Lò Sát Sinh Số 5

Lượt đọc: 54 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHÍN

❊ ❊ ❊

Sau đây là chuyện Billy Pilgrim đã mất vợ mình, Valencia, như thế nào.

Ông nằm bất tỉnh trong bệnh viện ở Vermont, sau khi máy bay rơi trên dãy núi Sugarbush; nghe tin, Valencia lái chiếc Cadillac El Dorado Coupe de Ville của gia đình từ Ilium tới bệnh viện. Valencia bị kích động mạnh bởi người ta đã nói thẳng với nàng rằng Billy có thể chết, hoặc nếu không, thì có thể phải sống thực vật.

Valencia thương Billy lắm. Nàng khóc nức nở trong khi lái tới nỗi lỡ mất lối ra khỏi đường cao tốc. Nàng đạp phanh, và một chiếc Mercedes đâm sầm vào nàng từ phía sau. Không ai bị thương, ơn Chúa, vì cả hai tài xế đều thắt dây an toàn. Ơn Chúa, ơn Chúa. Chiếc Mercedes chỉ bị hỏng đèn pha. Nhưng đuôi của chiếc Cadillac thì đích thực là giấc mộng tình của một thợ sửa xe. Cốp và chắn bùn bánh xe bẹp rúm. Cái cốp toang hoác trông giống miệng của một gã ngốc nhà quê đang giải thích rằng mình không biết cái gì vào với cái gì. Các chắn bùn bánh xe rúm ró. Cản xe ghếch hẳn lên cao. Một miếng dán trên cản có dòng chữ “Bầu Reagan làm Tổng thống!”. Cửa sổ sau ngoằn ngoèo những vết rạn. Ông xả lăn lóc trên vỉa hè.

Tài xế chiếc Mercedes bước ra và đi tới chỗ Valencia để xem nàng có bị làm sao không. Nàng lảm nhảm đầy kích động về Billy và vụ tai nạn máy bay, và rồi nàng vào số, băng qua dải cỏ phân cách sang làn đối diện, bỏ lại ống xả.

Khi nàng tới bệnh viện, mọi người ùa ra cửa sổ để xem thử tiếng ồn từ đâu tới. Chiếc Cadillac, không còn cả hai ống giảm thanh, nghe như tiếng một máy bay đánh bom hạng nặng lảo đảo bay tới. Valencia tắt máy, nhưng nàng gục xuống tay lái, khiến còi xe rú lên không ngớt. Một bác sĩ và một y tá lao ra xem chuyện gì đã xảy ra. Nàng Valencia đáng thương đã bất tỉnh, do hít phải quá nhiều khí CO. Nàng tái xanh một màu thiên thanh.

Một giờ sau nàng qua đời. Đời là thế!

Billy không hay biết gì. Ông vẫn nằm mơ, du hành xuyên thời gian và cứ thế. Bệnh viện quá đông nên Billy không có phòng riêng. Ông nằm chung phòng với một giáo sư lịch sử trường Harvard tên là Bertram Copeland Rumfoord. Rumfoord không phải nhìn thấy Billy, vì Billy được vây quanh bởi những tấm chắn bằng vải lanh gắn những bánh xe cao su. Nhưng Rumfoord thỉnh thoảng lại nghe thấy Billy tự nói chuyện một mình.

Chân trái của Rumfoord đang được bó bột. Ông gãy chân khi trượt tuyết. Năm nay ông bảy mươi, nhưng có thân thể và tinh thần của người bằng nửa số tuổi. Ông đang đi hưởng tuần trăng mật với cô vợ thứ năm thì bị gãy chân. Cô vợ tên là Lily. Lily hai mươi ba tuổi.

Đúng vào lúc người ta tuyên bố Valencia đáng thương đã qua đời thì Lily bước vào phòng của Billy và Rumfoord với một chồng sách khệ nệ trên cánh tay. Rumfoord đã sai cô đi Boston để lấy những cuốn sách này. Ông đang soạn một cuốn sách về lịch sử của Lữ đoàn Không quân Hoa Kỳ trong Đệ nhị Thế chiến. Mấy cuốn sách này viết về những trận đánh bom và không chiến xảy ra thậm chí trước khi Lily chào đời.

“Các anh đi đi mặc tôi,” Billy Pilgrim nói mê sảng khi Lily xinh đẹp bước vào phòng. Cô là gái hộp đêm khi Rumfoord gặp cô và quyết tâm biến cô thành của riêng. Cô bỏ học nửa chừng cấp ba. Chỉ số IQ của cô là 103. “Ông ta làm em sợ,” cô thì thào với chồng về Billy Pilgrim.

“Hắn làm anh chán ngấy lên được,” Rumfoord ồm ồm đáp. “Tất cả những gì hắn làm trong khi ngủ là bỏ cuộc, đầu hàng, xin lỗi và xin được ở lại một mình.” Rumfoord là thiếu tướng đã về hưu của lực lượng Không quân Dự bị, Sử gia chính thức của Không quân, giáo sư, tác giả của hai mươi sáu cuốn sách, một triệu phú từ khi mới đẻ, và một trong những vận động viên đua thuyền buồm vĩ đại của mọi thời đại. Cuốn sách nổi tiếng nhất của ông là sách về tình dục và điền kinh chuyên sâu dành cho đàn ông tuổi trên sáu mươi lăm. Giờ đây ông trích dẫn Theodore Roosevelt, người mà ông có nhiều nét tương đồng:

“Anh gọt quả chuối cũng ra được thằng người khá hơn.”

Một trong những thứ Rumfoord bảo Lily lấy ở Boston là một bản sao thông cáo của tổng thống Harry S. Truman với thế giới rằng một quả bom nguyên tử đã được thả xuống Hiroshima. Cô có một bản sao trong tay và Rumfoord hỏi cô đã đọc chưa.

“Chưa.” Khả năng đọc của cô không tốt lắm, và đó là một trong những lý do cô bỏ học dở chừng cấp ba.

Rumfoord ra lệnh cho cô ngồi xuống và đọc ngay tuyên bố của Truman. Ông không biết rằng cô không đọc được mấy. Ông biết rất ít về cô, ngoại trừ cô là một bằng chứng công khai nữa cho việc ông là một siêu nhân.

