Lò Sát Sinh Số 5

Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
MỘT

❊ ❊ ❊

Tất cả chuyện này ít nhiều đã xảy ra. Dẫu sao thì những phần về chiến tranh là khá đúng sự thật. Một anh chàng tôi quen đã thật sự bị xử bắn ở Dresden vì lấy ấm trà của người khác. Một anh chàng người quen khác đã thật sự đe dọa thuê găngxtơ làm thịt những kẻ có thù riêng với anh ta sau cuộc chiến. Và vân vân. Tôi đã đổi tên tất cả những người thật có trong sách này.

Tôi thật sự đã quay lại Dresden bằng tiền của Quỹ Guggenheim (Chúa thích điều này) vào năm 1967. Trông thành phố rất giống Dayton, bang Ohio, với nhiều không gian mở hơn Dayton. Ắt phải có hàng tấn bột xương người dưới đất.

Tôi quay lại đó cùng một chiến hữu ngày xưa, tên là Bernard V. O’Hare. Chúng tôi đánh bạn với anh tài xế taxi chở chúng tôi tới lò sát sinh chỗ chúng tôi từng bị nhốt về đêm hồi là tù binh. Anh tên là Gerhard Müller. Anh bảo mình từng là tù binh của người Mỹ một thời gian. Chúng tôi hỏi anh cuộc sống dưới chế độ Cộng sản thế nào, anh bảo lúc đầu thì kinh khủng, bởi ai cũng phải làm lụng cực nhọc, lại không có mấy chỗ nương thân, thực phẩm hay quần áo. Nhưng mọi việc giờ đã tốt đẹp hơn nhiều. Anh có một căn hộ nhỏ tiện nghi, con gái anh được thụ hưởng một nền giáo dục xuất sắc. Mẹ anh bị thiêu chết trong trận bão lửa Dresden. Đời là thế.

Giáng sinh, anh gửi cho O’Hare một tấm bưu thiếp, trong đó viết:

“Chúc anh và gia đình cùng bạn bè Giáng sinh vui vẻ và năm mới hạnh phúc. Hy vọng chúng ta sẽ gặp lại nhau trên một chiếc taxi, trong một thế giới hòa bình và tự do, nếu số phận cho phép.”

Tôi rất thích cụm: “Nếu số phận cho phép”.

Tôi không muốn kể với bạn cuốn sách nhỏ tệ hại này làm tôi tốn kém tiền bạc, thời gian và âu lo chừng nào. Cách đây hai mươi ba năm, khi trở về nhà sau Đệ nhị Thế chiến, tôi ngỡ mình sẽ dễ dàng cầm bút viết về trận bom hủy diệt Dresden, bởi tất cả những gì tôi cần làm chỉ là thuật lại những điều tai nghe mắt thấy. Và tôi cũng ngỡ rằng đó sẽ là một kiệt tác hay ít nhất mang lại cho tôi kha khá tiền bạc, bởi đề tài này quá lớn lao.

Nhưng rồi đã không mấy chữ về Dresden tuôn ra từ đầu tôi hồi đó, dẫu sao cũng không đủ để thành một cuốn sách. Kể cả bây giờ cũng không được mấy chữ, khi tôi đã trở thành một lão khọm già ôm đầy ký ức cùng những gói Pall Mall, con cái đã đủ lông đủ cánh.

Tôi nghĩ đến phần ký ức về Dresden trong trí nhớ tôi đã thành vô dụng, thế nhưng Dresden vẫn thôi thúc tôi viết về nó quá chừng, và tôi chợt nhớ đến bài vè nổi tiếng:

Có anh chàng quê ở Stamboul

Tự lảm nhảm với hàng của mình:

“Của cải ta, mi đà lấy hết

Mi còn làm cho ta yếu nhớt

Giờ lại không chịu tè nữa hả, đồ hâm!”

Và tôi cũng nhớ về bài hát có lời như sau:

Tôi tên là Yon Yonson,

Tôi đi làm ở Wisconsin,

Tôi làm trại cưa bên đó.

Những người tôi gặp khi xuống phố,

Họ hỏi, “Cậu tên gì?”

Và tôi nói,

“Tôi tên là Yon Yonson,

Tôi đi làm ở Wisconsin…”

Và cứ thế cho đến vô cùng.

Năm này qua năm khác, khi gặp nhau mọi người thường hỏi tôi đang viết gì, tôi thường đáp: chủ yếu là một cuốn sách về Dresden.

Một lần tôi nói điều này với nhà làm phim Harrison Starr, ông ta nhướn mày hỏi, “Đó là một cuốn sách chống chiến tranh sao?”

“Đúng thế,” tôi nói. “Chắc vậy.”

“Anh có biết tôi nói gì với người ta khi nghe họ bảo viết sách chống chiến tranh không?”

“Không. Ông nói gì, hả Harrison Starr?”

“Tôi nói, ‘Sao thay vào đó anh không viết một cuốn sách chống-băng-trôi?’

Dĩ nhiên ý ông ấy là, chiến tranh sẽ luôn luôn xảy ra, rằng ngăn chặn chiến tranh cũng dễ dàng như ngăn chặn băng trôi. Tôi cũng tin vậy.

Và ngay cả khi chiến tranh không thường xảy ra như băng trôi, thì người ta vẫn cứ chết như thường.

