1. Lấy sinh thần bát tự đoán họa phúc
Sau khi "Tiên Nhân Thủ" chết, Tam Bá Đầu vừa thấy cơ hội đã tới, liền hết lòng đề cử đắc ý môn sinh của mình là Vương Gia Hiền, kiến nghị với Tổ gia để hắn ngồi vào vị trí Thất Bá Đầu. Trải qua mấy lượt thảo luận ở đường hội, mặc dù trong lòng Nhị Bá Đầu không thoải mái, Tổ gia vẫn gật đầu thông qua. Vương Gia Hiền cuối cùng cũng ngồi lên chiếc ghế giao ỷ thứ bảy. Lúc Vương Gia Hiền đi theo Tổ gia là năm 1946, hắn gầy gầy, cao cao, rất thích sạch sẽ, mỗi lần ra ngoài đều mặc trường sam chỉnh tề, chải đầu bôi mỡ, chải ngược về phía sau, ra vẻ văn chất bồng bổng. Hắn nói tên của mình là do cha hắn đặt, mang ý nghĩa gia đạo hiền lương. Ta nghĩ lúc cha già của hắn đặt cái tên này, chắc chắn không ngờ được sau này những việc hắn làm toàn là lừa đảo bịp bợm. Thân phận đối ngoại của hắn là tiên sinh dạy học ở tiểu học sơ cấp Quốc Dân. Hắn đọc rất nhiều sách, tài ăn nói hạng nhất, tư tưởng tân tiến, viết được một bài văn hay, rất được phụ nữ thời Dân Quốc yêu đới, lại càng là quân sư giỏi của Tổ gia. Mỗi lần trước khi thiết cục đều sẽ tham khảo ý kiến của hắn.
Ai có thể ngờ được tiên sinh dạy học ở trong trường học này lại là một thành viên của tập đoàn lừa đảo? Lần đầu tiên hắn giúp Tổ gia làm đại cục là nhắm vào phu nhân của một sĩ quan Quốc Dân Đảng. Năm đó tiền tuyến Quốc Dân Đảng căng thẳng, vị sĩ quan kia gửi về một bức thư, trong thư toàn là những lời lẽ thề chết theo và tình tứ thắm thiết, khắp trang giấy lộ rõ vẻ sinh ly tử biệt. Khiến cho vị phu nhân này ngày nào cũng lấy nước mắt rửa mặt, chán ăn bỏ trà. Trạng thái này của nàng ảnh hưởng trực tiếp đến đứa con trai, con trai nàng vừa vặn theo học ở ngôi trường do Vương Gia Hiền giảng dạy. Tiếng Trung tiểu học lúc bấy giờ rất coi trọng giáo dưỡng nhân văn, bài văn đầu tiên có năm câu: "Mèo bắt chuột, chó giữ cửa, mỗi bên làm tròn trách nhiệm; người không có nghề nghiệp, không bằng mèo chó." Ý nói Đấng Sáng Thế tạo ra thế giới này, mỗi sinh linh đều phải làm tròn chức trách của mình, một con người nếu lêu lổng, không màng chính sự, thì còn không bằng cả mèo chó. Ta không biết mỗi lần Vương Gia Hiền giảng bài văn này cho lũ trẻ, trong lòng hắn có tâm trạng gì.
Đứa con của vị phu nhân nọ học tập không tập trung, cả lớp mười bảy người, chỉ có nó là không thuộc nổi năm câu này. Vương Gia Hiền hỏi nó xảy ra chuyện gì, nó cúi đầu không nói. Sau đó Vương Gia Hiền gặng hỏi mãi, nó mới nói mẹ nó vì chuyện của bố nên ngày nào cũng không vui. Vương Gia Hiền nhạy bén nắm bắt được thông tin này. Đêm hôm đó liền bàn bạc với Tổ gia xem có thể thiết cục hay không. Tổ gia nói, có thể, không những phải làm, mà còn phải làm lớn, chuyện sinh tử chắc chắn là giá cao. Vương Gia Hiền liền lấy lý do con trai học tập không tập trung trên lớp để nói chuyện với vị phu nhân đó. Người dài tướng mạo khôi ngô, làm việc gì cũng thuận lợi, Vương Gia Hiền chính là loại người này, rất nho nhã, đậm chất thư sinh, nói năng văn vẻ, lại có lễ phép, kết quả là vị phu nhân kia ngay lần đầu gặp Vương Gia Hiền đã đem toàn bộ nỗi sầu muộn trong lòng trút ra hết.
Vương Gia Hiền nói: "Tướng quân trăm trận chết, tráng sĩ mười năm về. Chồng của phu nhân xông pha sa trường, đám thư sinh chúng ta sống qua ngày hổ thẹn không bằng!" Vị phu nhân nọ thở dài, nói: "Tiên sinh khiêm tốn rồi. Từ xưa văn nhân chết vì can gián, võ tướng chết vì chiến trận, văn chương gửi gắm giang sơn, dưới ngòi bút có đao phong, tiên sinh dạy học trồng người, cũng là ơn trạch đến đời sau."
Vương Gia Hiền không ngờ vị phu nhân này tu dưỡng lại cao như vậy, bình thường toàn là hắn ba hoa khoác lác, không ngờ hôm nay lại đụng phải một người còn biết ăn nói hơn. Vương Gia Hiền cũng thở dài một hơi, nói: "Chỉ mong phu nhân có thể tĩnh tâm lại, tĩnh hậu tin vui của phu nhân. Bằng không, trạng thái của ngài đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến lệnh lang, ngày nào cậu bé cũng mất tập trung trong giờ học, lâu dần e rằng sẽ ảnh hưởng đến học nghiệp." Vị phu nhân gật gật đầu, nói: "Lời thì nói thế, nhưng ai có thể làm được! Chồng tôi sống chết chưa rõ, bảo tôi làm sao tĩnh tâm nổi!" Vương Gia Hiền cảm thấy cơ hội đã tới, ra vẻ đứng đắn nói: "Phu nhân có tin vào vận mệnh không?" Vị phu nhân ngẩn ra, "Vận mệnh? Tôi bây giờ chỉ có thể phó mặc cho trời."
Vương Gia Hiền bắt đầu giở trò bịp: "Phu nhân, tôi ngược lại có quen một vị lão tiền bối, ông ấy tinh thông kỳ môn bát quái, biết tính toán đoán định, nghe nói đã từng bấm độn cho rất nhiều quan lớn trong chính phủ, sống chết giàu sang bấm tay là biết, rất chuẩn. Hay là để ông ấy xem cho ngài..." Vương Gia Hiền còn chưa nói dứt lời, vị phu nhân đã vội vàng nói: "Thật sao? Có thể tìm được ông ấy không?"
Vương Gia Hiền vừa thấy, cắn câu rồi, đây nào phải câu hoẵng đâu, rõ ràng là hoẵng tự chạy về nhà. Vương Gia Hiền nói: "Phu nhân đừng vội, vị lão tiên sinh đó là bạn tri kỷ tri giao của tôi, chắc là có thể hẹn được, chỉ là ông ấy rất bận, tôi sẽ cố gắng giúp ngài sắp xếp."
Vị phu nhân kia như vớ được cọc cứu mạng, cấp thiết nói: "Làm phiền tiên sinh mau chóng giúp tôi hẹn một tiếng, càng nhanh càng tốt, tốn bao nhiêu tiền cũng được." Đây chính là điều mà đám A Bảo muốn nghe nhất, Vương Gia Hiền nói: "Nhất định, nhất định. Tối nay tôi sẽ đến nhà ông ấy xem thế nào, ngài cứ yên tâm." Vị phu nhân kích động nói: "Cảm ơn tiên sinh! Cảm ơn tiên sinh!" Con người ta khi quá đau buồn hoặc quá vui mừng đều sẽ trở nên ngốc nghếch, huống chi lại còn là một người phụ nữ thủ tiết phòng không.
Vương Gia Hiền trở về báo cáo lại với Tổ gia, Tổ gia hỏi: "Nàng ta có bao nhiêu gia sản?" Vương Gia Hiền nói: "Khó mà nói, ở nhà lầu kiểu Tây, nhìn cách bài trí trong nhà thì phỏng chừng là gia đình cán bộ cấp trung đoàn." Tổ gia suy nghĩ một lúc, nói: "Mài nàng ta mấy ngày."
Hôm sau Vương Gia Hiền lại đến nhà vị phu nhân nọ, nói: "Đêm qua tôi đã đi tìm lão tiên sinh rồi, dạo này việc trong tay ông ấy khá nhiều, vốn dĩ phải đi ngoại tỉnh, nghe tôi kể chuyện của ngài xong, ông ấy tạm thời không đi nữa, cũng chỉ tầm hai ba ngày tới là có thể gặp mặt."
Vị phu nhân nói: "Cảm ơn tiên sinh! Cảm ơn tiên sinh! Càng nhanh càng tốt!"
Ba ngày sau, ba người gặp nhau ở một quán trà. Tổ gia cốt cách tiên phong, Vương Gia Hiền phong lưu phóng khoáng, vị phu nhân nằm mơ cũng không thể ngờ hai vị khiêm khiêm quân tử trước mặt lại là một đám lừa đảo chính hiệu. Đối mặt với hai người đàn ông, vị phu nhân còn có chút ngại ngùng, rụt rè nói: "Làm phiền tiên sinh rồi."
Tổ gia nói: "Người nghiên cứu Kinh Dịch lấy từ bi làm đầu, phu nhân không cần khách khí. Chuyện của ngài, Vương tiên sinh đã kể cho tôi nghe rồi."
Vị phu nhân nói: "Vậy đành làm phiền tiên sinh xem hộ chồng tôi hung cát thế nào?"
Tổ gia nói: "Nhìn sắc mặt của phu nhân, phu cung sắc thái ảm đạm, quan thọ bất khởi, thứ cho tôi nói thẳng, tình cảnh của chồng ngài rất nguy hiểm."
Vị phu nhân nghe xong liền ngây người: "Vậy... vậy có nguy hiểm đến tính mạng không?"
Tổ gia thong thả không vội: "Phu nhân chớ hoảng, ngài hãy cho tôi biết sinh thần bát tự của phu quân ngài."
Vị phu nhân đọc ra xong, Tổ gia trầm ngâm chốc lát rồi nói: "Tôi đoán trên trán lệnh lang có một nốt ruồi lớn, không biết có chuẩn không?"
"Quá chuẩn!" Vị phu nhân vô cùng kích động, "Chính là ở vị trí hơi lệch về bên trái trán."
Tổ gia lại nói: "Mắt anh ta to, cằm nhọn nhọn."
"Tiên sinh nói chuẩn quá!" Vị phu nhân đáp.
Vương Gia Hiền cũng vội vàng ra vẻ đầy kính nể nói: "Lão tiên sinh quả thật đạo pháp thâm sâu, vãn sinh khâm phục, khâm phục!"
Tổ gia điềm tĩnh bấm tay tính toán: "Xin hãy cho tôi biết cả sinh thần của phu nhân nữa."
Vị phu nhân vội vàng báo ngày sinh của mình ra. Tổ gia lại bấm tay tính toán, sau đó ra điều đăm chiêu suy nghĩ, một lát sau mới nói: "Ừm, cứu được, cứu được."
Vị phu nhân vừa nghe thấy "cứu được", liền không ngồi yên được nữa, trong mắt tràn ngập vẻ khao khát: "Ý của tiên sinh là chồng tôi cứu được sao?"
Tổ gia nói: "Bát tự của phu nhân vừa vặn sinh trợ cho phu quân ngài! May mà hắn cưới được ngài, nếu không lần này kiếp nạn khó tránh." Đây là tiên đát hậu long (đánh tráo khái niệm, vừa dọa vừa nịnh). Vị phu nhân nói: "Nói cách khác, tôi vượng phu?"
Tổ gia nói: "Đúng vậy."
Vị phu nhân nói: "Vậy làm thế nào mới có thể hoá giải kiếp nạn này?"
Tổ gia trầm tư một lát rồi nói: "Chỉ xem phu nhân có nguyện ý hay không thôi."
Vị phu nhân ngẩn ra: "Tiên sinh nói lời này là thế nào, tôi đương nhiên nguyện ý rồi! Cho dù bắt tôi chết, tôi cũng nguyện ý!"
Tổ gia nói: "Phu nhân quả là người đại thiện! Chồng ngài cưới được ngài đúng là phúc phận của hắn! Hôm trước tôi gặp một trường hợp tương tự như ngài, vị phu nhân đó vừa nghe nói hóa giải tai ách phải tốn tiền liền chần chừ ngập ngừng. Thê lương thay, tôi chẳng biết phải nói thế nào cho phải, rốt cuộc là tiền quan trọng, hay là chồng quan trọng! Haiz."
Vị phu nhân nói: "Tiên sinh cứ yên tâm! Chỉ cần có thể cứu được chồng tôi, cho ngài bao nhiêu tiền tôi cũng đồng ý, tôi nguyện ý. Cho dù có khuynh gia bại sản cũng được!"
Tổ gia nghe vậy liền sầm mặt xuống: "Phu nhân đang nói cái gì thế! Đưa tiền cho tôi làm gì? Bần nhân tuy đời đời thanh bần, nhưng vẫn biết hai chữ nhân nghĩa!"
Vị phu nhân ngơ ngác, nơm nớp lo sợ nói: "Tiên sinh... chẳng phải vừa nãy nói tốn tiền giải tai sao?"
Tổ gia tức giận nói: "Phu nhân xem thường tôi rồi! Tôi nói giải tai tốn tiền, là bảo ngài tiêu tiền thay chồng, chứ không phải đưa tiền cho tôi. Mệnh cục của ngài quan tinh bị tài tinh khắc chế chặt chẽ, chỉ có đem tiền tiêu ra ngoài mới có thể giải cứu quan tinh, phu quân của ngài mới có thể trở về. Cho nên tôi mới bảo ngài tiêu tiền, nhưng tiền không thể tiêu lung tung, phải dùng vào việc tích công đức, vừa tiêu được tiền đi, lại vừa tích công đức thay chồng, đây là một mũi tên trúng hai đích."
Vị phu nhân gặng hỏi: "Làm thế nào mới có thể tích công đức?"
Tổ gia nói: "Ngài nhìn cây cầu dẫn tới Nam Trấn kia xem, lâu năm không sửa chữa, bách tính hàng ngày qua lại từ đó, đôi khi còn có thương phiến đánh xe ngựa đi qua, nguy hiểm biết bao, sớm nên sửa rồi. Ngài quyên góp chút tiền, sửa cho tốt cây cầu đó, vừa giải tai cho chồng, lại vừa tạo phúc cho bách tính! Người xưa thường nói, sửa cầu làm đường, công đức vô lượng. Như vậy chẳng phải rất tốt sao?"
Còn chưa để vị phu nhân kịp nói gì, Vương Gia Hiền đã đứng phắt dậy, cúi người thật sâu với Tổ gia: "Tiên sinh quả thực từ bi vi hoài, vãn sinh vô cùng cảm động." Vừa nói, vành mắt đỏ hoe, ra vẻ đang thụ giáo.
Vị phu nhân nói: "Tiên sinh quả là người tốt bụng! Vậy khoảng chừng cần bao nhiêu tiền?"
Tổ gia nói: "Cái này thì tôi không rõ lắm, ngài đi hỏi Địa bảo đi, đến lúc đó đưa tiền cho ông ấy, ông ấy sẽ tổ chức người tu sửa."
Vị phu nhân yên lòng nói: "Như vậy là đã giải được tai họa cho chồng tôi rồi chứ?"
Tổ gia kiên quyết đáp: "Chắc chắn giải được! Lòng phải thành, chớ có qua loa cho xong chuyện."
Vị phu nhân gật đầu nói: "Nhất định, nhất định! Tiên sinh, làm phiền ngài lâu thế này, tôi... tôi nên biếu ngài bao nhiêu tiền đây?"
Tổ gia lắc đầu: "Phu nhân đang lúc hoạn nạn, tôi bất quá chỉ dùng chút tài mọn để giải nỗi lo âu giúp phu nhân mà thôi, đòi tiền ngài vào lúc này, phu nhân chẳng phải đang mắng tôi sao?"
Vị phu nhân càng thêm ngượng ngùng, nói: "Vậy tôi phải cảm ơn ngài thế nào đây, ngài vì chuyện của tôi mà nhọc lòng thế này, tôi..."
Tổ gia phất phất tay áo, lại chỉ vào bát trà trên bàn: "Hai tay thanh bạch, một chén trà nhạt, thế là đủ, thế là đủ!" Nói xong, uống cạn một hơi, phất tay áo bỏ đi.
Nhìn bóng lưng khuất dần của Tổ gia, vị phu nhân thở dài một tiếng: "Đều bảo lòng người ngày càng tệ, thế phong ngày càng suy, hôm nay gặp được lão tiên sinh này mới biết nhân tâm chưa diệt."
Vương Gia Hiền hùa theo nói: "Lão tiên sinh từ trước đến nay coi tiền tài như phân thổ, người như vậy trên đời này không còn nhiều nữa."
