Hạnh Phúc ở mức độ thứ cấp chính là cuộc sống gắn với các thuộc tính khác của Phẩm hạnh, bởi các hoạt động gắn liền với nó đều phù hợp với con người. Có nghĩa là, khi chúng ta thực hiện các hành động thể hiện công chính, sự can đảm và các phẩm hạnh khác, chúng ta hướng đến người khác thông qua giao kèo, đáp ứng các nhu cầu khác nhau và trong cả những hành động và cảm xúc cũng vậy, bằng cách đánh giá điều gì là phù hợp cho mỗi người: và những điều này đều phù hợp với con người. Hơn nữa, Phẩm hạnh về mặt Đạo Đức cũng được coi là xuất phát từ chính cơ thể, và do vậy, có sự kết nối mật thiết với cảm xúc.
Tri Thức Thực Tiễn và Phẩm hạnh gắn kết chặt chẽ với nhau, bởi các Nguyên Lý của Tri Thức Thực Tiễn trong thực tế có liên quan tới các Phẩm hạnh. Và các Phẩm hạnh trở nên đúng đắn nếu nó tương đồng với Tri Thức Thực Tiễn.
Hơn nữa, vì có liên quan tới cảm xúc, chúng hẳn phải thuộc về bản chất tổng hợp, và Phẩm hạnh của bản chất tổng hợp thì phù hợp với con người, bởi vậy, cuộc sống và Hạnh Phúc gắn liền với nó cũng vậy. Nhưng Trí Tuệ Thuần Tuý thì khác biệt và có đặc trưng riêng. Tuy vậy, hãy tạm thời bỏ qua điều này, vì sự chính xác tuyệt đối không phải mục đích của chúng ta.
Hơn nữa, có vẻ như nó cũng yêu cầu các nhân tố bên ngoài ở mức độ ít, hay rõ ràng là ít hơn niềm Hạnh Phúc mang tính Đạo Đức. Bởi, dù cả hai đều có những nhu cầu cơ bản của cuộc sống và bằng nhau ở số lượng (mặc dù, trong thực tế, người sống trong xã hội có nhiều nhu cầu về thể xác và những điều tương tự hơn, sự khác biệt là rất nhỏ), nhưng khi chúng ta nhìn vào Hoạt Động của chúng, sự khác biệt là rất đáng kể.
Một người hào phóng phải có tiền bạc để thực hiện việc hào phóng, và người công chính cũng vậy, để thực hiện cam kết của mình (bởi dự định đơn thuần vốn dĩ thiếu chắc chắn, và ngay cả những kẻ vốn chẳng có gì công chính cũng giả như muốn thực hiện điều công chính); người dũng cảm cần có sức mạnh, nếu họ muốn thực hiện bất kỳ hành động nào gắn liền với phẩm hạnh của riêng mình, và người có khả năng Hoàn Toàn Tự Chủ lại cần có những cám dỗ, bởi nếu không thì làm sao họ thể hiện được bản thân mình?
[1178b] (Câu hỏi đôi lúc được đặt ra về việc liệu lựa chọn đạo đức hay hành động có liên quan nhiều hơn tới Phẩm hạnh, bởi Phẩm hạnh vốn nằm ở trong cả hai. Rõ ràng là một sự hoàn hảo của hành động phẩm hạnh sẽ cần tới cả hai. Nhưng hành động lại cần nhiều thứ khác, càng nhiều thì hành động càng vĩ đại). Nhưng đối với người thực hiện Sự Phán Đoán mang tính Chiêm Nghiệm, những điều này không những không quan trọng mà còn là trở ngại cho Hoạt Động của họ. Bởi dĩ nhiên họ vẫn là con người và sống trong xã hội, họ lựa chọn làm những điều mà phẩm hạnh đòi hỏi, vậy nên họ cần những thứ để duy trì đặc tính là một con người (chứ không phải để duy trì đặc tính là một triết gia).
Và việc Hạnh Phúc phải là một phần của Hoạt Động Chiêm Nghiệm cũng xuất hiện từ quan điểm sau. Trong nhận thức của chúng ta, thần linh phải được ban phước và luôn hạnh phúc. Vậy thì hành động Đạo Đức nào chúng ta có thể gắn cho họ? Công Chính chăng? Nhưng chẳng phải sẽ thật lố bịch nếu họ xuất hiện, thương thảo hợp đồng, hoàn tiền gửi… sao? Hoặc không, liệu chúng ta có nên hình dung họ đang thể hiện sự dũng cảm, vượt qua nỗi sợ và đối diện với hiểm nguy, bởi đó là điều cao quý? Hay hào phóng? Nhưng hào phóng với ai? Và sẽ thật là kì quái nếu cho rằng họ có tiền bạc hoặc điều gì đó tương tự. Hoàn Toàn Tự Chủ của họ thì có thể như thế nào? Không phải lời ngợi khen sẽ trở nên thừa thãi, bởi vốn họ đã chẳng có những ham muốn trần tục sao? Tóm lại, nếu đi vào chi tiết của từng hoạt động Đạo Đức, tất cả đều trở nên tầm thường và không xứng đáng với thần linh.