Hồi tôi còn trẻ hơn đôi chút và đang viết cuốn sách nổi tiếng của mình về Dresden, tôi hỏi một chiến hữu tên là Bernard V. O’Hare liệu tôi có thể đến gặp cậu ta không. Cậu ta là công tố viên ở Pennsylvania. Tôi là nhà văn ở mũi Cod. Hồi đánh nhau chúng tôi là binh nhì, trinh sát bộ binh. Chúng tôi chẳng bao giờ mong kiếm được chút tiền nào sau chiến tranh, nhưng chúng tôi làm ăn khá ổn.

Tôi nhờ công ty Điện thoại Bell tìm cậu ta cho tôi. Họ làm chuyện đó rất nghệ. Thỉnh thoảng về khuya tôi mắc chứng này, dính dáng tới rượu và điện thoại. Tôi say khướt, và cái hơi thở như khí lưu huỳnh trộn lẫn hoa hồng khiến vợ tôi chạy mất dạng. Và rồi, bằng giọng nghiêm túc và lịch thiệp, tôi nhấc điện thoại yêu cầu tổng đài viên kết nối tôi với người này người nọ, những người nhiều năm tôi chẳng nghe tăm hơi.

Bằng cách này tôi tìm được O’Hare qua điện thoại. Cậu ta lùn còn tôi thì cao. Trong chiến tranh chúng tôi là Lý Toét và Xã Xệ. Chúng tôi bị bắt cùng nhau. Trên điện thoại tôi bảo cậu ta mình là ai. Cậu ta dễ dàng tin ngay. Cậu ta còn thức, đang đọc sách. Những người khác trong nhà đều ngủ.

“Tớ bảo này,” tôi bảo, “tớ đang viết cuốn sách về Dresden. Tớ cần giúp nhớ lại đôi ba chỗ. Không biết tớ có thể xuống chỗ cậu, mình có thể làm vài ly, tán gẫu và cùng hồi tưởng được không.”

Cậu ta không nhiệt tình mấy. Cậu ta bảo mình chẳng nhớ được là bao. Mặc dù vậy cậu ta bảo tôi cứ tới.

“Tớ nghĩ cao trào của cuốn sách sẽ là màn xử tử lão Edgar Derby đáng thương,” tôi bảo. “Vụ đó quá là mỉa mai luôn. Cả thành phố bị thiêu rụi, hàng nghìn nghìn người chết. Vậy mà thằng cha bộ binh Mỹ này còn bị bắt trong đống đổ nát vì chôm một cái ấm trà. Hắn bị xét xử trong một phiên tòa chính quy, rồi còn bị một đội súng hành quyết.”

“Ừm,” O’Hare nói.

“Cậu không nghĩ rằng đó thật sự là cao trào sao?”

“Mình không biết,” cậu ta nói. “Đó là nghề của cậu, không phải của mình.”

Là một tay buôn lành nghề với các đoạn cao trào, các pha hồi hộp, các chiêu xây dựng nhân vật, các đối thoại tuyệt vời, những màn đối đầu sắp sửa, tôi đã phác thảo câu chuyện Dresden nhiều lần. Phác thảo hay nhất của tôi, hay dù gì cũng là bản đẹp nhất, là trên mặt sau một cuộn giấy dán tường.

Tôi dùng bút chì màu của con gái mình, mỗi nhân vật chính một màu khác nhau. Một đầu cuộn giấy là mở đầu câu chuyện và đầu kia là kết thúc, ở giữa là tất cả quãng giữa câu chuyện. Đường màu xanh dương gặp đường màu đỏ rồi đường màu vàng, rồi đường màu vàng dừng lại vì nhân vật mà đường màu vàng đại diện chết. Và cứ thế. Trận phá hủy Dresden được thể hiện bằng một dải thẳng đứng từ những nét màu cam đan chéo, và tất cả những đường nào còn sống sót thì sẽ đi qua đó sang phía bên kia.

Đoạn kết, khi mọi đường thẳng dừng lại, là một cánh đồng củ cải bên dòng Elbe, ngoại ô thành Halle. Mưa đang tuôn xuống. Cuộc chiến ở châu Âu đã kết thúc được vài tuần. Chúng tôi xếp thành hàng, lính Nga canh chừng bọn chúng tôi - gồm người Anh, người Mỹ, Hà Lan, Bỉ, Pháp, Canada, Nam Phi, Tân Tây Lan, Úc, hàng nghìn bọn chúng tôi sắp sửa chấm dứt phận tù binh.

Bên kia cánh đồng là hàng nghìn người Nga, Ba Lan, Nam Tư và vân vân được lính Mỹ canh chừng. Cuộc trao đổi được thực hiện trong mưa - một đổi một. O’Hare và tôi leo lên thùng sau một chiếc xe tải Mỹ cùng nhiều người khác. O’Hare không có món lưu niệm nào. Hầu hết mọi người đều có. Tôi có một thanh gươm nghi thức Luftwaffe, giờ vẫn còn đây. Tay người Mỹ nhỏ thó hung hăng mà tôi gọi là Paul Lazzaro trong cuốn sách này có đâu chừng một quart[1] kim cương, ngọc lục bảo và hồng ngọc và vân vân. Gã chôm mấy thứ này từ xác người trong những căn hầm ở Dresden. Đời là thế.

Một tay người Anh ngốc nghếch mất hết răng ở đâu đó đựng đồ lưu niệm của mình trong một túi vải. Cái túi được gác trên mu bàn chân tôi. Thỉnh thoảng hắn nhòm vào túi, rồi trọn mắt và ngoáy cái cần cổ xương xẩu, cố tìm cách bắt thóp được người ta thèm thuồng nhìn cái túi của mình. Hắn còn nện cái túi xuống mu bàn chân tôi.

