Ngã Bất Thị Đại Sư (Ngã Thị Cá Toán Mệnh Tiên Sinh)

Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Bói Toán Là Một Nghề Cổ Xưa

❊ ❊ ❊

K khẩu quyết bói toán tuyệt đối không truyền ra ngoài

Kẻ tham lam tất nghèo hèn, quân tử coi đây là điều răn cấm lớn, cửa Phật cũng coi là giới luật đầu tiên, cho nên làm "A Bảo", lỗi không nằm ở "tướng", mà nằm ở chữ "nhất" ——

《A Bảo Thiên》

Câu này xuất phát từ bí bản giang hồ 《A Bảo Thiên》, ý nói bản tính con người vốn tham lam, tham lam là đại giới, cho nên kẻ tham lam ắt nghèo hèn, vì thế làm "A Bảo", đi lừa những kẻ tham lam đó, là không có gì sai cả. Nói cách khác chính là, bọn chúng đáng đời!

“A Bảo” là tiếng lóng, chỉ chung những kẻ dựa vào nghề bói toán để lừa gạt, "tướng" chỉ kẻ đi lừa, "nhất" chỉ kẻ bị lừa.

Năm 1948, tôi 20 tuổi, vì mưu sinh nên đã đi theo Tổ gia. Tổ gia là đầu sỏ trong giới lừa đảo địa phương, tư lịch già dời, thủ đoạn cay độc, muốn làm việc hắc ám ở địa phương này thì bắt buộc phải bái ông làm thầy, nếu không ông sẽ tìm người "cắt" (giết chết) anh ngay.

Đã theo Tổ gia, trước tiên phải học âm dương ngũ hành, đặt nền tảng được một tháng thì bắt đầu học "Anh Diệu", chính là tâm lý học lừa đảo. Khẩu quyết cốt lõi của Anh Diệu đến nay tôi vẫn còn nhớ như in:

Nhập môn quan lai ý, xuất xứ mâu trừ. (Vào cửa xem ý định đến, cất lời chớ chần chừ.)

Thiên lai vấn truy dục truy quý, truy lai vấn thiên vi thiên ưu. (Cha đến hỏi con muốn con sang quý, con đến hỏi cha vì cha lo âu.)

Bát vấn thất, hỉ giả dục phì thất quý, oán giả thực vi thất sầu. (Vợ hỏi chồng, người vui muốn nhờ chồng sang quý, người oán thực vì chồng sầu muộn.)

Thất vấn bát, phi bát hữu sự, tất nhiên tử tức gian nan. (Chồng hỏi vợ, không phải vợ có chuyện, tất nhiên đường con cái gian nan.)

Sĩ tử vấn tiền đồ, sinh tôn vi cận cổ. (Kẻ sĩ hỏi tiền đồ, sinh Tôn/nhà giàu là gần cổ.)

Điệp điệp vấn thử sự, định nhiên thử sự khuyết; tần tần vấn nguyên nhân, kỳ trung định hữu nhân. (Liên miên hỏi việc này, ắt hẳn việc này thiếu; dồn dập hỏi nguyên nhân, trong đó chắc có nguyên nhân.)

Tăng đạo tòng thanh cao, bất vong lợi dục. (Tăng đạo theo thanh cao, chẳng quên lợi dục.)

Miếu đường đạt sĩ, chí tại sơn lâm. (Bậc đạt sĩ chốn miếu đường, chí ở chốn sơn lâm.)

Nhất ca yếu hận đao, nhị ca yếu phao đao, tam táo yếu khiêu tảo. (Ca một muốn dao bén, ca hai muốn vứt dao, ba táo muốn bọ chét.)

Đây đều là tiếng lóng, cần tôi từ từ giải thích.

Câu thứ nhất: Nhập môn quan lai ý, xuất xứ mâu trừ.

Chính là nói có người đến xem bói, hoặc đi đến tận nhà xem bói cho đối phương, bản thân trước tiên không được nói, phải lắng nghe đối phương nói, đối phương nói càng nhiều, thông tin lộ ra càng nhiều, ngươi nhắm chuẩn thời cơ, bất thình lình nói một câu, phải đánh trúng yếu hại, tuyệt đối không được chần chừ, không được nước đôi, nếu không đối phương sẽ cho rằng ngươi không có trình độ! Vậy làm thế nào để nắm bắt yếu hại? Hãy xem mấy câu dưới đây.

Câu thứ hai: Thiên lai vấn truy dục truy quý, truy lai vấn thiên vi thiên ưu.

"Thiên" chỉ cha, "truy" chỉ con trai, câu này có ý nói, hễ là cha đến xem bói cho con trai, cơ bản đều là muốn hỏi con trai sau này có nên người hay không, có được phú quý hay không. Cha mẹ nào cũng mong con hóa rồng, mong gái hóa phượng, cho dù nó chỉ là một con thằn lằn hay gà rừng đi nữa. Đã đích thân hỏi những điều này, ý ngoài lời chính là hiện tại con trai hoặc con gái không có chí tiến thủ, ngươi cứ theo hướng này mà đoán, tuyệt đối không sai! Nửa câu sau ý chỉ, phàm là con cái đến xem bói cho cha mẹ, tuyệt đối là sức khỏe của cha hoặc mẹ không tốt, hoặc là ngã bệnh, hoặc sắp về chầu tổ tiên, ngoài điều này ra, con cái chẳng có chuyện gì mà nhớ đến cha mẹ cả!

Câu thứ ba: Bát vấn thất, hỉ giả dục phì thất quý, oán giả thực vi thất sầu.

"Bát" chỉ vợ, "thất" chỉ chồng, ý nói là, hễ vợ đến hỏi về tiền đồ và vận thế của chồng, thì nếu người phụ nữ này đến với vẻ mặt vui mừng, điều đó cho thấy chồng cô ta gần đây có khả năng gặp vận quan lộ hoặc vận tài lộc, nói chung là có chuyện tốt sắp đến, nhưng chuyện tốt đó vẫn chưa tới, hoặc vừa mới có manh mối, cô ta đến để thăm dò trước, vậy thì ngươi có thể trực tiếp đoán chồng cô ta có phúc có lộc, cô ta chắc chắn sẽ cười như một con hoẵng ngốc, tiền thưởng đưa ra cũng sẽ rất nhiều! Ngược lại, nếu người phụ nữ này đến với vẻ mặt ưu sầu, vậy thì chắc chắn chồng cô ta gần đây đang gặp vận đen, hoặc sắp mất quan chức, hoặc sắp phá sản, hoặc sắp đá cô ta, ngươi cứ đoán theo hướng hung cát, chắc chắn mười mươi không trật đi đâu được! Sau đó giáng cho cô ta một đòn thật mạnh, bảo rằng nếu không giải hạn, sẽ gặp vận xui suốt mười năm, lúc này, cô ta sẽ ngoan ngoãn móc những đồng bạc nguyên trong túi ra, ngươi lừa gạt cô ta, mà cô ta còn phải dập đầu cảm ơn ngươi!

Câu thứ tư: Thất vấn bát, phi bát hữu sự, tất nhiên tử tức gian nan.

Hễ là chồng đến xem bói cho vợ, chỉ có hai khả năng: một là nghi ngờ vợ không chung thủy, cắm sừng mình; hai là vợ không biết đẻ, không sinh được con! Ngoài những điều này ra, chồng đời nào lại đi xem bói cho vợ!

Câu thứ năm: Sĩ tử vấn tiền đồ, sinh tôn vi cận cổ.

"Sinh tôn" chỉ thương gia, người có tiền; "cận cổ", cận nghĩa là còn sống, cổ nghĩa là đã chết. Sĩ tử chính là kẻ đọc sách, sĩ tử đến chắc chắn là hỏi tiền đồ ra sao, có đỗ cao hay không, có được làm quan hay không. Đại gia đến thì chắc chắn là hỏi bản thân sống được thọ bao nhiêu tuổi, hoặc hỏi trên đường đời có đại tai đại nạn gì không, bởi vì họ cái gì cũng có, cái gì cũng không thiếu, chỉ sợ sống không thọ. Nắm bắt được tâm lý này, mọi chuyện đều dễ nói!

Câu thứ sáu: Điệp điệp vấn thử sự, định nhiên thử sự khuyết; tần tần vấn nguyên nhân, kỳ trung định hữu nhân.

Phàm là lặp đi lặp lại mãi một việc nào đó, thì việc đó chắc chắn là rất tệ, rất không như ý; phàm là người cứ nhai đi nhai lại một câu hỏi không dứt, thì vấn đề đó chính là nguyên nhân của sự việc mà họ muốn dò hỏi, không phải ngươi đoán chuẩn, mà là họ đã để lộ quá nhiều!

Câu thứ bảy: Tăng đạo tòng thanh cao, bất vong lợi dục.

Người xuất gia chân chính sẽ không đi xem bói. Những kẻ tăng đạo ra vẻ đạo mạo đó mà đến hỏi việc, chính là biểu hiện tâm phàm chưa dứt, không hỏi về lợi thì cũng hỏi về dục. Ngươi dùng lợi dục để hứa hẹn với họ, họ tất sẽ vô cùng vui mừng!

Câu thứ tám: Miếu đường đạt sĩ, chí tại sơn lâm. "Miếu đường đạt sĩ" chỉ những kẻ làm quan, những vị quan cao ngã trọng đó, thực ra dã tâm còn lớn hơn, lòng tham lợi lộc còn mạnh hơn. Lại dùng lợi dục để hứa hẹn, cũng sẽ vô cùng vui mừng!

Câu thứ chín: Nhất ca yếu hận đao, nhị ca yếu phao đao, tam táo yếu khiêu tảo.

"Nhất ca" chỉ những con hoẵng ngốc dễ sập bẫy nhất, vô cùng tin tưởng ngươi, lúc này dao phải thật bén, bén đến mức độ nào, Tổ gia đã nói: "Miễn là đừng đến mức tán gia bại sản là được!" "Nhị ca" chỉ những kẻ đã bắt đầu hoài nghi ngươi, hoặc cho rằng ngươi đoán không chuẩn, thì lúc này tuyệt đối không được ham đánh lâu dài, không được nổi lòng tham, một xu cũng không thu! "Tam táo" chỉ những kẻ cố ý gây sự, nếu nhìn ra là đến để gây sự, lập tức chuồn thẳng cho lành! Mọi chuyện còn lại cứ để Tổ gia lo!

Đi theo Tổ gia chính là sự phó thác sống chết. Sợ chết ư? Theo lời Tổ gia: Sợ chết thì thà về nhà nuôi heo còn hơn!

Nghề "A Bảo" này chính là rủi ro cao, lợi nhuận cao, nhìn xem những vị Bá đầu bên cạnh Tổ gia, người nào mà chẳng trải qua trăm trận chiến, từ cửa tử sinh mà lội ngược dòng ra!

Nói đến đây, chắc chắn ngươi sẽ cho rằng Tổ gia là một nhân vật vô cùng lợi hại. Đúng vậy! Tổ gia là một người có học thức, tướng mạo rất khôi ngô, trông rất từ thiện. Nếu ngươi không hiểu về ông, ngươi vĩnh viễn không thể liên kết ông với những chuyện lừa đảo, cờ bạc, giết người. Tổ gia rất hiếm khi nổi giận, chỉ khi mấy tên "Tiểu cước" làm ăn lóng ngóng mới nổi giận, nhưng cũng không lớn, không phải kiểu đánh mắng như ngươi tưởng tượng, nhưng người chỉ cần sầm mặt lại, cũng đủ dọa ngươi sợ khiếp vía rồi!

