đã chạm đến trái tim người đàn ông.

“Cho chính mày à?” lão lặp lại với giọng điệu dịu xuống.

Sắc thái cảm xúc mới mẻ trong giọng nói của lão khiến nàng ngẩng đầu lên. Vẻ mặt lạnh lùng, xảo quyệt của lão đã nhường chỗ cho một nét thương cảm.

“Vâng, của tôi, từ mẹ tôi để lại,” nàng lắp bắp, giọng đứt quãng. “Kỷ niệm cuối cùng từ nước Nga. Mẹ tôi đã phải mất bao nhiêu mùa đông mới nhặt nhạnh đủ lông vũ. Mẹ bắt đầu làm từ khi tôi còn là một đứa bé đỏ hỏn trong nôi—và—” Nàng lấy khăn choàng che mặt và nức nở.

“Có ai ốm đau à? Sao lại phải đem cầm?”

Nàng ngước khuôn mặt đẫm nước mắt lên nhìn lão đầy câm lặng. Làm sao nàng có thể giải thích và làm sao lão có thể hiểu nổi khao khát cuồng dại đến đột ngột của nàng về quần áo chứ?

Zaretsky cảm thấy mình vừa có chút vụng về và thiếu tế nhị, vội vàng nói thêm: “Nu—ta cho mày—mười—mười đô la,” lão chốt lại bằng một cái khoát tay, như thể đang xua đi sự hào phóng bỗng dưng trỗi dậy trong lòng.

“Ôi, thưa ông!” Shenah Pessah kêu lên khi người đàn ông trao tờ tiền cho nàng. “Ông cứu mạng tôi rồi! Chúa sẽ ban phước cho lòng tốt của ông.” Và vo tròn tờ tiền trong tay, nàng vội vã hân hoan chạy trở về nhà.

Tối hôm sau, ngay khi vừa tan việc, Shenah Pessah rảo bước thật nhanh qua những con phố thuộc khu Do Thái, tìm kiếm trong muôn vàn ô cửa sổ trưng bày rực rỡ sắc màu chiếc mũ duy nhất và chiếc váy duy nhất có thể nói lên khát vọng thẳm sâu trong lòng nàng. Cuối cùng, nàng phát hiện ra một chiếc mũ bằng rơm bóng loáng gắn những quả anh đào đỏ mọng nước đến mức như đang gọi mời nàng: “Hãy cắn tôi đi!” Đó chính là chiếc chiếc mũ mà nàng đã mua.

Phép màu từ những quả anh đào trên mũ đã đưa nàng trở về với những cánh đồng xanh mướt và những vườn cây trái ở quê hương nước Nga. Đúng vậy, một chiếc váy xanh chính là thứ nàng khao khát. Và nàng đã chọn được loại vải organdie xanh nhất, giòn giã nhất.

Đêm hôm ấy, khi mặc lên mình bộ trang phục yêu kiều, nàng vô vọng cố gắng ngắm mình từ đầu đến chân, nhưng mảnh gương vỡ nhỏ bé mà nàng có chỉ có thể phản chiếu từng phần rực rỡ trên cơ thể nàng. Quần áo như đang ôm ấp nàng trong những ngọn lửa khát khao cứ thế bùng cháy nối tiếp nhau. “Chỉ để được xinh đẹp! Chỉ để được xinh đẹp!” nàng thì thầm không ra hơi. “Không phải cho bản thân mình, mà là vì anh ấy.”

Thời gian dường như ngưng đọng đối với Shenah Pessah khi nàng đếm từng ngày, từng giờ, từng phút chờ đợi sự xuất hiện của John Barnes. Cuối cùng, qua khung cửa sổ tầng hầm, nàng nhìn thấy anh bước lên bậc thềm trước nhà. Nàng rất muốn chạy ra lao vào lòng anh, gục xuống chân anh và thốt lên rằng nàng đã mòn mỏi ngóng chờ anh với một trái tim khao khát đến nhường nào. Nhưng sự mãnh liệt của nỗi nhớ mong lại khiến nàng kiệt sức và câm lặng.

Anh bước qua để vào phòng. Lát sau, nàng lại thấy anh bước ra mà thậm chí không thèm dừng lại nhìn nàng lấy một cái. Ngày hôm sau và ngày hôm sau nữa, nàng vẫn lặng lẽ dõi theo anh từ góc khuất khi anh đi ra đi vào tòa nhà, nhưng anh vẫn chẳng hề đến tìm nàng.

