Những Trái Tim Khao Khát

Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần I

❊ ❊ ❊

Mỗi hơi thở tôi hít vào đều đượm nỗi sợ hãi, mỗi cái bóng mang lại cú sốc nghẹt thở, và mỗi tiếng bước chân nện xuống vang lên trong lồng ngực tôi chẳng khác nào tiếng ủng nặng nề của lính Cô-dắc.

Trên chiếc ghế đẩu thấp ở giữa căn phòng duy nhất trong căn lán đất của chúng tôi, cha tôi đang ngồi — bộ râu đỏ rủ xuống cuốn Kinh thánh Ê-sai đang mở trước mặt. Trên chiếc lò sưởi lát gạch, trên những chiếc ghế dài vốn là giường ngủ của chúng tôi, thậm chí trên cả nền đất, lũ trẻ hàng xóm đang ngồi quây quần để học thứ thơ ca cổ xưa của dòng dõi người Hê-brơ từ ngài.

Khi người xướng lên, lũ trẻ đồng thanh nhắc lại:

“Có tiếng người hô trong đồng vắng:

Hãy dọn đường cho Đức Giê-hô-va,

Đắp sửa trong nơi đồng khô hẻo lánh một con đường cái cho Đức Chúa Trời chúng ta.

Mọi thũng lũng sẽ được nâng cao,

Mọi núi mọi gò sẽ bị hạ xuống,

Chỗ gồ ghề sẽ làm cho bằng,

Và chỗ lồi lõm sẽ làm cho phẳng.

Bấy giờ sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va sẽ được bày tỏ,

Và mọi xác thịt đều sẽ cùng thấy.”

Không hề bận tâm trước tiếng đọc và xướng kinh nhịp nhàng của thầy trò, mái Kakah già — con gà mái đốm của chúng tôi — cùng bầy gà con đang tha thẩn mổ những vỏ khoai tây rơi từ lòng mẹ tôi xuống trong lúc bà chuẩn bị bữa trưa.

Tôi đứng bên cửa sổ canh chừng con đường, sợ lính Cô-dắc bất ngờ ập đến để thi hành sắc lệnh của Sa-hoàng — thứ sắc lệnh sẽ cướp đi miếng ăn từ miệng chúng tôi: “Không được tổ chức lớp học Chadir [trường học Hê-brơ] trong căn phòng dùng để nấu nướng và ngủ nghỉ.”

Một con mắt tôi hau háu dõi theo mẹ đang cắt những khúc bánh mì đen. Cuối cùng khoai tây cũng chín. Bà đổ khoai từ nồi gang ra một cái thau gỗ rồi đặt vào giữa bàn.

Lập tức tiếng đọc và xướng kinh im bặt, lũ trẻ ùa lao tới. Nỗi sợ lính Cô-dắc bị quét sạch khỏi tâm trí tôi bởi nỗi sợ rằng lũ trẻ sẽ ăn mất củ khoai của tôi phần tôi.

Lính gác liền bỏ nhiệm vụ. Với một tiếng hò reo vui sướng, tôi vồ lấy phần của mình và cắn một miếng thật to thứ quà ngon lành bùi bở ấy.

Đúng lúc đó, cánh cửa bị đạp tung bởi một cú đá gót sắt. Chiếc roi da của lính Cô-dắc vút qua không trung. Chúng tôi thét lên và tán loạn chạy trốn.

Lũ trẻ chạy ùa ra ngoài — và kế sinh nhai của chúng tôi cũng mất theo chúng.

“Oi weh,” mẹ tôi khóc thét lên, tay ôm ngực, “liệu có một Đức Chúa Trời ở trên cao — Đấng đang chứng kiến tất cả những điều này không?”

Với đôi mắt nhòa lệ vì đau đớn, cha tôi lầm rầm một lời cầu nguyện đứt quãng khi tên lính Cô-dắc sầm sập đọc lớn sắc lệnh: “Phạt một nghin rúp hoặc một năm tù giam nếu còn bị phát hiện dạy học ở nơi ăn chốn ngủ.”

