Lò Sát Sinh Số 5

Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TÁM

❊ ❊ ❊

Toán người Mỹ ở lò sát sinh có một vị khách rất thú vị hai ngày trước khi Dresden bị phá hủy. Đó là Howard W. Campbell con, một người Mỹ đã trở thành một tên Quốc xã. Campbell chính là người đã viết chuyên khảo về hành xử bệ rạc của tù binh Mỹ. Hiện giờ y không nghiên cứu về tù binh nữa. Y đến lò sát sinh để tuyển người cho một đơn vị quân đội Đức tên là “Lữ đoàn Hoa Kỳ Tự do.” Campbell là người sáng lập và chỉ huy đơn vị, với ý định chỉ chiến đấu trên mặt trận Nga.

Campbell là một người diện mạo hết sức bình thường, nhưng ăn bận cực kỳ chải chuốt trong bộ đồng phục tự thiết kế. Y đội mũ cao bồi rộng vành, mang ủng cao bồi đen trang trí những chữ thập ngoặc và ngôi sao. Toàn thân y được bọc trong một bộ áo liền quần xanh lam với những sọc vàng chạy từ nách cho tới mắt cá. Phù hiệu trên vai áo y là bóng gương mặt quay ngang của Abraham Lincohn trên một cánh đồng xanh úa. Y có một dải băng cánh tay lớn màu đỏ, với một chữ thập ngoặc xanh lam nằm trong một vòng tròn trắng.

Hiện giờ y đang giải thích về dải băng tay này trong cái chuồng lợn xi măng.

Billy bị chứng ợ nóng rất nặng, do anh đã xúc xi rô mạch nha suốt cả ngày ở nơi làm việc. Chứng ợ nóng làm anh chảy nước mắt, vì thế hình ảnh Campbell trong mắt anh bị méo mó bởi lăng kính nước mặn long lanh.

“Xanh lam tượng trưng cho bầu trời nước Mỹ,” Campbell nói. “Trắng tượng trưng cho chủng tộc đã phát hiện ra châu lục, đã tháo cạn các đầm lầy, phát quang các khu rừng, xây đường sá cầu cống. Đỏ là máu của những người Mỹ yêu nước đã hân hoan đổ xuống trong những tháng năm qua.”

Thính giả của Campbell đều buồn ngủ. Họ đã làm việc cực nhọc ở xưởng xi rô, và rồi đã phải diễu hành một chặng dài về nhà trong rét buốt. Họ gầy giơ xương, hố mắt sâu hoắm. Trên da dẻ họ những vết loét bắt đầu nở tưng bừng. Trong miệng, trong họng và trong ruột họ cũng vậy. Món xi rô mạch nha họ xúc trộm ở xưởng chỉ chứa một ít vitamin và khoáng chất mà người Trái đất cần.

Campbell chào mời đám người Mỹ bằng thức ăn, bít tết, khoai tây nghiền, nước xốt và bánh thịt bằm, nếu họ gia nhập Lữ đoàn Hoa Kỳ Tự do. “Chừng nào đánh bại người Nga,” y nói tiếp, “các anh sẽ được hồi hương qua đường Thụy Sĩ.”

Không ai đáp.

“Trước sau gì các anh cũng phải đánh nhau với bọn Cộng sản,” Campbell nói. “Tại sao không đánh bây giờ cho xong?”

Rốt cuộc, lời kêu gọi của Campbell không phải là không được ai đáp lại. Ông già Derby đáng thương, ông thầy giáo trung học bất hạnh, lê bước đến khoảnh khắc có lẽ là đẹp nhất trong đời ông. Gần như không có cá tính nào trong câu chuyện này, và cũng gần như không có những đối đầu kịch tính, bởi lẽ hầu hết con người trong câu chuyện này đều quá sức ốm yếu và là những món đồ chơi vật vờ trong tay những lực lượng khổng lồ. Một trong những hệ quả chính của chiến tranh rốt cuộc là việc con người bị cấm đoán thể hiện cá tính. Nhưng ông già Derby hiện giờ là một cá tính.

Ông đứng như một võ sĩ dính đòn quá nhiều. Ông cúi đầu. Nắm tay chìa ra trước, chờ đợi thông tin và kế hoạch trận đánh. Derby ngẩng đầu lên, gọi Campbell là một con rắn. Ông đính chính. Ông nói rằng rắn không thể không là rắn, nhưng Campbell, người có thể không là chính mình, lại là một thứ thấp kém hơn cả rắn hay chuột, hay thậm chí một con bọ chó.

Campbell mỉm cười.

Derby xúc động nói về hình thức chính quyền Mỹ, với tự do, công lý, cơ hội và bình đẳng cho mọi người. Ông nói ở đó không ai không sẵn lòng chết cho những lý tưởng đó.