Ôi, thật ngọt ngào làm sao khi được chịu đựng nỗi đau đớn chính vì sự thờ ơ của anh đối với nàng! Nàng tự hào về vóc dáng cao lớn của anh—thứ khiến anh hoàn toàn không hay biết gì về sự tồn tại của nàng. Chỉ cần được thoáng nhìn thấy anh từ đằng xa cũng đã là quá đủ đối với đôi mắt sùng kính của nàng rồi. Nàng là gì đối với anh chứ? Chẳng lẽ nàng lại mong anh phải chào hỏi những bậc thềm mà anh bước lên? Hay để ý đến cánh cửa mở toang vì anh? Suy cho cùng, nàng cũng chỉ là một phần của ngôi nhà này mà thôi. Vậy cớ gì anh phải để ý đến nàng chứ? Nàng chính là những bậc thềm mà anh bước qua. Nàng là cánh cửa mở ra vì anh. Và anh nào có hay biết điều đó.

Bốn buổi tối liên tiếp, kể từ khi John Barnes dọn đến ngôi nhà này sinh sống, Shenah Pessah đều xúng xính trong bộ đồ mới và mòn mỏi chờ đợi. Chẳng phải là một phép màu hay sao khi anh đã đến vào lần đầu tiên khi nàng còn chẳng mảy may mơ tưởng rằng anh có mặt trên đời này? Vậy cớ gì phép màu ấy lại không thể lặp lại lần nữa? Tuy nhiên, vào buổi tối này, nàng đã kiệt sức vì sự tuyệt vọng của nỗi khát khao đến mức chẳng còn chút năng lượng nào để diện những món đồ trang sức lên người.

Bỗng nhiên, nàng giật mình bừng tỉnh khỏi cơn mê mẩn bởi một tiếng gõ nhịp nhàng lên khung cửa sổ. “Tối mai đi thư viện nhé?” John Barnes hỏi.

“Ôi! Vâng ạ! Cảm ơn anh—” nàng lắp bắp trong sự bối rối.

“Vậy tối mai nhé, lúc bảy giờ. Cảm ơn cô.” Anh vội vã bước đi vì ngượng ngùng trước ánh nhìn biết ơn đang tỏa sáng từ đôi mắt nàng. Ánh mắt ấy cứ ám ảnh và làm tim anh nhói đau. Đó là ánh nhìn van nài của một chú chó vô gia chủ, đang tha thiết cầu xin được chú ý. “Cô bé nhập cư tội nghiệp,” anh thầm nghĩ, “cô ấy hẳn phải cô đơn lắm!”

“Thế là anh ấy không quên,” Shenah Pessah hân hoan sung sướng. “Chỉ riêng âm thanh từ giọng nói của anh ấy thôi cũng đủ mở toang bầu trời trong tim tôi rồi! Sự chết chóc và trống rỗng trong tôi bỗng bùng cháy thành sự sống! Chà! Mặt trời lại bắt đầu tỏa sáng rồi kìa!”

Trước giờ hẹn một tiếng, Shenah Pessah đã diện tất cả những xiêm y lộng lẫy nhất để đón John Barnes. Nàng đẩy tung cánh cửa, đứng sẵn sàng và dán mắt vào chiếc đồng hồ nhỏ trên bệ lò sưởi. Từng nhịp tích tắc dường như đang đập rộn ràng cùng với biết bao niềm hy vọng không thể thốt thành lời bị nén chặt trong lồng ngực nàng, cùng suốt những năm tháng câm lặng của một cuộc đời bị bóp nghẹt. Mỗi một tiếng thịch nhỏ của thời gian lại cất lên khúc ca hoang dại của niềm vui được giải thoát—niềm vui vì anh đang đến gần hơn.

Lần thứ mười, Shenah Pessah nhẩm lại trong đầu những gì nàng sẽ nói với anh khi anh đến.

“Thật là tử tế biết bao khi anh đã bớt chút thời gian quý báu của mình để—để—”

“Không—câu đó nghe không ổn lắm. Mình sẽ bắt đầu thế này—Anh Barnes! Em không sao diễn tả hết bằng lời sự tử tế của anh, khi anh đã tạm gác lại những tư tưởng lớn để—để—”

“Không—không! Ôi chao! Lạy Chúa trên cao! Sao việc nói cho anh ấy hiểu ý mình lại khó khăn đến thế? Sao mình không thể nói thẳng thừng ra với anh ấy rằng—Anh Barnes! Anh là thiên thần từ trên trời giáng xuống! Anh đang cứu vớt cuộc đời em chỉ bằng việc cho phép em được ngắm nhìn anh! Em hạnh phúc hơn cả chú chim bay lượn trên trời khi nghĩ rằng một người tốt đẹp như anh—”

Tiếng chuông cửa đột ngột reo lên làm tan vỡ mọi câu chữ mà nàng đã công phu chuẩn bị, và nàng đón chào anh trong một cơn bấn loạn đầy ngượng ngùng.