Lần Tổ gia nổi giận lớn nhất mà tôi từng chứng kiến, là vào năm thứ hai sau khi vào nghề, có mấy vị Bá đầu muốn "bái hương" — "Bá đầu" là cấp quản lý thứ hai dưới trướng Tổ gia, "bái hương" chính là làm phản — Tổ gia lúc đó giận tím mặt, tận tay xử trùm sỏ kẻ dẫn đầu.

● Lần đầu xem bói

Lần đầu tiên đi lừa hoẵng, là hai tháng sau khi tôi gia nhập đường khẩu. Vì là lính mới, địa bàn trong thành không được phép đánh, Tổ gia sắp xếp một ngôi làng nhỏ ở vùng ngoại ô tên là "An Gia Trang". Tổ gia bảo tôi mập mạp, mắt lại nhỏ, có thể lật ngược tròng mắt lên giả làm kẻ mù, như vậy tâm lý đề phòng của đối phương sẽ không quá mạnh. Sau này tôi mới hiểu, chuyến đi mở hàng này chẳng thấm tháp gì, cùng lắm chỉ được coi là "thử nước", kém xa những vố cá kiếm hàng trăm đồng đại dương của Tổ gia!

Tôi cầm gậy trúc, lững thững bước vào làng, mấy hộ gia đình đầu tiên đều xua đuổi tôi ra ngoài. Cuối cùng cũng có một nhà chịu cho tôi ngồi xuống nói chuyện, là một bà lão ở nhà một mình. Bà lão chừng sáu mươi tuổi, đầy nếp nhăn trên mặt, nhường tôi vào nhà, miệng không ngớt nói: "Đi từ từ thôi, đi từ từ thôi, để ta lấy cho cháu cái ghế." Lúc ấy trong lòng tôi vô cùng khó chịu, bởi vì thị lực của bà ấy còn chẳng bằng tôi.

Bà lão còn rót cho tôi một cốc nước, lúc đón lấy, tôi thấy trên tay bà đầy vết nứt nẻ, cực kỳ thô ráp, giống như vỏ cây, tôi bỗng nhớ tới người mẹ quá cố. Mẹ mất vì bệnh lao phổi vào năm trước, đôi bàn tay ấy y hệt như tay của bà lão này!

Tôi hơi mềm lòng, nhưng ngay lập tức nhớ đến ánh mắt của Tổ gia, nhớ đến nhiệm vụ mà Bá đầu giao phó. Bà lão ân cần hỏi: "Còn trẻ thế này mà đã ra ngoài làm nghề này rồi á?"

Tôi lật ngược tròng mắt: "Bà ơi, cháu bị mù từ nhỏ, đi theo sư phụ học bói toán, mắt tuy mù nhưng lòng thì sáng tỏ ạ."

Bà lão nói: "Đúng! Đúng! Đúng! Đứa trẻ ngoan."

Tôi nói: "Vâng, cháu chẳng có tài năng gì khác, chỉ biết xem một quẻ. Bà ơi, bà xem cho ai thế ạ? Cho chính mình ạ?"

Bà lão bảo không phải: "Không. Ta sắp xuống lỗ đến nơi rồi, không cần xem nữa. Cháu xem hộ con trai ta đi, xem hai năm nay nó thế nào rồi, có trắc trở tai ương gì không?"

Câu nói này của bà đã trực tiếp tiết lộ rằng con trai bà hai năm nay chắc chắn chẳng ra gì, hơn nữa lúc bà lão nói câu này, giọng nói còn đang run rẩy.

Tôi nói: "Bà ơi, bà phải cho cháu biết ngày sinh tháng đẻ của con trai bà, năm nào, tháng nào, ngày nào, vào giờ nào?" Thực chất đây chỉ là diễn kịch, sau đó phối hợp phán đoán thế nào, nói thế nào, đã sớm tính toán xong xuôi từ trước rồi!

Bà lão báo ra bát tự sinh thần của con trai, tôi bắt đầu bấm đốt tay tính toán, trong lúc lật trắng mắt, tôi thấy bà lão đang vô cùng sốt ruột chờ đợi.

"Bà ơi, con trai bà mang mệnh Thủy, hai năm nay phạm Thái Tuế, đường đi nước bước không mấy suôn sẻ." Nói xong, tôi liền dừng lại chờ đợi, xem bà phản ứng thế nào. Theo quy luật, cơ bản đều là câu trả lời khẳng định, nếu phủ định thì cũng không sao, tôi sẽ nói: "Hai năm nay" cũng bao gồm cả ngày hôm nay, hôm nay vừa mới bắt đầu, vẫn chưa kết thúc, nếu bà ấy phủ định, tôi sẽ nói nửa cuối năm mới gặp lại.

Kết quả là bà lão thở dài nói: "Phải đấy."

Tôi lập tức tiếp lời: "Bà ơi, con trai bà là một người con hiếu thảo đấy!" Câu này gần như bách phát bách trúng, bởi vì cha mẹ thương con mười phần, con cái đền đáp cha mẹ một phần, cha mẹ đều cảm thấy con cái mình rất hiếu thảo. Hơn nữa đứa con nghịch tử vốn dĩ chỉ chiếm số ít, nếu con trai bà ta thực sự là một tên bất hiếu vong ân bội nghĩa, thì bà ấy cũng đã chẳng đau lòng đến thế, càng không đi xem bói cho con trai mình.

Bà lão rớt nước mắt: "Đúng vậy, đứa con trai ấy của ta, đối xử với ta cực kỳ tốt, người cao lớn, có năng lực, lại hiếu thảo."

Tôi nhìn thấy khóe mắt bà lão có giọt lệ, tôi tiếp tục nói: "Nó hai năm nay phạm Tẩu Mã Tinh!"

Bà lão: "Sao tinh cơ?"

Tôi lớn tiếng nói: "Tẩu Mã Tinh, chính là bôn ba khắp nơi đấy, vừa mệt mỏi lại vừa khổ cực." Thời đại đó, vì để kiếm tiền, có ai là không bôn ba khắp chốn!

Nước mắt bà lão tí tách rơi xuống: "Phải đấy, nó năm ngoái bị bắt đi lính rồi, đến tận bây giờ vẫn không rõ sống chết ra sao!"

Nhìn thấy bà lão rơi nước mắt, tôi vậy mà cũng khóc theo, chẳng biết là khóc cho bà hay khóc cho chính mình. Bà lão thấy tôi khóc, bèn cầm lấy một chiếc khăn tay bẩn, vừa khóc vừa lau cho tôi, miệng nói: "Đứa trẻ ngoan đừng khóc, đừng khóc mà cháu."

Tôi nói: "Bà ơi, cháu thấy đau lòng thay cho bà."

Bà lão nói: "Đứa trẻ ngoan, đúng là đứa trẻ ngoan."

Tôi nói: "Bà ơi, con trai bà bây giờ đang gặp bước đường cùng rồi, nguy hiểm lắm đấy."

Bà lão hoảng sợ nói: "Sao thế, nó còn sống không?"

Tôi nói: "Sống thì vẫn sống, chỉ là đạn trên chiến trường nào có mở mắt đâu, kiếp nạn này của nó phải giải đi, nếu không thì không về được đâu!"

Bà lão biến sắc kinh hoàng: "Mau giải hộ ta với, giải thế nào hả cháu?"

Tôi nói: "Bà lấy một miếng vải đỏ, viết tên con trai mình lên đó. Vào lúc mười hai giờ đêm, buộc nó lên một cái cây đại. Bà nói rằng 'Hỡi cây đại ơi, cây đại hỡi, con trai ta nhận người làm mẹ nuôi, phù hộ cho con ta không bị thương tích gì'. Sau đó dập đầu ba cái, quay về phủ miếng vải đỏ lên chuồng gà là được. Bà ơi, phải nhớ cho kỹ nhé."

Giải hạn thì càng nói càng phải chân thực. Những thủ đoạn nhận cây lớn làm mẹ nuôi, nhận nước sông làm cha nuôi thế này, đều là những chiêu trò thường dùng của thầy bói.

Bà lão hỏi: "Như vậy là nó được bình an vô sự rồi chứ?"

Tôi đáp: "Bà ơi, vẫn chưa được đâu, con trai bà trên chiến trường giết người quá nhiều, oan hồn sẽ tìm đến đòi mạng nó đấy."

Bà lão lại bắt đầu lo lắng: "Vậy phải làm sao đây?"

Tôi bảo: "Bà phải làm nhiều việc thiện thay nó, làm nhiều việc thiện thì ác giả ác báo... à nhầm, thiện có thiện báo!"

Bà lão nói: "Đúng! Đúng! Đúng! Cháu nói đúng lắm! Phải làm thế nào để giúp nó làm việc thiện đây?"

Tôi nói: "Bà quyên góp chút tiền hương khói thay nó, cháu sẽ mang giúp bà đến chùa. Cháu đã tiết lộ thiên cơ, cháu cũng sẽ góp một phần giúp đỡ. Quyên góp xong là ổn thôi, muộn nhất là vào mùa xuân năm sau, con trai bà sẽ trở về!"

Bà lão hớn hở mày tao, vui vẻ đi vào trong nhà, hồi lâu sau lấy ra hai tờ "giấy bạc trắng". Giấy bạc trắng là tên gọi dành cho tiền pháp tệ. Vì lạm phát kinh khủng nên chúng chẳng có mấy giá trị!

Tôi nói: "Bà ơi, tiền này của bà bây giờ bên ngoài không tiêu được nữa rồi, rất nhiều nơi không chấp nhận đâu, cháu không thể dùng nó để dâng tiền hương khói cho bà được, chúng ta không thể lừa dối Đức Phật đâu."

Bà lão ngượng ngùng nói: "Ồ, ta vẫn còn mấy đồng xu." Nói đoạn lại đi vào trong nhà. Tuân thủ theo bài học của Tổ gia, tiền đại dương và tiền xu đều thu hết, nắm chắc loại tiền tệ cứng này trong tay, mặc cho Tưởng Giới Thạch cải cách thế nào cũng chẳng sợ.

Tôi nhận lấy tiền xu xem thử thì chỉ có 3 đồng, bèn bảo: "Bà ơi nếu thực sự không có thì thôi vậy! Cháu bù tiền túi ra giúp bà."

Bà lão vội vàng nói: "Không được đâu, không được đâu cháu ơi, cháu đợi nhé, ta vẫn còn mấy tấc vải chưa cắt đấy."

Bà lão vào nhà lục lọi một hồi lâu, mang ra một cuộn vải xanh chưa từng đụng kéo, chính là loại vải nhuộm màu xanh lam mà vùng quê hay dùng để làm mặt chăn.

Tôi nói: "Bà ơi thế này là được rồi, cháu đều đã quyên góp giúp bà rồi."

Bà lão cười tít cả mắt: "Nhờ cả vào cháu thôi, nhờ cả vào cháu thôi."

Nói xong, bà còn tiễn tôi ra tận cửa nhà, rồi ân cần dặn dò: "Cháu ơi, đi đường cẩn thận nhé, đầu làng có cái giếng đấy."

Tôi đáp: "Cháu biết rồi, thưa bà."

Tôi cầm gậy chống, ra điều bộ chống đối chạy ra khỏi làng, vừa chạy vừa khóc suốt dọc đường.