Ông nói về tình anh em giữa nhân dân Mỹ và nhân dân Nga, và hai quốc gia sẽ cùng nhau nghiền nát căn bệnh mang tên Quốc xã đang muốn lây nhiễm ra toàn thế giới.

Còi báo động bom của Dresden rền rĩ.

Đám người Mỹ cùng lính canh và Campbell trú trong kho trữ thịt vốn được khoét thẳng vào đá ngay bên dưới lò sát sinh. Dẫn xuống đó là một cầu thang bằng sắt có cửa sắt ở trên cùng và dưới đáy.

Treo trên móc sắt trong kho chứa là mấy con bò, cừu, heo và ngựa. Đời là thế. Kho còn nhiều móc trống đủ cho cả ngàn con nữa. Kho mát tự nhiên. Không có tủ lạnh ở đây. Có ánh sáng nến. Kho được quét vôi và bốc mùi phenol. Dọc theo tường là những băng ghế dài. Đám người Mỹ tới đó, phủi lớp bụi vôi rồi ngồi xuống.

Howard W. Campbell con vẫn đứng, đám lính canh cũng thế. Y nói chuyện với lính gác bằng thứ tiếng Đức tuyệt hảo. Y từng viết nhiều bài thơ và vở kịch nổi tiếng bằng tiếng Đức trong thời của mình, và lấy một nữ minh tinh Đức tên Resi North. Cô giờ đã chết, bị sát hại trong khi biểu diễn cho quân lính ở Crimea. Đời là thế.

Đêm đó không có gì xảy ra. Đêm sau mới là đêm mà khoảng một trăm ba mươi ngàn người ở Dresden sẽ chết. Đời là thế. Billy thiếp đi trong kho chứa thịt. Anh thấy mình lại lao vào trận cãi vã ăn miếng trả miếng với con gái mà nhờ đó câu chuyện này bắt đầu.

“Bố,” cô nói, “Chúng con biết phải làm gì với bố đây?” Và vân vân. “Bố biết con muốn giết ai phứt đi không?” cô hỏi.

“Con muốn giết ai?” Billy nói.

“Cái tay Kilgore Trout đó.”

Tất nhiên, Kilgore Trout đã và đang là một nhà văn khoa học viễn tưởng. Billy không chỉ đã đọc hàng tá sách của Trout - ông còn trở thành bạn của Trout, ở mức độ mà bất cứ ai cũng có thể trở thành bạn của Trout, một người nhiều cay đắng.

Trout sống trong một tầng hầm thuê lại ở Ilium, cách căn nhà trắng xinh xắn của Billy chừng hai dặm. Bản thân ông không biết mình từng viết bao nhiêu cuốn tiểu thuyết - có thể chừng bảy mươi lăm cuốn. Không cuốn nào trong đó ra tiền. Thế nên Trout sống qua ngày nhờ làm chân phát hành báo cho tờ Ilium Gazette, quản lý các cậu bé giao báo, bắt nạt, phỉnh phờ và lừa gạt mấy đứa nhóc con.

Billy gặp ông lần đầu năm 1964. Khi Billy lái chiếc Cadillac của mình tới một con hẻm tồi tàn ở Ilium, ông thấy mình bị cản lối bởi hàng chục cậu bé cùng xe đạp. Đang diễn ra một cuộc họp. Các cậu bé đang bị lên lớp bởi một người đàn ông râu ria. Ông ta hèn hèn, nguy hiểm và rõ ràng là rất giỏi trong công việc của mình. Hồi đó Trout sáu mươi hai tuổi. Ông ta đang bảo lũ nhóc phải nhấc đít lên mà làm, phải làm cho khách hàng hằng ngày của chúng đăng ký luôn số Chủ nhật chết tiệt nữa. Ông ta nói ai bán được nhiều đăng ký số Chủ nhật nhất trong vòng hai tháng tới sẽ được hưởng một chuyến đi miễn phí cùng cha mẹ tới cái đảo Martha’s Vineyard[1] chết tiệt trong một tuần, bao toàn bộ chi phí.

Và vân vân.

Một trong số các cậu bé giao báo thật ra là một cô bé. Cô cực kỳ phấn khích.

Gương mặt hoang tưởng của Trout quen thuộc quá đỗi với Billy, bởi ông đã nhìn thấy gương mặt ấy trên bìa áo bao nhiêu cuốn sách. Nhưng, đột nhiên bắt gặp khuôn mặt ấy trong một con hẻm ở quê nhà, Billy không thể nghĩ ra tại sao gương mặt ấy quen thuộc. Billy nghĩ có thể ông đã quen biết đấng cứu thế khùng điên này đâu đó ở Dresden. Hẳn nhiên Trout trông giống hệt một tù binh chiến tranh.