Thành thử Lily ngồi xuống và giả vờ đọc bản tuyên bố của Truman, nội dung như sau:

Cách đây mười sáu tiếng đồng hồ một máy bay Hoa Kỳ đã thả một quả bom xuống Hiroshima, một căn cứ quan trọng của quân đội Nhật Bản. Quả bom này mạnh hơn 20.000 tấn TNT. Nó có sức nổ hơn gấp hai nghìn lần bom Grand Slam của Anh, quả bom lớn nhất từng được dùng trong lịch sử chiến tranh.

Người Nhật khơi mào chiến tranh từ trên không tại Trân Châu Cảng. Họ đã được đáp trả gấp nhiều lần. Và kết cục hãy còn chưa tới. Bằng quả bom này chúng ta đã tạo ra một bước tiến mới đầy tính cách mạng về khả năng hủy diệt để bổ sung cho sức mạnh ngày càng gia tăng của các lực lượng vũ trang của chúng ta. Những quả bom theo mẫu hiện tại đang dược sản xuất, và những mẫu bom mạnh mẽ hơn đang được phát triển.

Đây là một quả bom nguyên tử. Đây là sự tận dụng sức mạnh căn bản của vũ trụ. Thứ năng lượng cấp sức mạnh cho mặt trời đã được giội xuống những kẻ mang chiến tranh đến vùng Viễn Đông.

Trước năm 1939, các nhà khoa học nhìn chung tin rằng về mặt lý thuyết có thể giải phóng năng lượng nguyên tử. Nhưng không ai biết một phương pháp thực tiễn nào để làm được việc đó. Tuy nhiên, đến năm 1942, chúng ta biết rằng người Đức đang làm việc cật lực để tìm cách đưa năng lượng nguyên tử vào những cỗ máy chiến tranh mà nhờ vào đó họ hy vọng cai trị thế giới. Nhưng họ đã thất bại. Chúng ta biết ơn Thượng Đế rằng người Đức có được V-1 và V-2 muộn và với số lượng hạn chế và thậm chí còn biết ơn nhiều hơn khi họ hoàn toàn không có được bom nguyên tử.

Trận chiến giữa các phòng thí nghiệm nắm giữ các rủi ro mang tính định mệnh cho chúng ta chẳng khác gì các các trận chiến trên không, trên bộ, và trên biển, và bây giờ chúng ta đã chiến thắng trận đánh trong phòng thí nghiệm như chúng ta đã thắng các trận chiến khác.

Chúng ta giờ đây đã được trang bị đầy đủ để xóa sổ nhanh hơn và toàn diện hơn mọi xí nghiệp sản xuất mà người Nhật có trên mặt đất trong bất kỳ thành phố nào, Harry Truman nói. Chúng ta sẽ phá hủy các ụ tàu, nhà xưởng và phương tiện liên lạc của họ. Không còn hồ nghi gì nữa; chúng ta sẽ phá hủy hoàn toàn sức mạnh gây chiến của Nhật Bản. Đó là để giải phóng…

Và vân vân.

Một trong những cuốn sách Lily mang đến cho Rumfoord là Sự hủy diệt thành phố Dresden, của một tác giả người Anh tên là David Irving. Đó là ấn bản Mỹ, do nhà Holt, Rinehart và Winston ấn hành năm 1964. Cái Rumfoord cần trong cuốn này là vài đoạn trong lời giới thiệu chấp bút bởi các bạn ông Ira C. Eaker, trung tướng, Không lực Hoa Kỳ, đã về hưu, và Nguyên soái Không quân Anh quốc Ngài Robert Saundby, Huân chương Danh dự hạng Nhất, Huân chương Anh quốc hạng Nhất, Anh hùng Quân đội hạng Ba, Anh hùng Không quân hạng Ba, Huy chương Không lực Anh quốc.

Tôi thấy khó mà hiểu được những người Mỹ và người Anh khóc thương cho những thường dân phe địch bị giết nhưng lại không nhỏ giọt nước mắt nào cho những phi hành đoàn quả cảm của chúng ta đã hy sinh trong trận chiến với một quân thù độc ác, bạn ông, Tướng Eaker viết. Tôi nghĩ khi ông Irving vẽ ra bức tranh đáng sợ về những thường dân bị giết hại ở Dresden, hẳn sẽ tốt hơn nếu ông ấy cũng nhớ rằng tên lửa V-1 và V-2 cũng cùng lúc ấy rơi trên đất Anh, giết hại thường dân bất kể đàn ông, đàn bà, trẻ em, bởi chúng được thiết kế và phóng đi vì mục đích đó. Tốt hơn cũng nên nhớ tới Buchenwald và Coventry nữa.

Lời giới thiệu của Eaker kết thúc thế này:

Tôi muốn bày tỏ lòng tiếc thương sâu sắc rằng các máy bay đánh bom Mỹ và Anh đã giết 135.000 người trong trận tấn công Dresden, nhưng tôi nhớ ai là kẻ khơi mào cuộc chiến vừa qua và thậm chí tôi còn thương tiếc hơn 5.000.000 sinh mạng của Đồng minh đã mất đi trong nỗ lực cần thiết để đánh bại hoàn toàn và hủy diệt triệt để chủ nghĩa quốc xã.

Đời là thế.

Điều mà Nguyên soái Không quân Saundy nói, bên cạnh những nội dung khác, là:

Trận đánh bom Dresden là một thảm kịch lớn không thể chối cãi. Sau khi đọc cuốn sách này, sẽ ít người tin rằng đây là một hành động quân sự cần thiết. Đó là một trong những thứ khủng khiếp đôi khi xảy ra trong thời chiến, gây ra bởi những điều kiện gặp gỡ nhau trong một kết hợp tồi tệ. Những người phê duyệt cuộc tấn công này không hề độc ác hay tàn nhẫn, dẫu có thể là họ đã ở quá xa so với hiện thực khắc nghiệt của chiến tranh để hiểu đầy đủ sức mạnh hủy diệt kinh khiếp của trận không tạc vào mùa xuân năm 1945.

Những người, ủng hộ giải trừ vũ khí hạt nhân dường như tin rằng, nếu họ đạt được mục đích của mình, chiến tranh sẽ trở nên tử tế và dễ thể tất hơn. Họ nên đọc cuốn sách này và cân nhắc số mệnh của Dresden, nơi 135.000 người chết vì một trận không tạc bằng vũ khí truyền thống. Vào đêm 9 tháng Ba năm 1945, một trận không tạc Tokyo bằng máy bay đánh bom hạng nặng của Mỹ, dùng bom cháy và bom công phá đã gây ra cái chết cho 83.793 người. Quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima giết chết 71.379 người.