Sau đó vị phu nhân này đã bỏ ra một số tiền rất lớn để sửa cây cầu kia, tên Địa bảo nhận tiền thực ra là người cùng một chiến tuyến với Tổ gia, sớm đã bị Tổ gia mua chuộc dùng làm con dao rồi, số tiền dùng để tu sửa cầu chỉ là phần nhỏ, phần lớn đều được Tổ gia và Địa bảo chia đều. Còn về việc Tổ gia tính ra được tướng mạo chồng nàng ta, đều là thông tin mà Vương Gia Hiền lúc đến nhà nàng ta đã lén lút quan sát bức ảnh trên tường để thu thập được. Vị phu nhân kia một lòng nhung nhớ sống chết của chồng, nào biết trong đây có ngần ấy mánh khóe. Ta vô cùng khâm phục thủ đoạn của Tổ gia, đấm bóp xoa nắn thi triển đồng thời, đúng mực vừa vặn, cuối cùng còn kiếm được tiếng thơm thủ tiết cao phong lượng tiết. Sau đó ta từng hỏi Tổ gia: "Lỡ như chồng cô ta không về được thì tính sao?"
Tổ gia bảo ta đầu óc cứng nhắc, ông nói: "Không sợ chồng cô ta không về, chỉ sợ chồng cô ta về, lỡ như tên nhóc đó quay về, ngẫm ra được ngọn ngành thì đúng là khó nói. Không về được thì chẳng có gì phải sợ, một quả phụ mất chồng thì làm gì được mày? Cái đầu không biết quẹo cua!"
Ta chợt bừng tỉnh đại ngộ, tiếp tục hỏi: "Nếu chồng cô ta quay về, đến tìm chúng ta gây phiền phức thì phải làm sao?"
Tổ gia nói: "Xe đến trước núi ắt có đường, thuyền đến đầu cầu tự khắc thẳng. Làm A Bảo mà cứ rụt rè trước sợ sau thì thà về nhà nuôi heo còn hơn."
Sau đó, Vương Gia Hiền lại liên tiếp chạy tới nhà vị phu nhân nọ. Tổ gia nhìn ra có điểm không ổn, trong một buổi đường hội đã nói: "Tiền đã vơ vét về cả rồi, thì đừng tơ tưởng đến sắc đẹp nữa, tham lam quá sẽ rước họa vào thân." Dọa cho Vương Gia Hiền trán vã mồ hôi hột, liên mồm nói: "Hiểu rồi, hiểu rồi."
Sau này có một lần uống rượu, ta trò chuyện cùng Vương Gia Hiền, Vương Gia Hiền nói hắn động tâm với vị phu nhân kia rồi, với cái trạng thái cô độc không nơi nương tựa của vị phu nhân lúc bấy giờ, dựa vào sự suy đoán của hắn đối với tâm lý phụ nữ, cộng thêm tướng mạo và thủ đoạn của bản thân, không đến một tháng chắc chắn có thể cưa đổ. Thực ra hắn cũng chẳng nghĩ đến chuyện lâu dài, chỉ muốn ngủ một đêm, vớ được món hời mà thôi.
Hắn nói người phụ nữ đó là trí thức, hiểu thơ ca từ phú, có tu dưỡng, hắn rất thích kiểu người này. Ta bảo mày thường xuyên lượn lờ lầu xanh, còn thiếu mỗi người này nữa à. Hắn bảo không giống nhau, kỹ nữ có đẹp đến mấy cũng chỉ là cái túi da, ngàn người cưỡi vạn người đè, sao có thể so sánh với phụ nữ nhà lành! Cuối cùng Vương Gia Hiền uống say mèm, miệng lẩm bẩm: "Quân trú Trường Giang đầu, ngã trú Trường Giang vĩ, nhật nhật tư quân bất kiến quân, cộng ẩm Trường Giang thủy..." Rồi cứ thế ngủ thiếp đi.
Ta biết Vương Gia Hiền là một người có chí khí rất cao, vẫn luôn bất phúng thời vận, cuối cùng lại được thi triển tài năng trong đội ngũ A Bảo, trong lòng hắn thấy xót xa. Kỳ thực kẻ làm A Bảo nào chẳng như thế, ngày ngày sống như thây ma di động, mượn rượu giải sầu, phong lưu dưới hoa, sau những giây phút khoái lạc là sự bi thương và mông lung vô tận. Ai lại không muốn đàng hoàng sống qua ngày, cưới vợ bồng con, an ổn sống hết đời, già nua đầu bạc, con cháu đầy đàn, đây mới là hạnh phúc biết bao! Thế nhưng đám A Bảo đã sớm không còn loại hạnh phúc này nữa, say sưa chết mòn trong dục vọng vật chất, khoét rỗng thể xác, lại càng khoét rỗng cả linh hồn, vẻ hào nhoáng bề ngoài mãi mãi không thể che lấp đi sự ghê tởm và tự ti tận đáy lòng. Khi đêm về khuya khoắt, mỗi một tên A Bảo đều sẽ hoài niệm, hoài niệm về bản thân trong sạch ngày trước, hoài niệm nếu như không bước lên con đường này thì cuộc sống có lẽ đã là một vẻ khác...
Nay, Vương Gia Hiền phong độ phiên phiên (phiêu phiêu), đầy bụng kinh luân cuối cùng cũng chắt chiu leo lên được vị trí Bá Đầu, từ đó về sau, ai nấy đều gọi hắn là "Thất Gia".
2. Đệ nhất ám sát vương Trung Quốc
Từ tháng 9 năm 1948, chiến tranh giải phóng bước vào giai đoạn quyết chiến chiến lược, cho đến đầu năm 1949 chiến dịch Bình Tân kết thúc, lực lượng chủ lực của Quốc Dân Đảng đã cơ bản bị tiêu diệt, phần lớn khu vực phía bắc Trường Giang đã được giải phóng. Chưởng môn phái "Tuyết Mệnh Thảo" ở phái Bắc là Tiền Dược Lâm, chịu áp lực từ tình hình ngày càng nghiêm ngặt, cuối cùng cũng chịu buông bỏ thân phận "Đại sư ba" để đến đầu quân cho Tổ gia.
Một rừng không thể chứa hai hổ, giống như Tống Giang và Tống Ngãi ở Lương Sơn Bạc, suy cho cùng vẫn phải có một người đứng đầu. Mặc dù Tiền Dược Lâm cam tâm cúi đầu xưng thần, bằng lòng làm một vị Bá Đầu dưới tay Tổ gia, nhưng bảy vị Bá Đầu dưới trướng Tổ gia nào có ai dung nổi hắn! Tuổi tác của Tiền Dược Lâm còn lớn hơn cả Tổ gia, bản tính âm hiểm xảo trá, từng có ý đồ bất chính với chưởng môn phái Nam là Giang Phi Yên, nếu không có Tổ gia đứng ra điều đình, phỏng chừng hai đường khẩu sẽ có một trận chiến đẫm máu.
Nghe Nhị Bá Đầu kể lại, Giang Phi Yên lớn hơn Tổ gia một tuổi, Tổ gia tôn kính gọi nàng là "Yến tỷ". Khi Kiều Ngũ Muội chết, hắc bang địa phương đến quậy phá, vẫn là Tổ gia dẫn theo huynh đệ tự mình đến dẹp yên. Sau khi Tiền Dược Lâm quy thuận Tổ gia, Giang Phi Yên còn đặc biệt viết một bức thư, phái người chân bó đưa tới, nhắc nhở Tổ gia phải đề phòng kẻ này.
Cho nên, đối với sự xuất hiện của Tiền Dược Lâm, mọi người đều có lòng đề phòng. Ánh mắt của tất cả mọi người đều đổ dồn vào Tổ gia.
Bầu không khí trong đường khẩu đã không còn đúng đắn nữa, bề ngoài thì hòa khí một cục, nhưng thực chất nguy cơ tứ phía. Đặc biệt là sau khi Vương Gia Hiền lên làm Thất Bá Đầu, Nhị Bá Đầu vô cùng bất mãn, quan hệ với Tam Bá Đầu cũng ngày càng căng thẳng, cộng thêm việc trong đường khẩu đột nhiên xuất hiện thêm một Tiền Dược Lâm, mặc dù hắn nói bằng lòng làm Bá Đầu dưới trướng Tổ gia, nhưng Tổ gia lại bảo tuyệt đối không thể như vậy, Tiền gia vẫn cứ là Tiền gia, Đại sư ba vẫn cứ là Đại sư ba, đợi qua một thời gian, điều kiện cho phép rồi, vẫn phải giúp Tiền gia lập một đường khẩu khác. Cứ như thế, đường khẩu vô duyên vô cớ mọc thêm một Đại sư ba, mỗi lần mở đường hội, Tiền Dược Lâm lại ra dáng ngồi bên cạnh Tổ gia, thỉnh thoảng Tổ gia còn lắng nghe ý kiến của hắn, khiến cho các vị Bá Đầu bên dưới cảm thấy vô cùng khó chịu.
Khoảng thời gian đó, mỗi lần họp đường hội xong, Tổ gia luôn giữ tôi lại, bảo tôi pha trà cho ông ấy. Chuyện này ai cũng không có ý kiến gì, bởi vì mọi người đều biết tôi đần độn ngốc nghếch, không ai đề phòng tôi cả. Tổ gia thực sự rất sành trà, mỗi lần thưởng trà, chỉ cần sai lệch một chút là ông ấy đều có thể nếm ra. Đỉnh điểm có lúc, lúc pha trà tôi lơ đễnh thẫn thờ, Tổ gia nếm xong sẽ nói: "Đại Đầu, lần này em không dụng tâm rồi." Tôi cảm thấy Tổ gia quả thực là một vị thần nhân, có thể nếm ra sự tản mát và tĩnh lặng của lòng người từ trong hương vị của trà. Khoảng thời gian đó, tôi và Tổ gia thường uống trà đến tận nửa đêm, ông ấy ngủ không được, cứ uống trà liên tục, tôi có thể nhìn ra ông ấy đang suy nghĩ vấn đề.
Đôi khi, chúng tôi cũng sẽ trò chuyện về những chuyện trong đường khẩu, kỳ thực tôi nói gì cũng không quan trọng, vẫn là câu nói đó, mọi người đều biết tôi ngốc, không có tâm cơ gì, cũng chẳng giở trò quỷ gì cả. Đổi lại là người khác, ngày nào cũng trò chuyện với Tổ gia đến tận nửa đêm, mọi người chắc chắn sẽ sinh lòng nghi ngờ, ít nhất cũng sẽ sinh lòng đố kỵ. Cho nên, ngốc nghếch có cái lợi của kẻ ngốc, kẻ ngốc không có dục vọng, không có dục vọng thì sẽ kiên cường. Sự ngốc nghếch, đôi khi lại là một thứ rào cản tự nhiên để tự bảo vệ mình.
Có một đêm, Tổ gia hỏi tôi: "Em có suy nghĩ gì về hiện trạng của đường khẩu hiện nay?"
Tôi không đoán được ý của Tổ gia là gì, ấp úng không dám nói.
Tổ gia nói: "Đại Đầu, cứ nói đừng ngại! Lời giữa chúng ta, chỉ giới hạn trong hai người chúng ta mà thôi."
Tôi nói: "Tổ gia, có một số việc em không hiểu, không biết tại sao ngài lại làm như vậy."
Tổ gia mỉm cười, nói: "Nói tiếp đi."
Tôi nhìn ông ấy, rụt rè nói: "Ví dụ như, ngài không nên thu nhận Tiền gia, lại càng không nên để hắn bàng thính đường hội, tuy đều là huynh đệ nhưng rốt cuộc không phải cùng một đường khẩu, đại sự của đường khẩu hắn đều biết hết, như vậy không hay. Ngoài ra, ngài cũng không nên đề bạt Vương Gia Hiền lên làm Thất Gia nhanh như vậy, bởi vì Tiên Nhân Thủ vừa mới qua đời, Nhị gia vẫn còn đang trong nỗi đau buồn, làm như vậy đường khẩu sẽ mất đoàn kết..."
Nói xong, tôi không dám ngẩng đầu lên, sợ rằng mình nói không lọt tai, chọc Tổ gia nổi giận.
Tổ gia cười ha hả, nói: "Đại Đầu, nếu em là tôi, em hy vọng huynh đệ trong đường khẩu đoàn kết một lòng, hay là hy vọng bọn họ có hiềm khích với nhau?"
Tôi nói: "Đương nhiên là đoàn kết một lòng rồi! Mọi người đồng tâm hiệp lực thì mới dễ làm việc chứ!"
Tổ gia lắc đầu, cười bất đắc dĩ, nói: "Đúng vậy, một lòng thì dễ làm việc, mà cũng dễ làm hỏng việc."
Lúc đó, tôi cực kỳ khó hiểu câu nói này của Tổ gia, cho đến tận sau này khi bốn vị Bá Đầu liên thủ "bò nhang" (làm phản), tôi mới bỗng nhiên đại ngộ, may mà là bốn vị Bá Đầu làm phản, chứ nếu cả bảy vị Bá Đầu đều đồng lòng cùng nhau làm phản, thì Tổ gia tiêu đời rồi.
Khoảnh khắc đó chợt nhớ đến cuốn truyện tranh "Thiên Gia Đấu" từng đọc lúc nhỏ, trong đó có một câu: "Từ xưa thần tử không tranh đấu, hoàng đế sao có thể ngồi vững ngai vàng?" Tổ gia thật cao minh! Tổ gia không trả lời câu hỏi của tôi về Tiền Dược Lâm, xem ra lúc đó thời cơ vẫn chưa chín muồi.
Khoảng thời gian đó, Lục Bá Đầu "Phong Tử Thủ" cũng rất ít khi ra ngoài, luôn kè kè bên cạnh Tổ gia, hầu như hình với bóng. Người trong đường khẩu đều biết, công việc chính của "Phong Tử Thủ" là phụ trách liên lạc với người chỉ điểm và hắc đạo, nếu hắn không ra ngoài mà ẩn mình trong đường khẩu, chứng tỏ nội bộ đường khẩu có vấn đề. "Phong Tử Thủ" lớn lên trong "Búa Đầu Bang" của Vương Á Tiều, từ nhỏ đã thấm nhuần sự đời giang hồ, tính tình trung can nghĩa đảm, chính khí lẫm liệt. Tổ gia đã tốn rất nhiều công sức mới thu phục được hắn dưới trướng. Chuyện này còn phải kể từ lão gia tử Trương Đان Thành. Lúc Trương Đان Thành chết, Vương Á Tiều đặc biệt đến phúng viếng, mang theo một số tiền phúng điếu lớn, người tinh mắt đều biết, đây là Cửu gia đến chống lưng cho Tổ gia.
Trước khi Trương Đان Thành chết, tuy hết lòng bồi dưỡng Tổ gia, lại dặn đi dặn lại Châu Chấn Long, Đồ Nhất Minh phải hết lòng phò tá, nhưng giang hồ hiểm ác, Tổ gia lúc đó mới ngoài hai mươi tuổi, muốn chèo lái một đường khẩu, không chỉ nội bộ phải trấn áp được, mà đối ngoại càng phải giải quyết ổn thỏa các mối quan hệ trên giang hồ, thế nên Trương Đان Thành từng mấy lần viết thư cho Vương Á Tiều, nhờ ông ấy giúp đỡ nâng đỡ Tổ gia lên.
Ở Trung Quốc, quan hệ của một người có cứng hay không, hậu thuẫn có lớn hay không, mấu chốt là xem những ai xuất hiện trong các dịp hỉ sự, tang sự. Vương Á Tiều không những đến, mà còn mang theo trọng kim đến, người trên giang hồ vừa nhìn thấy trận thế này cũng hiểu được bảy tám phần. Tổ gia tự nhiên hiểu rõ ân tình trong đó, sau khi Trương Đان Thành chết, năm nào Tổ gia cũng đến thăm Vương Á Tiều, Tổ gia từng vô số lần nói với huynh đệ trong đường khẩu: "Cửu gia (chỉ Vương Á Tiều) là đại anh hùng chân chính! Người nước mình mà có mười phần thì được một hai phần giống như Cửu gia, Trung Quốc đã không mất nước!"
Năm 1935, Tổ gia đến bái kiến Vương Á Tiều, tại đường khẩu của Vương Á Tiều đã gặp "Phong Tử Thủ" lúc đó mới 14 tuổi, lúc ấy hắn vẫn chưa gọi là "Phong Tử Thủ", Vương Á Tiều gọi hắn là "Tiểu Lục Tử". Tổ gia thấy thằng nhóc này tuổi tuy không lớn nhưng ánh mắt lạnh lùng, nhất cử nhất động đều phảng phất sự bình tĩnh và kiên nghị, nhìn là biết kẻ có luyện võ. Những năm này, trong lòng Tổ gia vẫn luôn có một nút thắt, đó là mỗi lần đường khẩu xảy ra ma sát lớn với người trên giang hồ, ông ấy đều luôn phải đích thân cầu cứu Vương Á Tiều, luôn làm phiền người ta, bản thân cũng thấy ngại ngùng. Ông ấy muốn đào một người từ bên phía Vương Á Tiều sang, như vậy quan hệ của hai đường khẩu sẽ càng thêm gắn kết, một khi có chuyện trên giang hồ cần giải quyết, Tổ gia không cần phải đích thân ra mặt nữa, phái người này ra ngoài là được, bởi vì đây chính là chuyện của hắn, người này không thể chối từ.