Và rồi cô bé giao báo giơ tay lên, hỏi, “Thưa ông Trout, nếu thắng, cháu có được mang thêm em gái mình đi cùng không?”

“Quên đi,” Kilgore Trout nói. “Mày tưởng tiền mọc trên cây à?”

Tình cờ làm sao, Trout từng viết một cuốn sách về một cái cây tiền. Lá của nó là những tờ hai mươi đô. Hoa là trái phiếu chính phủ. Trái là kim cương. Nó thu hút con người đến giết nhau quanh gốc cây và trở thành loại phân rất tốt.

Đời là thế.

Billy Pilgrim đỗ chiếc Cadillac trong hẻm, đợi buổi họp kết thúc. Buổi họp tan rồi, nhưng vẫn còn một cậu bé nán lại với Trout. Cậu bé muốn nghỉ việc vì công việc quá nhọc, giờ làm quá dài và lương quá thấp. Trout lo lắng, bởi lẽ nếu cậu bé thật sự nghỉ, Trout sẽ phải giao báo cho tuyến của cậu cho đến khi ông ta tìm ra một thằng khờ khác.

“Mày là cái giống gì?” Trout mắng mỏ cậu bé. “Một thằng hèn hả?”

Thằng hèn cũng là tựa một cuốn sách khác của Trout. Truyện kể về một người máy bị hôi mồm, rồi trở nên nổi tiếng sau khi chứng hôi mồm được chữa khỏi. Nhưng điều làm cho câu chuyện trở nên hết sức đặc biệt, vì nó được viết từ năm 1932, đó là nó dự đoán việc sử dụng tràn lan napan lên con người.

Napan được ném xuống đầu họ từ máy bay. Người máy làm công việc ném bom này. Chúng không có lương tâm, và không có mạch điện tử nào giúp chúng hình dung những gì xảy ra đối với con người trên mặt đất.

Người máy vai chính của Trout trông giống một con người, có thể trò chuyện, nhảy múa và vân vân, lại còn biết hẹn hò nữa. Và không ai lấy làm phản đối chuyện nó thả napan lên con người. Nhưng họ không chấp nhận nổi chứng hôi mồm của nó. Nhưng rồi nó khắc phục được chuyện đó, thế là nó được chào đón đến thế giới loài người.

Trout đã cãi thua cậu bé muốn nghỉ việc. Ông ta kể cho thằng nhóc về các triệu phú từng đi giao báo khi còn nhỏ, thằng nhóc đáp: “À vâng, nhưng cháu cá là họ nghỉ việc chỉ sau một tuần, đó quả là một trò lừa thượng hạng.”

Và thằng nhóc để lại túi báo còn nguyên ngay chân của Trout, cuốn sách hướng dẫn khách hàng đặt trên cùng. Trout sẽ phải đi giao số báo này. Nhưng ông không có ô tô. Ông cũng không có xe đạp, ngoài ra ông còn sợ chó muốn chết.

Đâu đó có tiếng sủa của một con chó lớn.

Trong lúc Trout khoác túi báo lên vai với vẻ thảm sầu, Billy Pilgrim tiến lại gần. “Ông là ông Trout?”

“Vâng?”

“Ông… ông đúng là Kilgore Trout?”

“Đúng thế.” Trout ngỡ Billy phàn nàn chi đó về cách giao báo. Ông không mảy may nghĩ mình là một nhà văn bởi lý do giản dị là thế giới này chưa bao giờ cho phép ông nghĩ về mình như thế.

“Nhà… nhà văn?” Billy nói.

“Nhà gì cơ?”

Billy đoan chắc mình đã phạm sai lầm. “Có một nhà văn tên là Kilgore Trout.”

“Có à?” Trông Trout ngơ ngẩn và bàng hoàng.

“Ông chưa bao giờ nghe nói tới ông ta?”

Trout lắc đầu. “Chưa ai, chưa ai từng nghe nhắc tới.”

Billy giúp Trout giao báo, chở ông đi từ nhà nọ sang nhà kia trên chiếc Cadillac. Billy là người chịu trách nhiệm tìm nhà giao báo và đánh dấu vào danh sách. Trout thì đầu óc cơ hồ nổ tung. Ông ta chưa bao giờ gặp người nào hâm mộ mình, mà Billy thật là một người hâm mộ cuồng nhiệt.

Trout bảo anh rằng ông ta chưa bao giờ thấy cuốn sách nào của mình được quảng cáo, bình luận hay bày bán. “Bao nhiêu năm nay,” ông nói, “tôi đã mở toang cửa sổ và tỏ tình với thế giới.”[2]

“Ắt hẳn ông phải nhận được thư,” Billy nói. “Tôi những muốn viết thư cho ông bao lần rồi.”