Tôi ngỡ cú nện của hắn là tình cờ. Nhưng tôi lầm. Hắn ta phải khoe người khác những gì hắn có trong túi, và hắn quyết định rằng có thể tin tôi. Bắt gặp ánh mắt của tôi, hắn bèn nháy mắt và mở banh cái túi. Trong đó có mô hình tháp Eiffel bằng thạch cao. Nó được sơn vàng. Trên tháp có một chiếc đồng hồ.

“Một món oách xà lách,” hắn nói.

Chúng tôi được máy bay đưa đến một trại nghỉ ở Pháp, ở đó chúng tôi được uống sữa sô cô la và ăn những món bổ béo khác cho đến khi béo bụ ra. Rồi chúng tôi được đưa về nhà, và tôi lấy một cô gái xinh đẹp và cũng béo bụ.

Rồi chúng tôi có con.

Và chúng giờ đều đã trưởng thành, còn tôi là một lão khọm già ôm đầy ký ức và những gói Pall Mall. Tôi tên là Yon Yonson, tôi đi làm ở Wisconsin, tôi làm trại cưa bên đó.

Khuya, sau khi vợ đã đi ngủ, đôi khi tôi cố gọi cho các bạn gái cũ. “Chào tổng đài, liệu có thể cho tôi số của bà tên là như này, như này. Tôi nghĩ bà ấy sống ở chỗ kia, chỗ nọ.”

“Xin lỗi ngài. Không có đăng ký đó.”

“Cảm ơn tổng đài. Dù sao cũng cảm ơn.”

Và tôi thả chó ra, hoặc mở cửa cho nó vào, rồi chúng tôi trò chuyện tí chút. Tôi tỏ cho nó biết tôi quý nó, rồi nó cho tôi biết nó quý tôi. Nó không bận tâm mùi khí lưu huỳnh trộn lẫn hoa hồng.

“Mày ổn rồi, Sandy,” tôi nói với con chó. “Mày biết mà, phải không, Sandy? Mày ổn rồi.”

Thỉnh thoảng tôi mở đài nghe một chương trình trò chuyện phát thanh từ Boston hay New York. Tôi không nghe nhạc nổi nếu đã uống kha khá.

Sớm muộn gì rồi tôi cũng đi ngủ, và vợ tôi sẽ hỏi tôi mấy giờ rồi. Nàng lúc nào cũng muốn biết giờ. Đôi khi tôi không biết, thế là tôi bảo, “Soát anh đi.”

Đôi khi tôi nghĩ về sự học hành của mình. Sau Đệ nhị Thế chiến tôi học ở Đại học Chicago ít lâu. Tôi là sinh viên khoa Nhân loại học. Vào thời đó, họ dạy rằng tuyệt nhiên không có gì khác biệt giữa bất kỳ ai. Có khi bây giờ họ vẫn dạy thế.

Họ còn dạy là trên đời không có ai là lố bịch, xấu xa hay kinh tởm cả. Trước khi qua đời ít lâu, cha tôi bảo, “Con biết không - con chưa từng viết truyện nào có kẻ ác trong đó.”

Tôi bảo ông đó là một trong những điều tôi học được ở đại học sau chiến tranh.

Trong thời gian học để trở thành nhà nhân loại học, tôi đồng thời làm thông tín viên tin cảnh sát cho Cục Tin tức thành phố Chicago nổi tiếng, kiếm được hai mươi tám đô la một tuần. Một lần họ chuyển tôi từ ca đêm sang ca ngày, thế là tôi làm mười sáu tiếng liên tục. Chúng tôi được mọi tờ báo trong thành phố, cả AP và UP và vân vân, trợ giúp. Chúng tôi đưa tin về tòa án, đồn cảnh sát, Sở Cứu hỏa và lực lượng tuần duyên trên hồ Michigan và vân vân. Chúng tôi được kết nối với các cơ sở trợ giúp bằng các ống khí áp đặt ngầm bên dưới các con đường ở Chicago.

Các thông tín viên sẽ gọi điện về tòa soạn thuật lại các câu chuyện cho những người viết bài đeo tai nghe, và họ sẽ ghi lại các câu chuyện trên các tờ in rô-nê-ô. Các câu chuyện được in bằng máy quay rô-nê-ô và được nhét vào các ống bằng đồng và nhung rồi tống vào các ống khí áp. Những thông tín viên và người viết bài rắn mặt nhất là những phụ nữ làm thay công việc cho đàn ông ra trận.

Tin tức đầu tiên mà tôi tường thuật, tôi đã phải đọc chính tả qua điện thoại cho một trong những phụ nữ thô lỗ ấy. Đó là chuyện một cựu chiến binh trẻ tuổi đảm nhận việc vận hành chiếc thang máy cổ trong một tòa nhà văn phòng. Cánh cửa thang máy ở tầng một được làm bằng các thanh sắt uốn trang trí. Những dây thường xuân sắt bò ra bò vào những cái lỗ. Còn có một nhánh cây nhỏ bằng sắt với đôi vẹt xanh bằng sắt quấn quýt bên trên.