Đời là thế.

“Nếu có khi nào ghé qua Cody, bang Wyoming,” Billy Pilgrim nói sau bức màn trắng, “cứ hỏi thăm Bob Hoang.”

Lily Rumfoord rùng mình, tiếp tục giả vờ đọc bài của Harry Truman.

Chiều muộn ngày hôm đó, Barbara con gái của Billy tới. Cô hoàn toàn ngây ngây, trông mụ mị y chang ông già Edgar Derby đáng thương trước khi ông bị bắn ở Dresden. Bác sĩ đã kê thuốc cho cô để cô có thể tiếp tục hoạt động, mặc dù cha cô hôn mê và mẹ cô đã mất.

Đời là thế.

Tháp tùng cô là một bác sĩ và một y tá. Em trai cô, Robert, đang bay về từ một chiến trường ở Việt Nam. “Bố ơi,” cô khẽ gọi. “Bố?”

Nhưng Billy đang cách lúc đó mười năm, trở về năm 1958, đang khám mắt cho một cậu ngốc người Mông Cổ để kê tròng kính. Mẹ của thằng ngốc ở đó, đóng vai người phiên dịch.

“Cháu thấy bao nhiêu chấm?” Billy Pilgrim hỏi cậu bé.

Và rồi Billy du hành xuyên thời gian về thời điểm khi anh mười sáu tuổi, trong phòng chờ của một bác sĩ. Ngón tay cái của Billy bị nhiễm trùng. Chỉ có một bệnh nhân khác đang chờ, một ông già khú đế. Ông già khổ sở vì đầy hơi. Ông đánh rắm dữ dội, và rồi ông ợ.

“Xin lỗi,” ông nói với Billy. Rồi ông tiếp tục. “Ôi Chúa ơi…” ông nói, “mình đã biết là già thì tệ lắm.” Ông lắc đầu. “Mình chỉ không biết nó sẽ tệ thế này.”

Billy Pilgrim mở mắt trong bệnh viện ở Vermont, không biết mình đang ở đâu. Đang canh chừng ông là Robert, con trai ông. Robert mặc bộ đồng phục Mũ nồi Xanh nổi tiếng. Robert cắt tóc cao, màu lúa mì. Cậu trông sạch sẽ, gọn gàng. Cậu đeo một mề đay Trái tim Tím, một Ngôi sao Bạc và một Ngôi sao Đồng có hai lá sồi.[1]

Đây là một cậu trai từng bị đuổi khỏi trường trung học, nghiện rượu năm mười sáu tuổi, từng kết bè với một đám nhóc hư hỏng, từng bị bắt vì đã xô đổ hàng trăm bia mộ trong một nghĩa trang Công giáo. Bây giờ cậu ta đã đàng hoàng hẳn ra. Tư thế cậu thật tuyệt vời, giày cậu bóng loáng, quần là thẳng nếp, vả lại cậu còn là chỉ huy nữa.

“Bố?”

Billy Pilgrim lại nhắm mắt.

Billy không dự được đám tang vợ vì còn quá yếu. Mặc dù vậy ông vẫn tỉnh táo trong lúc Valencia được đưa vào lòng đất ở Ilium. Billy đã không nói gì nhiều từ khi hồi tỉnh, cũng không phản ứng rõ nét lắm đối với tin Valencia chết và tin Robert từ chiến trường trở về nhà và vân vân, thành thử nói chung mọi người tin rằng ông sống thực vật. Sau đấy mọi người còn bàn đến chuyện phẫu thuật cho ông, hòng cải thiện lưu thông máu lên não.

Thật ra, tình trạng vật vờ bên ngoài của Billy là một tấm màn. Sự vật vờ này che giấu một đầu óc đang phập phồng, lấp lóe đầy hào hứng. Đầu óc ấy đang chuẩn bị những bức thư và bài giảng về đĩa bay, về sự tầm thường của cái chết, và bản chất thực sự của thời gian.

Giáo sư Rumfoord nói những điều đáng sợ về Billy trong tầm Billy có thể nghe được, bởi ông chắc mẩm Billy đã chết não hoàn toàn rồi. “Sao người ta không để hắn chết cho rồi?” ông ta hỏi Lily.

“Em không biết,” cô nói.

“Đó có còn là con người nữa đâu. Bác sĩ là dành cho con người. Họ nên giao hắn cho bác sĩ thú y hay chuyên gia chăm sóc cây. Họ sẽ biết phải làm gì với hắn. Trông hắn kìa! Đó là sự sống theo y khoa ư. Chẳng phải sự sống tuyệt vời lắm sao?”

“Em nào biết,” Lily nói.

Rumfoord có lần đã nói với Lily về trận đánh bom Dresden, và Billy đã nghe thấy tất cả. Rumfoord có một vấn đề về Dresden. Cuốn sách lịch sử một tập của ông về Không quân trong Đệ nhị Thế chiến được coi là phần rút gọn dễ đọc của bộ hai mươi bảy tập Lịch sử chính thức của Không quân trong Đệ nhị Thế chiến. Tuy nhiên, vấn đề là, gần như không có chi tiết nào nói về trận ném bom Dresden trong hai mươi bảy tập sách đó, mặc dù đó là một thành công vang dội. Mức độ thành công được giữ kín trong nhiều năm sau chiến tranh - một bí mật đối với nhân dân Mỹ. Dĩ nhiên, đó không phải là bí mật đối với người Đức, hay đối với người Nga, những người chiếm đóng Dresden sau chiến tranh, bây giờ vẫn còn ở đó.

“Người Mỹ rốt cuộc đã nghe về Dresden,” Rumfoord nói, hai mươi ba năm sau trận oanh tạc. “Nhiều người trong số họ biết vụ này tồi tệ hơn Hiroshima chừng nào. Vì vậy anh phải viết gì đó về trận này trong sách của anh. Từ lập trường chính thống của Không lực, đây sẽ là điều hoàn toàn mới mẻ.”

“Vì sao họ giữ bí mật về nó lâu đến thế?” Lily hỏi.

“Vì họ sợ rằng nhiều trái tim rỉ máu,” Rumfoord nói, “có thể không cho rằng đó là một việc đáng làm.”

Chính lúc này Billy Pilgrim lên tiếng đầy tỉnh táo. “Tôi đã ở đó,” ông nói.