Trout giơ một ngón tay lên. “Mỗi một.”

“Bức thư chắc nhiệt tình lắm?”

“Nó rất điên rồ. Người viết thư nói tôi nên là Tổng thống của Thế giới.”

Hóa ra ngưòì viết bức thư đó chính là Eliot Rosewater, bằng hữu của Billy trong bệnh viện cựu chiến binh gần hồ Placid. Billy kể cho Trout về Rosewater.

“Lạy Chúa - tôi cứ tưởng đó là một thằng nhóc mười bốn tuổi.” Trout nói.

“Một người hoàn toàn trưởng thành - một đại úy trong chiến tranh.”

“Anh ta viết như một đứa mười bốn tuổi,” Kilgore Trout nói.

Billy mời Trout đến dự kỷ niệm ngày cưới lần thứ mười tám của mình hai ngày sau đó. Bữa tiệc đang diễn ra.

Trout ngồi trong phòng ăn của Billy, tóp tép bánh khai vị. Ông trò chuyện với vợ một bác sĩ chăm sóc thị lực trong lúc mồm tọng đầy món phó mát kem vùng Philadelphia và trứng cá hồi. Mọi người tại bữa tiệc đều ít nhiều dính dáng tới ngành chăm sóc thị lực, trừ Trout. Và cũng chỉ có ông là không đeo kính. Ông rất được mến mộ. Mọi người đều hào hứng vì có một tác giả bằng xương bằng thịt trong bữa tiệc, dù họ chưa bao giờ đọc sách của ông.

Trout đang nói chuyện với Maggie White, người đã từ bỏ sự nghiệp trợ lý nha khoa của mình để làm nội tướng cho một bác sĩ chăm sóc thị lực. Cô nàng khá xinh đẹp. Cuốn sách cuối cùng cô từng đọc là Ivanhoe.

Billy Pilgrim đứng gần đó, lắng tai nghe. Ông đang sờ nắn gì đó trong túi mình. Đó là món quà ông định tặng vợ, một cái hộp bằng xa tanh trắng trong có chiếc nhẫn cỡ bự đính đá xa phia hình ngôi sao. Chiếc nhẫn trị giá tám trăm đô la.

Những tán tụng mà Trout đang đón nhận, tuy rỗng tuếch và dốt đặc, đối với Trout lại chẳng khác nào cần sa. Ông sung sướng, huênh hoang, và vênh váo.

“Tôi e là tôi chưa đọc đủ mức cần thiết,” Maggie nói.

“Chúng ta đều e sợ một cái gì đó,” Trout đáp. “Tôi sợ ung thư, chuột và chó Doberman.”

“Tôi phải hỏi cái này, dù đáng lẽ ra tôi phải biết,” Maggie hỏi, “cuốn nổi tiếng nhất ông từng viết là gì?”

“Một cuốn kể về đám tang một đầu bếp Pháp vĩ đại.”

“Nghe có vẻ thú vị.”

“Mọi đầu bếp vĩ đại trên thế giới đều ở đó. Đó là một lễ tang tuyệt vời.” Trout vừa nói vừa bịa. “Ngay trước khi quan tài được đóng lại, những người đưa đám xịt rau mùi tây và ớt tây lên người đã khuất.” Đời là thế.

“Chuyện ấy có thật sự xảy ra không?” Maggie White hỏi. Cô nàng là người tối dạ, nhưng lại là một lời chào mời hảo hạng rủ rê cùng tạo ra em bé. Đàn ông nhìn thấy cô nàng là muốn làm cho cô nàng đầy ắp em bé ngay lập tức. Tuy nhiên cô nàng chưa có một em bé nào. Cô nàng dùng biện pháp tránh thai.

“Dĩ nhiên nó đã xảy ra chứ,” Trout bảo. “Nếu tôi viết một điều gì đó chưa từng diễn ra, rồi cố bán nó, tôi có thể phải đi tù. Đó là lừa đảo.”

Maggie tin ông. “Trước đây tôi chưa từng nghĩ về chuyện đó.”

“Bây giờ cô hãy nghĩ đi.”

“Giống như quảng cáo. Ta phải nói sự thật trong quảng cáo, nếu không sẽ gặp rắc rối to.”

“Chuẩn luôn. Cùng một luật áp dụng mà.”

“Ông có nghĩ là một lúc nào đó ông có thể đưa chúng tôi vào sách của ông không?”

“Mọi thứ xảy ra với tôi, tôi đều đưa vào sách.”

“Thế thì tôi nghĩ mình phải nói năng cẩn thận.”