Nhưng trong đây có một vấn đề, nếu trực tiếp đào tâm phúc của Vương Á Tiều sang, đừng nói là Vương Á Tiều có đồng ý hay không, bản thân Tổ gia cũng mở không nổi miệng.
Những tâm phúc thề chết đi theo Vương Á Tiều cũng sẽ không đi theo Tổ gia, có lẽ cơ bản còn chẳng coi Tổ gia ra gì, cho nên, Tổ gia phải tìm một người thích hợp. Tư cách của người này không cần phải quá sâu, nhưng gốc gác của hắn phải cứng, chỉ cần nhắc đến nhân vật đời cha chú của hắn là có thể khiến người trên giang hồ nể sợ vài phần, như vậy mục đích ban đầu coi như đạt được, người này lớn lên trong lưới quan hệ của thế hệ cha chú, theo thời gian trôi qua, đợi thế hệ đi trước lui về ở ẩn, hắn thực sự có thể đại triển quyền cước, vì mình mà sử dụng!
Hôm đó, Tổ gia vừa liếc mắt đã chấm trúng Tiểu Lục Tử, hỏi Vương Á Tiều: "Cửu gia, vị này là..."
Vương Á Tiều cười nói: "Đây là cháu của kết nghĩa huynh đệ ta, chú đừng thấy nó nhỏ mà coi thường, bản lĩnh lớn lắm đấy. Từ nhỏ đã luyện võ, tinh thông Tông Hạc, Bát Quái, Hồng Quyền, khinh công cũng rất giỏi."
Tổ gia trầm tư chốc lát, cuối cùng nhịn không được, chắp tay vái Vương Á Tiều một cái: "Cửu gia, tiểu đệ có một việc muốn thỉnh cầu, không biết có nên nói hay không?"
Vương Á Tiều cười lớn, "Hiền đệ là đang nhắc tới Tiểu Lục Tử sao?"
Tổ gia giật mình, thẳng thắn nói: "Quân tử không nên đoạt người đẹp, nhưng đường khẩu dạo gần đây nhân tài điêu tàn, tiểu đệ cũng là khát khao hiền tài. Thấy vị tiểu huynh đệ này khôi ngô tuấn tú, lại là hậu bối đường khẩu của Cửu gia, tất đã chịu sự cảm hóa lâu dài của Cửu gia, trọng tình trọng nghĩa, tiểu đệ cầu còn không được!"
Vương Á Tiều cười ha hả, "Giữa huynh đệ chúng ta, chú không cần phải "long" (câu nệ) với anh nữa, cứ nói thẳng là muốn nó đi!"
Trước mặt Vương Á Tiều, Tổ gia quả thực vẫn còn non trẻ, bị Vương Á Tiều nói như vậy, Tổ gia đỏ cả mặt, nhưng ngược lại lại cảm thấy nhẹ nhõm hơn, nói thẳng: "Cầu Cửu gia thành toàn!"
Vương Á Tiều nói: "Anh không có ý kiến, mấu chốt là xem bản thân nó thế nào, cái thằng nhóc này bướng bỉnh lắm đấy." Vừa nói, vừa vẫy tay với Tiểu Lục Tử, "Tiểu Lục Tử à, vị Đại sư ba này muốn thu nhận cháu, cháu có bằng lòng đi theo ông ấy không?"
Tổ gia khi đó mới hơn ba mươi tuổi, Tiểu Lục Tử liếc xéo Tổ gia một cái: "Ngươi có bản lĩnh gì?"
Tổ gia mỉm cười, hỏi ngược lại: "Em có bản lĩnh gì?"
Tiểu Lục Tử bĩu môi, nói: "Tôi có thể né được đạn."
Cái gọi là né được đạn mà hắn nói kỳ thực không phải chạy nhanh hơn đạn thật, hắn chỉ là rất linh hoạt, có thể phán đoán chính xác hướng ngắm bắn của người nổ súng, trước khi đối phương bóp cò liền dùng lực dưới chân trốn thoát trước một bước.
Có lần hắn đi hành thích cùng chú của mình, kết quả đối phương phản kích, thằng nhóc này nhảy nhót tưng bừng, một băng đạn rỗng tuếch mà không bắn trúng nổi hắn.
Tổ gia đảo mắt nhìn quanh, lúc đó trên bàn vừa vặn có một đĩa quả mận, Tổ gia bốc vài quả, cười nói: "Hay là thế này, nếu em né được mấy quả mận này của tôi, tôi sẽ không thu nhận em nữa, còn nếu không né được, em phải ngoan ngoãn đi theo tôi."
Tiểu Lục Tử nghe vậy tròng mắt tức giận đến đỏ ngầu, thầm nghĩ đúng là khoác lác không sợ sưng lưỡi, liền xắn ống quần, xắn tay áo lên, nói: "Đến đi!"
Vương Á Tiều đứng bên cạnh nheo mắt cười ha hả. Tổ gia nói: "Chờ chút."
Tiểu Lục Tử ngẩn ra: "Sao thế, sợ à?"
Tổ gia đếm số quả mận trong tay, nói: "Tổng cộng năm quả, tôi cộng thêm một điều kiện nữa, năm quả này nếu có một quả không đánh trúng em, coi như tôi thua!"
Mũi của Tiểu Lục Tử đã bốc khói rồi, "Đừng lải nhải nữa, đến đi! Đến đi!"
Đây là phép kích tướng của Tổ gia, con người ta một khi nóng vội rất dễ loạn trận cước, hắn càng gấp gáp thì Tổ gia lại càng trầm ổn. Tổ gia nắm chặt mấy quả mận trong tay, lắc lư trước ngực, vận lực ở tay, đột nhiên vung mạnh cánh tay hét lớn một tiếng: "Chiêu!"
Tiểu Lục Tử vẫn luôn dán mắt vào cổ tay của Tổ gia, vừa thấy cánh tay vung tới, hắn lập tức cúi đầu, thuận thế tung ra một cú "xoay người", lộn nhào sang một bên, đứng vững thân hình, phát hiện không có vật gì đánh trúng mình, vừa định há miệng cười lớn hò reo thì cổ tay Tổ gia lật một cái, một quả mận vù vút bay ra, trúng phăng vào trán hắn, lực đạo này cũng đủ lớn, quả mận pằng một tiếng nổ tung, trên trán Tiểu Lục Tử ngay lập tức nổi lên một vết đỏ. Hóa ra lúc nãy cú ra tay đầu tiên của Tổ gia chỉ là chiêu giả vờ, căn bản không hề bắn mận ra, đợi đến khi pha "lộn nhào trên không" của Tiểu Lục Tử rơi xuống đất đứng vững rồi mới thực sự tung ra một quả.
Tiểu Lục Tử hét lên: "Ngươi chơi xấu! Vừa nãy ngươi căn bản không..."
Lời còn chưa dứt, Tổ gia lại vung tay: "Lại tới nữa này!"
Lần này còn nhanh hơn, mạnh hơn, vèo một cái, quả mận trúng phăng vào cổ họng Tiểu Lục Tử, Tiểu Lục Tử giống như bị thứ gì đó nghẹn lại, cổ họng khục một tiếng, nói cũng không thốt nên lời.
Tổ gia lại vung tay, lần này là ba viên đồng phát, Tiểu Lục Tử dẫu dốc hết sức né tránh nhưng vẫn bị một viên trúng ngực, hai viên khác trúng bụng.
Vương Á Tiều cười ha hả, nói với Tổ gia: "Không ngờ hiền đệ lại có thủ bản này, nếu anh đoán không lầm, hẳn là thủ pháp của Đồ Nhất Minh!"
Tổ gia chắp tay: "Cửu gia quá khen, quả thực là do Đồ lão tiền bối truyền lại!"
Lúc này, Tiểu Lục Tử ấm ức đứng bên cạnh, tay phải xoa xoa cổ họng, có vẻ như luồng khí đó vẫn chưa hoàn toàn thông thuận.
Vương Á Tiều mỉm cười, nói với Tiểu Lục Tử: "Còn nhìn cái gì mà nhìn, cháu thua rồi đấy! Mấy quả mận vừa rồi, quả nào cũng đánh trúng tử huyệt của cháu, nếu đổi thành phi đao hay đinh sắt thì cháu tiêu đời rồi."
Tiểu Lục Tử bĩu môi nói: "Hắn chơi xấu."
Vương Á Tiều nói: "Giang hồ chém giết, xưa nay chưa từng đánh theo quy củ, thắng làm vua thua làm giặc, thua chính là thua. Đã đến đường khẩu của Tổ gia rồi, cháu phải nghe lời, làm việc cho tốt, nhân, nghĩa, lễ, tín, thiếu một thứ cũng không được, bằng không, ta không tha cho cháu đâu."
Câu nói này là nói cho Tiểu Lục Tử nghe, cũng là nói cho Tổ gia nghe. Vương Á Tiều tuy lên núi làm giặc nhưng cả đời chính khí lẫm liệt, đừng thấy bây giờ ông ấy giúp Tổ gia, một khi Tổ gia dám bước đi trên con đường sai trái, ông ấy chắc chắn sẽ là người đầu tiên tiêu diệt Tổ gia. Tổ gia nghe xong vội đứng dậy hành lễ: "Cảm ơn Cửu gia!"
Tiểu Lục Tử nói: "Tôi có thể đi theo ông, nhưng có một điều kiện."
Mặt Vương Á Tiều sầm xuống, nói: "Đại trượng phu nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy, không được phép lật lọng."
Tổ gia vội vàng nói: "Không sao, không sao, em nói điều kiện gì?"
Tiểu Lục Tử nói: "Ông phải dạy tôi bộ công phu đánh mận này!"
Tổ gia và Vương Á Tiều nhìn nhau, rồi cười ha hả.
Tiểu Lục Tử cứ thế đi theo Tổ gia. Sau này trong đường khẩu, qua sự bồi dưỡng tỉ mỉ của Tổ gia, cuối cùng hắn cũng có thể đứng vững một cõi. Do quyền thuật cao cường, khinh công lại giỏi, tinh thông công tác đối ngoại hắc đạo và việc dò la vẽ bản đồ (đạp điểm), giống như một con ngựa không biết mệt mỏi, cho nên Tổ gia ban cho hắn một nhã hiệu — "Phong Tử Thủ".
Năm thứ hai sau khi "Phong Tử Thủ" đến đường khẩu thì Vương Á Tiều bị ám sát. "Phong Tử Thủ" vì chuyện này mà khóc ròng suốt một đêm, hắn muốn đi báo thù, muốn tiến hành ám sát, cuối cùng bị Tổ gia quát lớn ngăn lại! Tổ gia nói: "Em đấu lại được người Quân thống không? Cửu gia là đệ nhất ám sát vương của Trung Quốc mà cuối cùng còn chết trong tay bọn họ, em đi thế là chịu chết đấy! Cửu gia giao em cho anh, anh bây giờ với tư cách là Đại sư ba ra lệnh cho em, không cho phép đi!"
Mặc dù miệng nói không cho phép đi nhưng trong lòng Tổ gia vô cùng đau đớn, người mà Tổ gia kính nể nhất trong đời chính là Cửu gia Vương Á Tiều, hơn nữa Cửu gia còn nhiều lần vươn tay viện trợ vào lúc Tổ gia gặp khó khăn hoạn nạn. Tổ gia cũng muốn báo thù, nhưng đối thủ lần này là Quân thống, Tổ gia không dám hành động lỗ mãng.
Đúng lúc này, một vị Đại sư ba khác ở khu vực Giang Hoài xuất hiện, thế là hai vị Đại sư ba liên thủ thiết cục, làm một ván mỹ nhân cục sinh ly tử biệt.
3. Đặc vụ Quân thống mê tín
Vị "Đại sư ba" đến tìm Tổ gia kia tên thật là Trương Ân Thụy, tính cho cùng thì Trương Ân Thụy này vẫn là một người ái quốc, những năm đầu từng gia nhập "Đội tuần tra công nhân". Sau chính biến "Ngày 12 tháng 4", ông ta thề chết đi theo đệ nhất sát thủ Thượng Hải Vương Á Tiều, đối địch không khoan nhượng với Quốc Dân Đảng. Đội ngũ của ông ta không lớn, chuyên tóm gọn kẻ ác, kẻ xấu, số tiền tóm được phần lớn đều giao nộp cho Vương Á Tiều làm kinh phí hoạt động cho các sát thủ. Lúc Tổ gia đến bái phỏng Vương Á Tiều trước đây, Trương Ân Thụy với tư cách là người cùng đạo "Giang Tướng Phái" đã nhiều lần bồi tiếp tiếp đãi, quan hệ giữa ông ta và Tổ gia vẫn luôn rất tốt. Sau khi Vương Á Tiều chết, ông ta "nhảy sân" (ẩn mình) một thời gian, sau khi sóng gió qua đi, ông ta vội vàng đến tìm Tổ gia thương nghị.
Vương Á Tiều là nhân vật ái quốc nổi tiếng thời cận đại, từng lần lượt hoạch định các hoạt động ám sát làm chấn động trong ngoài nước như ám sát Tưởng, ám sát Tống, ám sát Uông, sau khi đánh bom chết tư lệnh quân viễn phái Nhật Bản đại tướng lục quân Bách Xuyên Nghĩa Tắc thì càng nổi danh như cồn, Tưởng Giới Thạch mỗi khi nhắc đến ông ta là răng giả lại ê ẩm. Một nhân vật lợi hại như vậy cuối cùng vẫn chết trong tay một người phụ nữ tên là Uyển Quân. Đới Lập tự tay lên kế hoạch mỹ nhân kế, khiến cho một đời kiêu hùng phải bỏ mạng nơi hoàng tuyền.
Tổ gia biết bản thân Đới Lập vốn là một kẻ rất mê tín, thường xuyên tìm người bói toán, để bù đắp cho hiện trạng trong mệnh cục thiếu thủy của mình, ông ta lần lượt lấy hơn chục cái tên mang bộ thủy như "Uông Đào", "Đồ Thanh Ba", "Thẩm Bái Lâm", "Hồng Miêu", ông ta thậm chí còn hoang đường đến mức biên soạn cuốn "Băng Gián" của Tăng Quốc Phàn, "Ma Y Tướng Pháp" của Ma Y đạo nhân thành giáo trình đặc vụ, coi như môn học bắt buộc của các đặc vụ. Dưới ảnh hưởng của Đới Lập, các đặc vụ dưới trướng ông ta đều mê tín đến mức tột độ, hễ rảnh rỗi là lại đi thăm viếng cao nhân, thảo luận mệnh lý.
Trương Ân Thụy cũng hiểu rõ huyền cơ trong đó, cho nên ván cục này vừa dễ làm lại vừa khó làm. Dễ làm là nói đám đặc vụ Quân thống đều rất mê tín, dễ tìm được cửa đột phá; khó làm là nói những đặc vụ này dưới ảnh hưởng của Đới Lập ít nhiều gì cũng hiểu biết một chút về mệnh lý, mà "Giang Tướng Phái" lại không phải là thầy bói chân chính, chẳng qua chỉ mượn danh nghĩa bói toán này để lừa người, cho nên trong quá trình thiết cục một khi xuất hiện sai lầm về mặt lý luận thì đối phương rất dễ sinh lòng nghi ngờ. Mặc cho then chốt nhất là ván cục này phải làm đến mức độ nào, có phải muốn giết chết đối phương hay không, nếu muốn giết Đới Lập thì đúng là chuyện hoang đường ban ngày, hoàn toàn không thực tế, còn nếu muốn giết người dưới tay ông ta thì rất dễ chuốc lấy phiền phức, đến lúc đó bị Quân thống nhắm mục tiêu, gây ra sự phản công từ Cục Quân thống thì e rằng đó là tai họa diệt đỉnh đối với "Giang Tướng Phái".
Trầm tư hồi lâu, Trương Ân Thụy nói: "Vơ vét tiền đi, vơ vét tiền xong, mua súng mua pháo, tôi dựng đội ngũ lên mới có thể đối đầu với bọn chúng!"
Tổ gia gật đầu. Hai người thương lượng, ván cục này bắt đầu triển khai từ kỹ viện.
Tổ gia trước đây cũng từng làm không ít mỹ nhân cục, có lúc sẽ để một số nữ A Bảo đóng giả làm kỹ nữ để câu dẫn những quan lại hiển quý đó; có lúc sẽ để một số nam A Bảo đóng giả người có tiền, đến kỹ viện trêu chọc những kỹ nữ thường hay lui tới với quan lại hiển quý. Mục đích của cả hai thủ pháp này đều giống nhau, chính là moi thông tin, chọn thời cơ giở trò bịp.
Xã hội thời đó, kỹ viện chính là cửa sổ thông tin của toàn xã hội, không biết bao nhiêu cơ mật tuôn ra từ miệng kỹ nữ. Bới vì dù là đàn ông hay phụ nữ, một khi đã lên giường, đã động tình thì sẽ móc hết gan ruột, những lời bình ngày không dám nói, trên giường đều dám thổ lộ với đối phương.