Thật khó để Rumfoordnghiêm túc quan tâm đến Billy, vì Rumfoord bấy lâu nay vẫn coi Billy là một kẻ không ra người, một kẻ đáng tởm, chết đi thì tốt hơn. Giờ đây, khi Billy nói một cách rõ ràng và vào đứng vấn đề, tai của Rumfoord muốn coi những lời nói đó như là một ngoại ngữ không đáng học. “Hắn nói cái gì?” Rumfoord nói.

Lily phải làm người phiên dịch. “Ông ta nói ông ta đã ở đó,” cô giải thích.

“Ông ta đã ở đâu?”

“Em không biết,” Lily nói. “Ông đã ở đâu?” cô hỏi Billy.

“Dresden,” Billy nói.

“Dresden,” Lily bảo Rumfoord.

“Hắn chỉ đơn giản lặp lại những điều ta nói,” Rumfoord nói.

“Ồ,” Lily nói.

“Hắn mắc phải hội chứng lặp lại.”

“Ồ.”

Hội chứng lặp lại là một căn bệnh tâm thần khiến cho người ta lập tức nhắc lại những gì những người quanh họ nói. Nhưng Billy không mắc chứng này. Chẳng qua Rumfoord tự trấn an mình nên khăng khăng Billy bị bệnh. Rumfoord nghĩ theo lối quân đội: rằng một con người phiền phức, một kẻ mà vì những lý do rất thực tiễn ông ta chỉ mong chết luôn đi, giờ đang phải gánh chịu một căn bệnh ghê gớm.

Rumfoord tiếp tục khăng khăng nhiều tiếng đồng hồ rằng Billy mắc chứng lặp lại - ông ta bảo các bác sĩ và y tá rằng Billy đã mắc chứng này. Người ta thực hiện một số thử nghiệm với Billy. Các bác sĩ và y tá cố gắng bắt Billy lặp lại một điều gì đó, nhưng Billy chẳng phát ra âm thanh nào cho họ.

“Bây giờ hắn không làm đâu,” Rumfoord cáu bẳn nói. “Các ông bà vừa đi là hắn lại bắt đầu liền.”

Không ai nghiêm túc để tâm đến chẩn đoán của Rumfoord. Các nhân viên cho rằng Rumfoord là một lão già đáng ghét, tự phụ và độc ác. Ông ta thường nói với họ, bằng cách này hay cách khác, là những người nào yếu ớt quá thì chết cũng đáng. Trong khi đó, các nhân viên y tế dĩ nhiên là tận tụy với ý tưởng rằng người yếu cần được giúp đỡ càng nhiều càng tốt, rằng không ai đáng phải chết cả.

Ở đó trong bệnh viện, Billy đang làm một hành động táo bạo rất phổ biến nơi những người không có sức mạnh trong thời chiến: ông đang cố chứng minh cho một kẻ thù cố ý mù và điếc rằng nhìn và nghe ông cũng khá thú vị. Ông giữ im lặng đến tối, khi đèn tắt hết, và rồi, sau một quãng dài im lặng không có gì để lặp lại, ông nói với Rumfoord, “Tôi đã ở Dresden khi thành phố bị đánh bom. Tôi là tù binh.”

Rumfoord thở dài khó chịu.

“Tôi thề danh dự đấy,” Billy Pilgrim nói. “Ông có tin tôi không?”

“Bây giờ chúng ta phải nói về chuyện này à?” Rumfoord nói. Ông ta đã nghe thấy. Ông ta không tin.

“Chúng ta không nhất thiết phải nói về chuyện đó,” Billy nói. “Tôi chỉ muốn ông biết: tôi đã ở đó.”

Đêm đó Dresden không được nhắc tới thêm lần nào nữa, và Billy nhắm mắt lại, đi xuyên thời gian tới một chiều tháng Năm, hai ngày sau khi Đệ nhị Thế chiến kết thúc ở châu Âu. Billy và năm tù binh Mỹ khác đang cưỡi trên một cỗ xe màu xanh lá hình quan tài, được họ tìm thấy chỏng chơ cùng hai con ngựa ở một vùng ngoại ô của Dresden. Họ đang được mấy con ngựa cọc cạch kéo đi trên những con đường hẹp đã được dọn quang xuyên qua những đống đổ nát hoang tàn như Mặt trăng. Họ quay về lò sát sinh để tìm vài thứ làm kỷ niệm cuộc chiến. Âm thanh khiến Billy nhớ về tiếng ngựa của những người giao sữa sáng sớm ở Ilium, khi anh còn nhỏ.

Billy ngồi ở phía sau của cỗ quan tài lóc xóc. Đầu anh ngả ra sau, mũi nở ra. Anh vui sướng. Anh ấm áp. Trong cỗ xe có thức ăn, có cả rượu vang - và một chiếc máy ảnh, một bộ sưu tập tem, một con cú nhồi bông, một đồng hồ loại đặt trên lò sưởi chạy nhờ vào thay đổi áp suất không khí. Đám tù binh Mỹ đã vào những căn nhà trống không ở ngoại ô nơi họ từng bị giam, và họ đã lấy được những thứ trên xe và nhiều thứ khác.

Chủ nhân các ngôi nhà đã bỏ trốn khi nghe tin người Nga sẽ đến, sẽ giết, cướp, hiếp, đốt trụi tất cả.

Nhưng người Nga vẫn chưa đến, ngay cả khi đã hai ngày sau khi chiến tranh kết thúc. Không khí trong đống đổ nát thật yên bình. Billy chỉ nhìn thấy một người khác trên đường tới lò sát sinh. Đó là một ông già đẩy một chiếc xe nôi em bé. Trong xe là hũ, ly và một cái khung dù, và những thứ khác mà ông ta tìm thấy.

Billy ở lại trong xe phơi nắng khi xe tới lò sát sinh. Những người khác đi tìm đồ lưu niệm. Sau này, người Tralfamadore sẽ khuyên Billy tập trung vào những giây phút hạnh phúc trong đời, và bỏ qua những thời khắc bất hạnh - hãy chỉ nhìn vào những thứ đẹp đẽ bởi lẽ sự sống đời đời sẽ chẳng bao giờ đến. Nếu Billy có thể kén chọn như vậy, hẳn anh sẽ chọn thời khắc hạnh phúc nhất của anh là khi nằm lim dim phơi nắng trong thùng kéo của cỗ xe.