“Đúng thế. Và tôi không phải là người duy nhất lắng nghe. Chúa cũng lắng nghe. Vào Ngày Phán Xét, ngài sẽ nói với cô tất cả những việc cô đã nói và làm. Nếu hóa ra chúng là việc ác thay vì việc thiện, thì kết quả với ta sẽ tồi tệ lắm, ta sẽ bị thiêu đốt mãi mãi. Mà bị thiêu không bao giờ ngừng làm ta đau đớn.”

Maggie tội nghiệp tái xám mặt. Cô nàng cũng tin vào điều đó, nên chết điếng.

Kilgore Trout phá ra cười ầm ĩ. Một cái trứng cá hồi từ mồm ông bắn ra, đậu lên khe ngực của Maggie.

Lúc bấy giờ một bác sĩ chăm sóc thị lực kêu mọi người chú ý. Ông đề nghị nâng cốc chúc mừng Billy và Valencia, chủ nhân của lễ kỷ niệm này. Theo kế hoạch, tứ ca hát mộc của các bác sĩ chăm sóc thị lực, ban DC4M hát trong khi mọi người uống còn Billy và Valencia choàng tay qua người nhau, tình tứ. Mắt mọi người đều sáng lấp lánh. Bài hát có tên là “Bè lũ chúng tôi xưa”[3].

Bài hát như thế này, Ôi, tôi sẽ cho đi cả thế giới để gặp bè lũ ngày xưa của tôi. Và vân vân. Đoạn sau lời bài hát là, Giã biệt mãi mãi, những người bạn cũ, giã biệt mãi mãi, những người thương yêu xưa, cầu Chúa ban phước - và vân vân.

Bỗng nhiên, Billy Pilgrim thấy bài hát và sự kiện này làm ông khó chịu. Ông chưa bao giờ có một bè lũ xưa, những người thương người yêu xưa, nhưng khi tứ ca làm một thử nghiệm chậm rãi và quằn quại với những hợp âm - hợp âm chua chát cố ý, chua chát hơn nữa, chua chát không chịu nổi, và rồi một hợp âm ngọt ngào nghẹt thở, và rồi lại vài hợp âm chua chát. Billy có những phản ứng tâm lý dữ dội khi những hợp âm thay đổi. Miệng ông đầy vị nước chanh, và mặt ông trở nên quái dị, như thể ông thật sự bị căng ra trên máy tra tấn có tên bàn căng[4].

Trông ông kỳ quặc đến nỗi vài người chỉ trỏ lo lắng khi bài hát kết thúc. Họ ngỡ đâu ông đang lên cơn đau tim, và có vẻ như Billy xác nhận điều đó bằng cách tiến lại một chiếc ghế và ngồi xuống, bải hoải.

Một quãng im lặng.

“Lạy Chúa tôi,” Valencia nói, chồm về phía ông, “Billy, anh không sao chứ?”

“Không sao.”

“Nhìn anh mệt mỏi quá.”

“Thật sao? Anh ổn mà.” Và đúng là ông ổn, trừ việc ông không thể giải thích được tại sao bài hát lại ảnh hưởng tới mình theo một lối quái dị như thế. Bao năm nay ông nghĩ mình không có bí mật nào đối với chính mình. Đây là bằng chứng cho thấy ông có một bí mật to lớn ẩn đâu đó bên trong, và ông không thể hình dung nổi đó là gì.

Khi thấy má Billy hồng hào trở lại và thấy ông mỉm cười, mọi người dạt đi. Valencia ở lại với ông, và cả Kilgore Trout, nãy giờ đứng vòng ngoài, tiến lại gần hơn, tỏ vẻ quan tâm, và khôn ngoan.

“Trông anh cứ như đã gặp ma,” Valencia nói.

“Làm gì có,” Billy nói. Ông không nhìn thấy gì ngoại trừ những thứ đang hiện ra trước mắt - gương mặt bốn ca sĩ, bốn con người bình thường đó, mắt trợn tròn, vô tâm và đau đớn khi họ chuyển từ ngọt ngào sang chua chát rồi lại ngọt ngào.

“Tôi đoán thử nhé?” Kilgore Trout nói. “Anh đã nhìn xuyên qua một cửa sổ thời gian.”

“Một cái gì?” Valencia nói.

“Anh ấy đột nhiên nhìn thấy quá khứ hoặc tương lai. Tôi nói có đúng không?”

“Không,” Billy Pilgrim nói. Ông đứng dậy, thọc một tay vào túi quần, thấy cái hộp nhẫn trong đó. Ông lấy cái hộp ra, lơ đãng đưa cho Valencia. Ông vốn định đưa cho nàng vào cuối bài hát, trước sự chứng kiến của mọi người. Giờ chỉ có Kilgore Trout ở đó nhìn thấy.

“Cho em à?” Valencia nói.

“Ừ.”