Anh cựu chiến binh định đưa thang xuống tầng hầm, anh ta đóng cửa và cho thang đi xuống, nhưng chiếc nhẫn cưới của anh mắc kẹt vào những chi tiết trang trí. Thế là anh bị treo lơ lửng trên không khi sàn buồng thang máy hạ xuống, còn trần buồng thang thì chẹt chết anh. Đời là thế.

Thế là tôi gọi điện về tòa soạn, và người phụ nữ chuẩn bị bản in hỏi, “Vợ anh ấy có nói gì không?”

“Cô ấy chưa biết tin,” tôi nói. “Chuyện vừa mới xảy ra thôi.”

“Hãy gọi điện xem cô ta nói gì.”

“Hả?”

“Cứ bảo cô ta anh là Đại úy Finn bên Sở Cảnh sát. Nói là anh có tin buồn. Rồi báo tin và chờ xem cô ta nói gì-”

Tôi làm theo. Cô ấy nói những điều bạn nghĩ cô ấy sẽ nói. Họ có một em bé. Vân vân.

Khi tôi về văn phòng, người phụ nữ viết bài hỏi, thuần túy tò mò, anh chàng bị chẹt trông thế nào khi bị chẹt.

Tôi tả cho chị ta.

“Anh thấy có ghê không?” chị ta hỏi. Chị ta đang nhai một thanh kẹo Ba người lính Ngự lâm.

“Ghê quái gì, Nancy,” tôi bảo. “Trong chiến tranh tôi từng thấy những cảnh tệ hơn nhiều.”

Ngay từ hồi đó tôi đã ôm ấp dự định viết một cuốn sách về Dresden. Trận không tạc ấy không nổi tiếng cho lắm ở Mỹ hồi đó. Chẳng hạn, không nhiều người Mỹ biết rằng vụ này kinh khủng hơn Hiroshima đến mức nào. Tôi cũng không biết. Không có nhiều thông tin công khai lắm.

Có lần trong một bữa tiệc cooktail tôi tình cờ kể cho một giáo sư Đại học Chicago nghe về trận không tạc mà tôi từng chứng kiến, về cuốn sách tôi dự định viết. Ông ta là thành viên của một thứ gọi là ủy ban Tư tưởng Xã hội. Ông ta bèn nói với tôi về các trại tập trung, về chuyện người Đức đã làm xà phòng và đèn cầy từ mỡ của người Do Thái đã chết như thế nào và vân vân.

Tất cả những gì tôi có thể nói là, “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi.”

Đệ nhị Thế chiến chắc chắn đã khiến mọi người cứng cỏi hơn. Tôi trở thành nhân viên quan hệ công chúng cho General Electric ở Schenectady, New York, và là lính cứu hỏa tự nguyện ở làng Alplaus nơi tôi mua căn nhà đầu tiên. Sếp của tôi ở đó là một trong những người rắn nhất tôi từng gặp. Ông ta từng là trung tá phụ trách quan hệ công chúng ở Baltimore. Lúc tôi ở Schenectady ông ta tham gia Nhà thờ Cải cách Hà Lan, vốn thật là một nhà thờ rất rắn.

Thỉnh thoảng ông ta giễu cợt hỏi sao tôi không phải là sĩ quan, cứ như tôi đã làm gì sai.

Hai vợ chồng tôi không còn béo bụ nữa. Đó là những năm còi cọc. Chúng tôi kết bạn với nhiều cựu binh còi cọc và các cô vợ cũng còi cọc của họ. Những cựu chiến binh dễ mến nhất ở Schenectady, tôi nghĩ, những người tử tế nhất và hài hước nhất, những người căm ghét chiến tranh nhất, là những người từng thật sự chiến đấu.

Tôi viết thư cho Không Lực thời đó, hỏi chi tiết về cuộc không tạc Dresden, ai là người ra lệnh, bao nhiêu máy bay tham gia, tại sao lại làm thế, kết quả mong muốn là gì và đại để thế. Tôi nhận câu trả lời từ một gã, giống như tôi, cũng làm quan hệ công chúng. Anh ta nói anh ta rất tiếc, nhưng những thông tin ấy vẫn còn là tối mật.

Tôi đọc to thư cho vợ nghe, nói thêm, “Tối mật? Mật với ai, lạy Chúa?”

Chúng tôi hồi ấy là những người theo phong trào Liên hiệp các Nhà Liên bang Thế giới. Tôi không biết bây giờ chúng tôi là gì. Là những người gọi điện, tôi đồ chừng. Chúng tôi gọi điện rất nhiều - hay ít ra tôi gọi rất nhiều, đặc biệt về khuya.

Vài tuần sau khi gọi cho chiến hữu xưa Bernard V. O’Hare, tôi thật sự đã đi gặp cậu ta. Ắt hồi ấy phải là năm 1964 hay quãng đó - sao cũng được miễn là năm cuối cùng của Triển lãm Thế giới New York. Lạy Chúa, năm tháng vèo qua[2]. Tôi tên là Yon Yonson. Có một chàng trai trẻ quê ở Stamboul.

Tôi đưa theo hai cô bé, Nanny, con gái tôi và Allison Mitchell, bạn thân nhất của nó. Chúng chưa bao giờ ra khỏi mũi Cod. Khi thấy một con sông, chúng tôi phải dừng lại để chúng có thể đứng trên bờ và trầm ngâm về con sông ấy một lúc. Chúng chưa bao giờ nhìn thấy nước ở hình thức dài, hẹp và không mặn như thế. Đó là sông Hudson. Chúng tôi nhìn thấy cá chép dưới đó. Chúng to như những chiếc tàu ngầm nguyên tử.