Trong khi lơ mơ ngủ Billy Pilgrim được các bạn mình nhét vũ khí vào tay. Đó là lần đầu tiên anh được vũ trang kể từ đợt huấn luyện căn bản. Các bạn đồng hành khăng khăng bắt anh phải trang bị vũ khí cho bản thân, vì nào ai biết được những sát thủ loại nào có thể đang ẩn núp dưới bề mặt Mặt trăng - chó hoang, hàng đàn chuột béo ra nhờ ăn xác chết, những kẻ điên và sát nhân đào tẩu, những tên lính sẽ không ngừng giết chóc chừng nào bản thân chưa bị giết.

Billy giắt một khẩu súng lục hoành tráng nơi thắt lưng. Đó là một di vật của Đệ nhất Thế chiến. Có một chiếc khoen dưới đế tay cầm. Nó được nạp đầy những viên đạn cỡ bằng trứng chim cổ đỏ. Billy đã tìm thấy nó trong chiếc tủ đầu giường trong một ngôi nhà. Kết thúc một cuộc chiến là như thế đó: bất kỳ ai muốn có vũ khí cũng sẽ kiếm được một món. Chúng vương vãi khắp nơi. Billy còn có một thanh gươm. Đó là một thanh gươm nghi thức Luftwaffe. Phần đốc gươm có chạm hình một con đại bàng đang gào thét. Con đại bàng mang một chữ thập ngoặc và nhìn xuống. Billy thấy nó mắc vào một trụ điện thoại. Anh kéo nó ra khỏi trụ khi cỗ xe đi ngang.

Anh giờ đã hơi tỉnh hơn khi nghe tiếng một người đàn ông và một người đàn bà nói tiếng Đức bằng giọng đầy xót xa. Hai người đang thống thiết bày tỏ xót thương với một người nào đó. Trước khi mở mắt ra, Billy thấy như thể những giọng điệu ấy hẳn cũng chính là giọng điệu của bạn bè Chúa Giêsu khi họ đưa thân thể tàn tạ của Ngài xuống từ Thập tự. Đời là thế.

Billy mở mắt. Một người đàn ông trung niên và vợ đang hát vỗ về mấy con ngựa. Họ đang nhìn vào thứ đám người Mỹ đã không nhìn thấy - mõm ngựa đang chảy máu, bị cắt sâu, móng chúng bị vỡ, nên mỗi bước đi là mỗi đau đớn khôn cùng, và bọn ngựa đang phát điên vì khát. Người Mỹ đã đối xử với phương tiện của họ cứ như nó không có tri giác hơn tí nào so với một chiếc Chevrolet sáu xi lanh.

Hai con người xót ngựa ấy đi ngược lại dọc theo cỗ xe tới chỗ họ có thể nhìn Billy với vẻ trách mắng kẻ cả - nhìn Billy Pilgrim, người ngợm dài nhằng và yếu ớt, trông thật nực cười trong chiếc áo tô ga thiên thanh và đôi ủng bạc. Họ không sợ anh. Họ là bác sĩ, cả hai đều là bác sĩ sản khoa. Họ đã giúp các em bé chào đời cho đến khi các bệnh viện bị đốt rụi. Họ đang thang lang gần nơi từng là căn hộ của họ.

Người phụ nữ đẹp dịu dàng, nhợt nhạt vì ăn khoai tây một thời gian quá dài. Người đàn ông vận com lê đi làm, thắt cà vạt. Khoai tây làm ông hốc hác. Ông cao cỡ Billy, mang kính ba tròng gọng thép. Đôi vợ chồng này, bởi đã dành hết tâm trí cho trẻ em, nên tự họ chưa bao giờ sinh ra trẻ em, dù họ hoàn toàn có thể. Thật là một bình luận thú vị về toàn bộ ý niệm sinh sản.

Hai người có thể nói tổng cộng chín thứ tiếng. Họ thử nói tiếng Ba Lan với Billy trước, bởi anh ăn mặc quá giống hề, bởi những người Ba Lan khốn khổ đã bị bắt phải trở thành những anh hề của Đệ nhị Thế chiến.

Billy hỏi họ bằng tiếng Anh rằng họ cần gì, và ngay lập tức họ mắng anh bằng tiếng Anh về tình trạng của mấy con ngựa. Họ bắt Billy ra khỏi thùng xe và đi xem mấy con ngựa. Khi thấy tình trạng phương tiện của mình, Billy khóc nấc. Anh chưa từng rơi nước mắt về bất cứ thứ gì khác trong chiến tranh.

Về sau này, khi đã là một bác sĩ chăm sóc thị lực trung niên, có đôi lần anh khóc lặng lẽ một mình, nhưng không bao giờ tạo ra những tiếng sụt sùi rền rĩ.

Đó là lý do tại sao đề từ của cuốn sách này là bốn câu từ bài ca Giáng sinh nổi tiếng. Billy rất ít khóc, tuy anh thường chứng kiến những thứ đáng để khóc, và về khía cạnh đó, ít ra, anh giống như Đức Kitô trong bài ca mừng:

Ậm ọe trâu bò kêu

Làm Em Bé thức giấc

Nhưng Đức Giêsu nhỏ

Không hề lên tiếng khóc.

Billy đi xuyên thời gian trở về bệnh viện ở Vermont. Bữa sáng đã kết thúc và đã được dọn đi, còn giáo sư Rumfoord bắt đầu miễn cưỡng quan tâm tới Billy với tư cách một con người. Rumfoord thẩm vấn Billy đầy thô lỗ, cảm thấy hài lòng khi biết đúng là Billy đã có mặt ở Dresden. Ông ta hỏi Billy khi đó mọi thứ trông thế nào, và Billy kể cho ông ta về những con ngựa và cặp đôi đi bộ trên Mặt trăng.

Câu chuyện kết thúc như thế này: Billy và các bác sĩ tháo cương cho mấy con ngựa, nhưng chúng không đi. Chân của chúng quá đau. Và rồi người Nga đi xe mô tô tới, họ bắt tất cả trừ lũ ngựa.

Hai ngày sau đó, Billy được bàn giao cho người Mỹ, rồi được đưa về nhà trên chuyến tàu hàng rất chậm tên là Lucretia A. Mott. Lucretia A. Mott là một phụ nữ Mỹ đấu tranh vì quyền bầu cử nổi tiếng. Bà đã mất. Đời là thế.

“Cần phải làm việc đó,” Rumfoord bảo Billy, khi nói về vụ phá hủy Dresden.

“Tôi biết,” Billy nói

“Chiến tranh là vậy.”

“Tôi biết. Tôi không than phiền.”