“Gottuniu!” mẹ tôi khẩn nài, “các người muốn lột cả lớp da cuối cùng trên xương thịt chúng tôi sao? Chúng tôi còn có thể ăn ngủ ở đâu khác? Hay là phải dựng lớp chadir giữa đường cái? Chúng tôi có những ngôi nhà với các phòng riêng biệt như Sa-hoàng chắc?”

Phớt lờ những lời nài nỉ của mẹ tôi, tên lính Cô-dắc sải bước rời khỏi căn lán. Cha tôi sụp xuống ghế, đầu cúi gằm trong nỗi buồn câm lặng của kẻ bất lực.

“Hỡi Chúa của thế gian” — mẹ tôi vắt tay — “nào có hồi kết cho những khốn khổ của chúng ta? Đến bao giờ lòng đất mới che chở cho tôi và những nỗi muộn phiền này?”

Tôi nhìn theo tên lính Cô-dắc khuất dần cuối con đường. Bỗng nhiên, tôi thấy cả làng đang chạy về phía chúng tôi. Tôi kéo mẹ ra cửa sổ để nhìn đám đông đang tới gần.

“Gewalt! Lại chuyện tai họa gì giáng xuống đầu chúng tôi nữa đây?” bà kêu lên đầy hoảng hốt.

Masheh Mindel, vợ người gánh nước, dẫn đầu một đoàn người hỗn loạn. Người thợ làm bánh, người hàng thịt, người thợ giày, thợ may, kẻ chăn dê, những người làm đồng cùng vợ con họ đang chen chúc tiến về phía chúng tôi qua một đám mây bụi mịt mù.

Masheh Mindel gần như ngất lịm, ngã khuỵu ngay trước ngưỡng cửa. “Một bức thư từ Mỹ!” bà thở hổn hển.

“Một bức thư từ Mỹ!” đám đông đồng thanh vang lên, họ giật lấy bức thư từ tay bà rồi nhét thẳng vào tay cha tôi.

“Đọc đi! Đọc đi!” họ hò reo náo nhiệt.

Cha tôi đảo mắt đọc lướt qua bức thư, môi không thốt lên lời nào. Trong hồi hộp nghẹt thở, đám đông đăm đăm nhìn ông. Đôi mắt họ ánh lên vẻ kinh ngạc và cung kính dành cho người duy nhất trong làng biết chữ.

Masheh Mindel quỳ sụp dưới chân ông, cái cổ vươn dài về phía ông để hứng lấy từng từ quý giá trong bức thư.

“Gửi người vợ đáng kính của tôi là Masheh Mindel, gửi đứa con trai yêu dấu Susha Feifel, và gửi cô con gái quý giá cưng chiều, con ngươi trong mắt tôi, niềm tự hào của đời tôi, Tzipkeleh!

“Chúc các mình sống lâu và gặp nhiều may mắn! Nguyện những phúc lành từ thiên đàng đổ xuống trên những mái đầu yêu dấu của các mình và che chở các mình khỏi mọi tai ương!

“Lời đầu tiên tôi đến để báo tin rằng tôi vẫn bình an và khỏe mạnh. Mong được nghe tin tương tự từ các mình.

“Thứ hai, tôi báo cho các mình hay mặt trời của tôi đang bắt đầu tỏa sáng ở nước Mỹ. Tôi đang trở thành một con người — một thương gia thực thụ.

“Tôi tự sắm được một quầy hàng ở nơi đông đúc nhất nước Mỹ, nơi người ta đông như ruồi và ngày nào cũng nhộn nhịp như ngày chợ phiên. Công việc của tôi là bán chuối và táo. Ngày mới bắt đầu với chiếc xe đẩy đầy ắp trái cây, và ngày chưa bao giờ khép lại trước khi tôi đếm được ít nhất 2 đô-la tiền lời — tính ra là bốn rúp.

Hãy hình dung trước mắt các mình đây… tôi… Gedalyeh Mindel, bốn rúp một ngày, hai mươi tư rúp một tuần!”