Lần mở hàng đầu tiên thu hoạch được rất ít. Ngoài hai tờ "giấy bạc trắng" có thể coi như không tính, thì chỉ có mấy tấc vải cùng ba đồng xu. Nhưng dù sao vẫn thu được nhiều hơn hai tên lính mới kia, hai kẻ đó, một tên chẳng lừa được gì còn bị người ta mắng cho xơi nước; kẻ còn lại vì sợ Tổ gia và các Bá đầu trách m phạt, bèn trộm cả cái xà beng chống cột trong vườn nhà người ta về làm nhiệm vụ.

Tổ gia nói: "Chúng ta là tướng, không phải kẻ trộm! Mở hàng trắng tay thì cứ tay không mà về, chuyện trộm gà bắt chó tuyệt đối không được làm!"

Làm cho tên tiểu cước kia sợ hãi vội vàng quỳ xuống nhận tội.

Tổ gia: "Không phải lỗi của ngươi. Nhị Bá đầu!"

Nhị Bá đầu lập tức bước ra, quỳ rạp xuống: "Tổ gia!"

Tổ gia bảo: "Cước của ngươi, ngươi phải quản cho cho kỹ!"

Quát đến mức Nhị Bá đầu mồ hôi vã ra như tắm.

Mỗi lần đi làm ăn về đều phải báo cáo chi tiết, thứ nhất là kiểm kê con mồi, thứ hai là để tránh lần sau đụng hàng địa bàn của nhau, mỗi Bá đầu đều phải ghi sổ, nhưng tuyệt đối không qua khỏi cuốn sổ trong lòng Tổ gia.

Đầu óc Tổ gia quá mức tinh tường, sau khi cuộc họp đường khẩu kết thúc, ông giữ riêng một mình tôi lại.

Tổ gia hỏi: "Ngươi mềm lòng rồi à?"

Tôi thầm nghĩ: "Sao ông ấy lại biết nhỉ?"

Tổ gia nói: "Ngươi đã khóc."

Tôi đáp: "Vâng, bởi vì bà ấy quá đáng thương."

Tổ gia bảo: "Đáng thương? Ngươi thấy ta đáng thương không?"

Tôi ngơ ngác nhìn Tổ gia, chẳng hiểu ý ông là gì.

Tổ gia nói: "Ta còn đáng thương hơn nhiều! Mỗi ngày đều có hàng chục khẩu súng chĩa vào đầu, bước hụt một đường là mất mạng như chơi!"

Lời Tổ gia nói không sai, đám A Bảo muốn sống sót ở một nơi, trước tiên phải lo mốt số nhân vật then chốt trong cả hai giới hắc bạch ở địa bàn đó cho êm xuôi. Cống nạp hàng tháng là không thể thiếu, lúc giao thời cũ mới lại phải biếu xén gấp đôi. Bởi vì những kẻ này không những có thể bảo đảm bình an cho ngươi, mà lúc cần thiết còn có thể giúp ngươi giăng bẫy lừa người. Chỉ cần lợi ích chia đủ, bọn chúng đến cả cha đẻ cũng dám bán đứng. Quan chức cấp cao của Quốc Dân Đảng, phú hào bến Thượng Hải, thậm chí cả chủ ý của Tống Mỹ Linh bọn chúng cũng dám nhắm tới.

Ván nhỏ lúc đó có thể làm ngay, ván lớn có lẽ phải bố trí mất mấy tháng, thậm chí vài năm, nhưng thu hoạch của ván lớn lại vô cùng hấp dẫn, làm xong một ván lớn, thường thì chi phí hoạt động của cả đường khẩu trong mấy năm đều đủ.

● Truyền kỳ đường khẩu

Dưới trướng Tổ gia có bảy trợ thủ đắc lực, mỗi người đều có tuyệt kỹ riêng.

Trước tiên nói về Đại Bá đầu, Tổ gia thu nạp Đại Bá đầu vào đội ngũ là vào năm Dân Quốc thứ mười ba, đó chính là năm thứ hai sau khi Tổ gia nắm quyền lãnh đạo đường khẩu. Đại Bá đầu là sát thủ át chủ bài của đường khẩu, những việc như giết người, hoạn chó, mổ lợn đều do hắn ta làm. Đại Bá đầu là người đi theo Tổ gia lâu nhất trong số các Bá đầu hiện tại. Trông hắn ta cực kỳ hung ác, mập mạp, cạo trọc đầu, trên đỉnh đầu có chốc lở, tóc cứ mọc dài là lại ngứa ngáy, cho nên chưa từng để tóc bao giờ. Cứ cách mấy ngày lại cạo một lần, bóng loáng, mỗi lần họp đường khẩu, mồ hôi trên đầu hắn vã ra như tắm, trông có vẻ rất nóng bức. Tổ gia thu nạp Đại Bá đầu vào năm Dân Quốc thứ mười ba, chính là năm thứ hai sau khi Tổ gia tiếp quản đường khẩu. Trước khi gia nhập, Đại Bá đầu là một tên mổ lợn, làm thuê cho một hàng thịt ngay phố chợ. Một hôm làm việc xong, người bán thịt đó tặng hắn hai cân thịt hun khói, không ngờ trên đường về lại đụng phải mấy tên lưu manh, khăng khăng đòi cướp lấy chỗ thịt hun khói trong tay hắn, Đại Bá đầu không cho, bọn chúng liền giở thói côn đồ, kết quả là Đại Bá đầu nổi giận.

Đánh nhau thực sự không giống như những gì được miêu tả trong tiểu thuyết võ hiệp đâu, đánh nhau thật sự là có gì dùng nấy, cái gì thiết thực thì dùng cái đó. Đại Bá đầu trước tiên bóp nát tinh hoàn của một tên, sau đó chọc mù mắt một tên khác, vừa cắn vừa xé, cuối cùng dùng gạch đập nát đầu một tên. Kết quả là Đại Bá đầu bị kết án tử hình. Vụ việc lúc đó lan truyền rất dữ dội. Tổ gia nghe xong, cảm thấy kẻ này là một nhánh cây tốt để nhào nặn, bèn dùng số tiền lớn chuộc hắn về để phục vụ cho mình.

Tổ gia quả thực có đôi mắt tinh đời nhận diện nhân tài, Đại Bá đầu càng không phụ sự kỳ vọng của Tổ gia, sau khi gia nhập đường khẩu, hắn đánh đấm cực kỳ gan lỳ, hễ có băng đảng xã hội đen nào đến gây rối, hắn luôn là kẻ xông lên tuyến đầu, cầm dao đâm người chưa từng chớp mắt một cái!

Trên thế giới này có một loại người như vậy đấy, nhìn thấy máu là hưng phấn, Đại Bá đầu chính là thuộc loại này.

Nhiều năm qua, hắn vẫn luôn trung thành tận tụy với Tổ gia, giống như Nhị Bá đầu, bọn họ thuộc lực lượng cận vệ của Tổ gia.

Nếu nói Đại Bá đầu là người nhìn thấy máu là hưng phấn, vậy thì Nhị Bá đầu chính là kẻ nhìn thấy người chết là hưng phấn.

Nhị Bá đầu là một nhân vật truyền kỳ. Hắn theo Tổ gia từ năm 15 tuổi. Gan dạ của hắn cực kỳ lớn, chuyện gì cũng dám làm. Đặc biệt là trò "trát phi thuật", chơi đến mức đạt tới cảnh giới lô hỏa thuần thanh. "Trát phi" là tiếng lóng trong giới A Bảo, có nghĩa là giả thần giả quỷ. Bách tính càng mê tín, "trát phi" lại càng có đất diễn.

Đó là năm 1928, vừa đúng vào thời điểm cận kề cuộc Bắc phạt lần thứ hai, rất nhiều khu vực ở Giang Nam lan truyền lời đồn khủng bố "yêu phụ nhiếp hồn". Tin đồn xuất phát từ Nam Kinh, nói rằng có một cậu bé đang chơi đùa cùng đám bạn trên đường phố, lúc này, có một người phụ nữ đi tới, xoa xoa lên đầu đứa trẻ vài cái rồi quay lưng bỏ đi, kết quả là đứa trẻ lập tức tái mét mặt mày, tứ chi cứng đờ, hai mắt trừng trừng không nói năng gì nữa, từ đó hồn vía bay mất.

Lời đồn này nhanh chóng lan truyền khắp thành phố Nam Kinh, sau đó lại lan sang các khu vực khác. Kết quả là rất nhiều bậc cha mẹ lo lắng con mình bị yêu phụ câu mất hồn, lần lượt buộc dây đỏ cho con, nhét lá đào vào túi áo của con để trừ tà.

Sau đó lại có lời đồn rằng yêu phụ ấy đến cả người lớn cũng không tha, thế là người lớn cũng lần lượt buộc thắt lưng đỏ, sau đó dứt khoát cắt những miếng băng vệ sinh trong kỳ kinh nguyệt của phụ nữ nhét vào từng chiếc túi, chỉ sợ hồn vía của mình bị yêu phụ câu mất.

Tổ gia vừa khéo có thể lợi dụng cơ hội này, nhân danh việc thu yêu gọi hồn để kiếm được một mẻ lớn.

Có một hôm Tổ gia đang đi trên phố, đối diện có một cậu bé đâm sầm vào người Tổ gia, Tổ gia nhìn là biết ngay là kẻ trộm vặt, ba phen bốn lượt đã vặn quặt tay của tiểu tử này ra.

Tổ gia nói: "Còn nhỏ tuổi thế này mà đã làm cái trò này rồi! Cẩn thận ta giao ngươi cho yêu phụ, hút mất hồn phách của ngươi bây giờ!"

Tiểu tử đó trừng mắt: "Ta mới không sợ đâu!"

Tổ gia kỹ lưỡng quan sát hắn, trên người quả thực chẳng buộc sợi dây đỏ nào cả, Tổ gia mỉm cười nói: "Ngươi không sợ chết à!"

Tiểu tử kia đáp: "Quỷ mới tin!"

Tổ gia hơi có thiện cảm với gã này rồi, bèn hỏi: "Tại sao lại trộm ví tiền?"

Tiểu tử đó nghếch cổ: "Đói!"

Tổ gia buông tay, vỗ nhẹ đầu hắn: "Theo ta."

Tiểu tử đó hỏi: "Làm gì? Định nộp tôi cho yêu phụ à?"

Tổ gia vả cho hắn một cú: "Đi ăn cơm!"

Tổ gia dừng chân tại một quán hoành thánh ven đường, mua cho hắn một bát hoành thánh, tiểu tử này chỉ mấy miếng là húp sạch sành sanh, lại mua cho hắn thêm một bát nữa, rất nhanh lại ăn hết sạch, Tổ gia mỉm cười: "Ngươi còn ăn được mấy bát?"

Tiểu tử đó nói: "Ông mua nổi thì tôi ăn được bấy nhiêu."

Tổ gia vung tay, nói: "Được! Chủ quán, mang mười bát lên đây!"

Tiểu tử đó nới lỏng thắt lưng, điên cuồng ăn ngấu nghiến, tổng cộng ăn hết mười hai bát.

Tổ gia cười, biết đây là một nhân tài!

Sau này mới biết bố mẹ tiểu tử này mất sớm, tám tuổi đã lang thang đầu đường xó chợ, Tổ gia định giữ lại sử dụng.

Nhiều năm sau, hắn chính là Nhị Bá đầu lừng danh lừng lẫy trong giới A Bảo.