“Ắt hẳn đó là địa ngục trần gian.”

“Đúng thế,” Billy Pilgrim nói.

“Tôi thấy thương mấy người phải làm việc đó.”

“Tôi cũng vậy.”

“Khi ở trên mặt đất, ắt anh phải có cảm xúc lẫn lộn.”

“Chuyện đó bình thường,” Billy Pilrgirm nói. “Mọi thứ đều bình thường, và mọi người phải làm chính xác điều họ làm. Tôi học được điều này trên Tralfamadore.”

Con gái của Billy Pilgrim đưa ông về nhà ngay ngày hôm đó, đưa ông vào giường, bật tấm đệm Magic Fingers lên. Ở đó còn có một hộ lý. Billy không được làm việc hay ra khỏi nhà ít nhất trong một thời gian. Ông đang được theo dõi.

Nhưng Billy lẻn ra khỏi nhà khi cô giúp việc không để ý, và ông lái xe thẳng tới thành phố New York, ở đó ông hy vọng sẽ được xuất hiện trên truyền hình. Ông dự định nói cho cả thế giới biết về những bài học từ Tralfamadore.

Billy Pilgrim nhận phòng ở khách sạn Royalton trên đường Bốn Mươi Tư ở New York. Tình cờ ông được giao căn phòng từng là nơi trú ngụ của George Jean Nathan, nhà phê bình và biên tập viên. Nathan, theo ý niệm về thời gian của người Trái đất, đã chết từ năm 1958. Theo ý niệm của người Tralfamadore, tất nhiên Nathan vẫn còn sống đâu đó và luôn luôn như thế.

Căn phòng nhỏ và giản dị, ngoại trừ việc nó nằm trên tầng trên cùng, có cửa kiểu Pháp mở ra một khoảnh sân to không kém căn phòng. Bên kia bức tường thấp của khoảnh sân chính là khoảng không phía trên đường Bốn Mươi Tư. Billy tì người trên bức tường, nhìn xuống tất cả những người đi lại lộn xộn đủ hướng. Họ là những chiếc kéo nhỏ lục cục. Họ là một tấn trò vui.

Đêm đó trời lành lạnh, nên một lát sau Billy trở vào phòng, đóng những cánh cửa kiểu Pháp lại. Đóng những cánh cửa ấy làm ông nhớ lại tuần trăng mật của mình. Từng có những cánh cửa kiểu Pháp ở cái tổ ấm tình yêu ở mũi Ann trong chuyến trăng mật của ông, chúng vẫn còn đó, sẽ luôn luôn còn đó.

Billy bật ti vi, bấm nút chọn kênh liên tục. Ông định tìm những chương trình có thể cho phép ông xuất hiện. Nhưng chỉ mới đầu giờ tối nên hãy còn quá sớm để tìm những chương trình cho phép những người có ý kiến kỳ lạ được lên tiếng. Chỉ mới sau tám giờ một chút, nên tất cả chương trình đều nói về mấy thứ ngớ ngẩn hay giết người. Đời là thế.

Billy ra khỏi phòng, đi xuống bằng cái thang máy chậm, đi bộ đến quảng trường Thời đại, ngó vào cửa sổ một tiệm sách lòe loẹt. Bên trong là hàng trăm cuốn sách về làm tình, trộm cắp và giết người, một bản hướng dẫn đi lại trong thành phố New York, và một mô hình Nữ thần Tự do kèm một cái nhiệt kế trên đó. Cũng bên trong cửa sổ, lốm đốm bồ hóng và cứt ruồi, là bốn cuốn tiểu thuyết bìa mềm của bạn Billy, Kilgore Trout.

Trong khi đó, tin tức trong ngày đang được viết trên một dải băng bằng ánh sáng trên một tòa nhà phía sau lưng Billy. Cửa kính hiệu sách đang phản ánh lại tin tức. Đó là những tin về quyền lực, thể thao, sự giận dữ và chết chóc. Đời là thế.

Billy bước vào bên trong tiệm sách.

Trong đó có một tấm bảng ghi rằng chỉ người lớn mới được đi vào khu phía sau. Trong khu phía sau có dịch vụ xem phim kín[2] chiếu những bộ phim về các cô gái và chàng trai trẻ không mặc quần áo. Mất hai mươi lăm xu để nhìn vào máy chiếu một phút. Ở đó cũng bán ảnh những người trẻ tuổi trần truồng. Ta có thể mua những bức ảnh ấy về nhà. Các bức ảnh chụp mang chất Tralfamadore nhiều hơn phim, bởi ta có thể xem ảnh bất cứ lúc nào ta muốn, và chúng không mảy may thay đổi. Hai mươi năm nữa, các cô gái ấy vẫn trẻ trung, vẫn mỉm cười hay giận dữ hay chỉ đơn giản là trông thật ngu xuẩn, với cặp chân giạng rộng. Vài người trong bọn họ ngậm kẹo hay ăn chuối. Họ sẽ vẫn ăn những món ấy. Và chim của các chàng trai trẻ vẫn sẽ hơi cương, cơ bắp họ sẽ dồn lên như đạn đại bác.

Nhưng Billy không bị khu phía sau tiệm sách đánh lừa. Ông rộn ràng vì những cuốn tiểu thuyết của Kilgore Trout ở khu phía trước. Các tựa sách đều mới với ông, hoặc đấy là ông nghĩ vậy. Ông mở một cuốn ra. Dường như làm như vậy thì không sao. Tất cả những người khác trong tiệm sách cũng đang mần mò đủ thứ. Tên cuốn sách là Tấm bảng lớn. Ông đọc vài đoạn, và chợt nhận ra mình từng đọc cuốn này cách đây nhiều năm, trong bệnh viện cựu chiến binh. Chuyện kể về một người nam và một người nữ Trái đất bị bắt cóc bởi những người ngoài Trái đất. Họ bị đưa ra triển lãm trong một sở thú trên một hành tinh tên là Zircon-212.

Những con người giả tưởng trong sở thú này có một tấm bảng lớn vờ hiển thị giá cả thị trường chứng khoán và vật giá dọc theo một bức tường nơi cư trú của họ, và một dòng tin bên dưới, và một điện thoại giả vờ kết nối với một nhà môi giới trên Trái đất. Các sinh vật trên Zircon-212 bảo những kẻ bị cầm tù rằng đã đầu tư một triệu đô la cho họ trên Trái đất, và những kẻ bị cầm tù quản lý khoản đầu tư thế nào thì tùy, sao cho họ có thể giàu nứt khi quay về Trái đất.