“Gedalyeh Mindel, người gánh nước, hai mươi tư rúp một tuần…” Những lời ấy bay bổng như lửa trong không trung.

Chúng tôi nhìn chằm chằm vào vợ anh ta, Masheh Mindel — một người đàn bà gầy gò khô đét.

“Masheh Mindel, có chồng ở Mỹ — Masheh Mindel, vợ của một người kiếm được hai mươi tư rúp một tuần!”

Chúng tôi nhìn bà với một sự kính trọng mới mẻ. Bà đã sớm trở thành một sinh linh đến từ thế giới khác. Đôi mắt trũng sâu, vô hồn nay bừng sáng sự sống. Nỗi lo cơm áo từng kéo căng lớp da trên gò má bà nay đã biến mất. Sơ sập niềm vui bất chợt tràn lấp những đường nét trên gương mặt, làm rạng rỡ khuôn mặt bà hệt như uống phải rượu nồng.

Hai đứa trẻ đói khát đang bám vào vạt áo bà, ngơ ngác vì quá phấn khích, chỉ lờ mờ nhận ra vận may của mình qua những cái liếc nhìn đầy ghen tị của những người xung quanh.

“Thứ ba, tôi đến để nói với các mình,” bức thư viết tiếp, “bánh mì trắng và thịt là những thứ tôi ăn mỗi ngày hệt như giới triệu phú.

“Thứ tư, tôi phải báo cho các mình biết rằng tôi không còn là Gedalyeh Mindel nữa — người ta gọi tôi là Ngài Mindel ở nước Mỹ.

“Thứ năm, Masheh Mindel và các con yêu dấu của tôi, ở Mỹ không có những căn lán đất nơi bò, gà và con người cùng chung sống. Tôi có riêng cho mình một căn phòng với cánh cửa khép kín, và trước khi bất kỳ ai có thể đến gặp tôi, tôi có thể cất tiếng ‘Mời vào,’ hoặc ‘Đứng ngoài,’ giống như một vị vua trong cung điện.

“Cuối cùng, gia đình yêu dấu của tôi và người dân làng Sukovoly, ở Mỹ không có Sa-hoàng.”

Cha tôi dừng lại; sự im lặng nặng nề đến nghẹt thở. Không có Sa-hoàng — không có Sa-hoàng ở nước Mỹ! Ngay cả những đứa trẻ thơ cũng lặp lại câu xướng: “Không có Sa-hoàng ở nước Mỹ!”

“Ở Mỹ, người ta hỏi ý kiến mọi người xem ai nên làm Tổng thống, và tôi, Gedalyeh Mindel, khi nhận giấy công dân, sẽ có tiếng nói về việc ai sẽ làm Tổng thống tiếp theo ở Mỹ cũng có trọng lượng như Ngài Rockefeller, vị triệu phú vĩ đại nhất.

“Tôi gửi về cho các mình năm mươi rúp để mua vé tàu sang Mỹ. Và nguyện cho tất cả những người Do Thái đang chịu khổ ở Goluth vì các sắc lệnh và những cuộc thảm sát đều sống để ngẩng cao đầu như tôi, Gedalyeh Mindel, ở nước Mỹ.”

Năm mươi rúp! Một chiếc vé tàu sang Mỹ! Quá nhiều vận may đổ ập xuống một cái đầu! Một sự ghen tị tột cùng cắn xé tâm can tôi. Những ánh mắt sắc lạnh ném ra từ đôi mắt nheo lại đâm thẳng vào Masheh Mindel.

Tại sao chúng ta lại không có cơ hội rời khỏi mảnh đất tăm tối này? Chẳng phải trái tim nào cũng có chung một cơn đói khát hướng về nước Mỹ sao? Cùng một niềm khát khao được sống, được cười và được hít thở như một con người tự do? Nước Mỹ là dành cho tất cả mọi người. Tại sao chỉ riêng Masheh Mindel và các con của bà mới có cơ hội đến với thế giới mới?

Vừa lầm bầm vừa khua tay múa chân, đám đông giải tán.