“Ôi! Trông cô rực rỡ hẳn lên kể từ tối qua đấy!” ông Barnes thốt lên, ngạc nhiên trước vẻ rực rỡ đầy màu sắc của Shenah Pessah.

“Vâng,” nàng đỏ bừng mặt, ngước khuôn mặt rạng ngời lên nhìn anh. “Tôi từ giã vĩnh viễn những chiếc khăn choàng của mấy bà già rồi. Đây là bộ đồ diện theo kiểu Mỹ đầu tiên của tôi đấy ạ.”

“Tuyệt vời! Vậy là cô muốn trở thành một người Mỹ nhé! Bước tiếp theo sẽ là tìm một công việc nào đó giúp cô hòa nhập với những người Mỹ.”

“Vâng. Anh sẽ giúp tôi chứ? Vâng nhé?” Đôi mắt nàng tìm kiếm mắt anh với một sự khẩn khoản tin tưởng tuyệt đối.

“Cô đã bao giờ nghĩ xem mình muốn làm loại công việc gì chưa?” anh hỏi khi hai người bước ra đường phố.

“Chưa ạ—tôi chỉ muốn thoát khỏi cái tầng hầm đó thôi. Tôi khát khao được tiếp xúc với mọi người lắm rồi.”

“Cô có muốn học một nghề trong nhà máy không?”

“Làm gì cũng được—gì cũng được ạ! Tôi đang khát khao được học hỏi đây. Xin hãy cho tôi một lời khuyên đi. Gì cũng được ạ?”

“Cô làm việc gì bằng đôi tay là thạo nhất?”

“Bằng đôi tay thì việc nào mà chẳng như nhau. Hay là anh nghĩ bây giờ tôi có thể bắt đầu làm việc gì đó bằng trí óc được rồi nhỉ? Vâng?”

“Chúng ta sẽ sớm bàn về chuyện này, sau khi cô đọc xong một cuốn sách hướng dẫn cách tìm ra công việc phù hợp nhất với bản năng của mình.”

Khi bước vào thư viện, Shenah Pessah khựng lại đầy kính sợ. “Một sự tĩnh lặng ngập tràn suy ngẫm làm sao! Đẹp quá, nó ùa vào tôi cứ như một bản âm hưởng vậy!”

“Ừ. Nơi này quả thực rất tuyệt,” anh đồng tình, một lần nữa nhìn nhận thư viện công cộng dưới một lăng kính hoàn toàn mới thông qua đôi mắt của nàng. “Một số bộ óc vĩ đại nhất đã chung tay tạo ra chính nơi này đấy.”

“Sao mấy cô thủ thư trông điềm tĩnh hệt như những món đồ vậy kìa.”

“Đúng thế,” anh đáp, liếc nhìn nàng đầy ẩn ý. “Tôi cũng thích ngắm nhìn khuôn mặt của một người phụ nữ vượt lên trên những bộ xiêm y mà cô ấy mặc.”

Sự xuất hiện của cô thủ thư đã cắt ngang cuộc trò chuyện. Trong lúc ông Barnes điền vào phiếu đăng ký, Shenah Pessah để ý đến trang phục giản dị của cô thủ thư. “Ý anh ấy là gì khi nói khuôn mặt phụ nữ vượt lên trên quần áo nhỉ?” nàng tự hỏi. Và bóng tối đầu tiên của sự hoài nghi xẹt qua tâm trí nàng, rằng liệu bộ cánh mà nàng tốn bao tiền mua sắm có vừa mắt anh hay không. Qua vài câu ngắn ngủi trao đổi giữa ông Barnes và cô thủ thư, Shenah Pessah linh cảm rằng hai con người này thuộc về cùng một thế giới, còn nàng thì khác biệt. Lần đầu tiên tiếp xúc với anh trong một căn phòng sáng trưng ánh điện khiến nàng nhận thức được rằng “con người ta còn có những thứ khác quan trọng hơn là quần áo diện trên người”. Nàng để ý thấy đôi bàn tay được chăm chút sạch sẽ của họ trên mặt bàn và chợt nhận ra đôi bàn tay của chính mình thì thô ráp và đầy vết chai sần. Đó là lý do nàng cảm thấy những móng tay lấm lem của mình rụt lại một cách ngượng ngùng để giấu đi khi cầm bút ký tên.