Điện thoại, tấm bảng, và dòng tin đều giả, dĩ nhiên. Chúng đơn giản là những đồ giả lập để khiến cho người Trái đất biểu diễn sinh động trước đám khán giả ở sở thú - để khiến họ đứng ngồi không yên và reo hò, hay hỉ hả, hay hờn dỗi, hay vò đầu bứt tai, hay sợ vãi phân hay cảm thấy mãn nguyện như em bé trong vòng tay mẹ.

Người Trái đất làm rất tốt trên giấy tờ. Đó là một phần của trò lừa đảo, dĩ nhiên. Và tôn giáo cũng bị trộn lẫn trong đó. Dòng tin nhắc họ rằng Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã tuyên bố Tuần lễ Cầu nguyện quốc gia, và tất cả mọi người đều phải cầu nguyện. Người Trái đất đã có một tuần tồi tệ trên thị trường trước đó. Họ đã mất một khoản nhỏ khi đầu tư giá dầu ô liu tương lai. Thế là họ cầu nguyện thử.

Thật hiệu quả. Giá dầu ô liu tăng vọt.

Một cuốn sách khác của Kilgore Trout ở kia trong khung cửa sổ kể về một người chế tạo một cỗ máy thời gian để ông ta có thể đi ngược về gặp Chúa Giêsu. Máy hoạt động, và thế là ông ta gặp Giêsu khi Giêsu mới mười hai tuổi. Giêsu đang học nghề mộc với cha mình.

Hai người lính La Mã bước vào tiệm mang theo một bản vẽ trên giấy cói một thiết bị mà họ muốn dựng trước khi mặt trời mọc sáng hôm sau. Đó là một thập tự dùng trong việc hành hình một tên kích động quần chúng.

Giêsu cùng cha đóng cây thập tự. Họ mừng vì có việc để làm. Và kẻ kích động bị hành hình trên đó.

Đời là thế.

Tiệm sách được điều hành bởi năm người dường như là anh em sinh năm, năm người đàn ông lùn và hói nhai xì gà không châm ướt mèm. Họ không bao giờ mỉm cười, mỗi người vắt vẻo trên một chiếc ghế đẩu. Họ kiếm tiền bằng cách điều hành một nhà thổ bằng giấy và xe lu lô. Họ không cương. Billy cũng vậy. Tất cả những người khác thì có. Đó là một cửa tiệm nực cười, tất cả đều là về tình yêu và em bé.

Thỉnh thoảng các nhân viên bán hàng lại bảo ai đó không mua thì biến, đừng chỉ có săm săm, soi soi, sờ sờ, soạng soạng. Vài người nghía nhau thay vì ngắm đồ.

Một nhân viên tiến lại chỗ Billy, bảo ông các thứ hay ho nằm ở khu phía sau, rằng mấy cuốn sách Billy đang đọc chỉ là đồ trang trí cửa sổ mà thôi. “Thề có Chúa lòng lành, đó không phải là thứ ông cần,” anh ta bảo Billy. “Thứ ông cần ở phía sau kia.”

Thành ra Billy nhích một chút ra phía sau, nhưng chưa tới khu dành cho người lớn. Ông nhích tới vì phép lịch thiệp vô thức, mang theo một cuốn sách của Trout - chính là cuốn về Giêsu và cỗ máy thời gian.

Người đi xuyên thời gian trong cuốn sách đi về tận thời của Kinh Thánh để tìm hiểu tường tận một điều: Chúa Giêsu có thực đã chết trên thánh giá, hay liệu ngài được đưa xuống khi vẫn còn sống, liệu ngài có tiếp tục cuộc sống của mình không. Nhân vật chính mang theo mình một ống nghe.

Billy nhảy cóc tới đoạn kết cuốn sách, khi nhân vật chính trà trộn vào những người đưa Chúa Giêsu từ thánh giá xuống. Người đi xuyên thời gian là người đầu tiên leo lên thang, với trang phục thời kỳ đó, và anh ta tì sát vào người Giêsu để người ta không nhìn thấy anh sử dụng ống nghe, và anh cố lắng nghe.

Không có một thanh âm nào trong ổ ngực héo hon. Đứa con trai của Thượng Đế đã chết tự khi nào.

Đời là thế.

Người đi xuyên thời gian, tên là Lance Corwin, cũng xoay xở đo được chiều dài của Giêsu, nhưng không cân ngài được. Giêsu dài một trăm sáu mốt phẩy hai mươi lăm xăng ti mét.

Một nhân viên khác tiến lại Billy hỏi ông có mua cuốn sách hay không, Billy nói ông muốn mua. Ông đang quay lưng về phía một kệ sách bìa mềm về chủ đề quan hệ bằng miệng từ thời Ai Cập cổ đại cho tới nay và vân vân, và nhân viên bán hàng tưởng rằng Billy đang đọc một trong những cuốn này. Thế nên anh ta ngỡ ngàng khi thấy cuốn sách của Billy. Anh ta nói, “Ôi Chúa ơi, ông tìm đâu ra cái này?” và vân vân, và anh ta phải kể cho các nhân viên khác về gã lập dị muốn mua cái thứ trang trí cửa sổ. Các nhân viên khác đã biết về Billy rồi. Họ cũng đang theo dõi ông.

Quầy thu ngân mà Billy đang chờ thối tiền ở gần một thùng tạp chí khiêu dâm cũ. Billy đưa mắt liếc, thấy câu hỏi này trên bìa. Thực sự điều gì đã xảy ra với Montana Wildhack?

Billy bèn đọc. Dĩ nhiên ông biết Montana Wildhack thực sự đang ở đâu. Nàng vẫn ở trên Tralfamadore, chăm sóc đứa bé, thế mà tờ tạp chí, có tên là Lũ mèo cái nửa đêm, cam đoan rằng nàng đang mặc một chiếc áo choàng xi măng dưới ba mươi sải nước biển ở vịnh San Pedro.

Đời là thế.

Billy muốn phá ra cười. Tờ tạp chí vốn bán cho đám đàn ông cô đơn cần thứ để quay tay này đưa chuyện để có thể đăng những bức ảnh lấy từ những bộ phim cấp ba Montana từng đóng hồi còn thanh niên. Billy không xem kỹ những bức ảnh. Chúng đầy sạn nhiễu và những vết đen trắng. Người trong ảnh có thể là bất kỳ ai.