Rất nhanh, nữ A Bảo mà Trương Ân Thụy cài cắm trong kỹ viện truyền tin tới, nói dạo này có mấy sĩ quan ghé qua, lần nào cũng gọi rất nhiều cô gái, ra tay hào phóng, hơn nữa còn thường xuyên trêu chọc các cô gái, xem tướng tay, xem tướng mặt cho các cô gái rồi nói: "Ông đây vừa nhìn tướng tay của cô là biết cô mất đời vào năm nào rồi."
Tổ gia đoán rất có thể đây là đặc vụ của Cục Quân thống, chỉ có người của Cục Quân thống mới nhiệt tình xem bói toán tướng mặt như vậy. Mà chi phí của Cục Quân thống lại nhận được sự ủng hộ đại lực từ hắc bang Thượng Hải, đặc vụ tiêu tiền phóng tay quá trán, đúng là một cơ hội vơ vét tiền tốt!
Bởi vì nguyên nhân của Vương Á Tiều, Trương Ân Thụy sợ bản thân để lại án tích ở Cục Quân thống nên không thể đích thân ra mặt, cho nên ván cục này Tổ gia phải đích thân ra trận.
Trương Ân Thụy lên kế hoạch trước tiên để một nữ A Bảo tên là Hoa Nguyệt Dung giả dạng làm kỹ nữ bước vào "Phượng Minh Lâu". Nói đến đây, Trương Ân Thụy có chút thương cảm, Hoa Nguyệt Dung này độ tuổi đôi mươi, là con bài chủ chốt của Trương Ân Thụy, sinh ra xinh đẹp như hoa, những năm đầu gia cảnh bần hàn, người nhà đem cô bán vào gánh hát, Trương Ân Thụy lúc xem kịch đã để mắt tới cô, chuộc cô ra ngoài, và nhanh chóng phát triển thành nữ A Bảo. Từ đó Hoa Nguyệt Dung trở thành trợ thủ đắc lực của Trương Ân Thụy. Vốn dĩ Trương Ân Thụy muốn nạp Hoa Nguyệt Dung làm thiếp nhưng vướng bận thân phận "Đại sư ba" và thể diện với các anh em nên vẫn chưa chính thức cưới hỏi, kỳ thực các huynh đệ dưới tay ông ta đều rất rõ, mỗi khi ông ta và Hoa Nguyệt Dung ở riêng một chỗ, các huynh đệ đều sẽ lui ra ngoài.
Hoa Nguyệt Dung thỉnh thoảng sẽ hỏi Trương Ân Thụy: "Đến khi nào thì anh mới cưới em? Chúng ta rời khỏi những chuyện thị phi này, bình an sống qua ngày?"
Mỗi khi những lúc thế này, Trương Ân Thụy sẽ ôm cô vào lòng, dịu dàng nói: "Sẽ có, sẽ có ngày đó."
Trương Ân Thụy có thể để Hoa Nguyệt Dung xuất trận cũng đã phải đấu tranh tư tưởng rất lớn, dẫu sao cũng là người phụ nữ mình yêu. Trong đường khẩu không phải không có nữ A Bảo nào khác nhưng tố chất đều không đủ, bao gồm cả những cô chân bó được phân tán ở chầu lầu lầu xanh kia, tuy có người sinh được một bộ da thịt đẹp đẽ nhưng đầu óc lại không đủ dùng, có người tuy tùy cơ ứng biến được nhưng tướng mạo lại xiêu vẹo xấu xí. Chỉ có Hoa Nguyệt Dung vừa xinh đẹp lại vừa từng học qua văn tuồng, câu chữ phong hoa tuyết nguyệt biết không ít, còn biết hát cả Côn khúc, quan sát sắc mặt chuẩn xác đến từng ly từng tí, đối phó với đám đặc vụ Quân thống này, chỉ có phái cô ra trận mới được.
Cái này cũng giống như người dưới tay Tổ gia vậy, bàn về độ tàn nhẫn thì Đại bá đầu đứng đầu, giết người không gớm tay; bàn về "trát phi" thì Nhị bá đầu độc chiếm ngôi đầu, chui vào quan tài ngủ chung với người chết cũng chẳng sao; bàn về tài học thì Tam bá đầu tuyệt đối độc lập một cõi, thiên văn địa lý, âm dương bát quái không gì là không biết; còn có Tứ bá đầu, Ngũ bá đầu, Lục bá đầu, mỗi người đều có tuyệt kỹ riêng của mình, nhưng nếu xét về tố chất tổng hợp thì không ai có thể so bì với Tổ gia, cho nên ván cục lần này Tổ gia bắt buộc phải tự mình ra trận!
Hoa Nguyệt Dung lẻn vào "Phượng Minh Lâu", tối ngày thứ hai liền có mấy tên đặc vụ Quân thống tới, tú bà dẫn các cô gái xếp thành một hàng dài, mấy tên đặc vụ chọn mấy người nhưng không mấy hài lòng, sau đó hỏi: "Còn người nào khác nữa không?"
Tú bà cười hì hì đon đả nói: "Quan gia, chỗ tôi vừa vặn mới tới một cô nương, vốn là tiểu thư khuê nữ, sau vì gia đạo sa sút mới lưu lạc đến chầu lầu xanh này..."
Tú bà còn chưa dứt lời, mấy tên đặc vụ đã la lối om sòm: "Sao còn không mau gọi nó ra đây!"
Tú bà lại cười: "Các vị quan gia đừng vội, cô nương này giao ước trước từ nhà, bên ngoài cửa phòng con bé có dán một vế câu đối, ai đối được vế đối của con bé thì nó mới chịu tiếp khách, bằng không thì..."
Một tên đặc vụ nổi giận: "Mẹ kiếp! Một con phò mà lắm trò thế! Tao vào lôi cổ nó ra!" Vừa nói vừa xách súng định bước lên lầu.
Lúc này, một tên đặc vụ khoảng bốn mươi tuổi lên tiếng: "Đứng lại! Vô văn hóa! Năm xưa Thái Ngạc tướng quân và Tiểu Phượng Tiên họa thơ đối ẩm ở lầu xanh, trở thành một giai thoại, đừng hở một chút là thô lỗ như thế! Tố chất! Hiểu không? Tú bà, mày dẫn tao đi xem, tao đến đối."
Người này chính là mục tiêu mà Tổ gia chuẩn bị ra tay sau này, hắn tên là Từ Hoài Cận, Phó xứ trưởng xứ quân tình.
Dưới sự dẫn đường của tú bà, Từ Hoài Cận bước lên lầu hai, đi đến trước cửa phòng Hoa Nguyệt Dung, hai bên cửa quả nhiên có dán một vế đối, vế trên là: "Âm âm dương dương âm dương bất định phong nguyệt sự." Vế dưới vẫn là một tờ giấy trắng, chưa ai đối được.
Từ Hoài Cận trầm ngâm chốc lát, bảo tú bà: "Lấy bút đến đây."
Tú bà mang bút tới cho hắn, Từ Hoài Cận xắn tay áo lên, viết thật nắn nót theo lối chữ Liễu trên tờ giấy trắng: "Thiện thiện ác ác thiện ác hữu báo giang hồ nhân."
Tú bà vừa nhìn thấy vậy, vội vàng gọi vọng vào trong phòng: "Hoa cô nương, có khách tới đối câu đối rồi, là phu quân của quan gia đấy."
Chẳng bao lâu sau, cửa mở ra, Hoa Nguyệt Dung dùng khăn tay che mặt vẻ mặt điềm đạm đáng yêu bước ra, Từ Hoài Cận vừa nhìn liền đập thình thịch, cô nương này xinh đẹp quá mức, da trắng thịt mềm, vóc dáng uyển chuyển, mày liễu chứa tình, đưa tình liếc mắt, đàn ông bình thường nhìn thấy đều sẽ động lòng.
Hoa Nguyệt Dung nhìn vế dưới, gật gật đầu, mỉm cười dịu dàng, nói: "Quan gia mời vào."
Từ Hoài Cận cười cười, làm động tác nhường đường: "Cô nương mời."
Hoa Nguyệt Dung bước vào trong, Từ Hoài Cận vứt cho tú bà một sấp tiền giấy, nói: "Lấy chút rượu thức ăn lên đây." Sau đó phất tay bảo mấy tên đặc vụ khác lui ra, tự mình bước vào trong phòng.
Chẳng mấy chốc, tiểu nhị bưng mâm đi lên, một bình Nữ Nhi Hoa, bốn đĩa đồ nhắm nhỏ, Hoa Nguyệt Dung rót một chén rượu đưa cho Từ Hoài Cận, Từ Hoài Cận nhận lấy rồi nói: "Làm phiền cô nương rồi. Dám hỏi khuê danh cô nương?"
Hoa Nguyệt Dung đáp: "Tiểu nữ họ Hoa, tên Nguyệt Dung."
Từ Hoài Cận mỉm cười nói: "Vẻ đẹp cá lặn nhìm sa, hoa nhường thẹn nguyệt, đúng là dung nhan tựa hoa, cô nương quả thực người như tên."
Hoa Nguyệt Dung đỏ bừng mặt: "Quan gia quá khen. Hồi nhỏ người nhà đều gọi em là Nguyệt Nhi. Dám hỏi quan gia quý tính?"
Từ Hoài Cận ngẩn ra, nói: "Tôi họ Từ, cô có thể gọi tôi là Từ xứ trưởng. Nguyệt Nhi cô nương khí độ bất phàm, cớ sao lại lưu lạc đến chầu..." Chợt cảm thấy lỡ lời, Từ Hoài Cận nuốt ngược nửa câu sau vào trong bụng.
Hoa Nguyệt Dung cười nhạt một tiếng, nói: "Từ xứ trưởng không cần câu nệ. Tiểu nữ vốn là người Lâm An, vì trong nhà đột biến cố nên mới bất đắc dĩ phải chọn hạ sách này... Người không đủ ăn vẫn còn mặt mũi, cây dù ruột rỗng vẫn còn vỏ, nếu không phải vì mẹ tôi lâm bệnh nặng, không có tiền chữa trị..." Nói đến đây, hai hàng lệ nóng tuôn rơi.
Từ Hoài Cận vội vàng lấy khăn tay ra lau nước mắt cho Hoa Nguyệt Dung, Hoa Nguyệt Dung thuận thế ngả vào lòng hắn.
Từ Hoài Cận khẽ nói: "Đừng lo, nói cho tôi nghe xem nào."
Hoa Nguyệt Dung nép vào ngực Từ Hoài Cận, nói: "Nhà tôi vốn là đại phú hộ ở Lâm An, cha tôi là thương gia buôn trà, sau đó cha tôi bị kẻ thù hãm hại, gia cảnh bắt đầu sa sút, hai người anh trai đều đi lính và chết trên chiến trường, đầu năm nay mẹ tôi nhiễm phong hàn, sau đó bệnh tình trở nặng, phát triển thành bệnh lao phổi, ngày ngày ho ra máu. Nhìn mẹ mình như vậy, lòng tôi đau như cắt, chỉ cần có thể kiếm được tiền chữa bệnh cho mẹ, để mẹ được ăn chút đồ ngon, chịu bao nhiêu khổ cực tôi cũng nguyện ý." Nói xong lại khóc.
Từ Hoài Cận ôm chặt lấy Hoa Nguyệt Dung vào lòng, nói: "Đừng sợ, đừng sợ. Cô và tôi bèo nước gặp nhau cũng là duyên phận. Tôi sẽ giúp cô."
Hoa Nguyệt Dung đứng dậy, lại rót đầy một chén rượu cho Từ Hoài Cận, mình cũng rót đầy một chén, giơ ly rượu lên nói: "Tri kỷ gặp nhau ngàn chén thiếu, lời không hợp ý nửa câu thừa. Tiểu nữ không phải là người lẳng lơ sinh tính, cho dù đã bước chân vào lầu xanh này cũng không phải là người tùy tiện, thế nên mới viết vế đối này ở ngoài cửa, ít nhất phải là người hiểu biết thi thư, tiểu nữ mới chịu tiếp nhận. Mấy tên trước đối nham nhở tào lao, cho đến khi xứ trưởng ngài tới, tiểu nữ mới cảm thấy được an ủi bội phần, Từ xứ trưởng văn võ song toàn, tiểu nữ vô cùng khâm phục, tôi xin kính ngài một chén."
Từ Hoài Cận cười vui vẻ, ôm Hoa Nguyệt Dung vào lòng, ngửa cổ uống cạn ly rượu. Sau đó Hoa Nguyệt Dung lại rót thêm mấy chén, hai người đều uống cạn sạch.
Mấy chén rượu trôi qua, hai người yên tĩnh tựa sát vào nhau. Ánh trăng đậu trên ngọn liễu, gió mát thổi qua ô cửa sổ, hương hoa ngọc lan trong viện sực nức xộc vào mặt, vứt bỏ toàn bộ âm mưu và tội ác, cảnh tượng tình tứ lúc này giống như một bức tranh, định hình trong tình yêu ấm áp.
Can ba canh, Từ Hoài Cận cởi chiếc áo khoác ngoài của Hoa Nguyệt Dung ra, Hoa Nguyệt Dung thẹn thùng che chiếc yếm đỏ, nói: "Từ xứ trưởng, có thể thư thả cho tiểu nữ hai ngày nữa được không?"
Từ Hoài Cận khó hiểu, hỏi: "Tại sao?"
Hoa Nguyệt Dung mang vẻ mặt u sầu nói: "Tôi từ nhỏ nhiều bệnh nhiều tật, mẹ từng mời một thầy bói xem bát tự cho tôi, nói rằng bắt buộc phải qua sinh nhật tuổi 20 mới được phép động phòng, nếu không chắc chắn sẽ không sống qua tuổi 22. Còn hai ngày nữa là đến sinh nhật tôi rồi, cho nên, xin xứ trưởng..."
Từ Hoài Cận ngẩn ra: "Ồ, hóa ra là vậy, nói cách khác, Nguyệt Nhi cô nương vẫn là thân xử nữ?"
Hoa Nguyệt Dung đỏ mặt, khẽ gật gật đầu.
Từ Hoài Cận cười dịu dàng: "Hehe, người xưa hay nói động như thỏ chạy, tĩnh như gái tơ, hèn chi trong cửu động nhất cử nhất động của Nguyệt Nhi cô nương đều toát lên vẻ trầm ổn và hàm súc, hehe, không vội, không vội."
Hoa Nguyệt Dung vội vàng hành lễ vạn phúc, nói: "Cảm ơn xứ trưởng, đúng là tiền đường rộng mở không người tri kỷ, tiểu nữ mệnh khổ, như bèo trôi biển lớn, không ngờ lại có thể gặp được một người có tình có nghĩa như xứ trưởng chốn hoa phấn này!"
Từ Hoài Cận vui mừng cười lớn, đột nhiên hình như nhớ ra cái gì: "Em vừa nói có một thầy bói nào đó..."
Hoa Nguyệt Dung nói: "Ừm, người này rất lợi hại, từng là cố nhân của cha tôi, ông ấy từng đoán cha tôi gặp kiếp nạn tính mạng vào tuổi trung niên, ngặt nỗi cha tôi lại chẳng để tâm chuyện này, cha tôi là người cứng đầu, hay nói sinh tử có mệnh, phú quý tại trời. Ngày xảy ra chuyện, vị thầy bói đó còn đặc biệt đến nhà tôi thông báo phương pháp giải tai nhưng cha tôi bận làm ăn, không tiếp thu kiến nghị, kết quả mùa đông năm đó cha tôi bị kẻ thù hãm hại, từ đó gia cảnh sa sút, ông ấy còn tính ra hai người anh của tôi gặp kiếp nạn... Từng chuyện từng chuyện một sau đó đều ứng nghiệm, cho nên tiểu nữ mới rất coi trọng thời gian viên phòng của mình, tiểu nữ không phải là kẻ tiếc mạng, chỉ vì mẹ bệnh nặng trong người, tôi không nỡ bỏ mặc bà ấy, dù thế nào đi nữa tôi cũng phải lo cho mẹ tuổi già an nghỉ... Gần đây bệnh tình của mẹ ngày càng trầm trọng, tôi chẳng muốn bận tâm mấy chuyện này nữa, thầm nghĩ chết thì chết đi, trước khi chết có thể cho mẹ ăn được miếng cơm, chết cũng đáng..."
Còn chưa để Hoa Nguyệt Dung nói hết câu, Từ Hoài Cận đã ngắt lời cô: "Đừng nói lời ngốc nghếch ấy, mọi chuyện đều có cách giải quyết..." Trầm tư một lúc, hắn lại nói: "Thầy bói mà em nói tên là gì, người ở đâu?"
Hoa Nguyệt Dung nói: "Thầy bói này người ta gọi là Thiết Bản tiên sinh, nghe nói là truyền nhân chính thống của Thiết Bột Tử đạo nhân nào đó..."