“Ôi, lạy Chúa,” nàng nói. Rồi nàng nói to hơn, thế là những người khác nghe thấy. Họ vây quanh, nàng mở hộp, và gần như rú lên khi nhìn thấy viên đá xa phia với ngôi sao trên đó. “Ôi, lạy Chúa,” nàng nói. Nàng hôn Billy nồng nàn. Nàng nói, “Cảm ơn anh, cảm ơn anh, cảm ơn anh.”

Trong nhiều năm trời thiên hạ bàn tán xôn xao về món nữ trang tuyệt vời mà Billy tặng cho Valencia. “Ôi Chúa ôi,” Maggie White nói, “em ấy vớ được viên kim cương to nhất mà tôi tùng thấy bên ngoài phim ảnh.” Cô nàng nói tới viên kim cương Billy mang về từ cuộc chiến.

Nhân tiện, hàm răng giả mà ông tìm thấy trong cái áo khoác ông bầu bé tí của mình thì nằm trong hộp đựng khuy măng sét trong tủ áo. Billy có một bộ sưu tập măng sét rất tuyệt. Truyền thống gia đình là tặng ông khuy măng sét vào Ngày của Cha. Hiện tại ông đang đeo bộ khuy măng sét Ngày của Cha. Bộ này trị giá hơn một trăm đô la. Nó được làm từ tiền xu La Mã cổ. Trên lầu ông có một bộ măng sét là những vòng quay ru lét nhỏ có thể quay được. Ông còn có một bộ khác gồm một cái là nhiệt kế thật và một cái là la bàn thật.

Lúc này, Billy đi loanh quanh trong bữa tiệc, bề ngoài có vẻ bình thường. Kilgore Trout bám theo ông, nóng lòng muốn biết Billy ngờ ngợ hay nhìn thấy cái gì. Hầu hết tiểu thuyết của Trout nói chung đều xoay quanh xoáy thời gian, nhận thức siêu giác quan và những thứ khó ngờ khác. Trout tin vào những thứ như thế, và nóng lòng muốn chứng minh sự tồn tại của chúng.

“Anh có bao giờ đặt một cái gương dài xuống sàn và cho một con chó đứng trên đó chưa?” Trout hỏi Billy.

“Chưa.”

“Con chó sẽ nhìn xuống, và đột nhiên nó nhận ra rằng không có gì bên dưới nó. Nó tưởng nó đang đứng trên không trung. Nó sẽ hết hồn.”

“Thật sao?”

“Anh trông giống như vậy đó, như thể anh đột nhiên nhận ra mình đang đứng trên không trung.”

Ban tứ ca lại cất tiếng hát. Billy lại trải qua cơn bão cảm xúc. Cảm giác này rõ ràng liên quan tới bốn anh chàng kia chứ không phải những gì họ hát.

Đây là những gì họ hát, trong khi lòng Billy bị giằng xé tả tơi:

Bông mười một xu, bốn mươi xu thịt

Hỡi thế gian ơi, người nghèo biết ăn gì?

Bởi mưa sẽ đổ nên nguyện cầu trời nắng

Ta phát điên khi mọi thứ tồi tệ đi

Dựng một quán bar xinh, ta sơn màu nâu nhạt

Trời sai Thiên Lôi giáng sét cháy tan rồi

Nói năng chi nữa, ai mà không thở dốc

Khi bông mười một xu, còn thịt những bốn mươi

Bông mười một xu, mà thuế chồng thuế chất

Lưng nào gánh được ngần ấy thuế hả trời…

Và vân vân.

Billy trốn lên gác trên căn nhà màu trắng xinh đẹp của mình.

Trout hẳn đã lên gác theo Billy nếu Billy không cản ông ta lại. Rồi Billy vào trong nhà tắm tối om trên lầu. Ông đóng cửa, chốt lại. Ông cứ để nó tối như thế, rồi từ từ nhận ra ông không chỉ một mình. Con trai ông cũng trong đó.

“Bố à?” con trai anh nói trong bóng tối. Robert, anh lính Mũ nồi Xanh tương lai, khi ấy mười bảy tuổi. Billy mến nó, nhưng không hiểu rõ con trai lắm. Billy không thể không nghi ngờ rằng Robert chẳng có gì nhiều nhặn để mà hiểu.

Billy bật đèn. Robert đang ngồi trên bồn cầu, quần ngủ kéo xuống ngang mắt cá. Cu cậu đang đeo một cây ghi ta điện lủng lẳng quanh cổ. Cậu mới mua cây ghi ta ngày hôm đó. Cậu chưa biết chơi, và thực tế là cũng sẽ không bao giờ học chơi đàn. Cái đàn màu hồng xà cừ.

“Chào con trai,” Billy Pilgrim nói.