Chúng tôi cũng nhìn thấy thác, những dòng suối lao xuống từ các triền đá vào thung lũng Delaware. Có nhiều thứ cho ta dừng chân ngắm nghía - và rồi đến lúc phải đi, luôn luôn đến lúc phải đi. Hai cô bé mặc váy dự tiệc trắng mang giày dự tiệc đen, để người lạ có thể ngay lập tức thấy chúng dễ thương thế nào. “Đến lúc đi rồi, các cô,” tôi nói. Và chúng tôi lại đi.

Khi mặt trời lặn, chúng tôi ăn tối trong một nhà hàng Ý, và rồi tôi gõ cửa trước ngôi nhà bằng đá xinh đẹp của Bernard V. O’Hare. Tôi mang theo một chai whisky trông giống một cái chuông báo bữa tối.

Tôi gặp cô vợ dễ thương của cậu ta, Mary, người tôi đề tặng cuốn sách này. Tôi cũng đề tặng cuốn sách cho Gerhard Müller, người tài xế taxi Dresden. Mary O’Hare là y tá - phụ nữ làm y tá bao giờ cũng đáng yêu.

Mary rất mê hai cô bé tôi đưa theo, cô cho cả đám con cô chơi cùng, rồi tống cả đám lên lầu chơi trò chơi và xem ti vi. Chỉ sau khi bọn trẻ lên lầu, tôi mới cảm nhận được Mary không ưa tôi hay không ưa một cái gì đó tối nay. Cô tỏ ra nhã nhặn nhưng lạnh lùng.

“Nhà hai người thật dễ thương và ấm cúng,” tôi nói, và thật sự đúng là như vậy.

“Em đã sửa soạn một chỗ cho hai anh trò chuyện mà không bị làm phiền.”

“Hay quá,” tôi nói, mường tượng ra hai chiếc ghế da bên lò sưởi trong một căn phòng ốp gỗ, để hai tay cựu binh có thể nhâm nhi trò chuyện. Nhưng cô đưa chúng tôi vào bếp. Cô xếp hai chiếc ghế lưng dựng đứng bên một chiếc bàn bếp phủ sứ trắng. Mặt bàn gay gắt ánh sáng lóa xuống từ chiếc bóng đèn hai trăm watt trên đầu. Mary đã sửa soạn một căn phòng phẫu thuật. Trên bàn cô chỉ để một ly, dành cho tôi. Cô giải thích O’Hare không uống được rượu nặng nữa từ sau chiến tranh.

Thế là chúng tôi ngồi xuống. O’Hare bối rối, nhưng cậu ta không bảo tôi vấn đề nằm ở đâu. Tôi không thể hình dung ra ở tôi có điều gì làm Mary bức xúc vậy. Tôi là một người đàn ông của gia đình. Tôi chỉ lấy vợ mỗi một lần. Tôi không phải là một thằng say xỉn. Tôi cũng chẳng động đến một cọng lông chân chồng cô trong chiến tranh.

Cô lấy cho mình một ly Coca-Cola, rồi đập khay đá ầm ĩ vào bồn thép không gỉ. Rồi cô đi sang một căn phòng khác trong nhà. Nhưng cô không ngồi yên. Cô đi ra đi vào quanh nhà, mở cửa, sập cửa, thậm chí lôi đồ đạc xềnh xệch để trút giận.

Tôi hỏi O’Hare tôi đã nói gì hay làm gì khiến cô hành xử như vậy.

“Không có gì đâu mà,” cậu ta nói. “Đừng để ý. Không liên quan gì tới cậu hết.” Cậu ta thật tử tế. Cậu ta nói dối. Mọi chuyện đều liên quan tới tôi.

Thành thử chúng tôi cố gắng mặc kệ Mary và ôn lại cuộc chiến. Tôi làm vài ly từ chai rượu mang theo. Thỉnh thoảng chúng tôi khúc khích hoặc ngoác mồm cười, như thể những câu chuyện thời chiến đang quay trở lại với chúng tôi, nhưng cả hai chúng tôi chẳng nhớ được cái gì hay ho. O’Hare nhớ một anh chàng uống quá nhiều rượu vang ở Dresden trước khi thành phố bị đánh bom, và chúng tôi phải mang anh ta về bằng xe cút kít. Không đủ để viết một cuốn sách. Tôi nhớ có hai tay lính Nga vơ vét ở một nhà máy sản xuất đồng hồ. Chúng có một xe ngựa đầy những đồng hồ. Chúng sung sướng và say mèm. Chúng hút những điếu thuốc to đùng quấn bằng giấy báo.

Chúng tôi chỉ nhớ lại được chừng đó, còn Mary thì vẫn ầm ĩ. Cuối cùng cô lại vào bếp lấy một lon Coca-Cola nữa. Cô lấy một khay đá khác từ tủ lạnh, đập vào bồn rửa, mặc dù vẫn còn rất nhiều đá ở ngoài.

Rồi cô ngoảnh lại tôi, cho tôi thấy cô giận dữ thế nào, và cơn giận đó là dành cho tôi. Cô đã tự nói với chính mình, nên những gì cô nói chỉ là một phần trong một hội thoại lớn hơn nhiều. “Hồi đó các anh chỉ là bọn con nít!” cô nói.

“Hả?”