Từ Hoài Cận cướp lời nói: "Chính là Thiết Bản tiên sinh được nhắc đến trên báo chí đó sao?"
Hoa Nguyệt Dung cười nói: "Tiểu nữ không làm quan không làm tước, nào biết đọc báo chí, không biết xứ trưởng đang nói vị nào."
Từ Hoài Cận nói: "Chắc chắn là ông ấy rồi, chắc chắn là ông ấy rồi, em còn tìm được ông ấy không?"
Hoa Nguyệt Dung nói: "Ông ấy vân du tứ hải, hành tung bất định, cái này rất khó nói nhưng hàng năm đến ngày giỗ của cha tôi, ông ấy đều vội vã đến phúng viếng."
Từ Hoài Cận nói: "Ngày giỗ lệnh tôn là khi nào?"
Hoa Nguyệt Dung nói: "Mùng bảy tháng này."
Từ Hoài Cận gật gật đầu, như đang lẩm bẩm một mình: "Thấy chết mà không cứu... à nhầm, trời giúp tôi."
Hoa Nguyệt Dung hỏi: "Trưởng phòng nói gì thế?"
Từ Hoài Cận đáp: "Không có gì, không có gì, hôm nào dẫn tôi đi thăm mẹ cô nhé."
Hoa Nguyệt Dung nói: "Không dám làm phiền trưởng phòng..."
Từ Hoài Cận nói: "Phải vậy chứ, phải vậy chứ, nhất định phải đến thăm hỏi một tiếng." Bỗng lại hỏi: "Hai người bây giờ đang ở chỗ nào?"
Hoa Nguyệt Dung đáp: "Đại Chùy Tử Hồ Đồng, số 28, đầu tháng mới chuyển đến."
Từ Hoài Cận nói: "Được, hôm nào cô dẫn tôi đi."
Hoa Nguyệt Dung nói: "Cảm ơn sự quan tâm của trưởng phòng. Đêm nay em không thể ở bên giấc ngủ của trưởng phòng được, đành hát một khúc Côn khúc tặng trưởng phòng vậy." Nói đoạn cô lại rót cho Từ Hoài Cận một chén rượu.
Từ Hoài Cận mỉm cười nói: "Được chứ."
Hoa Nguyệt Dung tay ôm đàn tam huyền, cất giọng hát một đoạn "Điểm Giáng Thần", nhịp phách uyển chuyển, dư âm văng vẳng bên tai, nghe đến mức Từ Hoài Cận vỗ tay khen ngợi không ngớt. Đến đoạn cao trào dạt dào cảm xúc, Từ Hoài Cận không kiềm chế được bản thân bèn xích lại gần Hoa Nguyệt Dung, ôm chầm lấy cô vào lòng.
Đúng lúc này có một tên đặc vụ nhỏ gõ cửa bước vào, xem chừng là đến hối thúc Từ Hoài Cận đã đến giờ. Từ Hoài Cận bước đến trước mặt tên đặc vụ nhỏ, thì thầm vài câu, tên đặc vụ nhỏ đó liền giơ tay chào kiểu quân đội rồi lui xuống.
Hoa Nguyệt Dung nói: "Trưởng phòng nếu có việc, cứ đi bận việc công đi ạ. Tiểu nữ đã gặp được trưởng phòng... trái tim liền... thuộc về người rồi. Trưởng phòng cứ đi lo việc công đi, Nguyệt Nhi sẽ ở lại đây chờ, trưởng phòng một ngày không đến, Nguyệt Nhi chờ một ngày, trưởng phòng một năm không đến, Nguyệt Nhi chờ một năm, trưởng phòng kiếp này không đến, Nguyệt Nhi sẽ chờ đến kiếp sau."
Từ Hoài Cận ngẩn người nhìn Hoa Nguyệt Dung, Hoa Nguyệt Dung si mê ngước nhìn anh, Từ Hoài Cận nhẹ nhàng ôm chầm lấy Hoa Nguyệt Dung vào lòng, muốn nói gì đó nhưng rồi lại nuốt ngược vào trong.
Gà gáy ba lượt, phương đông hửng hồng, chẳng mấy chốc mặt trời đã nhô lên. Từ Hoài Cận chỉnh đốn lại y phục, nói với Hoa Nguyệt Dung: "Cô bé Nguyệt Nhi, hai ngày nữa Từ mỗ sẽ đến thăm cô."
4, Nữ A Bảo sa lưới tình với đặc vụ Quân thống
Sau khi Từ Hoài Cận rời đi, Hoa Nguyệt Dung ở trong phòng thu xếp lại tâm tư, sau đó gọi một cô gái ở dưới lầu lên, thì thầm dặn dò vài câu, rồi tự mình thay một bộ đồ khác, chạy thẳng đến Đại Chùy Tử Hồ Đồng. Khoảng nửa canh giờ sau, cô đến trước cửa viện số 28, khẽ gõ cửa, gọi: "Mẹ?"
Chẳng mấy chốc, một cụ bà bước ra, trên trán quấn một dải vải trắng, trông có vẻ bệnh tình nặng nề, vui mừng nói: "Con gái về rồi đấy à?" Nói rồi bắt đầu ho sù sụ dữ dội.
Chưa để Hoa Nguyệt Dung lên tiếng, cụ bà đã liếc mắt ra hiệu với cô, khóe mắt liếc xéo ra ngoài tường, lớn tiếng nói: "Con gái à, lúc nãy có hai người tốt bụng đến nhà chúng ta, nói là bạn tốt của con, hỏi thăm bệnh tình của mẹ, lại còn để lại cho mẹ ít tiền nữa, đúng là những người tốt bụng thật."
Trong lòng Hoa Nguyệt Dung thắt lại một nhịp, vừa dìu cụ bà vào nhà, vừa hỏi: "Mẹ, bạn gì ạ? Tên là gì thế mẹ?"
Cụ bà đáp: "Mẹ hỏi rồi, họ không để lại tên, chỉ nói là bạn của con, bảo rằng sau này sẽ còn đến thăm mẹ."
Hoa Nguyệt Dung nói: "Ồ, mẹ ơi, lần sau họ tới, mẹ nhớ bảo họ để lại tên nhé. Để con còn biết là ai chứ."
Cụ bà thở dài, nói: "Đúng thế, đúng thế, hai mẹ con mình coi như gặp được quý nhân rồi. Cha con mất sớm, hai người anh trai cũng đi mất..."
Hoa Nguyệt Dung nói: "Mẹ nhắc đến mấy chuyện này làm gì, có con ở đây, mọi thứ rồi sẽ tốt đẹp lên thôi."
Hai người bước vào nhà, khép cửa lại, cụ bà liền giật phăng dải vải trắng trên trán xuống. Hoa Nguyệt Dung nhìn cụ bà nở nụ cười đầy ẩn ý, cụ bà đưa ngón tay lên đặt bên môi, "Suỵt——" ra hiệu cho Hoa Nguyệt Dung đừng có quá càn quấy.
Hai người lại đối đáp thêm vài câu mẹ mẹ con con trong nhà, Hoa Nguyệt Dung bắt đầu ra sân lấy củi khô nhóm lửa nấu cơm, khói bếp nương theo ống khói bốc lên, lơ lửng bay thẳng lên cao tận trời xanh.
Thực ra, trong khoảng thời gian này, bên ngoài bức tường hậu vẫn luôn có đặc vụ của Từ Hoài Cận canh gác nghe lén. Đêm qua, lúc Hoa Nguyệt Dung kể lể thân thế với Từ Hoài Cận, Từ Hoài Cận đã có ý định dò la đáy gót của Hoa Nguyệt Dung. Gần sáng, tên đặc vụ nhỏ lên lầu, mấy câu Từ Hoài Cận thì thầm với hắn chính là lệnh cho tên đặc vụ lập tức chạy đến Đại Chùy Tử Hồ Đồng số 28, xem tình hình thực hư ra sao, có đúng như những gì Hoa Nguyệt Dung đã nói hay không.
Tổ gia và Trương Ân Thụy là những kẻ lão luyện, khi bố trí ván cờ đã sớm lường trước được điều này. Họ đã sắp xếp trước một nữ A Bảo lớn tuổi, hóa trang thành một bệnh nhân ốm yếu nằm liệt giường trong viện số 28, sẵn sàng chờ đón sự ghé thăm của lũ đặc vụ.
Quả nhiên trời vừa hửng sáng, mụ A Bảo liền nghe thấy tiếng gõ cửa. Mụ khoác áo lên người, giả vờ bệnh tật lom khom mở cửa viện, thấy là hai kẻ lạ mặt thì trong lòng đã sớm chuẩn bị sẵn sàng. Mụ vừa mời họ vào nhà, vừa nương theo câu hỏi của đối phương, thở dài than ngắn kể lể chuyện gia đình, y hệt như những gì Hoa Nguyệt Dung đã nói, trong lúc đó còn liên tục ho khan, lấy khăn tay che miệng như thể muốn ho cả buồng phổi ra ngoài. Ho một hồi rồi dừng lại, mở khăn tay ra, mấy cục máu giả kẹp sẵn trong khăn lúc trước đã vỡ ra. Trong căn phòng mờ tối, lũ đặc vụ cứ ngỡ mụ thực sự đã thổ huyết.
Mấy tên đặc vụ trò chuyện với cụ bà một hồi lâu mà không tìm thấy sơ hở nào, bèn làm theo dặn dò của Từ Hoài Cận để lại một ít tiền, sau đó chuồn ra ngoài tường bắt đầu mai phục. Lũ đặc vụ này quả thực rất gian xảo, chúng muốn xem sau khi Hoa Nguyệt Dung trở về thì hai mẹ con cư xử ra sao. Kết quả là Hoa Nguyệt Dung và cụ bà đã diễn màn tình mẫu tử ăn khớp với nhau đến mức không có chỗ chê, hai tên đặc vụ cũng yên tâm quay về báo cáo.
Sở dĩ lúc mới bước vào cửa Hoa Nguyệt Dung lại kinh ngạc là vì cô không ngờ đặc vụ của Từ Hoài Cận lại đến nhanh như vậy, cô thậm chí còn không hề phát hiện ra Từ Hoài Cận đã thông báo cho bọn đặc vụ từ lúc nào. Đối với một A Bảo mà nói, đây là một sai lầm chí mạng. Các A Bảo tuyệt đối không được bỏ lỡ bất kỳ ánh mắt hay động tác nào của đối thủ. Lòng Hoa Nguyệt Dung chùng xuống một thoáng mông lung, tự lẩm bẩm: "Mình bị làm sao thế này?"
Cụ bà hỏi: "Sao thế nào cơ?"
Hoa Nguyệt Dung giật mình, "Ơ, không có gì ạ."
Đêm đến, Hoa Nguyệt Dung lại quay về Phượng Minh Lâu. Tình hình bên này, Hoa Nguyệt Dung đã cho chân nhỏ báo lại với Trương Ân Thụy và Tổ gia. Cô phải dựa theo kế hoạch để tiến hành màn kịch bước tiếp theo: nói thế nào, làm thế nào, ra thiênp (thủ thuật lừa bịp) thế nào, thu lưới thế nào, tất cả các mắt xích đều được lướt qua trong đầu hết lần này đến lần khác. Không còn tên khách làng chơi nào dám lên lầu bén mảng đến ý đồ với cô nữa, bởi vì trước khi đi, Từ Hoài Cận đã ném một khoản tiền lớn cho tú bà và dặn rằng: "Cô Hoa đây, tôi bao rồi."
Đêm đã khuya, Hoa Nguyệt Dung cũng đã mệt mỏi, ăn vài miếng thức ăn, cởi áo khoác nằm lên giường, muốn ngủ mà không sao ngủ được, đành ngẩn ngơ ngắm nhìn không gian tĩnh mịch. Hình bóng Từ Hoài Cận cứ liên tục hiện lên trong đầu cô. Từ Hoài Cận quả thực anh tuấn ngời ngời, là học viên ưu tú của Trường quân sự Hoàng Phố, sống lưng thẳng tắp, cử chỉ tao nhã lịch thiệp. Nghĩ ngợi hồi lâu, Hoa Nguyệt Dung bất giác mỉm cười, nhưng rồi chợt khựng lại, vẻ mặt u sầu thay cho nụ cười. Cô rõ hơn ai hết, cô chỉ là một A Bảo, là một kẻ lừa đảo chính gốc, còn Từ Hoài Cận là con mồi (phì tử) của cô, là đối thủ của cô. Tất cả những điều này chỉ là một cái bẫy, một vở kịch, cuối cùng rồi cũng đến lúc tiệc tàn người tan.
Chiều tối ngày hôm sau, sau khi dùng bữa xong và vừa trang điểm xong xuôi ngồi xuống trong khuê phòng, Hoa Nguyệt Dung chợt nghe tiếng hét lớn của tú bà: "Ấy—— chà, quan lớn tới rồi kìa, cô Hoa đang đợi ngài ở trên lầu đấy ạ! Mau vào, mau vào!"
Theo sau đó là tiếng giày bốt quân nhân bước lộc cộc trên cầu thang. Hoa Nguyệt Dung vội mở cửa phòng, Từ Hoài Cận sải bước lớn đi tới. Hai người gặp lại nhau sau bao ngày xa cách tựa như cách ba thu, Từ Hoài Cận mỉm cười dịu dàng: "Cô bé Nguyệt Nhi."
Hoa Nguyệt Dung dạt dào tình cảm thưa: "Trưởng phòng."
Khi Hoa Nguyệt Dung đang định mời Từ Hoài Cận vào phòng, Từ Hoài Cận xua tay: "Đừng vội, cô bé Nguyệt Nhi." Nói đoạn, anh quay người, tháo găng tay ra, chìa tay bảo tên đặc vụ đi phía sau: "Mang lại đây."
Một tên đặc vụ đưa một bó hoa tươi rực rỡ vào tay Từ Hoài Cận. Từ Hoài Cận hai tay nâng bó hoa đưa lên trước mặt Hoa Nguyệt Dung, ánh mắt trìu mến nhìn cô, thâm tình nói: "Chúc mừng sinh nhật cô bé Nguyệt Nhi, chúc cô nhan sắc mãi trường tồn, lúc nào cũng xinh đẹp."
Hoa Nguyệt Dung chết trân trước cảnh tượng trước mắt. Sau Cách mạng Tân Hợi, mặc dù văn hóa phương Tây du nhập vào Đông phương, người dân ngày càng lãng mạn hơn, nhưng cái kiểu lãng mạn mang phong cách phương Tây thế này, ngoài những bậc đại tài tử như Tư Mồ, Bi Sơ ra thì hiếm thấy ở lũ đặc vụ Quân thống lắm! Hoa Nguyệt Dung xuất thân bần hàn, từ nhỏ đã chìm nổi trong nghiệp cầm ca, những lời ca câu phú học được từ tuồng tích toàn là tình yêu ẩn ức dưới ván cờ của Trương Sinh, Oanh Oanh, nào đã từng trải qua khung cảnh hoành tráng thế này bao giờ.
Khóe mắt Hoa Nguyệt Dung bất giác rưng rưng, nhất thời không biết nên nói gì cho phải, bẽn lẽn đón lấy bó hoa tươi ấy, mặt đỏ bừng, nhỏ giọng thưa: "Trưởng phòng mời vào!"
Từ Hoài Cận bảo tên đặc vụ và tú bà đi theo sau: "Tất cả lui xuống hết đi, không có lệnh của tôi, không ai được phép làm phiền!"
Vào trong phòng, Hoa Nguyệt Dung nhào ngay vào lồng ngực Từ Hoài Cận, hai người ôm chặt lấy nhau. Từ Hoài Cận lại lấy từ trong túi ra một chiếc hộp nhỏ, mở ra thì bên trong là một chiếc vòng ngọc chạm trổ hoa văn long phượng. Anh nói với Hoa Nguyệt Dung: "Đây là chiếc vòng mẹ đưa cho tôi trước lúc lên đường thi vào Trường quân sự Hoàng Phố, bà dặn tôi phải tặng lại cho người con dâu tương lai của bà, giờ thì tôi đã tìm thấy rồi."
Hoa Nguyệt Dung thâm tình nhìn Từ Hoài Cận, thốt lên: "Trưởng phòng."
Từ Hoài Cận nhẹ nhàng ôm Hoa Nguyệt Dung vào lòng, nói: "Tôi đã cử người đi thăm mẹ em rồi, sau này, tôi sẽ cùng em chăm sóc cụ. Em sẽ không phải lo lắng gì về cuộc sống nữa đâu."
Hoa Nguyệt Dung vùi đầu vào bờ vai Từ Hoài Cận tuôn rơi nước mắt. Giờ phút này đây, cô khao khát biết bao được thực sự là một kỹ nữ.
Theo sự sắp xếp của đại sư phụ Trương Ân Thụy, đến vạn bất đắc dĩ thì Hoa Nguyệt Dung cũng không cần phải hiến thân. Lẽ ra cô có thể theo kế hoạch, lấy cớ mãn tang ba năm cho cha để né tránh kiếp nạn đêm nay, thế nhưng cô đã thay đổi ý định, cô chủ động cởi y phục...