Ai nấy đều thấu tỏ suy nghĩ của người khác: Làm sao để đến Mỹ. Có thể cầm cố thứ gì? Vay mượn tiền mua vé tàu ở đâu?

Chúng tôi lặng lẽ theo chân cha bước trở lại căn lán mà lính Cô-dắc vừa đuổi chúng tôi ra cách đó không lâu.

Lũ trẻ chúng tôi nhìn mẹ rồi nhìn cha, và từ cha lại nhìn sang mẹ.

“Gottuniu! Chính Sa-hoàng đang đẩy chúng ta sang Mỹ bằng sắc lệnh cuối cùng này.” Gương mặt mẹ tôi thắp sáng cả căn lán như một ngọn đèn.

“Meshugeneh Yidini!” cha tôi quở trách. “Lúc nào cái đầu cũng bay bổng trên mây. Cái gì — ở đâu — nước Mỹ? Lấy tiền đâu ra? Người chết rồi thì có tự đứng lên mà khiêu vũ được không?”

“Khiêu vũ á?” Chiếc bình samovar và những chiếc nồi đồng ngân lên vang vọng tiếng cười của mẹ. “Tôi có thể tự mình nhảy múa vượt qua những con sóng đại dương để đến Mỹ.”

Trong niềm vui sướng ngỡ ngàng trước niềm hạnh phúc của mẹ, lũ trẻ chúng tôi cười khúc khích hòa theo nhịp điệu với bà.

Cha tôi bước đi quanh phòng — gương mặt tối sầm vì nỗi sợ hãi cho ngày mai.

“Hai bàn tay trắng — túi rỗng không — vậy mà các người lại mơ tưởng đến nước Mỹ.”

“Ai là kẻ nghèo khi còn đặt hy vọng vào nước Mỹ?” mẹ tôi ngẩng cao đầu thách thức.

“Hãy bán chiếc váy chần bông đỏ mà bà ngoại để lại làm hồi môn cho con đi,” tôi giục giã trong niềm phấn khích.

“Bán những chiếc đệm lông vũ đi, bán cả bình samovar đi,” lũ trẻ đồng thanh hưởng ứng.

“Chắc chắn chúng ta có thể bán mọi thứ — cả con dê và tất cả đồ mùa đông nữa,” mẹ tôi nói thêm; “ở Mỹ chắc lúc nào cũng là mùa hè.”

Tôi quàng tay ôm lấy anh trai và anh giật mạnh những lọn tóc xoăn của Bessie, chúng tôi nhảy múa quanh phòng đến phát cuồng vì vui sướng.

“Đồ ăn mày!” mẹ cười lớn, “sao mà các người lại vui mừng đến thế? Làm sao các người sang Mỹ mà trên mình không có lấy một chiếc áo sơ-mi — chân không có giày dép?”

Nhưng chúng tôi đã chạy ùa ra đường, la hét và hát vang: “Chúng ta sẽ bán mọi thứ mình có — chúng ta sẽ sang Mỹ.”

“Bánh mì trắng và thịt chúng ta sẽ ăn mỗi ngày — ở Mỹ! Ở nước Mỹ!”

Ngay tối hôm đó, chúng tôi đi gọi Berel Zalman, kẻ cho nặng lãi, và cho lão xem tất cả những món báu vật được chất đống giữa căn lán.

“Nhìn kìa, tất cả những chiếc đệm lông vũ tuyệt đẹp này, hỡi Berel Zalman,” mẹ tôi nài nỉ; “chiếc áo khoác lông thú lộng lẫy này xuất xứ từ tận Nijny. Ông ngoại tôi đã mua nó tại hội chợ.”

Tôi giơ cao chiếc váy chần bông đỏ của mình, sự hy sinh lớn lao nhất trong cuộc đời mười tuổi.

Ngay cả cha tôi cũng rụt rè đẩy chiếc bình samovar lên trước. “Nó có thể nấu đủ trà cho cả làng đấy.”

“Chỉ một trăm rúp cho tất cả thôi,” mẹ tôi khẩn khoản; “chỉ đủ để đưa chúng tôi sang Mỹ. Chỉ một trăm đồng rúp nhỏ nhoi thôi.”