“Các anh chỉ là bọn con nít trong chiến tranh - như mấy đứa trên lầu!”

Tôi gật đầu đồng ý đó là sự thật. Chúng tôi là lũ trai tân khờ khạo trong chiến tranh, vẫn còn đang ở cuối thời thơ ấu.

“Nhưng anh sẽ không viết như thế, phải không.” Đó không phải là câu hỏi. Đó là một lời buộc tội.

“Tôi - tôi không biết.”

“Chà, còn em thì biết,” cô nói. “Các anh vờ là đàn ông chứ không phải con nít, các anh sẽ đóng trong mấy phim của Frank Sinatra và John Wayne hay mấy tay già bẩn phù phiếm, ham hố chiến tranh khác. Và chiến tranh sẽ trông thật tuyệt, nên chúng ta sẽ có thêm nhiều cuộc chiến nữa. Và ra trận sẽ là lũ con nít như mấy đứa trên lầu.”

Lúc đó tôi hiểu ra. Chính chiến tranh khiến cô giận dữ đến vậy. Cô không muốn con mình hay con bất kỳ ai phải chết trong chiến tranh. Và cô nghĩ rằng sách và phim phần nào cổ vũ cho chiến tranh.

Tôi bèn giơ bàn tay phải lên hứa với cô: “Mary này,” tôi nói, “Tôi nghĩ rằng cuốn sách của mình chẳng bao giờ xong đâu. Tôi đã viết chắc phải năm ngàn trang và đều quẳng tất đi rồi. Kể cả nếu xong được, tôi xin thề danh dự với chị: cuốn sách sẽ không có chỗ cho Frank Sinatra hay John Wayne.

“Chị biết không,” tôi nói, “tôi sẽ đặt tên cho cuốn sách là ‘Cuộc Thập tự chinh Con nít’.”

Sau đó cô trở thành bạn tôi.

O’Hare và tôi thôi không cố hồi tưởng nữa; chúng tôi vào phòng khách, chuyện trò về những đề tài khác. Chúng tôi bắt đầu tò mò về cuộc Thập Tự Chinh Con Nít thật sự, thành thử O’Hare tìm trong một cuốn sách mà cậu ta có, Những ảo tưởng cộng đồng quái đản và sự điên loạn của đám đông của Charles Mackay, Tiến sĩ Luật khoa. Sách in lần đầu ở London năm 1841.

Mackay coi thường tất cả các cuộc Thập tự chinh. Cuộc Thập tự chinh Con nít với ông chỉ kém đồi bại hơn một chút so với mười cuộc Thập tự chinh của người lớn. O’Hare đọc to đoạn văn đẹp đẽ này:

Những trang sử nghiêm trang cho chúng ta biết rằng những kẻ tham gia Thập tự chinh toàn là những kẻ ngu xuẩn và độc ác, động cơ của họ tuyệt đối mù quáng, con đường của họ đẫm máu và nước mắt. Tiểu thuyết hiệp sĩ, tuy thế lại xưng tụng lòng mộ đạo và chủ nghĩa anh hùng ở chúng, và khắc họa bằng những màu sắc lóng lánh và nồng nhiệt nhất đức hạnh và lòng hào hiệp của họ, vinh dự vĩnh cửu họ mang về cho bản thân, và những công lao vĩ đại họ dâng hiến cho Kitô giáo.

Kế đó O’Hare đọc đoạn này: Và giờ kết quả vĩ đại của tất cả những tranh đấu này là gì? Châu Âu tiêu tốn ức triệu của cải, máu của hai triệu người con; và một nhúm hiệp sĩ ưa gây gổ chiếm đóng Palestine trong khoảng một trăm năm!

Mackay kể rằng cuộc Thập tự chinh Con nít bắt đầu vào năm 1213, khi hai tu sĩ nảy ra cái ý tưởng lập ra những đội quân trẻ con ở Đức và Pháp rồi bán sang Bắc Phi làm nô lệ. Ba chục ngàn đứa trẻ tự nguyện tham gia, tưởng rằng chúng sẽ tới Palestine. Rõ ràng đó là những đứa trẻ lười nhác cù bơ cù bất, thường kết bè đảng trong các thành phố lớn, lớn lên bằng thói hư tật xấu cùng sự liều lĩnh, Mackay viết, và sẵn sàng làm bất cứ điều gì.

Giáo hoàng Innocent Đệ Tam cũng tưởng rằng bọn trẻ sẽ đi Palestine, và điều đó khiến ngài rộn ràng. “Những đứa trẻ này thức trong khi chúng ta ngủ!” ngài nói.

Hầu hết bọn trẻ được đưa lên tàu từ Marseilles, khoảng một nửa trong số đó chết đuối vì tàu đắm. Nửa còn lại tới được Bắc Phi, ở đó chúng bị bán.

Vì một nhầm lẫn mà một số đứa xuất hiện ở Genoa, ở đó không có chiếc tàu nô lệ nào chờ chúng cả. Chúng được những người hảo tâm ở đó cho ăn, cho ở, hỏi han, rồi được cho một ít tiền và nhiều lời khuyên rồi được gửi trở về nhà.

“Hoan hô những người hảo tâm thành Genoa,” Mary O’Hare nói.