Billy lại được chỉ tới khu phía sau cửa tiệm, lần này ông đi vào đó. Một thủy thủ chán ngấy rời khỏi một máy chiếu phim khi phim hãy còn chạy. Billy nhòm vào, thấy

Montana Wildhack một mình trên giường, đang bóc một quả chuối. Cuốn phim chớp tắt. Billy không muốn xem phần kế tiếp, và một nhân viên bán hàng gạ ông lại xem đôi ba thứ thật sự nóng bỏng họ cất dưới quầy dành riêng cho dân sành sỏi.

Billy hơi tò mò liệu người ta có thể giấu cái gì trong một chỗ như thế. Nhân viên liếc mắc dâm đãng và chỉ cho ông. Đó là tấm ảnh người đàn bà và con ngựa lùn giống Shetland đang cố giao phối giữa hai cái trụ kiểu Hy Lạp, trước tấm màn nhung trang trí bóng sợi.

Đêm đó Billy không lên được truyền hình ở New York, nhưng ông đã lên được chương trình trò chuyện trên đài phát thanh. Có một đài phát thanh ngay bên cạnh khách sạn Billy ở. Ông nhìn thấy thư mời trên lối vào một tòa nhà văn phòng, nên ông đi vào. Ông đi lên phòng thu bằng thang máy tự động, ở đó có những người khác đang chờ vào. Họ là những nhà phê bình văn chương, và họ nghĩ Billy cũng vậy. Họ sắp bàn thảo liệu tiểu thuyết đã chết hay chưa. Đời là thế.

Billy ngồi chung với những người khác quanh chiếc bàn gỗ sồi, với một micro riêng. Người dẫn chương trình hỏi tên ông và ông là người của báo nào. Billy xưng mình là người của tờ Ilium Gazette.

Ông vừa run vừa vui sướng. “Nếu bạn có khi nào ghé qua Cody, bang Wyoming,” ông tự nói với mình, “cứ hỏi thăm Bob Hoang.”

Billy giơ tay ngay phần đầu tiên của chương trình, nhưng không được gọi ngay. Những người khác được gọi trước ông. Một người nói rằng đã tới lúc chôn vùi tiểu thuyết, bởi lẽ một người bang Virginia, một trăm năm sau trận Appomattox, đã viết Túp lều bác Tom. Một người khác nói bây giờ người ta đọc kém quá nên không thể biến sách in thành những tình huống lý thú trong hộp sọ của họ, cho nên các tác giả phải noi gương Norman Mailer[3], đó là trình diễn ở chốn công cộng những gì mình đã viết. Người dẫn chương trình yêu cầu mọi người phát biểu suy nghĩ về chức năng của tiểu thuyết trong xã hội hiện đại, một nhà phê bình nói, “Để cung cấp những vệt màu trong những căn phòng toàn vách trắng.” Một người khác nói, “Để tả cảnh thổi kèn một cách thẩm mỹ.” Một người nữa nói, “Để dạy vợ của những nhà điều hành cấp thấp cần mua gì kế tiếp và cách hành xử trong một nhà hàng Pháp.”

Và rồi Billy được phép phát biểu. Thế là ông bắt đầu kể, bằng chất giọng được rèn luyện kỹ lưỡng, về đĩa bay và Montana Wildhack và vân vân.

Ông được nhẹ nhàng đuổi khỏi phòng thu âm trong phần quảng cáo. Ông quay về phòng khách sạn, nhét hai mươi lăm xu vào máy Magic Fingers nối với giường, và đi ngủ. Ông đi xuyên thời gian về lại Tralfamadore.

“Lại du hành thời gian à?” Montana nói. Đó là buổi tối nhân tạo trong nhà vòm. Nàng đang cho con bú.

“Hử?” Billy nói.

“Anh lại du hành thời gian rồi. Em nhìn là biết.”

“Ừm.”

“Lần này anh đi đâu? Không phải là chiến tranh rồi. Cái đấy em cũng có thể nhận ra được.”

“New York.”

“Trái Táo Bự.”

“Hử?”

“Người ta từng gọi New York như thế.”

“Ồ.”

“Anh có xem vở kịch hay phim nào không?”

“Không - anh đi dạo quanh quảng trường Thời đại, mua một cuốn sách của Kilgore Trout.”

“Anh may thế.” Nàng không chia sẻ sự nhiệt tình dành cho Kilgore Trout.

Billy thản nhiên nhắc tới chuyện anh đã xem một đoạn phim cấp ba nàng đóng. Câu trả lời của nàng không kém phần thản nhiên. Một câu trả lời đúng chất Tralfamadore và vô tư lự:

“Ờ,” nàng nói, “Em cũng nghe về chuyện của anh hồi chiến tranh, chuyện anh là một thằng hề không hơn không kém. Em cũng đã nghe về ông thầy giáo trung học bị bắn. Ông ấy đóng phim cấp ba với đội hành hình.” Nàng chuyển đứa bé từ ngực này sang ngực kia, bởi lẽ thời khắc đó được cấu trúc như vậy nên nàng phải làm thế.

Một quãng im lặng.

“Họ lại nghịch đồng hồ rồi,” Montana vừa nói vừa nhổm dậy, chuẩn bị đặt em bé vào cũi. Ý nàng nói là những người canh giữ họ đang làm cho chiếc đồng hồ điện trong nhà vòm chạy nhanh, rồi chậm, rồi lại nhanh, và dõi theo gia đình người Trái đất bé nhỏ qua những lỗ ngắm.

Quanh cổ Montana có một dây chuyền bạc. Đong đưa giữa ngực nàng, là mặt dây chuyền trong đó có bức ảnh bà mẹ nghiện rượu của nàng - một bức ảnh đầy sạn nhiễu và những vệt đen trắng. Đó có thể là bất kỳ ai. Trên mặt ngoài của dây chuyền có khắc dòng chữ:

❀ ❀ ❀

[1] Đây là các huân chương của quân đội Hoa Kỳ.

[2] Peep show trong nguyên bản. Chỉ một dịch vụ xem phim bằng cách ghé mắt vào hai lỗ nhỏ. Các phim thường thuộc thể loại khiêu dâm.

[3] Norman Kingsley Mailer (1923-2007) là tiểu thuyết gia, nhà báo, kịch tác gia, nhà làm phim, diễn viên và nhà hoạt động chính trị người Mỹ. Ông là nhà văn khá nổi bật vào giai đoạn hậu Đệ nhị Thế chiến.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.