Sau này, khi Hoa Nguyệt Dung qua đời, Trương Ân Thụy phái người đến thu dọn di vật của cô, đã tìm thấy một tờ giấy dưới gối cô. Đó là bức thư viết tay bằng chữ khải nhỏ do chính tay Hoa Nguyệt Dung viết, coi như là lời độc bạch sâu kín nhất trong nội tâm cô. Cô viết:
Tướng quân khanh khanh như ngộ:
Thiếp thân ti tiện, sinh bất phùng thời, ý dục hôn hôn độ nhật, liễu thử nhất sinh, cẩm liêu thượng thiên liên thiếp, đắc dữ tướng quân. Tướng quân hùng tư anh phát, đãi thiếp ân trọng như sơn, thiếp đắc tướng quân, vân hồ bất hỉ? Thiếp phiêu bạc nhị tải, thụ tẫn khổ lụy, vô phụ vô mẫu, vô khiên vô quải, tự ngộ tướng quân, phương am nữ nhi chi vị!
Thiếp nãi cửu lưu phiến tử, thâm hãm tam đồ ác đạo, tự ngộ tướng quân thủy, biến thi chiêu trá chi kỹ, tướng quân tại cục trung, thiếp thân tại mộng trung, tướng quân đãi thiếp chi tình nhật ích nhất phân, thiếp thân tâm thống diệc tăng nhất phân, tướng quân tiến, thiếp tâm toái. Nhị kim, tướng quân hoàn tại cục trung, thiếp mộng dĩ tỉnh, thiếp hà thường bất tưởng cửu tại mộng trung!
Thiếp bất oán thiên, bất oán mệnh, thiếp đắc tướng quân chi ái, thử sinh túc hĩ! Tòng lai uyên ương đa bi tán, tự cổ đa tình thương ly biệt, thiếp tương bất cửu vu nhân thế hĩ! Tướng quân dương gian vi nhân, thiếp thân âm gian tể quỷ, tự thử âm dương cách biệt, các y thiên mệnh. Nhân như thanh thanh nhục tự nê, nhân tử vô tình hoa lạc khứ, thiếp sinh tiền thân bất tự do, tử hậu hồn an hà xứ? Thiếp duy luyến tướng quân, cửu tử nhi bất năng vong!
Thư bất tẫn ngôn, ngôn bất tẫn ý, vọng quân phục duy trân nhiếp, thiếp bất tẫn y trì.
Thiếp Nguyệt Dung
Bính Thìn nhật Sửu thời
Cô gọi tên đặc vụ này là tướng quân, những lời văn câu chữ nào đâu phải không phải là tình cảm chân thành sâu sắc. Thật đúng là rèm lụa ấm áp, nến đỏ lung linh, một đêm mây mưa trăm hận tiêu tan; tình Quân thống, ái A Bảo, thật thật giả giả nay đã chẳng còn vướng bận.
Chính cô cũng biết rằng, đây rốt cuộc là một bức thư vĩnh viên không bao giờ gửi đi được. Thực ra, cô đã sớm chết từ lâu rồi, chết ngay trong chính tình yêu của mình.
5, Tiên sinh bói toán cục mĩ nhân
Theo kế hoạch, Hoa Nguyệt Dung sẽ nhân ngày "giỗ cha" của mình để giới thiệu Tổ gia cho Từ Hoài Cận. Qua mấy ngày mặn nồng tình tứ, Từ Hoài Cận và Hoa Nguyệt Dung đã không còn gì là không thể giấu giếm nhau nữa. Hoa Nguyệt Dung dùng miếng vải dính máu kinh nguyệt mà các chân nhỏ đã chuẩn bị trước, một cách khéo léo để củng cố thêm lời nói dối về thân phận trinh nữ của mình.
Trước khi giới thiệu, Hoa Nguyệt Dung đã dặn đi dặn lại Từ Hoài Cận: "Anh ngàn vạn lần đừng nói mình là sĩ quan, bởi vì những người phàm tục như chúng ta trong điều kiện bình thường vốn không có cơ hội tiếp xúc với các quan chức cao cấp của Quân thống. Nếu để vị tiên sinh kia biết em ra lầu xanh làm kỹ nữ, truyền đến tai mẹ thì chắc chắn mẹ sẽ đau lòng lắm! Em vẫn luôn nói với mẹ rằng em làm công ở một quán ăn, để rửa sạch mấy cái đĩa cái bát đó mà em phải tăng ca suốt đêm."
Từ Hoài Cận gật gật đầu, nói: "Em cứ nói anh là một thương gia, là một người bạn cũ thuở sinh thời của cha em."
Thực ra đây là một cái bẫy điệu hổ ly sơn, chỉ khi Từ Hoài Cận che giấu thân phận của mình, rồi Tổ gia lật tẩy thân phận đó ra, thì mới làm nổi bật lên đạo hạnh thâm sâu của Tổ gia chứ! Nhìn bề ngoài, Hoa Nguyệt Dung hiến kế này là để che giấu thân phận của chính mình, nhưng thực chất là để làm giảm bớt tâm lý đề phòng của Từ Hoài Cận.
Từ Hoài Cận mang thân phận thương gia buôn trà, mặc trường bào áo rộng đến gặp Tổ gia tại một tửu lâu.
Vừa ngồi xuống, hắn đã cung kính nói: "Ngưỡng mộ đại danh tiên sinh đã lâu, hôm nay có dịp diện kiến, quả nhiên phong thái đạo cốt tiên phong, danh bất hư truyền."
Tổ gia cười ha hả: "Các hạ quá khen rồi, kẻ phàm phu tục tử này sống lất lất qua ngày trong thời loạn thế, nào dám bàn gì đến đại danh."
Từ Hoài Cận cười nói: "Tiên sinh khiêm tốn rồi, may nhờ có cô Hoa giới thiệu, nếu không thì chẳng có duyên hội ngộ tiên sinh." Nói đoạn hắn chìa ra một mẩu giấy nhỏ: "Đây là bát tự của tại hạ, làm phiền tiên sinh xem hộ."
Tổ gia nhận lấy bát tự, nhìn ngắm rồi trầm ngâm một lát, bỗng cất lời: "Các hạ, có hiểu tam cương ngũ thường không?"
Câu hỏi khiến Từ Hoài Cận ngơ ngác như sư tử đá vào lầu xanh, ngẩn tò te chẳng hiểu gì, rụt rè hỏi: "Tiên sinh... ý ngài là sao ạ?"
Tổ gia đáp: "Tam cương là quân vi thần cương, phụ vi tử cương, phu vi thê cương; Ngũ thường là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Các hạ hoàn toàn không có chút tín nghĩa nào, thì chúng ta còn có gì để mà bàn nữa chứ?"
Từ Hoài Cận giật mình: "Lời này từ đâu mà ra thế ạ?"
Tổ gia cười nhạt: "Nguyệt Nhi nói với tôi cậu là thương gia, nhưng tôi quan sát bát tự của các hạ, tuyệt không phải là người buôn bán, kẻ buôn bán tuyệt đối không thể có bát tự thế này!"
Đầu Từ Hoài Cận bắt đầu túa mồ hôi, hỏi: "Cái này... vậy theo ngài nhìn bát tự của tôi thì tôi nên làm nghề gì?"
Tổ gia nói: "Bát tự cách cục của các hạ rất kỳ lạ, tam kỳ củng chiếu, quan sát hợp thân, chính là số mệnh xuất tướng nhập tướng, làm quan to đấy!"
Chiêu này quả thực vừa thiênp vừa đánh, đấm ngọt đấm đòn kết hợp, một bước đến ngay đích.
Từ Hoài Cận không giấu được niềm vui trong lòng: "Xin hỏi tiên sinh, chức vị của tôi có thể lên tới cỡ nào? Tại hạ hiện đang ở thời điểm then chốt để thăng tiến, không biết có thể đánh bại đối thủ hay không, xin tiên sinh chỉ điểm."
Tổ gia cười: "Một tay buôn trà, sao lại có cơ hội thăng tiến chứ?"
Từ Hoài Cận đỏ mặt: "Tiên sinh thứ tội! Tại hạ quả thực không phải thương gia, mà đang nhậm chức trong chính quyền. Mấy ngày trước vô tình gặp cô Hoa ở lầu xanh, cô ấy cũng vì hoàn cảnh đưa đẩy mới sa chân vào chốn này, tôi và cô ấy vừa gặp đã phải lòng nên mới có dịp diện kiến tiên sinh. Cô ấy sợ tiên sinh biết những chuyện này rồi sẽ truyền tin cho mẹ mình, nên mới phải dùng hạ sách đó."
Tổ gia bất đắc dĩ lắc đầu: "Biến cố của nhà họ Hoa, tôi đã sớm lường trước từ lâu. Những năm trước tôi từng nhắc nhở cha cô ấy rồi, nhưng ông ta chẳng chịu nghe..."
Từ Hoài Cận cúi đầu trầm ngâm một lúc, nói: "Thôi vậy, số trời đã định, tiên sinh không cần phải tự trách. Thực ra tại hạ cũng có hiểu biết đôi chút về tứ trụ và thuật tướng số, không biết tiên sinh có cao kiến gì về thuật số Trung Hoa không?"
Vừa nghe thấy vậy, Tổ gia biết trong câu nói còn có ẩn ý, bèn mỉm cười nói: "Dịch cùng thiên địa chuẩn, năng di lôn thiên địa chi đạo. Học Dịch quý ở chỗ hiểu lý lẽ, lý đã không thông, học càng nhiều thì lại càng hoang mang thêm!"
Từ Hoài Cận nói: "Tiên sinh nói rất phải, tại hạ quả thực đang có mấy vấn đề chưa thông suốt, dù suy nghĩ nhiều ngày vẫn không sao gỡ bỏ được, xin tiên sinh đừng tiếc lời chỉ giáo."
Tổ gia nói: "Mời nói."
Từ Hoài Cận nói: "Đầu tiên là vấn đề tướng mạo. Sách cổ thường nói, thiên đình đầy đặn, địa các vuông vức, chính là tướng phúc đức. Thế nhưng tôi thấy đầy rẫy những kẻ tầm thường vô tích sự ngoài đường kia, phần lớn trán và cằm cũng đầy đặn tròn trịa, tại sao lại là hạng ti tiện thế này? Lại như sách tướng số thường nói, nhìn vận tài lộc của người ta thì xem ở cái mũi, sống mũi nhô cao, đầy đặn có thịt, chính là mệnh đại phú. Thế mà tôi thường thấy những người kéo xe kéo, phu khuân vác ở bến tàu, rất nhiều kẻ mũi rất to, thế mà vẫn cực nhọc nghèo hèn, thì điều này phải giải thích thế nào?"
Tổ gia cười lớn: "Các hạ nhầm rồi! Cứ tiếp tục thế này, e là... e là ngày sau sẽ thành trò cười cho thiên hạ mất! Tướng số rốt cuộc cũng quy về phép Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Thiên đình địa các, tam đình ngũ nhược chẳng qua chỉ là cách biểu thị hình tượng của các bộ vị Ngũ hành mà thôi. Ngũ hành quý ở sự dung thông, đứng độc lập một nơi thì không thể gọi là cát hay hung được, kết hợp ngũ quan lại với nhau để xem mới là đạo lý chính thống. Các hạ không thấy Chu Nguyên Chương mặt ngựa môi lừa, nếu chỉ nhìn từng bộ phận riêng lẻ thì cái nào cũng dữ tợn vô cùng, thế nhưng khi ngũ quan kết hợp lại với nhau lại vừa khéo tàng phong tụ thủy, ngũ hành thông suốt, thế là thống nhất bá nghiệp, ngự trị bậc cửu ngũ chí tôn sao? Tương tự như vậy, chỉ nhìn riêng chiếc mũi của một người mà không phân tích sự phối hợp của các cung khác thì không thể phán đoán chính xác cát hung tài lộc được. Hơn nữa, một chiếc mũi lại còn chia ra làm bốn phần là sơn căn, niên thượng, thọ thượng, chuẩn đầu. Chỉ nhìn thấy cao nhô có thịt mà không phân biệt cong thẳng sắc trạch, thì làm sao mà đoán chuẩn được? Học Dịch quý ở sự dung thông, Trương Lương gạt bỏ cặn bã của "Thái công binh pháp" mà thành "Kỳ môn độn giáp", Từ Tử Bình bù đắp sự thiếu sót "tam trụ" của Lý Hư Trung mà tạo ra "tứ trụ", Thiệu Ung phá vỡ thứ tự Bát quái mà diễn dịch "Hoàng cực kinh thế". Kẻ học Dịch mà không rõ Âm Dương, không cầu biện chứng, đúng là kẻ tầm thường vô dụng!"
Tổ gia đây là đang "đánh", cái gọi là "đánh nhanh mẹo chậm" (cấp đả mạn thiênp), Tổ gia chớp lấy sơ hở trong lý thuyết của hắn, tuôn ra một thôi một hồi, một mạch liền lạc, "đánh" cho Từ Hoài Cận tâm phục khẩu phục, sát đất.
Đây mới chính là bản lĩnh thật sự của Tổ gia. Làm nghề A Bảo chia làm hai loại, một loại hoàn toàn dựa vào lừa bịp, một loại có bản lĩnh thực thụ. A Bảo không học Chu Dân chân chính, thì có lộn đến lúc chết già cũng chỉ là một tên "chân nhỏ". Bản lĩnh thật sự học được từ đâu? Một là do các lão nguyên soái trong đường khẩu đời đời truyền lại, hai là bái yết các bậc cao nhân dân gian. Tổ gia thuở trẻ thừa hưởng chút kiến thức cơ bản về Chu Dịch từ Trương Đan Thành, sau đó lại thường xuyên bái yết các bậc đại hiền thời Dân quốc, dung hội quán thông, thu hoạch được không ít tinh hoa thực sự.
Tổ gia từng dạy chúng tôi: Mọi thuật bói toán sinh ra dựa trên Chu Dịch, mấu chốt nằm ở sự biến thông.
Cũng giống như tướng mạo, tướng tay này, người bình thường chỉ biết "người này mũi mọc đẹp, vừa cao vừa thẳng", "người kia mắt mọc đẹp, mắt phượng", "người nọ tay mọc đẹp, tay túi bông", mà đâu biết rằng tướng số phải "Ngũ hành phối hợp, hình thần kiêm bị".
Thế nào gọi là Ngũ hành phối hợp? Tổ gia từng giải thích: Các cơ quan trên cơ thể con người đều có sự tương ứng với Ngũ hành. Mắt thuộc Hỏa, tai miệng thuộc Thủy, gò má thuộc Kim, mũi thuộc Thổ, đầu và lông mày thuộc Mộc. Ngũ hành tương sinh tương khắc, bất kỳ cơ quan nào quá lớn hoặc quá nhỏ đều sẽ dẫn đến sự mất cân bằng khí Ngũ hành trên cơ thể con người. Ví dụ như mũi quá lớn mà lưỡng quyền không khởi, cằm lại nhỏ, thì cả chiếc mũi trên khuôn mặt sẽ trở nên vô cùng kỳ cục. Mũi thuộc Thổ, thổ nhiều kim vùi, kim tiêu thủy giảm, chiếc mũi với thế Thái Sơn áp đỉnh đè bẹp lưỡng quyền, nuốt chửng pháp lệnh và cằm, đây chính là tướng đại hung. Thế nên cát hung của một người không nằm ở việc một cơ quan nào đó mọc đẹp hay xấu, mà nằm ở sự hài hòa tổng thể của các cơ quan trên khuôn mặt, gọi là "Ngũ hành phối hợp". Xem tướng tay cũng cùng một đạo lý, hay dở của tướng tay không chỉ nằm ở mấy đường chỉ tay chính. Đường chỉ tay dĩ nhiên rất quan trọng, đường sinh mệnh phải dài, đường xuyên tiền (xuyến tiền văn) phải sâu, đường tình cảm phải vững, đường trí tuệ phải thông thấu, nhưng hình dáng bàn tay, độ dày, độ nhuận trạch của toàn bộ bàn tay lại càng phải chú trọng hơn. Tướng tay chia làm năm loại: tay hình Kim, tay hình Mộc, tay hình Thủy, tay hình Hỏa, tay hình Thổ. Trên lòng bàn tay lại khởi bát quái, chia thành tám cung Càn, Khôn, Chấn, Ly, Đoài, Tốn, Khảm, Cấn. Cung vị và hình tay phải tương xứng, không được xung khắc; đường vân và cung vị phải tương xứng, không được hình hại lẫn nhau. Cái gọi là: Tướng tay bát quái là chủ, là quân; vân lý sắc trạch là phụ, là thần. Trước quan sát tướng tay, sau quan sát vân lý, ngũ hành phối hợp, tạo hóa có thể lường trước.
Thế nào gọi là hình thần kiêm bị? Tướng thuật Trung Hoa khởi nguồn từ thời Tiền Tần, hình thành vào đời Tần Hán... (đoạn giữa nhắc đến Tăng Quốc Phiên). Lúc Tăng Quốc Phiên sắp qua đời, ông đã đúc kết nghiên cứu của mình về tướng thuật thành một bộ sách tên là "Băng Giám", cũng chính là giáo trình mà Từ Hoài Cận và những người khác đang học hiện nay.