Ánh mắt của Tổ gia quả thực độc địa, độc ở chỗ ông liếc mắt một cái là nhìn ra giá trị trên người một con người, Tổ gia đã chấm được sự gan lì của Nhị Bá đầu.

Mới theo Tổ gia, Nhị Bá đầu không chịu phục tùng sự điều giáo, muốn biến một tên trộm vặt quen thói tự do tự tại ngoài đường thành một kẻ A Bảo củ mỉ củ khoai quy củ chẳng phải chuyện dễ dàng gì. Tổ gia không ít lần đánh hắn, đánh thế nào hắn cũng không khóc, cứ như người chịu đòn không phải là mình vậy.

Cuối cùng Tổ gia hết cách, đành bảo: "Ngươi đi đi!"

Hắn mới bắt đầu chịu khuất phục, rời khỏi Tổ gia hắn chẳng có gì để ăn. Sau này Nhị Bá đầu dần dần nể phục Tổ gia, bởi vì Tổ gia thông minh gấp vạn lần hắn, mỗi lần hắn vừa há miệng ra là Tổ gia đã biết hắn chuẩn bị thốt ra câu gì rồi.

Gan dạ của Nhị Bá đầu rất lớn, chuyện gì cũng dám làm. Đặc biệt là chơi "trát phi thuật", chơi đến mức đạt tới cảnh giới lô hỏa thuần thanh. "Trát phi" là tiếng lóng trong giới A Bảo, chính là ám chỉ việc giả thần giả quỷ. Bách tính càng mê tín, "trát phi" lại càng có đất diễn.

Trước khi chính thức "trát phi", Tổ gia từng có ý định thử thách gan dạ của hắn.

Tổ gia bảo hắn: "Ngươi không phải nói mình không sợ quỷ sao? Ta nghe nói ở ngôi miếu hoang cách ba dặm ngoài thành có một tên ăn mày bị chết đói, tối nay ngươi đến đó lột quần áo của hắn mang về đây giao cho ta."

Nhị Bá đầu đáp: "Việc này có gì khó? Lại không phải chưa từng làm, hồi trước trời lạnh không chịu nổi, ta còn từng lột áo thọ y của người mới chôn ấy chứ." Nói đoạn liền chuẩn bị xuất phát.

Tổ gia bảo: "Đợi chút đã. Ta nghe người ta nói, kẻ chết đói sau khi chết đều biến thành quỷ đói, nửa đêm giờ Tý, còn sẽ há miệng ăn đồ ăn, không biết là thật hay giả, ngươi mang theo một bát cơm, đút cho tên ăn mày đó ăn thử xem hắn có há miệng không."

Nhị Bá đầu cười: "Toàn nói nhảm. Làm gì có chuyện đó!"

Buổi tối, ánh trăng mờ ảo bao trùm lấy thành cổ, Nhị Bá đầu dùng một dúm vải gói một bát cơm nhỏ, nhét vào cạp quần, đạp ánh trăng xuất phát.

Đó là một ngôi miếu sơn thần từ lâu chẳng ai quản lý, cửa gỗ thủng vài lỗ, Nhị Bá đầu đi mất một canh giờ mới đến nơi.

Xung quanh tĩnh lặng như tờ, thỉnh thoảng có vài tiếng dế kêu.

Nhị Bá đầu trấn tĩnh lại, đẩy cửa, cửa đã hỏng, dùng sức đẩy thêm cái nữa, cửa kêu cọt kẹt một tiếng rồi mở ra, một luồng mùi khí thây ma ập thẳng vào mặt.

Con người sau khi chết, trên người sẽ phát ra một loại mùi đặc biệt, thường gọi là tử khí, mùi này rất đặc biệt, vừa ngọt lại vừa tanh, truyền đi cũng rất xa, thế cho nên quạ đen luôn có thể tìm đến.

Nhị Bá đầu mò mẫm trong bóng tối tìm thấy cỗ thi thể đó, nương theo chút ánh trăng lọt qua khe cửa, bắt đầu lột quần áo, bỗng nhớ đến bát cơm bên cạp quần, vội vàng tháo dúm vải ra, lấy tay múc một nắm cơm nhét đến bên miệng thi thể, thầm nghĩ: "Ngươi mà ăn được thì có quỷ!"

Nào ngờ thi thể đó quả nhiên lại há miệng thật, từ từ há ra, còn phát ra một tiếng "ợ", Nhị Bá đầu nghi ngờ bản thân nhìn hoa mắt, chớp chớp mắt mấy cái, quả thật là đang há ra.

Nhị Bá đầu run lẩy bẩy nhét cơm vào miệng thi thể, thi thể đó chậm rãi nhai ngấu nghiến, nuốt ực một cái, "ợ" một tiếng lại há to miệng ra, Nhị Bá đầu phát điên.

"Mẹ kiếp nhà mày!" Trực tiếp ném thẳng bát cơm vào mặt thi thể đó!

Thi thể kia "vù" một cái ngồi bật dậy, gào thét inh ỏi.

Nhị Bá đầu cắm cổ chạy bạt mạng, một mạch chạy thục mạng về thành.

Tổ gia đang đợi hắn, thấy hắn mồ hôi nhễ nhại chạy về, bèn hỏi: "Quần áo đâu?"

Nhị Bá đầu thở hồng hộc, nói: "Hỏng rồi, hỏng rồi, đụng phải hàng thật rồi, nó ăn, nó ăn thật đấy..."

Tổ gia cười ha hả, bảo: "Nó ăn thì ngươi cứ đút cho nó thôi, nó bị chết đói, ngươi đút cho nó cũng là tích lũy công đức mà."

Nhị Bá đầu nói: "Kỳ quái quá! Ta thấy nó há miệng ăn, liền đập thẳng cái bát vào mặt nó, không ngờ nó lại ngồi bật dậy..."

Tổ gia sững sờ: "Ngươi đập vào mặt nó á?"

Nhị Bá đầu đáp: "Vâng, đập xong là ta chạy luôn."

Tổ gia bảo: "Lát nữa ngươi sẽ biết thôi."

Khoảng chừng nửa khắc sau, Đại Bá đầu từ ngoài nhà bước vào, mặt đầy máu tươi, Nhị Bá đầu giật mình kinh hãi: "Đại sư huynh, mặt huynh bị sao thế này?"

Đại Bá đầu giận tím mặt: "Còn dám hỏi tao à! Thằng chó chết này ra tay ác vãi!"

Tổ gia cười nói: "Mau đi rửa mặt đi đã."

Đây là một cái bẫy, tên ăn mày chết đói kia là do Tổ gia bảo Đại Bá đầu giả trang, thi thể thật đã sớm bị Đại Bá đầu dời đi rồi, nhưng không ai ngờ được rằng Nhị Bá đầu sau khi bị kích động lại tức quá hóa giận, trực tiếp ném vỡ đầu Đại Bá đầu.

Từ đó, trên mặt Đại Bá đầu lưu lại một vết sẹo sâu hoắm, nhưng Tổ gia lại càng ngày càng hài lòng với Nhị Bá đầu hơn.

So với Đại Bá đầu và Nhị Bá đầu, Tam Bá đầu được coi là một vị A Bảo tri thức văn chất bồng bổng. Thiên văn địa lý, âm dương bát quái không gì là không biết, hắn còn tinh thông 《Luận Ngữ》, 《Mạnh Tử》, mở miệng là thành thơ, văn phong lai láng. Loại người ra vẻ đạo mạo, khoác lớp da người này mới là kẻ đáng sợ nhất.

Tam Bá đầu gia nhập đoàn người của Tổ gia vào năm 1930, trước đó hắn chỉ là một tên lừa đảo xem bói ở nông thôn, hiểu một chút lý luận, sở trường rap lừap, có một hôm vào thành lừa đảo, ăn nhầm lên địa bàn của Tổ gia, vậy mà dám treo sạp xem bói ngay trên phố!

Đại Bá đầu đề nghị Tổ gia "cắt" hắn, Tổ gia bảo: "Cứ xem tình hình đã."

Tổ gia phái mấy người đi thăm dò thực lực sâu cạn của hắn, mấy tên tiểu cước quay về bẩm báo rằng tên tiểu tử này ngón nghề lừa bịp cực kỳ xuất sắc, bách tính đều bị hắn lừa gạt rồi.

Tổ gia quyết định đích thân đi gặp hắn.

Đến sạp của hắn, Tổ gia nhìn qua, tên này cũng chỉ mới ngoài hai mươi, một tên mặt trắng thư sinh, phong độ phiên phiên, xem bói nói năng lưu loát như nước chảy. Tổ gia cố tình chừa ra sơ hở để hắn giở trò bịp bợm, tên tiểu tử này còn tưởng gặp được con hoẵng lớn nào đó, khoác lác một hồi đông tây la liệt, Tổ gia liên tục gật đầu, cuối cùng Tổ gia đưa cho hắn mấy đồng bạc, nói: "Hôm nay ta mang không nhiều bạc lắm, ngươi theo ta về nhà lấy đi, nhân tiện xem hộ trạch viện nhà ta, điều chỉnh phong thủy một chút, ta nhất định sẽ trọng tạ!"

Tam Bá đầu vội vàng thu dọn sạp hàng, hớn hở đi theo Tổ gia về nhà.

Kết quả có thể tưởng tượng được, vừa bước vào cửa đã bị mấy tên tiểu cước trói lại, Đại Bá đầu tiến lên cho hắn một bạt tai: "Mẹ kiếp mày đi vệ sinh cũng không biết chọn chỗ à!"

Tam Bá đầu bị tát cho hoa mắt chóng mặt, nhưng trong lòng thừa hiểu, tuyệt đối không được thừa nhận mình là kẻ lừa đảo, hắn bèn mếu máo nói: "Các ngài đây là có ý gì ạ, tiểu nhân chỉ là một thầy bói tép riu, đến quý bảo địa kiếm miếng cơm ăn, không biết đã mạo phạm đến tôn giá chỗ nào!"

Nhị Bá đầu đứng bên cạnh cuối cùng không nhịn được nữa, tiến lên đá cho hắn một cú, sau đó giơ tay bốp bốp tát vào gáy hắn: "Mày còn dám diễn à! Mày còn dám giả vờ trước mặt đại gia tao nữa xem nào!"

Tam Bá đầu rưng rưng nước mắt nói: "Đại gia tha mạng ạ, tiểu nhân chỉ là một thầy bói xem cõi âm... ơ nhầm, thầy bói bình thường thôi, nếu tính không chuẩn, tiểu nhân xin hoàn lại tiền, các ngài đừng đánh tiểu nhân mà, trên tiểu có mẹ già bảy mươi, dưới có con thơ ba tuổi!"

Nhị Bá đầu liếc mắt ra hiệu với Đại Bá đầu, Đại Bá đầu rút con dao mổ lợn dắt ở cạp quần ra, bước đến trước mặt Tam Bá đầu: "Tao bây giờ sẽ cắt đứt lưỡi mày luôn, xem mày còn dám giả vờ nữa không!"

Tam Bá đầu khóc lóc gào thét với Tổ gia: "Vị đại gia kia, ngài nói một câu công đạo xem nào! Tiểu nhân vừa rồi tính cho ngài không chuẩn sao? Chẳng phải vừa rồi vẫn rất tốt đẹp đó sao, đại gia!"

Tổ gia vung tay, Đại Bá đầu cầm dao lùi sang một bên, Tổ gia bước đến trước mặt Tam Bá đầu, giơ ngón cái lên nói: "Huynh đệ, cậu thật sự có cốt khí đấy!"