Billy đi vào phòng ngủ, mặc dù ở tầng dưới hãy còn khách cần tiếp đón. Ông nằm sải lai ra giường, bật đệm Magic Fingers lên. Tấm đệm rung rung, khiến một con chó từ gầm giường bò ra. Đó là con Spot. Con Spot già trung thành những ngày ấy hãy còn sống. Con Spot lại nằm xuống ở một góc phòng.

Billy nghĩ rất lung về tác động của ban tứ ca lên mình, và rồi tìm thấy một mối liên hệ với một trải nghiệm ông có từ lâu lắm rồi. Ông đã không du hành xuyên thời gian trở lại trải nghiệm đó. Ông nhớ mang máng thế này:

Ông ở trong hầm trữ thịt cái đêm Dresden bị phá hủy. Trên đầu có những âm thanh như những bước chân khổng lồ. Đó là ngòi của bom công phá. Những tên khổng lồ cứ bước. Hầm trữ thịt là một nơi trú ẩn rất an toàn. Tất cả những gì xảy ra dưới đó chỉ là vôi tường thỉnh thoảng rơi xuống như mưa. Đám người Mỹ, bốn tay lính gác và một vài con thú đã được làm thịt ở dưới đó, ngoài ra không còn ai. Những lính gác còn lại đã về với cảnh đầm ấm nơi nhà mình ở Dresden trước khi trận oanh tạc diễn ra. Họ thảy đều chết cùng gia đình mình.

Đời là thế.

Mấy đứa con gái mà Billy từng nhìn thấy trần truồng cũng đều chết cả, trong một chỗ trú ẩn nông hơn nhiều nằm ở một góc bãi lưu gia súc.

Đời là thế.

Chốc chốc một tay lính gác lại lên đầu cầu thang để xem tình hình bên ngoài thế nào, rồi hắn sẽ quay xuống và thì thầm với mấy tên kia. Ngoài đó là một trận bão lửa. Dresden là một ngọn lửa lớn. Ngọn lửa thiêu ngốn mọi vật hữu cơ, mọi thứ có thể cháy được.

Mãi đến trưa hôm sau bọn họ mới có thể an toàn rời khỏi hầm trú ẩn. Khi đám người Mỹ cùng toán lính gác ra ngoài, bầu trời đen kịt khói. Mặt trời như một cái đầu ghim giận dữ. Dresden giờ giống như Mặt trăng, chẳng có gì ngoài khoáng vật. Những hòn đá nóng rực. Tất cả mọi người quanh đây đều đã chết.

Đời là thế.

Đám lính gác tụm lại với nhau theo bản năng, đảo mắt nhìn. Họ thử nghiệm hết biểu cảm này đến biểu cảm khác, không nói gì, dầu miệng họ cứ mở ra thường xuyên. Trông họ giống một bộ phim câm về một ban tứ ca không nhạc cụ.

Có lẽ họ đã hát, “Giã biệt mãi mãi, những người bạn cũ, giã biệt mãi mãi, những người thương yêu xưa, cầu Chúa ban phước”.

Trên sở thú ở Tralfamadore có lần Montana Wildhack bảo Billy Pilgrim, “Kể chuyện cho em nghe đi.” Họ đang nằm bên nhau trên giường. Họ có được chút riêng tư bởi nhà vòm đã được kéo màn che. Lúc này Montana đang có thai sáu tháng, đẫy đà và hồng hào, đôi lúc biếng lười đòi Billy chiều theo những yêu cầu nho nhỏ. Nàng không thể bảo Billy đi ra ngoài mua kem hay dâu được, vì khí quyển bên ngoài nhà vòm là xyanua và những chỗ bán kem và dâu gần nhất cũng cách hàng triệu năm ánh sáng.

Nàng có thể bảo anh tới chỗ cái tủ lạnh được trang trí hình một cặp đôi trên chiếc xe đạp dành cho hai người, hay như bây giờ, vòi vĩnh, “Kể chuyện cho em nghe đi, Billy cưng.”

Billy Pilgrim bắt đầu kể, “Vào đêm 13 tháng Hai năm 1945, Dresden bị phá hủy. Ngày hôm sau bọn anh ra khỏi chỗ trú ẩn.” Anh kể cho Montana nghe về bốn tên lính gác, trong cơn kinh hãi và đau buồn, trông giống hệt một ban tứ ca. Anh kể cho nàng nghe về bãi lưu gia súc mà mọi cọc rào đều biến mất, mái che và cửa sổ cũng biến mất - kể cho nàng về những khúc củi nhỏ nằm vương vãi. Có những người đã bị mắc kẹt trong trận bão lửa. Đời là thế.

Billy kể cho cô nghe những gì đã xảy ra với những tòa nhà từng vây quanh bãi lưu gia súc. Chúng đều đã sụp đổ. Gỗ đã cháy rụi, những phiến đá vỡ nát, lô xô ngả nghiêng đến khi tựa vào nhau tạo thành những vòm cong thấp duyên dáng.