Tối đó tôi ngủ trong phòng của một trong mấy đứa nhỏ. O’Hare để trên tủ đầu giường một cuốn sách cho tôi. Đó là cuốn Dresden, Lịch sử, Sân khấu và Phòng tranh của Mary Endell. Sách xuất bản năm 1908, có lời giới thiệu bắt đầu như sau:

Chúng tôi hy vọng rằng cuốn sách nhỏ này sẽ hữu ích. Cuốn sách này mong muốn mang đến cho công chúng độc giả Anh một cái nhìn toàn cảnh về sự hình thành của Dresden về mặt kiến trúc; cũng như về nền âm nhạc của thành phố, thông qua thiên tài của một vài con người, đạt đến sự phát triển rực rỡ hiện tại; cuốn sách kêu gọi sự quan tâm đến những cột mốc vĩnh cửu trong nghệ thuật khiến cho Bảo tàng Mỹ thuật của thành phố thành điểm đến cho những ai tìm kiếm những ấn tượng trường cửu.

Tôi đọc thêm một ít về lịch sử:

Bấy giờ vào năm 1760, Dresden bị người Phổ bao vây. Ngày 15 tháng Bảy, trận pháo kích bắt đầu. Bảo tàng Mỹ thuật bốc cháy. Nhiều bức tranh được chuyển đến Konigstein, nhưng một số bức đã bị các mảnh bom làm hư hại nặng nề, đáng kể nhất là bức “Lễ rửa tội của Kitô” của Francia. Thêm vào đó, tháp Thập Tự uy nghi, nơi ngày đêm canh phòng động tĩnh của kẻ thù, cũng hừng hực cháy. Tòa tháp sau đó đã sụp đổ. Trái ngược hoàn toàn với số phận bi thương của tháp Thập Tự, nhà thờ Đức Mẹ vẫn đứng sừng sững, bom của người Phổ bật ra như mưa từ mái vòm bằng đá. Cuối cùng Friederich buộc phải từ bỏ cuộc bao vây, bởi ông được tin Glatz, địa điểm then chốt trong các cuộc chinh phục mới của ông đã thất thủ. “Chúng ta phải tới Silesia, nếu không muốn mất hết tất cả.”

Những gì bị hủy diệt ở Dresden dường như vô hạn. Khi chàng sinh viên trẻ tuổi Goethe viếng thăm thành phố, chàng vẫn còn thấy những đổ nát buồn bã: “Từ trên mái vòm của nhà thờ Đức Mẹ tôi thấy đống đổ nát ghê tởm này được gieo vào giữa chốn đô thị quy củ tươi đẹp, trong lúc ông quản nhà thờ ngợi ca nghệ thuật của kiến trúc sư, người đã xây nên nhà thờ và mái vòm này thật vững chắc, chịu được cả bom đạn, để nó có thể chống chọi qua cái sự kiện không ai mong muốn ấy. Ông quản tốt bụng sau đó chỉ cho tôi thấy những đống đổ nát khắp xung quanh rồi trầm ngâm, ngắn gọn nói: Kẻ thù đã gây nên như thế!”[3]

Sáng hôm sau hai cô bé cùng tôi băng qua sông Delware nơi George Washington từng băng qua. Chúng tôi đến Hội chợ Thế giới New York, nhìn vào quá khứ qua công ty Xe hơi Ford và Walt Disney, và nhìn vào tương lai qua Công ty General Motors.

Và tôi tự hỏi mình về hiện tại: nó rộng chừng nào, nó sâu bao lăm, bao phần là của tôi mà giữ.

Mấy năm sau đó tôi dạy viết văn ở khóa học đình đám Workshop cho nhà văn ở Đại học Iowa. Tôi vướng vào dăm ba rắc rối ra trò, lại gỡ ra được. Tôi đi dạy vào các buổi chiều. Các buổi sáng, tôi viết. Tôi không muốn bị làm phiền. Tôi đang viết cuốn sách lẫy lừng của mình về Dresden.

Ở chỗ đó có một người dễ thương tên là Seymour Lawrence đã cho tôi bản hợp đồng viết ba cuốn sách, và tôi bảo, “Được thôi, cuốn đầu tiên trong ba cuốn sẽ là cuốn sách lẫy lừng của tôi về Dresden.”

Bạn bè của Seymour Lawrence gọi anh là “Sam”.

Và giờ tôi nói với Sam: “Sam, cuốn sách đây.”

Nó cụt lửn, lộn xộn và lộng óc, Sam ạ, bởi ta chẳng thể nói những lời tỉnh táo khôn ngoan về một cuộc thảm sát. Mọi người đúng ra đều chết, không bao giờ nói lời nào hay muốn bất cứ thứ gì nữa. Mọi thứ đúng ra đều phải rất yên ắng sau một trận thảm sát, và nó luôn luôn là như thế, ngoại trừ lũ chim.

Và lũ chim nói gì? Tất cả những điều phải nói về một trận thảm sát, những thứ như “Tu-tu-huýt?”

Tôi đã dặn các con trai của mình rằng dù trong bất kỳ tình huống nào chúng cũng không được tham gia các cuộc thảm sát, và chúng cũng không được thỏa mãn hay mừng rỡ trước tin tức về các cuộc thảm sát kẻ thù.

Tôi cũng bảo chúng không được làm việc cho các công ty sản xuất các cỗ máy thảm sát, và phải bày tỏ lòng khinh bỉ đối với những người nghĩ rằng chúng ta cần những thứ máy móc như thế.