Tam Bá đầu giật mình: "Cốt khí gì cơ ạ, đại gia?"

Tổ gia gật đầu nói: "Đúng là nhân tài."

Tam Bá đầu vẫn giả ngơ giả ngác: "Đại gia, đang nói tôi đấy à? Tôi chỉ là một tên xem bói tép riu..."

Tổ gia nhấc tay phóng đi một cây đinh phi tiêu, trúng phóc tai trái của Tam Bá đầu, chiếc tai lập tức thủng một lỗ, phần thịt ở vành tai bị đánh bay một mẩu nhỏ, Tam Bá đầu đau đớn kêu oai oái: "Đại gia, tôi nói! Tôi nói!"

Tổ gia quát lớn: "Bẻ hiệu?"

"Tiết Gia Nhân!"

"Ổ bính?"

"Từ Châu Bái Huyện!"

"Đại sư bá?"

"Đỉnh Thủy Phong Tử!"

"Kham tải?"

"Uông!"

"Đồ đảng phế?"

"Bất cảm!"

Đại Bá đầu và Nhị Bá đầu nhìn thấy vậy, quả nhiên vẫn là Tổ gia lợi hại, mấy phát đã tóm gọn được tên nhãi này.

Chuỗi đối đáp vừa rồi đều là tiếng lóng trong giới A Bảo. "Bẻ hiệu" là hỏi tên thật là gì, "ổ bính" là hỏi người ở đâu, "đại sư bá" là hỏi kẻ dẫn đường là ai, "đỉnh thủy phong tử" chính là không có tổ chức, lưu manh hành ác khắp nơi, "kham tải" là hỏi làm nghề này mấy năm rồi, "uông" là ý chỉ con số "ba", "đồ đảng phế" là hỏi đã từng giết người chưa.

Tổ gia chấm được tài ăn nói và sự gan lỳ của hắn, đặc biệt là cái tính cách ra vẻ ta đây, chết không thừa nhận đó của hắn, càng khiến Tổ gia cảm thấy con người này là không thể thiếu.

So với ba vị Bá đầu trước, Tứ Bá đầu mang lại cảm giác luôn trầm ngâm ít nói, nhưng hắn lại là "quân sư kỹ thuật" của cả đường khẩu, nói theo ngôn ngữ bây giờ chính là nhân tài ngành kỹ thuật tự nhiên, trước khi giăng bẫy, đặc biệt là ván "trát phi" lớn, việc chuẩn bị đạo cụ đều do một tay hắn lo liệu. Hắn có thể pha chế chu sa và photpho vàng theo tỷ lệ nhất định, dùng loại dung dịch pha chế này vẽ bùa thì bùa sẽ phát sáng trong bóng tối. Hắn có thể dùng phèn chua điều chế ra loại nước thuốc kỳ lạ, nhúng loại nước thuốc này viết chữ lên giấy, viết xong thì chẳng nhìn thấy gì cả, sau đó dùng lửa hơ qua, giấy chuyển sang màu đen, nét chữ sẽ hiện ra.

Năm Bá đầu thuộc cùng một loại người với Tam Bá đầu, cũng là một vị A Bảo mang phong cách trí thức. Bản lĩnh lớn nhất của hắn là có thể vẽ chính xác không sai một li các mạch rồng (dãy núi) trên toàn quốc, mỗi lần trước khi làm phong thủy cục, Tổ gia hỏi đến đâu, hắn đều có thể đáp đến đó, đặt nền tảng lý luận vững chắc cho mỗi trận phong thủy cục của đường khẩu.

Lục Bá đầu được người đời gọi là Phong Tử Thủ. Phong Tử là tiếng lóng, có nghĩa là ngựa, nghe nói biệt hiệu này là do Tổ gia ban cho hắn, bởi vì Lục Bá đầu có môn khinh công thượng thừa, bình thường chịu trách nhiệm liên lạc với chỉ điểm viên, công tác quan hệ công chúng hắc đạo và đi dò dẫm tiền trạm trước khi giăng bẫy, giống như một con ngựa không biết mệt mỏi, cho nên mới có nhã hiệu này.

Phong Tử Thủ võ công cao cường, sở trường khinh công và Tông Hạc quyền. Nhắc đến khinh công, thực ra không phải thần thông quảng đại như trong truyền thuyết kiểu như "một bước hai ba dặm, cách mặt đất bốn năm trượng", đó là Tôn Ngộ Không chứ chẳng phải người. Phàm là con người, đều có trọng lực, đều phải tuân theo lực hấp dẫn của Trái Đất, cái gọi là khinh công thực chất là chân tay lanh lẹ hơn người bình thường, chạy nhanh hơn, trèo cây vượt tường nhanh nhẹn hơn.

Cách luyện tập thông thường là buộc bao cát vào chân, sau đó kiên trì chạy bộ mỗi ngày hoặc nhảy lên từ một cái hố nhỏ, cùng với trọng lượng của bao cát tăng lên, khả năng chịu đựng của con người sẽ ngày càng mạnh mẽ, cứ khổ luyện như thế vài năm, một khi tháo bao cát ra, toàn bộ đôi chân sẽ nhẹ nhõm như không, chạy nhảy tựa như gió cuốn dưới chân, cả người có cảm giác bồng bềnh, trong "Thiết Lâm Thất Mười Hai Nghệ" có ghi chép chuyên môn về phương pháp luyện khinh công.

Phong Tử Thủ có khinh công quả thực rất cao cường, bức tường cao hơn hai trượng, hắn vận nội lực ở chân, một bước chạy đà, đầu mũi chân lướt qua mặt tường, hai tay bấu lực, đôi chân liên tục nhấc lên, vù một cái là đã vọt qua rồi. Ngoài ra, hắn còn cải biên bộ Tông Hạc quyền gia truyền của mình, lồng ghép thêm nét cương mãnh của Hồng quyền, Tổ gia vẫn thường hay nói, Phong Tử Thủ chính là một thiên tài võ học.

Phong Tử Thủ sinh năm Dân Quốc thứ mười, thúc phụ của hắn là cốt cán trong hội Cứu Xì Trì của Vương Á Tiều. Nghe Nhị Bá đầu kể lại, lúc Phong Tử Thủ theo Tổ gia mới có 14 tuổi, Tổ gia kéo hắn nhập hội là vì nhắm trúng các mối quan hệ xã hội đằng sau lưng hắn.

Vị Bá đầu cuối cùng là Thất Bá đầu, hắn cũng có một biệt hiệu — "Tiên Nhân Thủ". Hắn vào nghề muộn, tư lịch nông cạn nhất trong số các Bá đầu, trước kia từng là tên tiểu cước dưới trướng Nhị Bá đầu, nhờ vào thủ đoạn tàn độc và kỹ thuật trát phi siêu quần, vào năm 1948 trước khi tôi gia nhập nghề, hắn vừa được Nhị Bá đầu đề cử, leo lên làm Thất Bá đầu của đường khẩu.

"Tiên Nhân Thủ" có tướng mạo giảo hoạt gian xảo, lúc nhìn người tròng mắt cứ đảo liên hồi.

Những vị Bá đầu này đều rất lợi hại, xứng danh là phượng hoàng trong loài người, thế nhưng ngươi đừng quên, bọn họ đều cúi đầu tuân lệnh Tổ gia, Tổ gia lợi hại đến mức nào, có thể tưởng tượng được rồi đấy.

● Tâm lý học bói toán

Tôi gia nhập đường khẩu vào thời điểm thời cuộc chao đảo. Bởi vì khoảng thời gian đó, quốc cộng giao tranh, việc làm ăn của các đường khẩu đều không mấy suôn sẻ, đặc biệt là khu giải phóng, rất nhiều đường khẩu đã "nhảy sân", đám A Bảo phương Bắc bắt đầu "chạy gió", lưu manh tràn xuống phương Nam tranh giành địa bàn làm ăn.

Tổ gia vì chuyện này mà đặc biệt triệu tập mấy cuộc họp đường khẩu, nhằm ứng phó với cục diện ngày càng hỗn loạn trong giới A Bảo.

Tân binh sau khi gia nhập nghề, cần phải có người cũ dẫn dắt. Đội ngũ của A Bảo có chế độ cấp bậc vô cùng nghiêm ngặt, từ cao xuống thấp lần lượt là Đại học sĩ, Bảng nhãn, Thám hoa, Ngự lâm, Tiến sĩ, Cử nhân v.v., Đại học sĩ là thủ lĩnh tối cao của một địa phương, xưng hô đối ngoại là "Đại sư bá", Tổ gia chính là "Đại sư bá", cách xưng hô này là biểu tượng của thân phận và địa vị, người trong giang hồ hễ nghe thấy danh hiệu này, đều sẽ nể mặt vài phần.

Đám A Bảo ở các địa phương khác nhau khi chạm mặt trên giang hồ, nếu không phân định được bối phận, kẻ nhỏ tuổi thường sẽ gọi người lớn tuổi là "Đại sư bá", thể hiện sự tôn trọng đối với trưởng bối.

Cấp bậc thứ hai là Bảng nhãn, còn gọi là "Bá đầu". Trước kia, đám A Bảo đều phải xuất phát từ cấp bậc "Tú tài" sơ cấp, cần có "Cử nhân" dẫn dắt, nhưng sau Cách mạng Tân Hợi, quần thể A Bảo chia năm xẻ bảy, rất nhiều quy củ đều thay đổi, Tổ gia đã bãi bỏ phân cấp huynh đệ trong đường khẩu của mình, ngoại trừ Đại sư bá, cấp bậc thứ hai chính là Bá đầu, tất cả những người còn lại đều là tiểu cước, không phân chia chi tiết cấp bậc nữa. Đây chính là thủ đoạn quản lý của Tổ gia.

Đám tiểu cước sau khi gia nhập nghề, đều phải đi theo một vị Bá đầu, còn về việc theo ai, thì phải do các Bá đầu lựa chọn, mỗi vị Bá đầu đều có tuyệt kỹ riêng của mình, họ phải xem xem ngươi có phải là chất liệu đó không, có thích hợp làm công việc của họ không, ví dụ như Đại Bá đầu là sát thủ, hắn tất nhiên sẽ thu nạp những kẻ tàn độc dưới trướng; còn Nhị Bá đầu, sở trường trát phi, có thiên phú giả thần giả quỷ, hắn tất nhiên đã nhắm chuẩn người phù hợp; Tam Bá đầu là kiểu người có tài năng thực chất, nếu ngươi không đọc sách, không biết chữ, không hiểu Tứ thư ngũ kinh, hắn tuyệt đối sẽ không nhận; những vị Bá đầu khác cũng tương tự, đều là chọn người rồi mới truyền thụ.

Lúc đó bảy vị Bá đầu quan sát đi quan sát lại suốt mấy ngày, tất cả tân binh đều đã có chỗ đứng cả rồi, chỉ duy nhất có tôi là chẳng ai chọn, chẳng ai thèm dắt dắt.

Cuối cùng Tổ gia chỉ vào tôi, mỉm cười hỏi: "Cái người này không ai nhận à?"

Tất cả các Bá đầu đều im lặng không nói gì.

Trôi qua một lúc lâu, Nhị Bá đầu ngáp một cái, gãi gãi đầu, lớn tiếng nói: "Theo ta đi!"

Thực ra tôi không muốn theo hắn chút nào, không giống như người bình thường, hắn chỉ có chín ngón tay, mỗi lần nhìn thấy đoạn ngón út cụt lủn trơ trọi đó của hắn, trong lòng tôi lại thấy lạnh buốt.