“Một trăm rúp? Phui!” tên cho vay nặng lãi bĩu môi. “Bốn mươi là quá hời rồi. Đến ba mươi cũng chẳng đáng.”

Nhưng bằng những lời dỗ dành ngọt ngào, mẹ tôi cuối cùng cũng móc được một trăm rúp từ tay lão.

Khoang tàu hạng bét — những bọc hành lý bẩn thỉu — mùi hôi thối — những sinh mạng say sóng — thế nhưng tôi chẳng hề nhìn hay nghe thấy sự dơ dáy và xấu xí xung quanh mình. Tôi bồng bềnh trong những trận mưa ánh nắng; từng lớp từng lớp ảo ảnh về thế giới mới mở ra trước mắt tôi.

Từ môi người này qua môi người khác, truyền thuyết vàng son về xứ sở vàng son cứ thế tuôn chảy:

“Ở Mỹ, bạn có thể nói những gì mình cảm nhận — bạn có thể cất lên suy nghĩ của mình giữa đường phố công khai mà không phải sợ lính Cô-dắc.”

“Ở Mỹ có một mái nhà cho tất cả mọi người. Đất đai là đất đai của bạn. Không giống như ở nước Nga, nơi bạn cảm thấy mình như một kẻ tha hương ngay tại ngôi làng mình sinh ra và lớn lên — ngôi làng nơi cha ông bạn đang nằm yên nghỉ.”

“Mọi người đều bình đẳng với nhau ở nước Mỹ. Cơ đốc nhân và người Do Thái đều là anh em một nhà.”

“Chấm dứt nỗi lo cơm áo. Chấm dứt nỗi sợ hãi trước những kẻ bề trên. Mọi người đều có thể làm bất cứ điều gì mình muốn với cuộc đời mình ở nước Mỹ.”

“Không có kẻ cao người thấp ở nước Mỹ. Ngay cả Tổng thống cũng nắm tay với Gedalyeh Mindel.”

“Cái ăn cái mặc dồi dào cho tất cả. Tri thức tuôn chảy tự do như sữa và mật ong.”

“Tri thức tuôn chảy tự do.”

Những từ ấy vẽ nên muôn vàn hình ảnh trong tâm trí tôi. Tôi thấy trước mắt mình những ngôi trường miễn phí, những trường đại học miễn phí, những thư viện miễn phí, nơi tôi có thể học, học nữa và học mãi.

Ở làng chúng tôi có một trường học, nhưng chỉ dành cho con cháu của người Cơ đốc giáo. Trong những ngôi trường ở nước Mỹ, tôi sẽ ngẩng cao đầu cười vang và nhảy múa — một đứa trẻ hòa mình cùng những đứa trẻ khác. Hệt như cánh chim trời, từ bầu trời này sang bầu trời nọ, từ vì sao này đến vì sao nọ, tôi sẽ tung bay và tung bay.

“Đất liền! Đất liền!” tiếng hò reo vui sướng vang lên.

“Nước Mỹ! Chúng ta đang ở Mỹ rồi!” mẹ tôi kêu lên, suýt ôm ghì chúng tôi ngạt thở trong niềm hạnh phúc ngập tràn.

Tất cả mọi người chen chúc và xô đẩy nhau lên boong tàu. Họ rướn người và rướn cổ để bắt lấy cái nhìn đầu tiên về “xứ sở vàng son,” nhấc bổng con cái lên vai để chúng có thể nhìn xa hơn phía trước.

Đàn ông quỳ sụp xuống để cầu nguyện. Phụ nữ ôm chặt những đứa con nhỏ và khóc nức nở. Trẻ em nhảy múa. Người lạ ôm nhau và hôn nhau như những người bạn cũ. Đôi mắt của những cụ già ánh lên vẻ rạng rỡ của những người trẻ đang yêu.

Những khát vọng ngàn đời cất tiếng ca trong tôi — những bài ca tự do của một dân tộc bị áp bức.

Nước Mỹ! — Nước Mỹ!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.