Như đã nói: Gần đây tôi quay trở lại Dresden với bạn tôi, O’Hare. Chúng tôi có những trận cười ngặt nghẽo ở Hamburg, Tây Berlin, Đông Berlin, Vienna, Salzburg và ở Helsinki, cả ở Leningrad nữa. Điều đó rất có ích với tôi, vì tôi đã nhìn thấy rất nhiều thực tại xác thực sẽ là nền cho những truyện hư cấu sau này tôi sẽ viết. Một trong số chúng sẽ là “Phong cách Ba rốc Nga”, một truyện khác sẽ là “Cấm hôn”, và một truyện khác sẽ là “Quán rượu Đô la” và một truyện khác sẽ là “Nếu số phận cho phép” và vân vân.

Và vân vân.

Một tàu bay của hãng Lufthansa lẽ ra sẽ bay từ Philadelphia tới Boston rồi Frankfurt. O’Hare đúng ra sẽ đáp chuyến bay này ở Philadelphia và tôi đúng ra sẽ đáp máy bay ở Boston, rồi chúng tôi lên đường. Nhưng Boston trở sương mù dày đặc, nên máy bay bay thẳng từ Philadelphia đến Frankfurt. Thế là tôi trở thành một không-phải-người trong màn sương Boston; Lufthansa cho tôi lên một chiếc limousine cùng vài không-phải-người khác và đưa chúng tôi đến một nhà nghỉ để trải qua một không-phải-đêm.

Thời gian chẳng chịu trôi qua. Ai đó đang nghịch đồng hồ, không chỉ với đồng hồ điện mà cả đồng hồ cót. Cây kim thứ hai trên đồng hồ đeo tay của tôi nhích một cái và một năm trôi qua, rồi nó lại nhích lần nữa.

Tôi chẳng thể làm được gì. Là một sinh vật Trái đất, tôi phải tin bất cứ điều gì đồng hồ nói - và lịch nữa.

Tôi mang theo hai cuốn sách định để đọc trên máy bay. Một cuốn là Lời cho gió, của Theodore Roethke, trong đó tôi tìm thấy mấy dòng này:

Tôi tỉnh trong giấc ngủ, và tỉnh thật chậm rãi

Tôi cảm thấy số phận mình trong những điều tôi không thể sợ hãi.

Tôi học bằng cách đi tới những nơi tôi phải đi.

Cuốn kia là Céline và viễn kiến của ông của Erika Ostrovsky. Céline là một người lính Pháp dũng cảm trong Đệ nhất Thế chiến, cho tới khi ông bị nứt sọ. Sau đó ông không ngủ được nữa, lúc nào trong đầu ông cũng có tiếng ồn. Ông trở thành bác sĩ, chữa bệnh cho người nghèo vào ban ngày và viết những tiểu thuyết quái dị suốt đêm. Không thể tạo ra nghệ thuật nếu ta không khiêu vũ cùng cái chết, ông viết.

Sự thật chính là cái chết, ông viết. Tôi đã chiến đấu đầy tinh tế chống lại nó chừng nào còn có thể… khiêu vũ với nó, trang hoàng cho nó, nhảy điệu waltz với nó… trang trí cho nó bằng những dải băng, mơn trớn nó…

Thời gian ám ảnh ông. Ostrovsky nhắc tôi nhớ tới cảnh đáng kinh ngạc trong cuốn Chết chịu khi Céline muốn chặn lại sự huyên náo của đám đông ngoài đường. Ông gào thét trên trang giấy, Chặn họ lại… đừng để họ nhúc nhích… Đó đó, hãy bắt họ đứng im… một lần và mãi mãi!… Để họ không thể biến mất được nữa!

Tôi lướt qua cuốn Kinh Thánh Gideon trong phòng nhà nghỉ của mình để tìm chuyện kể về những trận đại hủy diệt. Tôi đọc thấy, Khi mặt trời mọc lên khỏi đất, thì Lót vào đến thành Xoa. Đoạn, Đức Giê-hô-va giáng mưa diêm sanh và lửa từ nơi Ngài trên trời sa xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hủy diệt hai thành nầy, cả đồng bằng, hết thảy dân sự cùng các cây cỏ ở nơi đất đó.

Đời là thế.

Trong hai thành phố toàn những kẻ đê hèn, ai mà chẳng biết. Thế giới sẽ tốt đẹp hơn khi không có họ.

Và vợ của Lót, dĩ nhiên, đã được dặn là đừng ngoảnh đầu nhìn lại nơi từng là dân chúng và nhà cửa. Nhưng nàng đã ngoảnh đầu lại, và tôi yêu nàng vì điều đó, bởi hành động ấy thật con người.

Thế là nàng bị biến thành tượng muối. Đời là thế.

Người ta lẽ ra đừng ngoảnh đầu lại. Tôi dĩ nhiên sẽ không làm điều ấy nữa.

Tôi đã hoàn thành cuốn sách về chiến tranh. Cuốn sách kế tiếp của tôi sẽ toàn chuyện vui.

Cuốn này là một thất bại, không còn cách nào khác, bởi lẽ nó được viết bởi một tượng muối. Nó bắt đầu thế này:

Nghe này:

Billy Pilgrim trôi dạt trong thời gian.

Nó kết thúc thế này:

Tu-tu-huýt?

❀ ❀ ❀

[1] Quart: đơn vị đo lường Mỹ, tương đương 1,1 lít.

[2] Trong nguyên tác câu này là tiếng Latin: Eheu, fugaces labuntur anni.

[3] Câu của Goethe được viết bằng tiếng Đức trong nguyên bản.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.