Khi họ bước ra ngoài đường phố lần nữa, anh quay sang nàng và bảo: “Nếu cô không phiền, tôi thích đi bộ về hơn. Đêm nay trời đẹp quá mà cả ngày tôi cứ phải ngồi trong căn phòng ngột ngạt.”

“Tôi không phiền đâu”—những từ ấy vang vọng trong lòng nàng.

Giá mà anh biết rằng trên đời này nàng khao khát buổi đi bộ này đến nhường nào.

“Ở trong đó tuyệt thật, nhưng mấy ngọn đèn điện cứ như hàng trăm con mắt đang săm soi dò xét vậy. Ra ngoài đường thế này dễ chịu hơn với tôi. Bóng tối che chở cho mình kỹ quá cơ.”

Anh bật cười, cảm thấy sảng khoái trước sự bộc lộ bản thân một cách vô thức của nàng.

“Chừng nào cô còn cảm thấy thoải mái với bản thân, chúng ta cứ đi bộ ra phía cầu tàu nhé.”

“Trong lòng tôi cứ có cảm giác như đang được đi nghỉ lễ vậy đấy,” nàng tíu tít nói khi anh cầm tay nàng để qua đường. “Bây giờ tôi mới thực sự nhìn thấy nước Mỹ đấy!”

Mọi thứ đối với Barnes thật kỳ diệu biết bao khi giữa chốn bụi bặm và ồn ào của khu ổ chuột đông đúc này, người phụ nữ từng đầu tắt mặt tối ấy lại có thể biến hóa thành một sinh vật tràn đầy sức sống và niềm vui nhường này. Ngay cả trang phục của nàng—vào khoảnh khắc trước còn có vẻ quá táo bạo và loè loẹt—giờ đây lại hòa hợp một cách khó tả với bầu không khí lễ hội mà anh cảm thấy đang ngập tràn trong lòng.

Khi họ đến gần cầu tàu, anh chợt ngẫm nghĩ một cách kỳ lạ về thực tế rằng trong số hàng ngàn cô gái nhập cư nghèo khó mà anh hoàn toàn có thể giúp đỡ, thì sinh vật trẻ tuổi đầy nhiệt huyết đang sánh bước bên anh đây lại được định đoạt bởi một cơ duyên kỳ lạ nào đó để bước vào sự bảo bọc cá nhân của anh.

“Cô bảo mình đã đến đất nước này được bao lâu rồi nhỉ, Shenah Pessah?”

“Bao lâu á?” Nàng lặp lại lời anh như thể vừa bừng tỉnh sau một giấc chiêm bao. “Đã hai năm rồi ạ. Nhưng khoảng thời gian đó chẳng tính là sống. Kể từ bây giờ tôi mới thực sự được sống.”

“Và ý cô muốn nói là trong suốt quãng thời gian ấy, chưa có ai dắt tay cô và chỉ cho cô những lề lối của đất nước chúng ta ư? Thật là đáng tiếc làm sao!”

“Trước kia tôi chẳng có gì cả, và cũng chẳng có ai. Nhưng bây giờ—cả mặt đất này đang nhún nhảy dưới chân tôi! Trong lòng tôi cảm giác còn tuyệt vời hơn cả những giấc mơ!”

Anh đắm chìm trong niềm vui thuần khiết ánh lên từ đôi mắt nàng. Khoảnh khắc ấy, cô gái bên cạnh anh chính là hiện thân rực rỡ của mùa xuân.

“Anh ấy thấu hiểu cho mình,” nàng hân hoan thầm nghĩ khi hai người tiếp tục bước đi trong im lặng. Sự dịu dàng từ lòng trắc ẩn của anh bao bọc lấy nàng như một thứ hơi ấm phước lành.

Khi họ đến cuối cầu tàu, cả hai dừng lại ngắm nhìn ánh trăng lấp loáng trên mặt nước. Nắng che khuất sau một chiếc xe tải lớn, họ cảm thấy được che chở một cách kín đáo khỏi những ánh mắt tò mò của những kẻ lang thang gần đó.

Vóc dáng anh mới vạm vỡ làm sao khi đứng nổi bật giữa màn đêm xanh thẳm! Lần đầu tiên Shenah Pessah chú ý đến bờ vai thẳng tắp tuyệt đẹp của anh. Sự trẻ trung sạch sẽ và rạng rỡ tỏa ra từ anh thu hút nàng như một thứ bùa mê.