Trước mặt Tổ gia, Từ Hoài Cận vẫn chỉ là một tay non choẹt, thế nhưng hắn vẫn chưa chịu bỏ cuộc, lại hỏi Tổ gia một câu mang tính thách thức cực cao trong giới mệnh lý: "Tiên sinh, vậy theo ngài thấy, độ chính xác của việc dùng bát tự đoán mệnh là bao nhiêu?"
Nghe vậy, Tổ gia mỉm cười nhẹ, nói: "Lúc nãy tôi đã đề cập rồi, bát tự suy cho cùng chính là ngày sinh của một người, do bốn tổ thiên can địa chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh cấu thành, mỗi tổ hai chữ, tổng cộng là tám chữ nên gọi là bát tự. Lại vì nó được cấu tạo từ tứ trụ năm, tháng, ngày, giờ nên cũng gọi là tứ trụ, bói bát tự còn gọi là bói tứ trụ. Ban đầu do tiến sĩ đời Đường là Lý Hư Trung sáng lập, nhưng lúc đó chỉ là bói tam trụ, chỉ xét đến năm sinh, tháng sinh, ngày sinh của một người chứ chưa tính đến giờ sinh. Đến đời Tống, Từ Tử Bình phát hiện ra sự thiếu sót của phép luận mệnh tam trụ, phát triển tam trụ thành tứ trụ, đưa cả giờ sinh của một người vào phạm vi xem xét. Từ đó, bói bát tự mới chính thức hình thành. Do cống hiến to lớn của Từ Tử Bình, bói bát tự cũng được tôn vinh là Tử Bình chi thuật.
Sở dĩ có bước nhảy vọt mang tính lịch sử này là vì Từ Tử Bình xét thấy có quá nhiều người sinh cùng năm cùng tháng cùng ngày. Nếu không đưa giờ sinh vào phạm vi xem xét, thì những người sinh cùng một ngày sẽ có tam trụ y hệt nhau, số mệnh lẽ ra phải giống nhau, điều này rõ ràng là quá hoang đường! Mà khi đưa giờ sinh vào, thì những người sinh cùng một ngày lại được phân chia vào 12 khung giờ. Sự khác biệt về giờ sinh sẽ dẫn đến cát hung khác nhau, phân tích như vậy sẽ tỉ mỉ hơn và chính xác hơn. Nhưng liệu như vậy đã hoàn hảo chưa? Không hề! Những người sinh cùng một giờ cũng rất nhiều, bát tự của họ y hệt nhau, lẽ nào số mệnh lại giống nhau sao? Đương nhiên là không rồi! Thế nên, theo ý kiến thô thiển của tôi, nếu có thể chia nhỏ một canh giờ ra nữa, chia nhỏ đến một khắc nào đó, thì độ chính xác lại tiến thêm một tầng cao mới. Tuy nhiên, khi ấy thì đó không phải là bói bát tự nữa, mà là bói thập tự (mười chữ)! Đương nhiên, đây mới chỉ xét đến yếu tố thời gian, còn chưa xét đến yếu tố không gian. Môi trường địa lý nơi sinh ra cũng sẽ tạo ra ảnh hưởng trọng đại đến vận mệnh. Các hạ thử nghĩ xem, ngay tại giờ phút này đây, có bao nhiêu đứa trẻ được sinh ra? Bát tự của những người này giống hệt nhau, nhưng môi trường sinh ra lại khác nhau một trời một vực: kẻ ở vùng ẩm ướt Giang Nam, người ở chốn giá lạnh tái ngoại. Địa thế, ánh sáng, nóng lạnh đều khác nhau, vận mệnh tự nhiên cũng chẳng thể giống nhau! Thế nên, theo tôi thấy, bát tự chỉ là tổng quát chung, chỉ khi kết hợp với phong thủy và tướng số mới có thể trở nên chuẩn xác hơn!"
Nói xong, Tổ gia tĩnh quan Từ Hoài Cận. Lúc này Từ Hoài Cận đã tâm phục khẩu phục, đứng phắt dậy, vái sâu một lạy: "Tiên sinh uyên thâm lý dịch, học quán cổ kim, khâm phục, khâm phục!"
Nói đoạn, hắn trầm ngâm một lát, lại vái sâu Tổ gia thêm một lạy nữa: "Tiên sinh, tại hạ có một việc muốn thỉnh cầu, xin tiên sinh dạy bảo."
Tổ gia điềm tĩnh đáp: "Các hạ cứ nói."
Từ Hoài Cận nói: "Bộ phận tôi đang công tác sắp tới sẽ quy hoạch lại biên chế, tôi lại muốn tiến thêm một bước nữa, không biết tiên sinh có thể thi triển đạo pháp giúp tôi một tay hay không, tại hạ nhất định có trọng tạ!"
Tổ gia trầm ngâm một lúc, rồi thở dài một tiếng.
Thấy vậy, Từ Hoài Cận vội vã truy vấn: "Sao tiên sinh lại thở dài, lẽ nào mệnh cục của tôi có điềm gở gì ư? Hay là..."
Tổ gia nói: "Kẻ học dịch quý ở sự thành tâm, tôi buộc phải nói thật cho các hạ biết."
Từ Hoài Cận nói: "Đúng thế, tiên sinh có lời gì cứ việc nói thẳng!"
Tổ gia nói: "Năm nay mệnh các hạ phạm tiểu nhân, luôn có kẻ chơi xỏ sau lưng, khiến các hạ không được yên lòng!"
Từ Hoài Cận nói: "Quá đúng luôn! Toàn là lũ vong ân bội nghĩa, ban ngày xưng anh gọi em, sau lưng thì đâm lén dao găm, đáng hận! Thật đáng hận!"
Những điều này toàn là tin tức do Hoa Nguyệt Dung truyền đến. Mấy ngày nay sau những trận mây mưa hoan lạc, Từ Hoài Cận thường ôm chầm lấy Hoa Nguyệt Dung vào ngực, nguyền rủa sự thâm độc xảo trá của đồng nghiệp trong Quân thống. Thực ra, dẫu Hoa Nguyệt Dung không truyền tin thì Tổ gia cũng có thể đoán được gần sáu bảy phần mười. Người trong Quân thống kẻ tốt người xấu lẫn lộn, đen trắng nhập nhằng, tranh đấu ngầm, đây đã chẳng còn là bí mật gì lạ lẫm nữa. Điểm hay của chuyện này nằm ở chỗ người trong cuộc thì mê muội, Từ Hoài Cận ngày ngày tính toán thiên cơ để đề phòng đồng nghiệp bên cạnh, lại chẳng ngờ rằng bên ngoài Quân thống cũng ẩn chứa đầy rẫy cơ tâm.
Tổ gia nói tiếp: "Các hạ muốn thăng quan tiến chức, thăng lên một bậc, buộc phải làm hai việc. Bằng không, đừng mong thăng tiến, mà còn vướng phải tai họa quan tụ nữa."
Từ Hoài Cận vội hỏi: "Hai việc gì thế? Xin tiên sinh chỉ giáo!"
Tổ gia muốn nói lại thôi, lắc đầu, lại thở dài thêm một tiếng, lẩm bẩm một mình: "Không được, không được."
Từ Hoài Cận có chút nôn nóng: "Tiên sinh cứ nói không ngại, cần tốn kém bao nhiêu?"
Tổ gia cười: "Không phải chuyện tiền nong, mà là... các hạ cũng có nghiên cứu về đạo thuật, không biết đã từng nghe qua câu nói 'thái âm bổ dương' chưa?"
Vừa nghe đến đây, mặt Từ Hoài Cận đỏ bừng: "Cái này... cái này từng nghe qua rồi, chính là thôngura qua việc giao hợp nam nữ để đạt được mục đích cân bằng âm dương, trong "Thiên Kim Phương" có nhắc tới, ý của tiên sinh là thế nào?"
Tổ gia nói: "Tinh túy của phép này nằm ở chỗ lấy âm tiên thiên của trinh nữ để bồi bổ cho dương hậu thiên của nam giới. Bát tự tứ trụ của các hạ thuần dương, dương khí quá thịnh, năm nay lại là năm dương khí vượng thịnh, thịnh cực ắt suy. Các hạ buộc phải tìm thiếu nữ thân trinh để giao hợp, âm dương điều hòa thì mới đạt tới ngôi vị quan lại được. Thế nhưng, chuyện nam nữ phải là tình nguyện đôi bên, các hạ ngàn vạn lần không được ép buộc, bằng không sẽ trái với thiên lý, thà rằng đừng làm còn hơn!"
Nghe đến đây, trong lòng Từ Hoài Cận sướng rơn: "Đúng là trời giúp ta mà, Nguyệt Nhi chính là con gái còn trinh còn gì!" Nhưng hắn ngoài mặt không thốt ra, vẫn ra điều đạo mạo trang nghiêm nói: "Ừm ừm, tiên sinh nói rất phải, loại chuyện này không thể cưỡng cầu, sao có thể vì tư lợi của bản thân mà hãm hại con nhà lành được chứ. Tôi sẽ từ từ tìm kiếm, nếu trời giúp tôi thì chắc chắn sẽ gặp được, còn trời không giúp thì tôi đành chịu vậy." Miệng tuy nói thế nhưng trong lòng đã sớm nở hoa rồi.
Nhìn cái vẻ đức độ giả tạo của hắn, Tổ gia cười thầm trong lòng một trận. Đoạn nói tiếp: "Ngoài ra, nếu ngày sau trời tác hợp, gặp được người con nữ như thế, nhất định phải chú ý: Sau khi hành sự xong, phải dặn dò người nữ trong vòng một năm tuyệt đối không được đến gần nước, bằng không sẽ gặp nguy hiểm đến tính mạng!"
Từ Hoài Cận giật mình: "Ý ngài là sao?"
Tổ gia nói: "Sau khi âm khí tiên thiên của người nữ bị tiết hết thì cần phải hồi phục từ từ. Lấy một ví dụ thế này, việc này giống như mầm non dưới ánh nắng gắt, bị phơi nắng nhiều ngày, nước trong cây đã cạn kiệt, khát khô tột độ, lúc này rất cần nước, nhưng nhất định phải là dòng nước chảy róc rách từ từ bồi dưỡng, bằng không một khi đổ ào nước lớn vào thì chẳng những không cứu được mạng nó mà còn phản tác dụng đến chết. Nơi tụ hội của vạn âm chính là nước, sau khi giao hợp xong, người nữ phải rời xa sông lớn nước sâu, bằng không tính mạng sẽ nguy nan! Hãy nhớ kỹ, hãy nhớ kỹ!"
Nghe đến đây, Từ Hoài Cận vã mồ hôi hột: "Lợi hại thế cơ à! Tại hạ xin ghi nhớ! Tiên sinh vừa nói có hai việc, còn một việc nữa là..."
Tổ gia mỉm cười nói: "Việc còn lại thì đơn giản hơn rồi, không tổn hại đến tính mạng con người, toàn là những việc tích đức hành thiện cả. Mệnh cục của các hạ hỏa khí rất mạnh, cần phải dùng đất ẩm để thu liễm hỏa khí. Mười hai địa chi tương ứng với mười hai con giáp, cái gọi là Tý chuột, Sửu trâu, Dần hổ, Mão thỏ, Thìn rồng, Tỵ rắn, Ngọ ngựa, Mùi dê, Thân khỉ, Dậu gà, Tuất chó, Hợi lợn. Trong mười hai con giáp này, con trâu trong ngũ hành thuộc thổ ẩm. Các hạ có thể lấy con số đại diễn của trời đất là 50 làm chuẩn, nuôi nhốt 50 con trâu, không bắt chúng lao động cày kéo, chịu roi chịu vọt nữa, cũng không giết mổ lấy thịt, hàng ngày cho ăn cỏ cho đến khi chúng chết già là được. Các hạ nếu có thể hoàn thành tâm nguyện này, chẳng những quan vận hanh thông mà còn được gia tăng tuổi thọ!"
Từ Hoài Cận hỏi: "Giải thích thế nào ạ?"
Tổ gia nói: "Chúng sinh trong sáu đường, ai cũng có linh tính. Con trâu ở trong chuồng lao, con chó ở trong ngục tù, các hạ nhìn cấu trúc của hai chữ này xem, con trâu ở trong lao, con chó ở cạnh ngục. Những kẻ sát sinh ăn thịt hai loài động vật này đều chẳng có kết cục tốt đẹp gì, sống không thọ, chết xuống địa ngục. Ngài chẳng những không ăn chúng mà còn giải cứu chúng, tự nhiên tuổi thọ sẽ gia tăng, quan vận hanh thông thôi!"
Từ Hoài Cận bừng tỉnh đại ngộ: "Tiên sinh thật từ bi bác ái, tại hạ vô cùng khâm phục! Chỉ có điều, trong thời buổi loạn lạc này, muốn gom đủ 50 con trâu về nuôi nhốt, cũng... cũng chẳng phải là chuyện dễ dàng gì đâu."
Tổ gia gật gật đầu: "Việc do người làm. Các hạ có thể phái thủ hạ ra chợ gia súc xem sao, nhưng có một điểm, phải giao dịch trung thực, không được cướp đoạt, bằng không chính là tạo nghiệp đấy!"
Từ Hoài Cận liên tục gật đầu: "Tiên sinh cứ yên tâm! Cảm ơn tiên sinh đã chỉ điểm!" Nói đoạn rút ra một sấp tiền định đưa cho Tổ gia.
Tổ gia xua tay: "Không cần đâu, đợi ngày sau các hạ công thành danh toại, tạ ơn vẫn chưa muộn."
Từ Hoài Cận triệt để cạn lời.
Thực ra, chợ gia súc thời kỳ Dân quốc vốn đã ảm đạm, sau chiến tranh kháng Nhật lại càng tiêu điều hơn. Để phục vụ cho cái bẫy này, Trương Ân Thụy đã phái hàng chục chân nhỏ đi khắp các ngõ ngách vùng Giang Hoài lùng mua nghé con suốt trong vòng một tháng. Chi phí mua nghé con tương đối thấp hơn so với trâu trưởng thành, thế nên tốn kém không bao nhiêu. Sau đó thấy thời gian cận kề, đành bất chấp tất cả, cả trâu trưởng thành cũng bắt đầu thu mua, cuối cùng dứt khoát ra tay trộm cắp luôn. Kết quả là trước khi Tổ gia ra mặt, họ rốt cuộc cũng gom đủ vài chục con trâu. Sau đó, họ hóa trang các A Bảo thành thương nhân buôn gia súc, dắt theo nghé con lảng vảng ở chợ gia súc gần đó mỗi ngày. Đồng thời lại liên hệ với các băng đảng địa phương, tạm thời xua đuổi những kẻ "thọc mông lừa" (chọc lư đít đích - môi giới chợ gia súc) trong chợ gia súc đi, phái các A Bảo tự mình giả dạng làm "thọc mông lừa" để vào chợ.
“Thọc mông lừa” là tiếng lóng chỉ người môi giới giữa bên mua và bên bán tại chợ gia súc. Do bên mua và bên bán không quen biết nhau, nước trong chợ gia súc lại quá sâu, tiếng lóng và thủ đoạn đen tối quá nhiều, cả hai bên mua bán đều không dám mạo hiểm giao dịch với nhau. Lâu dần, một nhóm người trung gian điều hòa lợi ích giữa bên mua và bên bán đã xuất hiện. Họ đóng vai trò là người trung gian, cân bằng lợi ích của hai bên, sau khi đạt được thỏa thuận thì trích hoa hồng.
Các A Bảo đã đóng vai những kẻ "thọc mông lừa", nhờ vậy mà người bán và người trung gian đều là người của mình, có thể đạt được lợi ích tối đa.
Đừng nhìn Từ Hoài Cận thu thập tình báo về con người siêu phàm thế nào, chứ thu thập tình báo về chợ gia súc thì hắn đúng là ngoại đạo, ngày thường hắn cũng chẳng thèm quan tâm đến mấy chuyện này.
Khoảng thời gian đó, giá cả gia súc đột ngột biến động, giá tăng vọt hết lần này đến lần khác. Từ Hoài Cận phải huy động một khoản quỹ đặc vụ rất lớn mới miễn cưỡng mua đủ 50 con trâu, rào một bãi đất ở vùng ngoại ô, thuê mấy người lao động ngày ngày phụ trách cho ăn. Làm xong tất cả những chuyện này, nghĩ lại chính hắn cũng thấy nực cười. Đêm nằm trên giường trò chuyện với Hoa Nguyệt Dung, hắn bảo: "Nguyệt Nhi, em nói xem chuyện này có hoang đường không cơ chứ, chuyện này mà truyền ra ngoài thì chẳng phải khiến người ta cười rụng răng hay sao."