Tuy trong lòng nghĩ vậy, nhưng tôi vẫn vội vàng quỳ xuống lạy Nhị Bá đầu, nói: "Cảm ơn Nhị gia."

Vì tôi ngu ngơ đần độn nên không có Bá đầu nào chịu nhận. Cuối cùng Nhị Bá đầu đành miễn cưỡng nhận tôi.

Sau đó hắn nói với tôi: "Tông cái đức hạnh này của ngươi đấy, nhưng mà ta thấy Tổ gia ngược lại khá thích ngươi. Đám tiểu cước mới vào nghề các ngươi, người bị Tổ gia mắng ít nhất chính là ngươi, cũng lạ thật, Nhị gia ta cũng thấy thương yêu ngươi."

Trải qua một giai đoạn tôi luyện và rèn giũa, đám tân binh chúng tôi bắt đầu học lục tự chân ngôn. Đây là cảnh giới tối cao của tâm lý học lừa đảo, do chính miệng Tổ gia truyền dạy.

Lục tự chân ngôn chính là: Thẩm, thẩm xao, Đả, Thiên, Long, Mại. Gọi là:

Tiên thẩm hậu thẩm xao, cấp đả mạn thiên

Long mại tề thi, thẩm xao đả tịnh dụng

Thập thiên cửu hưởng, thập long cửu thành

Tiên thiên hậu vãng, vô vãng bất lợi

Hữu thiên vô long, đế thọ chi tài

Lục tự chân ngôn xuất phát từ bí bản giang hồ 《Anh Diệu Thiên》.

Có thể nói đây là cảnh giới tối cao của tâm lý học lừa đảo, các thuật sĩ giang hồ ít nhiều gì cũng đang sử dụng, đám A Bảo lừa đảo dựa vào sáu chữ này, kẻ nào vận dụng lục tự chân ngôn đến mức lô hỏa thuần thanh, thì chính là quỷ tài, đi đến đâu cũng thuận buồm xuôi gió, trăm trận trăm thắng.

Nói một cách đơn giản, "Thẩm" chính là xét đoán, bao gồm trang phục, khí chất của đối phương, nghèo hèn phú quý đều mang tướng mạo cả, liếc mắt một cái là có thể định đoạt đẳng cấp của người này. Ý nghĩa tầng thứ hai của "Thẩm" chính là lắng nghe, để đối phương bộc lộ, để họ nói nhiều hơn, nói càng nhiều, thông tin càng phong phú.

“thẩm xao” (Khâu/Thăm dò) chính là thăm dò, gọi là: Nhất thẩm xao tức trung tùy côn đả, tái thẩm xao bất thổ thảo tầm xà. Chính là dựa trên cơ sở xét đoán, bất thình lình "thăm dò" một câu, nếu đoán chuẩn, thì có thể dùng chiêu thức "Đánh" rồi, nếu hai lần đều thăm dò không chuẩn, vậy thì nguy hiểm rồi, giống như tìm rắn trong cỏ, lỡ may bị rắn cắn cho một phát. Đến mức độ "tìm rắn trong cỏ" rồi, thông thường các A Bảo sẽ "vứt dao" tháo lui.

“Đả” chính là phán đoán một cách kiên quyết. Chữ "Đả" quý ở chữ "gấp", thốt ra đột ngột, lời ra là có tiếng vang. Ý nghĩa sâu xa hơn của "Đả" chính là tiêu diệt ý chí của đối phương. Bởi vì ngươi đã "thăm dò" chuẩn xác, cho nên họ vô cùng tin tưởng ngươi, vậy thì ngươi hãy phán rằng tương lai họ sắp gặp vận xui, quan lớn thì bảo sắp mất quan chức, đại phú hào thì bảo sắp phá sản, oán phụ thì bảo sắp bị đá, "đánh" cho phòng tuyến tâm lý của đối phương sụp đổ hoàn toàn.

“Thiên” chính là lừa bịp. Có thể lừa bịp ngay tại chỗ, cũng có thể thông qua hình thức giăng bẫy. "Thiên" được dung hòa vào trong năm chữ còn lại, quý ở chữ "chậm", giăng bẫy lừa không được vội vàng, nếu không sẽ lộ đuôi chuột, cho nên mới gọi là "gấp đánh chậm lừa".

“Long” chính là nịnh nọt, nói những điều đối phương thích nghe, hứa hẹn cho họ hy vọng. Bởi vì ngươi đã "đánh" họ một vố, họ vô cùng sợ hãi, tâm trạng rơi xuống đáy vực, lúc này ngươi "nịnh" họ một câu, bảo rằng không phải là không có hy vọng, nếu làm theo những gì ngươi nói, vẫn có thể chuyển nguy thành an, giải hạn tiêu tai. Sau đó lại "nịnh" thêm một câu, bảo rằng nếu vượt qua được cửa ải này, thì sẽ được đại phú đại quý, sống lâu trăm tuổi, họ tự nhiên sẽ vô cùng vui mừng. "Đánh" và "nịnh" là hai mặt tương ứng, trước tiên làm cho đối phương tuyệt vọng, rồi sau đó ban cho họ hy vọng, lúc này, đối phương đã bị trói chặt hoàn toàn.

“Đánh” và “nịnh” thực chất đều là thủ đoạn của "lừa", là không thể tách rời, nếu như chỉ dùng chiêu "đánh", lừa có giỏi đến mấy cũng vô ích, bởi vì đối phương đã tuyệt vọng rồi, đằng nào cũng là cái số này, đành chịu đựng thôi, cho nên cũng sẽ không sập bẫy nữa, vì thế mới nói: Có lừa mà không nịnh, đúng là đồ ngu ngốc chí mạng ("đế thọ" là tiếng lóng, có nghĩa là kẻ ngốc).

Chữ cuối cùng là "Mại" (Bán), đây là một cảnh giới tự do tự tại, vẫy vùng thoải mái. Ngươi nói thế nào, đối phương nghe thế ấy. Ý nghĩa tầng thứ hai của "Mại" chính là đã đến lúc thu tiền rồi. Tất cả mọi thứ, cuối cùng đều vì những đồng bạc trắng sáng loáng trong túi đối phương, cho nên hành động thu tiền cũng phải thật dứt khoát gọn gàng.

Lúc Tổ gia truyền thụ khẩu quyết cho mọi người, là sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn. Giảng qua mỗi một chữ, ông đều đem những trải nghiệm bản thân từng trải qua kể lại thật chi tiết, để củng cố thêm tính xác thực.

Lục tự chân ngôn nói thì dễ, nhưng để thực sự dung hội quán thông lại vô cùng khó khăn. Nếu như sáu chữ này đều đã dùng cả rồi, mà đối phương vẫn không quá tin tưởng, hoặc ôm tâm lý thử vận may, vậy thì còn có một chiêu cuối cùng: "Ra đòn sát thủ!"

Tiền đề của "Ra đòn sát thủ" là, đối phương bắt buộc phải là một con hoẵng béo bở, hơi tin tưởng, mà lại không hoàn toàn tin, đang ở vào tình thế lường lưỡng nước đôi. Lấy ví dụ thế này, chẳng hạn như ngươi nói hắn "thời gian gần đây sẽ có họa huyết quang", hắn bán tín bán nghi, ngươi muốn giải hạn cho hắn, hắn không hưởng ứng, cuối cùng chỉ móc ra chút ít tiền xem bói, chứ không chịu sập bẫy móc hầu bao số tiền lớn để giải hạn, lúc này có thể xin phép Tổ gia "ra đòn sát thủ".

Tổ gia sẽ phái một tên tiểu cước bám theo kẻ đó để tiền trạm, nắm rõ phạm vi hoạt động sinh hoạt hàng ngày của đối phương, sau đó chưa đầy ba tháng, tìm vài tên lưu manh chặn hắn giữa đường cố ý gây sự, đánh cho hắn sưng mũi trợn mắt.

Hôm sau, hắn chắc chắn sẽ ngoan ngoãn quay lại, nói rằng: "Đại sư, ứng nghiệm rồi, ứng nghiệm rồi! Thật hối hận vì lúc trước đã không nghe lời ngài!"

Lại có một kiểu đại phú hào thế này, ngươi đoán dạo này hắn sắp phá sản lớn, hắn không tin, vậy thì Tổ gia sẽ tìm người phóng hỏa phía sau hậu viện nhà hắn, chẳng mấy ngày sau, hắn sẽ ngoan ngoãn quay lại tìm cách giải hạn thôi.

● Vấn "lọt bẫy" duy nhất của Tổ gia

Đám tân binh sau khi học xong lục tự chân ngôn, thường tụ tập lại với nhau bàn tán, ai nấy cũng hừng hực khí thế, rậm rịch muốn thử sức.

Thế nhưng Tổ gia lại bảo: "Học xong lục tự chân ngôn rồi, thì cũng cách cái chết không xa nữa."

Câu nói này dọa đám đông chết trân trợn tròn mắt, Tổ gia giải thích rằng: "Kẻ chết đuối, toàn là những kẻ biết bơi. Kẻ không có bản lĩnh, chưa từng dám nổi lòng trộm cắp, chỉ có những kẻ đã học được bản lĩnh, mới dám liều lĩnh làm liều, bản lĩnh là phúc, nhưng cũng là họa. Cho nên, học được những thứ này rồi, lúc làm việc lại càng phải cẩn thận hơn!"

Lúc này mọi người mới chợt bừng tỉnh đại ngộ. Quả đúng là như vậy, trước khi học những thứ này, mọi người cảm thấy không nơi nương tựa, học được những thứ này rồi, dường như nắm được thóp, luôn muốn lập tức thử nghiệm ngay, ác niệm một khi đã sinh ra, nguy hiểm cũng sẽ theo đó mà kéo tới.

Bí quyết ở cấp bậc cao hơn nữa, chính là trực giác thứ sáu của một con người.

Giăng bẫy lợi nhuận cao, rủi ro cũng lớn, bởi vì những kẻ này không phải là con hoẵng bình thường, con nào con nấy tinh ranh như khỉ gió, muốn khiến bọn chúng trở thành "nhất" không phải chuyện dễ dàng, có lúc giăng bẫy còn bị lọt lưới, tức là có kẻ "phản chủ", hoặc đại "nhất" biến thành đại "táo". Lúc này thông thường là sẽ có án mạng xảy ra, còn về phần ai chết, thì tùy thuộc vào tình hình cụ thể.

Tổ gia chính là kiểu người có trực giác nhạy bén nhất, cũng nhờ vậy mà giữ lại được cái mạng. Đó là lần "lọt bẫy" duy nhất của Tổ gia.

Năm Dân Quốc thứ hai mươi tám, năm đó có một vị quan chức cấp cao của Cục Quân thống Quốc Dân Đảng đến địa phương để đốc biện, Khôi gia bảo đây rất có thể là một con đại "nhất". Chỉ cần Tổ gia đích thân xuất mã, chắc chắn có thể vơ vét được một vố lớn.

Khôi gia là đại ca xã hội đen địa phương, Quốc Dân Đảng lùng sục Cộng sản, rất nhiều tin tức đều do hắn cung cấp, rất nhiều việc đều do tay chân hắn làm.

Tổ gia rất ít khi tự mình ra mặt, chỉ có quan chức cấp cao, hoặc các phu nhân quyền quý, hoặc chủ tịch tập đoàn, ông mới đích thân làm tướng.