“Chà! Chỉ ước sao giữ mãi được trong tim mình sự tử tế, nét thanh lịch đang tỏa sáng từ gương mặt anh ấy,” Shenah Pessah nghĩ thầm, theo bản năng rúc sát vào anh hơn.

“Cô bé nhập cư tội nghiệp!” John Barnes thì thầm. “Cuộc đời cô hẳn đã cô đơn và khô cằn biết bao cho đến tận khi—” Trong một phút bốc bồng của lòng trắc ẩn, vòng tay anh mở rộng ra và Shenah Pessah cảm thấy tâm hồn mình ngất ngây trong cơn cuồng hoan khi anh kéo nàng vào lòng.

Đã ba ngày trôi qua kể từ buổi tối đáng nhớ trên cầu tàu và Shenah Pessah vẫn chưa gặp lại John Barnes. Anh đã biến mất tựa như một giấc mơ, vậy mà anh lại không hề là giấc mơ. Anh là thứ duy nhất chân thực giữa sự trống rỗng phi thực tế của một cuộc đời chưa từng được sống. Nàng nhắm mắt lại và lại nhìn thấy gương mặt anh với nụ cười mang lại niềm vui. Nàng lại nghe thấy giọng nói của anh và cảm nhận được vòng tay anh siết chặt lấy mình khi anh đặt lên môi nàng nụ hôn. Rồi giữa khung cảnh mộng mơ ngọt ngào nhất ấy, một sự trống rỗng gặm nhấm lấy nàng và nỗi đau đớn tàn nhẫn của tình yêu bị tước đoạt đã vắt kiệt tất cả những cảm xúc tuyệt đẹp mà sự hiện diện của anh từng khơi gợi. Thỉnh thoảng, những ký ức về những lời ve vãn đầy trắc ẩn của anh lại xẹt qua tâm trí đang bấn loạn của nàng: “Cô bé nhập cư tội nghiệp và cô đơn!” Và nàng cảm thấy những lời ngọt ngào ấy đâm phập vào da thịt mình với sự chế giễu tàn nhẫn.

Nàng quay cuồng làm việc với một sự bồn chồn không yên. Ở mỗi bước chân, mỗi âm thanh vang lên, nàng lại giật bắn mình: “Biết đâu là anh ấy! Biết đâu lại là anh ấy!” Đêm đến nàng chẳng thể chợp mắt nổi, cứ ngồi bật dậy trên giường để viết rồi lại xé phăng những bức thư gửi cho anh. Cách duy nhất để dập tắt cơn bão đang quật ngã tâm can nàng là cố gắng nói cho anh biết rằng từng nhịp đập trong lồng ngực nàng đang khát khao anh nhường nào, nhưng tiếng kêu gào xé lòng nhất mà nàng thốt ra cũng chỉ khiến tim nàng thêm nhói đau trước sự bất lực của ngôn từ.

Trong tuần ấy, Shenah Pessah có nhiệm vụ dọn dẹp phòng của bà Stein. Điều này đưa nàng đến căn phòng trọ của ông Barnes khi anh vắng nhà. Nàng ngẩn ngơ ngắm nghía xung quanh, gọi về hình bóng anh qua những vật dụng thuộc về anh.

“Mọi thứ của anh ấy chạm vào mới dịu êm làm sao,” nàng thở dài, âu yếm áp má vào chiếc áo choàng tắm của anh. Với bàn tay rụt rè, nàng nhặt một chiếc dép để cạnh giường anh lên và cung kính áp nó vào ngực mình. “Ước gì mình chỉ là món đồ bằng da này để được nâng niu đôi chân anh ấy!” Rồi nàng quay sang bàn trang điểm của anh, mơn trớn lướt đôi tay qua những món đồ bằng ngà voi trên đó. “Chà! Chiếc bàn chải may mắn làm sao—ngày nào cũng được vuốt ve mái tóc anh ấy!”

Bỗng nhiên nàng nghe thấy tiếng bước chân, và trước khi kịp định thần lại, anh đã bước vào. Toàn bộ con người nàng bừng sáng lên trong niềm vui vì sự trở lại của anh. Nhưng chỉ một cái liếc nhìn anh đã phơi bày cho nàng thấy vẻ mặt sa sầm đang che phủ gương mặt anh. Hai tay anh buông thõng bên sườn—đôi vòng tay mà nàng hằng mong đợi sẽ vươn ra ôm trọn lấy nàng. Cứ như thể vừa phải nhận một cái tát phũ phàng từ sự cự tuyệt nhẫn tâm của anh, nàng hoảng hốt cắm cổ chạy vụt ra ngoài.