Hoa Nguyệt Dung nói: "Có gì mà hoang đường chứ? Chuyện liên quan đến vận mệnh thì thà tin là có còn hơn tin là không, cha em chính vì không tin vị tiên sinh này nên mới lâm vào cảnh nhà tan cửa nát đấy thôi. Phải nói là hoang đường thì mấy vị quan lớn các anh mới là hoang đường nhất ấy chứ. Chẳng phải anh từng kể rằng cấp trên của anh, cái vị cục trưởng Đới đó đã đổi tới mười mấy cái tên rồi đấy thôi, lại còn vị Ủy viên trưởng Tưởng kia nữa, mỗi lần đến một nơi đóng quân lập trại là thế nào cũng phải xem phong thủy..."
“Thôi đi, thôi đi, tiểu tổ tông của anh ơi, những chuyện này đừng có đi kể với người ngoài, toàn là cơ mật đấy.” Từ Hoài Cận ngắt lời Hoa Nguyệt Dung, ôm chầm lấy cô vào lòng, hai người lại bắt đầu âu yếm.
Từ Hoài Cận bỗng nhớ đến lời dặn dò của Tổ gia, vội vã bảo Hoa Nguyệt Dung: "Nguyệt Nhi, năm nay em tuyệt đối không được đến gần sông ngòi đấy, tiên sinh đã dặn rồi, phải đợi qua mùa hè năm sau mới được đến gần nước."
Hoa Nguyệt Dung cười nói: "Anh sợ em chết đuối à?"
Từ Hoài Cận nói: "Đừng có nói nhảm, chết chóc gì chứ! Xui xẻo quá!"
Hắn nào đâu biết rằng, theo kế hoạch của Trương Ân Thụy và Tổ gia, Hoa Nguyệt Dung buộc phải "chết" một lần, bằng không thì không thể rút thân, lại càng dễ để lộ sơ hở của ván cờ. Thế là trong lúc Từ Hoài Cận đi trấn bên cạnh đốc biện, Hoa Nguyệt Dung liền cùng gia nhân của Từ Hoài Cận ra phố mua sắm. Cô bảo rằng mình đã mang thai, muốn ra chợ cá bên bờ sông mua cá chép phóng sinh, hy vọng đứa con của cô và Từ Hoài Cận sau này có thể "cá chép hóa rồng". Nữ gia nhân can ngăn cách mấy cũng không được, đành phải đi cùng.
Trương Ân Thụy đã sớm sắp xếp các chân nhỏ mai phục sẵn trong chợ cá. Ngày hôm đó nước sông vừa vặn lên triều, ngay lúc Hoa Nguyệt Dung và nữ gia nhân đang đứng bên bờ sông phóng sinh, trong chợ cá bỗng xảy ra một trận náo loạn như thể có ai đó đang cướp cá. Kết quả là chẳng biết từ đâu lao ra một đám người đông nghịt, vừa đuổi vừa đánh ùa tới. Cả Hoa Nguyệt Dung và nữ gia nhân đều bị xô ngã xuống dòng nước sông. Đến khi nữ gia nhân được người ta cứu lên bờ thì Hoa Nguyệt Dung đã sớm mất hút trong dòng nước cuồn cuộn.
Nữ gia nhân lăn lộn bò trườn chạy về nhà, hoảng hốt gọi điện thoại cho Từ Hoài Cận. Từ Hoài Cận như phát điên lao về, đối mặt với dòng nước sông cuồn cuộn, mọi thứ đã quá muộn màng, mọi thứ đã chẳng còn gì nữa. Hắn đứng bên bờ sông khóc cạn cả nước mắt, đến cả ý định chết cũng có.
Suốt mấy tháng liền, Từ Hoài Cận chẳng tài nào vực lại được tinh thần. Từng nụ cười ánh mắt của Hoa Nguyệt Dung khắc sâu vào tâm trí hắn, Hoa Nguyệt Dung đi rồi, mang theo cả trái tim hắn đi mất. Ngày nào hắn cũng ra bờ sông đi dạo một lát, ban đêm nằm trên giường ngắm nhìn trần nhà trống hoác, hồi tưởng lại từng ngày từng đêm ở bên Hoa Nguyệt Dung. Đến những đoạn cảm xúc dạt dào, hắn lại không kìm được mà rưng rưng lệ.
Hắn dự tính sau này sẽ chăm sóc thật tốt cho "mẹ" của Hoa Nguyệt Dung, hắn muốn thực hiện lời hứa với "Nguyệt Nhi". Hắn nào có ngờ rằng, vị "mẹ" ấy cũng nhất định sẽ không chịu nổi nỗi đau mất con mà "nhảy sông tự vẫn".
Ván cờ đã hạ màn, tất cả mọi người đều phải rút lui, ngoại trừ 50 con trâu vẫn lững thững gặm cỏ, Từ Hoài Cận chẳng còn lại gì trong tay.
Sau khi Hoa Nguyệt Dung và mụ A Bảo nọ quay về đường khẩu tạm lánh vài ngày, Trương Ân Thụy và Tổ gia bắt đầu bày tiệc ăn mừng cho họ.
Xa cách đã lâu, Trương Ân Thụy thực sự rất nhớ Hoa Nguyệt Dung. Sau bữa tiệc, Trương Ân Thụy giữ Hoa Nguyệt Dung lại, ôm chặt lấy cô vào lòng: "Nguyệt Nhi, lần này nhờ hết vào em đấy."
Hoa Nguyệt Dung cười khổ một tiếng: "Sao đại sư phụ bỗng dưng lại khách sáo thế này. Chẳng phải đang chiết sát kẻ tiểu bối này sao."
Trương Ân Thụy nói: "Nguyệt Nhi, em có biết lần này anh gom nhiều tiền thế để làm gì không?"
Hoa Nguyệt Dung đáp: "Chẳng phải đều là vì sinh kế của các anh em trong đường khẩu đó sao?"
Trương Ân Thụy cười, nói: "Ừm, nói thế cũng đúng, nhưng lần này là để tính toán cho sinh kế lâu dài của các anh em."
Hoa Nguyệt Dung ngạc nhiên hỏi: "Lâu dài?"
Trương Ân Thụy nói: "Đúng thế, đây là quả lừa cuối cùng của chúng ta rồi!"
Hoa Nguyệt Dung kinh ngạc: "Cuối cùng?"
Trương Ân Thụy nói: "Em chẳng phải vẫn thường hỏi anh khi nào anh mới có thể cưới em, chúng ta rời khỏi những thị phi này, sống một cuộc đời hạnh phúc hay sao? Chúng ta sắp được rời khỏi những thị phi này, rời khỏi tất cả những thứ đó, đổi lấy một cuộc đời khác, sống một cuộc đời đàng hoàng quang minh chính đại rồi."
Hoa Nguyệt Dung kinh ngạc ngồi bật dậy từ trong vòng tay Trương Ân Thụy: "Sao em nghe mà chẳng hiểu gì cả vậy?"
Trương Ân Thụy nói: "Cuộc đời kẻ lừa đảo không phải là kế sách lâu dài. Sau khi Cửu gia chết, anh đã tính đến chuyện rửa tay gác kiếm rồi, anh muốn đầu ấp tay gối với Lý Tế Sâm để kháng Nhật. Số tiền gom được lần này đều sẽ dùng để mua súng ống đạn dược, mấy hôm nữa anh sẽ ngửa bài với mọi người, ai nguyện ý đi theo anh, anh đều dẫn đi, ai không muốn đi thì cắt đứt... Anh sẽ dẫn em theo, sau này sẽ đối xử thật tốt với em, đường đường chính chính cưới em làm vợ..." Nói đến đây, Trương Ân Thụy siết chặt bàn tay Hoa Nguyệt Dung, đôi mắt rưng rưng lệ.
Hoa Nguyệt Dung trầm mặc.
"Sao thế? Em không vui à? Chúng ta sắp bước lên con đường chính đạo rồi, em sắp làm vợ anh rồi. Sau này sẽ không phải nơm nớp lo sợ nữa." Trương Ân Thụy thâm tình nhìn Hoa Nguyệt Dung nói.
Hoa Nguyệt Dung trầm giọng đáp: "Vui, vui chứ ạ."
Trương Ân Thụy từ từ cởi y phục của Hoa Nguyệt Dung ra, áp người đè xuống...
Phụ nữ một khi đã thay lòng đổi dạ thì mọi thứ trên giường đều sẽ đổi vị. Cảm giác này không nói ra được, nhưng lại có thể cảm nhận rõ ràng. Sau khi mây mưa xong xuôi, Trương Ân Thụy tựa lưng vào đầu giường, châm một điếu thuốc, hít một hơi sâu rồi từ từ nhả khói, lên tiếng: "Em có điểm không đúng."
Hoa Nguyệt Dung không phản bác, cũng chẳng lên tiếng, trầm mặc một hồi lâu rồi mới hỏi: "Không đúng chỗ nào cơ ạ?"
Trương Ân Thụy nói: "Em vẫn còn ở trong ván cờ."
Hoa Nguyệt Dung lại cười khổ một tiếng: "Ngày nào mà chẳng ở trong ván cờ cơ chứ?"
Trương Ân Thụy hít một hơi thuốc sâu rồi nhả ra, vòng khói cuộn tròn bay lên. Cả hai người không ai nói câu nào, trong phòng chìm vào một khoảng tĩnh lặng tuyệt đối. Qua hồi lâu, Trương Ân Thụy cất lời: "Nói ra đi, nói ra hết đi."
Hoa Nguyệt Dung cắn chặt môi, suy nghĩ một lát, cúi đầu ấp úng nói: "Em... có thể tự sống một mình không? Em không cần gì cả, em cũng sẽ không nói gì hết."
Bàn tay Trương Ân Thụy khẽ run lên, tàn thuốc dài rơi xuống đất, lại là một khoảng tĩnh lặng nữa bao trùm. Hoa Nguyệt Dung vẫn cúi gằm mặt. Hồi lâu sau, Trương Ân Thụy đứt quãng lên tiếng: "Những năm qua... em đi theo anh cũng chịu không ít khổ cực... Nếu như em đã có sự lựa chọn của mình, chỉ cần không làm hại đến đại sự của anh, thì anh... sẽ buông tha cho em."
Hoa Nguyệt Dung bỗng ngẩng phắt đầu lên, đăm đăm nhìn Trương Ân Thụy, hỏi: "Thực sự chịu buông tha cho em ư?"
Trương Ân Thụy nhíu chặt mày, không nói năng gì.
Hoa Nguyệt Dung bỗng quỳ sụp xuống đất, nước mắt giàn giụa: "Anh buông tha cho em đi! Buông tha cho em đi! Em thề tuyệt đối sẽ không đem những chuyện này nói ra ngoài đâu! Em sẽ giấu nhẹm những chuyện này trong bụng! Cả đời cũng không nói! Em chỉ cầu được ở bên anh ấy, em chỉ cầu được ở bên anh ấy thôi!"
Trương Ân Thụy sững người, nhìn chằm chằm Hoa Nguyệt Dung, hồi lâu sau mới cất lời: "Đứng lên, đứng lên đi, nói chuyện cho đàng hoàng xem nào, rốt cuộc là thế nào, anh buông tha cho em."
Hoa Nguyệt Dung hoang mang nhìn Trương Ân Thụy. Trương Ân Thụy mỉm cười nhẹ: "Đừng sợ, cứ nói đi."
Lòng Hoa Nguyệt Dung chợt đanh lại, đem tất cả những gì chôn giấu trong lòng kể lại từ đầu đến cuối. Cô kể về việc Từ Hoài Cận đã đối xử chân thành với cô ra sao, bản thân cô đã không kiềm chế được mà đem lòng yêu Từ Hoài Cận như thế nào, kể mãi, kể mãi... Cuối cùng, cô nức nở nói: "Là em có lỗi với anh, là em có lỗi với anh. Lần này em không thoát ra được nữa rồi, không thoát ra được nữa rồi. Những chuyện này, sau này em tuyệt đối sẽ không nói ra đâu, tuyệt đối không nói! Đường khẩu sắp giải tán rồi, em sẽ không cản trở anh làm đại sự đâu, em chỉ cầu anh buông tha cho em!"
Trương Ân Thụy lẵng lặng lắng nghe, trên mặt không biểu lộ chút cảm xúc nào, cuối cùng khẽ hỏi: "Nói như vậy, là em... thực sự yêu hắn ta rồi sao?"
Hoa Nguyệt Dung sâu sắc gật đầu. Trương Ân Thụy nhắm nghiền hai mắt, dòng lệ trượt dài xuống má.
Hoa Nguyệt Dung không nói gì thêm, lủi thủi bước ra khỏi phòng Trương Ân Thụy, trở về chỗ ở của mình, lấy bút mực ra viết một bức thư mà cô biết chắc là vĩnh viễn không bao giờ gửi đi được. Viết xong, cô đặt nó dưới gối, tự mình soi gương chải chuốt lại đầu tóc, rồi nằm lên chiếc giường, gối đầu lên bức thư ấy nhắm nghiền đôi mắt hạnh phúc.
Trước lúc rạng đông, một tiếng súng vang lên, bầu trời đêm tĩnh lặng khẽ rung lên theo. Hoa Nguyệt Dung chết rồi. Chẳng ai biết Trương Ân Thụy là vì cân nhắc đại sự hay vì oán hận cá nhân, tóm lại, chính tay anh ta đã giết chết người phụ nữ mà mình yêu nhất. Lại càng chẳng ai biết trước khi chết Hoa Nguyệt Dung có thực sự ngủ thiếp đi hay không, cô cứ lẵng lặng nằm đó như thế, có lẽ cô đã nghe thấy tiếng bước chân của Trương Ân Thụy, và còn nghe rõ cả tiếng cò súng được bóp cò. Cô không né tránh, mà cũng chẳng biết trốn đi đâu cho thoát, thiên hạ tuy lớn, nhưng lại chẳng có nổi một chốn dung thân dành cho cô.
Nhiều năm về sau, khi nhắc lại ván cờ này, Tổ gia vẫn luôn thở dài ngao ngán. Ai là người tốt, ai là kẻ xấu, ai ở trong ván cờ, ai ở ngoài ván cờ, Tổ gia nói không rõ, Trương Ân Thụy nói không rõ, Từ Hoài Cận lại càng nói không rõ hơn. Hoa Nguyệt Dung ra đi, mang theo bao nỗi cay đắng của cả cuộc đời, mang theo đoạn tình duyên dứt chẳng đứt, triệt để rời xa.
Sau khi quân Nhật đánh tới, Tổ gia phái người đem số trâu đó phân phát cho bà con đồng bào địa phương. Trong giai đoạn giằng co kháng Nhật, những cỗ xe kéo buộc sau lưng những con trâu ấy đã giúp người dân vận chuyển thương binh quân đội Trung Quốc từ tiền tuyến rút về. Tổ gia cảm thán: "Người nuôi trâu ba năm, trâu báo ơn một đời, ân oán thiện ác vốn dĩ rất đơn giản, cớ sao tình cảm giữa người với người lại luôn rắc rối cắt mãi không đứt, gỡ mãi không rời!"
Sau này, Tổ gia nghe tin Từ Hoài Cận đã đường ai nấy đi với Quân thống, kết quả bị truy sát, phải trốn sang Hồng Kông, từ đó bặt vô âm tín.
Trương Ân Thụy sau khi lừa gạt được tiền tài bèn chiêu binh mãi mã, dựng cờ quy tụ lực lượng quần nhau với cục Quân thống. Nghe nói anh ta từng ám sát nhiều thân cận dưới quyền Đới Lập. Về sau, Trương Ân Thụy đầu gia về phe Lý Tế Sâm chống Nhật phản Tưởng. Khi chiến tranh kháng chiến toàn diện bùng nổ, Trương Ân Thụy đã nhiều lần dâng thư xin ra mặt trận, đến trận chiến Quế Nam năm 1940 thì bị đạn bắn thủng lồng ngực, trước lúc lâm chung để lại di nguyện: Sau khi hỏa táng phải vận chuyển tro cốt về quê nhà, chôn cất bên cạnh một ngôi mộ hoang mang tên "Hoa Nguyệt Dung".
Ván cờ mỹ nhân này chính là lần đầu tiên "Giang tướng phái" chính diện giao thủ với cục Quân thống Quốc dân Đảng. May mắn thay, lũ đặc vụ Quân thống hoàn toàn không hề hay biết, càng không gây ra sự phản công chớp nhoáng nào từ đối phương. "Phong tử thủ" muốn báo thù cho Cửu gia, Tổ gia cũng muốn báo thù cho Cửu gia. Tổ gia thông qua phương thức này để đưa ra một lời giải đáp cho "Phong tử thủ", đồng thời cũng truyền cho "Phong tử thủ" một bài học sinh động. Kể từ đó, "Phong tử thủ" thấu triệt một đạo lý: Phàm là kẻ làm đại sự, tuyệt đối không được cậy chút dũng khí nhất thời, liều mạng thì ai mà chẳng liều được, cái mạng cọng cỏ thì đáng giá là bao?
Cùng với sự bành trướng ngày càng lớn mạnh của thế lực Quân thống tại Trung Quốc, Tổ gia đã sớm đoán trước rằng sẽ có một ngày, "Giang tướng phái" và cục Quân thống sẽ chạm trán nhau trên con đường hẹp. Chỉ là ông không ngờ ngày đó lại đến nhanh đến vậy, và cũng đột ngột đến thế.