“Cục diện” của Tổ gia rất tốt. Cục diện là tiếng địa phương, chính là ngoại hình, tài ăn nói của Tổ gia cũng cực kỳ cao nhã, chỉ có khí chất này, cách ăn nói này của ông, mới xứng tầm bước lên bàn lớn, giăng ván bẫy lớn.

Thân phận đối ngoại của Tổ gia là truyền nhân đích hệ của "Thiết Bản Thần Số", trên báo chí còn đem ông so sánh với Vi Thiên Lý. Thực chất tất cả đều là quan hệ đã được mua chuộc từ trước.

Khôi gia từ trước đến nay vẫn luôn qua lại với người của Cục Quân thống, còn kết nghĩa huynh đệ với một vị quan chức cấp cao. Mục tiêu lần này muốn vơ vét chính là người anh em kết nghĩa của hắn.

Khôi gia từ sớm đã đánh hơi thấy vị anh em kết nghĩa này rất mê tín số mệnh, thế là bèn tìm cơ hội nói với hắn rằng: "Ở địa phương có một vị đại sư mệnh lý, rất lợi hại, nhưng rất khó mời."

Vị quan chức cấp cao đó liền nhờ Khôi gia giúp hẹn gặp, hẹn liên tục ba lần đều không mời được. Đây gọi là lạt mềm buộc chặt.

Mấy tháng sau, cuối cùng cũng hẹn được, gặp mặt ở một quán trà, trước đó Tổ gia thông qua lời kể của Khôi gia, đã nắm rõ như lòng bàn tay về vị quan chức cấp cao này.

Tổ gia bảo hắn báo bát tự trước. Tổ gia nói: "Năm anh 28 tuổi, suýt chút nữa làm quỷ dưới súng."

Vị quan chức cấp cao đó đáp: "Phải."

"Năm anh 29 tuổi được thăng chức." Vị quan chức cấp cao đáp: "Phải."

Tổ gia lại nói: "Trong mệnh anh có ba người vợ."

Vị quan chức cấp cao đó đáp: "Phải."

Tổ gia nói: "Năm sau anh sẽ gặp một kiếp nạn, sẽ mất đi chức vị quan chức."

Vị quan chức cấp cao ngạc nhiên: "Ồ?"

Tổ gia nói: "Làm theo lời tôi bảo, tôi sẽ điều chỉnh phong thủy lại cho anh."

Tổ gia tỉ mỉ nói cho hắn cách điều chỉnh bố cục phong thủy như thế nào. Cuối cùng vị quan chức cấp cao đó nắm chặt tay Tổ gia nói: "Tiên sinh quả là cao nhân!"

"Người đâu." Vị quan cao cấp đó ra hiệu cho thủ hạ mang ra một chiếc hộp, mở ra toàn là những cọc tiền dày cộp, "Tiên sinh vất vả rồi, xin hãy vui vẻ nhận lấy."

Khôi gia cười: "Có thể vì cục trưởng hiệu lực, đã là vinh hạnh lớn của tại hạ, sao dám nhận tiền tài của ngài nữa?" Nói xong, liền rời đi.

Giác quan thứ sáu của Khôi gia rất nhạy bén, ông cảm thấy có điều bất thường, thế là tạm thời thay đổi kế hoạch, không lấy một đồng.

Trên đường về nhà, Khôi gia liền phát hiện có người đang bám theo. Khôi gia không thèm quay đầu lại, bước lớn đi thẳng về nhà.

Vừa về đến nhà, liền phát hiện trong nhà đứng bốn tên đặc vụ, nọng súng lập tức chĩa thẳng tới: "Đi theo chúng tôi một chuyến."

Khôi gia bị đưa về cục, vị cục trưởng kia âm dương quái khí nói: "Mấy trò mèo này mà cũng muốn lừa lão tử à?"

Khôi gia khó hiểu hỏi: "Câu này là ý gì?"

Vị cục trưởng nói: "Ta hơi thả một chút mồi cho các người, các người liền cắn câu rồi."

Khôi gia lập tức hiểu ra, đây là một viên "kẹo ngọt", tin tức hắn tiết lộ cho Khôi gia có vấn đề.

Khôi gia nói: "Ý gì chứ?"

Vị cục trưởng nói: "Cái tên khốn nạn Khôi Nhị đó là kẻ chỉ nhận tiền chứ không nhận bố, từ ngày hắn giới thiệu ngươi cho ta, ta đã hoài nghi rồi, ta biết hắn nắm rất nhiều chuyện của ta, thế nên ta cố tình bịa ra một câu chuyện nhảm rằng năm 28 tuổi suýt bị xử bắn, kết quả là ngươi lại tính ra được, ngươi nói xem ngươi có đáng chết hay không!"

Khôi gia cười: "Cục trưởng quả nhiên cao tay, quả thực có chuyện này. Khôi Nhị nói với ta cục trưởng muốn đến xem bói, bảo ta tính cho chuẩn vào. Chúng tôi làm nghề xem bói không thể đảm bảo mỗi quẻ đều chuẩn, hắn liền nói hắn cung cấp thông tin cho tôi, tiền kiếm được chia đều, hắn là người trong giang hồ, chúng tôi làm nghề xem bói không dám dây vào, cho nên đành phải làm theo lời hắn. Thế nhưng, cục trưởng, tôi không lấy một đồng nào. Bởi vì chúng tôi xem bói tin vào thiện có thiện báo, ác có ác báo."

Vị cục trưởng nọ cười, nói: "Vậy tốt lắm, bây giờ ngươi xem cho ta đi, tính chuẩn, ta sẽ thả ngươi, tính sai, lão tử cho ngươi ăn kẹo đồng ngay lập tức!"

Khôi gia khẽ nhắm hai mắt, miệng lầm rầm niệm chú, một lúc sau điềm tĩnh nói: "Cục trưởng là người nhà này sinh, nhà nọ nuôi."

Vị cục trưởng sửng sốt. Khôi gia nói: "Người nuôi lớn ngài không phải cha mẹ ruột."

Vị cục trưởng nói: "Ngươi... ngươi tính tiếp đi."

Khôi gia nói: "Phía nam cựu trạch nhà ngài hẳn là có một con sông, hoặc là có một cái ao nước, nếu không thì cục trưởng không thể làm quan lớn được."

Vị cục trưởng trầm mặc một lát: "Ngươi nói tiếp đi." Khôi gia nói: "Cục trưởng không nói đúng hay sai, tôi không dám nói nữa."

Cục trưởng sớm đã thu lại cơn giận, nói: "Đúng, là có một cái ao nước, sau đó đại hạn, sớm đã cạn nước rồi."

Khôi gia nói: "Cái phong thủy đó đã bị cục trưởng chiếm hết, cục trưởng thăng quan tiến chức, nước tự nhiên sẽ cạn."

Vị cục trưởng ha hả cười lớn.

Người làm nghề lừa đảo đều biết sáu chữ chân ngôn: "Thẩm, thẩm xao (kiêu), đả, thiên, long, mại." Đây chính là bí quyết chữ "Long" trong sáu chữ chân ngôn, nịnh nọt tung hô đến mức cực điểm, nịnh phải nịnh cho đúng mực, chiêu "Long" này của Khôi gia dùng rất khéo léo. Nịnh phải nịnh cho đúng mực, nếu không thì chỉ là nịnh càn.

Cuối cùng Khôi gia toàn mạng trở về, lúc về đến nhà, bắp chân vẫn còn ướt đẫm mồ hôi. Lập tức triệu tập các thủ lĩnh trạm (bá đầu), tuyên bố: "Lộ rồi, Khôi Nhị chết chắc rồi! Lần này đắc tội là một trùm đặc vụ, có thể sống sót trở về là đại may mắn, Khôi Nhị rất nhanh sẽ khai ra chúng ta, mau chóng thông báo anh em, tất cả giải tán!"

"Giải tán" chính là chia tay, mọi người không qua lại với nhau nữa, không có lệnh thì không ai được phép mở sòng. Mọi người chia tiền xong, đều ẩn mình đi. Khôi gia chạy đêm về quê.

Lần giải tán này kéo dài suốt một năm, cho đến khi quân đội Nhật Bản đánh tới, chiến trường chính của Quốc Dân Đảng chuyển về phía sau.

Bạn chắc chắn sẽ thắc mắc: Tại sao vào thời khắc nguy cấp cuối cùng ông ấy lại có thể tính chuẩn như vậy? Khôi gia làm việc gì cũng chừa đường lui, từ trước khi Khôi Nhị cung cấp thông tin cho ông, ông đã phái mấy tên chân rết dựa theo manh mối Khôi Nhị cung cấp, đi gần nghìn dặm, tìm đến quê quán của vị cục trưởng đó, ghi chép lại hoàn toàn địa thế và địa mạo của cựu trạch nhà hắn, mấy tên chân rết đó còn hóa trang thành người bán ớt, trò chuyện phiếm với hàng xóm láng giềng, thám thính được một số chuyện thời thơ ấu của vị cục trưởng đó.

Khôi Nhị nằm mơ cũng không ngờ Khôi gia lại chừa đường lui, vị cục trưởng kia lại càng không ngờ Khôi gia vì để giăng bẫy mà tốn tận hai tháng trời để tìm ra quê nhà đã xa cách hơn hai mươi năm của hắn.

Giác quan thứ sáu nhạy bén cộng với đường lui luôn được chuẩn bị sẵn, chính là bí quyết giúp Khôi gia bôn ba giang hồ mấy chục năm mà không bại.

Năm thứ ba sau khi vào nghề, tôi đã làm bá đầu. Khôi gia nói: "Người có lương tâm mới có thể làm bá đầu." Ông nói trái tim tôi vẫn chưa hoàn toàn chết lặng, tương lai có thể thay thế vị trí của ông.

Tôi rất khó dùng vài câu đơn giản để khái quát tính cách của Khôi gia, khi ông tàn nhẫn, giết người không chớp mắt, khi ông từ bi, trông giống như một vị Bồ Tát.

Ngày thường, Khôi gia sẽ giúp đỡ người nghèo, không phải kiểu làm màu chuồn chuồn đạp nước, mà là giúp đỡ một cách thiết thực. Tôi không biết đây là sự sám hối của lương tâm, hay là sự cứu rỗi của linh hồn.

Khôi gia nói cảnh giới cao nhất của người lừa đảo là chỉ nhắm vào kẻ ác, người xấu, giống như lần đầu tiên tôi lừa bà lão nọ, đó không phải là việc mà người lừa đảo nên làm. Đó chỉ là luyện tay nghề, cũng gọi là luyện tâm, người hiền còn dám lừa, người ác lại càng dám lừa hơn.

Thực ra, trong lòng tôi vẫn luôn cầu nguyện cho bà lão đó. Trời có mắt, vào mùa xuân năm sau, con trai của bà ấy vậy mà lại thực sự trở về, rất nhanh toàn quốc cũng được giải phóng. Sau đó, Khôi gia bảo tôi lén nhét rất nhiều tiền vào trong sân nhà bà lão. Lúc nhét tiền, tôi cảm thấy bản thân đã tìm lại được chính mình.

Chất lượng giấc ngủ của người làm nghề lừa đảo đều không tốt, thường xuyên giật mình tỉnh giấc trong mơ. Có lúc cười tỉnh, có lúc sợ hãi tỉnh giấc. Khi không có việc làm, mọi người liền uống rượu đến mức bán sống bán chết, lân la lầu xanh, nhưng có một quy tắc, người lừa đảo muốn chơi thì phải đi nơi khác chơi, có thể chơi thoải mái, tuyệt đối không được xuất hiện ở địa phương!