“Xin chờ một phút đã,” anh cố gắng níu nàng lại. “Với tư cách là một người đàn ông quân tử, tôi nợ cô một lời xin lỗi. Đêm hôm đó—đó chỉ là khoảnh khắc lỡ lãng quên. Sẽ không có chuyện đó tái diễn nữa đâu—”

Chưa để anh nói dứt câu, nàng đã chạy thốc chạy tháo đi, bị thiêu đốt bởi nỗi nhục nhã từ những lời nói của anh.

“Lạy Chúa!” anh thốt lên khi nhận ra mình chỉ có một mình. “Ai mà thèm ngờ là cô ấy lại phản ứng mạnh thế chứ? Chắc chẳng có ích gì khi cố giải thích cho cô ấy nữa.”

Anh ngồi thừ trên giường một lúc lâu, vẻ mặt đầy hối hận. Rồi tung người đứng dậy, anh vội vã nhét đồ đạc vào chiếc va-li. “Mày đúng là đồ tồi nếu không dọn xéo khỏi đây ngay lập tức,” anh tự lẩm bẩm với chính mình. “Dù cuộc nghiên cứu khoa học này có giá trị đến đâu đi nữa, mày cũng không thể để cô gái ấy tự phá hủy tương lai của mình như thế được.”

Shenah Pessah đang đứng bên cửa sổ khi nhìn thấy John Barnes xách va-li bước đi.

“Nhân danh Chúa, xin đừng bỏ em!” nàng khao khát được gào lên. “Anh là tia sáng duy nhất mà em từng có, và giờ đây mọi thứ đối với mắt em sẽ còn tăm tối và trống rỗng hơn bao giờ hết!” Nhưng chẳng có âm thanh nào cất lên nổi từ đôi môi khô khốc của nàng. Nàng cảm thấy một cơn choáng váng đánh úp các giác quan, tựa như có ai vừa cứa đứt động mạch cổ tay khiến toàn bộ máu trong cơ thể trào ra hết.

“Ôi chao!” nàng rên rỉ. “Thế ra tất cả đối với anh ấy chẳng là gì cả. Sao anh ấy lại nỡ làm đắng cay thêm chút ngọt ngào vốn còn quý giá hơn cả sinh mạng của tôi? Thế nào là một người đàn ông quân tử chứ?

“Sao anh ấy lại sỉ nhục tôi khi nói rằng anh ấy chẳng có ý gì cơ chứ? Có phải vì tôi không phải là một tiểu thư đài các giống như anh ấy không? Chẳng lẽ một quý ông chỉ là một kẻ mang lớp mặt nạ giả tạo thôi sao?”

Với một sự quyết tâm đầy thách thức, nàng xốc lại tinh thần và đứng thẳng dậy. “Hãy cho anh ta thấy con người thực sự bên trong mày đi. Dù phải mất một năm, hay cả triệu năm đi nữa, mày cũng phải chứng minh cho anh ta thấy mày là một con người thực sự. Từ bây giờ trở đi, mày có lý do để mà sống. Mày phải lao động không phải bằng sức lực của một cơ thể và một bộ óc, mà bằng sức mạnh của hàng triệu cơ thể và hàng triệu bộ óc. Ngày qua ngày, đêm qua đêm, mày phải vươn lên, tự phấn đấu vươn lên cho đến khi bắt kịp anh ta và có thể nhìn thẳng vào mặt anh ta ngang hàng đối mặt.”

Kiệt sức vì sự hừng hực của niềm tự tôn mới mẻ ấy, nàng ngồi gục đầu trong hai tay với một cơn mê man đờ đẫn. Dần dần, bóng tối trong tâm hồn nàng tan biến và một sự bình yên đầy tha thiết len lỏi bao trùm lấy nàng. Nàng ngước khuôn mặt lên hướng về tia nắng đơn độc đang len lỏi chiếu vào căn phòng tầng hầm của mình.

“Dẫu sao đi nữa, anh ấy đã làm cho mày nhiều hơn những gì mày có thể làm cho chính mình. Mày mang ơn anh ấy điều sâu sắc nhất, cao cả nhất mà anh ấy đã đánh thức bên trong con người mày. Anh ấy đã chắp cho tâm hồn mày đôi cánh.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.