Dẫu vậy, tất cả đều tin họ đang sống, và do đó họ có hoạt động bởi chẳng thể nào mà họ ngủ li bì mọi lúc như Endymion[1] được. Nếu như ta tước đi Hành Động, rồi cả Sáng Tạo khỏi một sinh vật sống, vậy thì điều gì còn lại ngoại trừ sự Chiêm Nghiệm? Vậy hoạt động của những vị thần, được bao phủ trong phước lành, sẽ là Phán Đoán mang tính Chiêm Nghiệm. Và trong mọi hoạt động của loài người, điều gần nhất với sự Chiêm Nghiệm sẽ là điều có khả năng mang lại Hạnh Phúc lớn nhất.
Một bằng chứng nữa cho quan điểm này nằm ở việc Hạnh Phúc không xuất hiện ở động vật khi chúng cũng không có bất kỳ một Hành Động nào kiểu này.
Cuộc sống của một vị thần đã được ban phước lành; và con người cũng tương tự khi có những hoạt động tương tự. Nhưng không loài động vật nào khác có thể Hạnh Phúc bởi chúng không có khả năng Phán Đoán mang tính Chiêm Nghiệm.
Hạnh Phúc sau đó sẽ song hành cùng với sự Phán Đoán mang tính Chiêm Nghiệm. Và sự Chiêm Nghiệm càng nhiều, cảm giác hạnh phúc sẽ càng nhiều, không phải do ngẫu nhiên, mà bởi bản thân sự Phán Đoán mang tính Chiêm Nghiệm đã vô cùng đáng giá.
Vậy nên Hạnh Phúc phải thuộc về sự Chiêm Nghiệm. Nhưng bởi chúng ta đang nói tới con người, cũng sẽ cần cả sự Thịnh Vượng Nghoại Thân, bởi Bản Chất của con người không tự thỏa mãn chỉ bằng Phán Đoán, mà cần có sức khoẻ, dinh dưỡng và những điều thiết yếu khác.
[1179a] Dẫu vậy, không thể cho rằng: nếu không có của cải bên ngoài, con người không thể tận hưởng được Hạnh Phúc, nên họ sẽ cần nhiều vật chất để được hạnh phúc. Bởi Sự Tự Thỏa Mãn và Hành Động đều không phụ thuộc vào Sự Dư Thừa, chẳng cần phải là chủ nhân của đất liền và biển cả để cư xử một cách cao quý. Bởi chỉ cần vật chất ở mức vừa đủ, con người đã có thể cư xử theo Phẩm Hạnh.
Và rõ ràng là, một người, trong tư cách cá nhân, có thể cư xử đầy công chính, thậm chí hơn cả những người nắm trong tay quyền lực. Của cải chỉ cần ở mức vừa đủ, bởi cuộc đời của con người thực hành theo Phẩm Hạnh sẽ trở nên hạnh phúc.
Solon đã phác hoạ chân dung của một người Hạnh Phúc là một người được cung cấp của cải vừa đủ, thực hiện nhiều hành vi mà mình cho rằng cao quý, và sống với Hoàn Toàn Tự Chủ. Bởi một người với của cải khiêm tốn hoàn toàn có thể thực hiện những hành động anh ta nên làm.
Anaxagoras[2] có vẻ như cũng coi một người hạnh phúc không phải một người giàu có hay quyền lực. Ông cho rằng sẽ chẳng có gì bất ngờ nếu người hạnh phúc bị coi là lạ lẫm trong mắt đám đông tầm thường. Bởi đám đông chỉ có thể đánh giá những hiện tượng bên ngoài mà họ nhận thức được.
Nhận định của những nhà hiền triết có vẻ như cũng tương đồng với chúng ta. Tất nhiên, những nhận định này đáng giá, nhưng sự thực, trên khía cạnh đạo đức, phải được đánh giá dựa trên thực tế và cuộc sống, bởi từ đó chúng ta mới có thể đưa ra quyết định. Vậy điều chúng ta nên làm là kiểm chứng những nhận định trên bằng cách đặt chúng vào với thực tế và cuộc sống. Chúng sẽ được công nhận nếu phù hợp với thực tế, còn nếu không, chúng sẽ chỉ là những lý thuyết suông.
Những người luôn quan sát và hành động tương ứng với Trí Tuệ Thuần Túy, và cố gắng đạt được nó, dường như vừa ở trạng thái tốt nhất và vừa được thần linh yêu quý. Bởi nếu mọi sự quan tâm được ban cho con người bởi thần linh, vậy thì cũng hợp lý khi cho rằng họ có được Vui Thú ở những điều tốt đẹp và gần gũi nhất với họ (và điều này hẳn phải là Trí Tuệ Thuần Tuý); và họ ban điều tốt lành cho những ai yêu và trân trọng nó nhất, khi những người này trân trọng điều gần gũi với thần linh, cũng như cư xử đúng đắn và cao quý. Và cũng hiển nhiên rằng con người Khoa Học có tất cả những yếu tố này. Họ, do đó, là gần gũi nhất với thần linh, và có thể luôn là hạnh phúc nhất.
Như vậy, từ góc nhìn này, con người Khoa Học là người hạnh phúc nhất.
❀ ❀ ❀
[1] Theo thần thoại Hy Lạp, Endymion là người yêu của nữ thần mặt trăng Selene.
[2] Anaxagoras (sinh khoảng năm 510 TCN - mất khoảng năm 428 TCN) là một triết gia tiền Socrates Hy Lạp. Ông sinh ra ở Clazomenae vào thời điểm Anatolia nằm dưới sự kiểm soát của Đế quốc Ba Tư.