Bởi vì ngày thường người lừa đảo đều thể hiện bộ dạng trang trọng nhất, đạo đức nhất, đặc biệt là các bá đầu, đều có mặt tiền kinh doanh riêng, ngày ngày ngồi trước cửa hàng, ai nấy đều ra vẻ đạo mạo nghiêm túc, nếu bị người ta nhìn thấy ở nơi trăng hoa tửu sắc, thì đó sẽ là tai họa diệt đỉnh.

Khi ra ngoài chơi, ít nhiều gì cũng phải hóa trang, đây không phải là việc khó đối với những người lừa đảo, ai nấy cũng có vài bộ trang phục, vài bộ râu giả, lừa đảo vốn dĩ đã cần phải hóa trang rồi.

Ra ngoài chơi thì được, nhưng không được "lộ gió", lộ gió chính là trực tiếp mở sòng ở ngoại tỉnh, hoặc trực tiếp gia nhập vòng tròn ngoại tỉnh, đây là đại kỵ. Khôi gia chưởng quản đường khẩu này hai mươi năm nay, chưa từng xuất hiện một lần "lộ gió" nào.

Có tên chân rết đi chơi bên ngoài về, nhiễm bệnh giang mai, cuối cùng thối rữa mà chết. Trước khi chết hắn nói muốn gặp cha mẹ, Khôi gia không cho, Khôi gia nói: "Bộ dạng cờ hó này của cậu mà gặp họ, họ cũng sẽ đau lòng đến chết."

Sau khi tên chân rết đó chết, Khôi gia tưới dầu diesel lên người hắn, một ngọn lửa thiêu sạch sẽ. Sau khi hắn chết, Khôi gia mỗi tháng đều phái người đưa tiền về nhà hắn, nói hắn ở bên ngoài sống rất tốt, chỉ là quá bận, không thể về được.

Tôi hỏi Khôi gia tại sao không định ra một quy tắc, bảo tất cả mọi người đừng đi chơi gái nữa. Khôi gia nói: "Ăn uống chơi bời là bản tính của con người, người lừa đảo đang dùng mạng để đánh cược, vì cái gì chứ? Cậu đè nén bản tính của hắn, sớm muộn gì hắn cũng sẽ phản ứng lại. Ăn no rồi, uống đủ rồi, chơi bời thỏa thích rồi, hắn mới có sức để làm việc."

Khoảnh khắc đó, tôi cảm thấy bản tính con người thật đáng sợ.

● Thuật Trát Phi giả thần giả quỷ

Trong ấn tượng của tôi, vụ Trát Phi thần kỳ nhất vẫn là vào năm thứ hai sau khi tôi vào nghề, nhị bá đầu tuân theo sự sắp xếp của Khôi gia để lừa một vị đại phú hào.

Năm Trung Hoa Dân Quốc thứ baTám (1949), trước thềm giải phóng, nhà Trương Tứ gia ở trấn bên xảy ra chuyện.

Con trai của Trương Tứ gia mắc bệnh tương tư, không ăn không uống, cả người gầy trơ xương. Trương Tứ gia là hậu duệ nhà Thanh, sau Cách mạng Tân Hợi, thế lực dần suy yếu, nhưng lạc đà gầy còn lớn hơn ngựa, vẫn là một miếng mồi béo bở.

Nguyên nhân sự việc là thế này, con trai Trương Tứ gia đến Nam Liễu Hạng mua vui, kết quả gặp phải một cô gái tên Xuân Đào, động lòng tình thật, nha đầu đó vô cùng yêu mị, lừa gạt tên ngốc này mấy vố đau rồi biến mất. Kết quả Trương công tử ngày đêm tưởng nhớ, không ăn không uống, chưa đến mấy ngày hai mắt trũng sâu, chỉ còn lại một bộ xương khô.

Khôi gia chớp thời cơ tìm người cung cấp tin tức, nói với Trương Tứ gia, đây thực chất là bị hồ ly tinh bám thân, làm một trận pháp sự, xua đuổi yêu khí, bệnh tương tư tự khắc sẽ khỏi.

Trương Tứ gia ban đầu không tin, nhưng chẳng mấy chốc, Trương Tứ gia đi dạo trong sân sau bữa cơm, đột nhiên nhìn thấy một bóng đen vụt qua trước mặt, chưa kịp phản ứng chuyện gì xảy ra, lại một bóng đen nữa vụt qua trước mắt, hai bóng đen trước sau trực tiếp trèo lên đầu tường, theo đầu tường chạy về phía hậu viện, cỏ dại trên đầu tường bị quét sạt sạt. Lúc này Trương Tứ gia nhìn rõ rồi, là hồ ly núi. Tiếp theo liên tục mấy ngày, Trương Tứ gia và người nhà mỗi tối đều nhìn thấy hồ ly núi xuất hiện trong sân, trong lòng ông ta ngày càng thấp thỏm không yên, lại thêm người cung cấp tin tức xúi giục, cuối cùng đành cầu cứu Khôi gia. Thế là, Khôi gia sắp xếp nhị bá đầu đến làm đạo tràng.

Đạo tràng đó làm rất lớn, bày một hương án rất lớn, mười mấy tên lừa đảo giả làm đạo sĩ niệm chú, đi lại vòng quanh. Nhị bá đầu tự mình trùm vải trắng lên đầu, cầm thanh kiếm gỗ đào khua khoát giữa không gian. Giờ Tý nửa đêm, tiền giấy kèm theo khói bay khắp trời, nhị bá đầu giống như phát điên, chạy vòng quanh sân, thanh bảo kiếm trong tay chém ngang chém dọc, đột nhiên trên trán hắn bắt đầu rỉ máu, máu tươi đỏ sẫm nhuộm đỏ dải vải trắng trên trán, rồi theo sống mũi nhỏ giọt xuống. Tất cả mọi người có mặt đều sợ hãi.

Sau khi nhị bá đầu thu pháp, tỏ ra vô cùng mệt mỏi, Trương Tứ gia kinh hãi hỏi: "Sư phụ, sao ngài lại chảy máu thế?"

Nhị bá đầu nói: "Con hồ ly này quá lợi hại, lúc nãy ta giao đấu với nó, nó nhảy lên đỉnh đầu ta, cắn ta một cái. Bây giờ thì tốt rồi, ta đã tiêu diệt nó rồi, các người tìm nhục thân của nó đi."

Mọi người vây quanh sân tìm kiếm một hồi lâu, cũng không tìm thấy. Nhị bá đầu nói: "Không vội, chạy không thoát đâu." Sau đó mọi người đều giải tán đi về.

Ngày thứ hai, trời vừa hửng sáng, trong phòng Trương công tử phátेटा ra một tiếng thảm thiết, Trương Tứ gia cùng người nhà hoảng loạn chạy tới, chỉ thấy trong chăn của Trương công tử nằm một con hồ ly đẫm máu. Trương Tứ gia hỏi đã xảy ra chuyện gì? Trương công tử run lẩy bẩy nói: "Sáng sớm thức dậy đi tiểu, cảm thấy trong chăn có vật gì đó, vén lên xem..."

Trương Tứ gia trầm ngâm một lát, gật gật đầu, mỉm cười đầyngụ ý. Tên Trương công tử đó cũng vì cú sốc này mà tỉnh táo hơn rất nhiều, cũng cảm thấy đói bụng, bắt đầu ăn đồ ăn, lại mấy ngày nữa, sắc mặt hồng hào trở lại, khỏe mạnh lên.

Sau đó, Trương Tứ gia đặc biệt chuẩn bị mấy chục thỏi bạc, cùng mấy súc lụa thượng hạng, đến để tạ ơn Khôi gia cùng nhị bá đầu, nói: "Các vị sư phụ quả là đạo pháp thâm sâu, cứu rỗi chúng sinh."

Thực ra, chuyện này từ đầu đến cuối đều là một cú lừa. Ban đầu, Trương Tứ gia không tin, Khôi gia liền sai nhị bá đầu gọi người đến sau núi bắt vài con hồ ly núi, cứ cách ba năm ngày lại thả một con vào rãnh nước nhà Trương Tứ gia, đợi đối phương tin chắc có "hồ ly tinh", liền phái nhị bá đầu đến hiện trường làm phép. Vết máu trên trán thực chất là máu chó, miếng vải quấn trên trán là vải nhiều lớp, ở giữa khâu những cái bọng máu dày, bọng máu chính là sau khi giết heo, móc bọng đái (bàng quang) heo ra phơi khô, rồi chia thành từng đoạn, bơm máu chó vào, dùng chỉ thắt chặt lại, cuối cùng khâu những bọng máu đó vào lớp lót của vải trắng. Lúc nhị bá đầu làm phép thì trùm vải trắng lên đầu, nhân lúc không ai chú ý, mạnh mẽ đập đầu một cái vào trán, bọng máu vỡ ra, máu sẽ chảy ra. Trong lúc hỗn loạn, nhân lúc người ta không để ý, tên chân rết đã được sắp xếp từ trước lẻn vào phòng Trương công tử, thổi chút thuốc mê, nhét con hồ ly đã chết vào chăn của hắn.

Thủ pháp này, tiếng lóng gọi là "Trát Phi", tức là giả thần giả quỷ.

Khôi gia thường nói: Phàm là "chữ nhất" đều có thể Trát Phi, quân tử kính quỷ thần mà tránh xa, tiểu nhân sợ quỷ thần mà chiêu dụ, không phải có chỗ sợ hãi, tức là có chỗ cầu xin, người lừa đảo Trát Phi chính là thuận theo thiên mệnh.

Ý chính là phàm là người quân tử chân chính, trong lòng không có quỷ, quang minh chính đại, thì không sợ quỷ thần, những kẻ sợ quỷ hoặc cầu xin quỷ thần, không phải vì làm chuyện thẹn với lương tâm, thì cũng có mưu cầu quỷ thần, những kẻ lừa đảo có thể nhân cơ hội đó để lừa gạt. Thủ đoạn "Trát Phi" có rất nhiều, chu sa vẽ quỷ, thần tiên hiển linh, v.v., thực ra đều là do đạo cụ phát huy tác dụng.

Kinh Hoa Nghiêm có câu: "Những ác nghiệp tạo ra từ trước, đều bắt đầu từ vô thủy tham sân si." Điểm yếu của con người: tham, sân, si. Quan sát kỹ lưỡng, hầu như tất cả tai họa đều bắt nguồn từ ba điểm yếu này.

Tham, chính là tham lam. Tham tiền, tham sắc, tham danh tiếng, tham địa vị, vì đạt được mục đích tham lam mà táng tận lương tâm, chuyện gì cũng dám làm.

Sân, có nghĩa là tức giận phẫn nộ, giới luật sân hận vừa phạm phải, cơn giận bốc cháy bừng bừng, hoàn toàn không thể kiềm chế bản thân, những kẻ tử tù vì tức giận nhất thời mà giết người, không có tên nào là không hối hận.

Si, chính là si tình. Những kẻ sa vào lưới tình, giống như bị chuốc thuốc mê, mất hồn mất vía, cả người bị tình cảm rút cạn, cuối cùng có kẻ uất ức mà chết, có kẻ từ yêu sinh hận, hoặc giết đối phương, hoặc cùng nhau tuẫn tình.

Con người một khi phơi bày ba điểm yếu này, thì những kẻ lừa đảo sẽ có cơ hội ra tay.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.