“Nơi đó trông như Mặt trăng,” Billy Pilgrim nói.

Lính gác bảo đám người Mỹ xếp thành hàng bốn, họ làm theo. Chúng bắt họ đi về nhà kho, nơi từng là nhà của họ. Các vách tường hãy còn đứng đó, nhưng mái nhà và cửa sổ đã biến mất, bên trong không còn gì ngoài tro và những cục thủy tinh nóng chảy. Lúc đó mọi người mới nhận ra không có đồ ăn hay nước uống, và những người còn sống sót, nếu vẫn còn muốn sống, sẽ phải trèo qua hết vòm cong nọ tới vòm cong kia trên bề mặt của Mặt trăng.

Họ đã làm thế.

Những vòm cong chỉ trông nhẵn nhụi khi nhìn từ xa. Trèo lên đó mới biết chúng là thứ quỷ quyệt, lởm chỏm - sờ vào nóng giẫy, lại không chắc chắn - nếu chạm phải một vài miếng đá nhất định, chúng chỉ chực đổ ra thêm, tạo thành những đường cong thấp hơn, chắc chắn hơn.

Không ai nói gì khi đoàn thám hiểm băng qua Mặt trăng. Mọi người chẳng biết phải nói gì cho thích hợp. Có một điều rõ ràng: Tuyệt đối tất cả mọi người trong thành phố được cho là đã chết, bất kể ở đâu, và bất cứ kẻ nào đang chuyển động ở nơi này là một lỗi trong kế hoạch. Làm gì tồn tại người Mặt trăng.

Các máy bay chiến đấu Mỹ sà xuống dưới làn khói để xem còn thứ gì chuyển động không. Chúng thấy Billy và những người khác đang di chuyển bên dưới. Các máy bay lia đạn súng máy theo họ, nhưng bị trượt. Rồi chúng thấy mấy người khác đang di chuyển ở mé bờ sông thế là chúng bắn họ. Vài người trúng đạn. Đời là thế.

Ý đồ của họ là muốn cuộc chiến kết thúc mau chóng hơn.

Câu chuyện của Billy kết thúc rất kỳ lạ ở một vùng ngoại ô không bị lửa đạn chạm đến. Khi đêm xuống, đám gác và tù binh Mỹ đến một quán trọ vẫn mở cửa đón khách. Có ánh nến. Lại còn có lửa trong ba lò sưởi dưới lầu. Có sẵn bàn ghế trống bày ra đón bất kỳ vị khách nào ghé qua, và những giường trống trên lầu đã lật sẵn tấm phủ giường.

Ở đó có ông chủ quán trọ mù và người vợ sáng mắt làm đầu bếp, cùng hai cô con gái trẻ làm phục vụ bàn và hầu phòng. Gia đình này biết rằng Dresden đã không còn nữa. Những người sáng mắt đã nhìn thấy thành phố bị đốt cháy hừng hực, hiểu rằng giờ đây mình đang ở trên rìa một hoang mạc. Tuy vậy, họ vẫn mở cửa đón khách, vẫn lau chùi cửa kính, lên cót đồng hồ và khơi lửa, kiên nhẫn đợi chờ xem có ai đến.

Không có một dòng người tị nạn nào từ Dresden. Đồng hồ tích tắc, lửa bập bùng, những ngọn nến trong mờ nhỏ giọt. Và rồi có tiếng gõ cửa, và đi vào là bốn lính gác và một trăm tù binh Mỹ.

Chủ quán hỏi lính gác có phải họ từ thành phố tới.

“Đúng thế.”

“Vẫn còn những người khác đang đến phải không?”

Và mấy lính gác đáp rằng, trên con đường trắc trở họ đã đi, họ không nhìn thấy một linh hồn sống nào khác.

Người chủ quán mù nói những người Mỹ có thể ngủ trong chuồng ngựa đêm đó, và ông cho họ ăn xúp uống cà phê thế phẩm và một chút bia. Rồi ông đi ra chuồng ngựa để nghe tiếng họ nằm xuống ngủ trong đống rơm.

“Chúc ngủ ngon, các anh Mỹ,” ông nói bằng tiếng Đức. “Ngủ ngon nhé.”

❀ ❀ ❀

[1] Một hòn đảo nằm ở phía nam mũi Cod ở Massachusetts.

[2] Câu này được đề cập đến trong tập truyện Bagombo Snuff Box của Kurt. “Write to please just one person. If you open a window and make love to the world, so to speak, your story will get pneumonia.’’ (Hãy viết để làm vui cho một người thôi. Nếu anh mở cửa sổ và tỏ tình với thế giới, thì truyện của anh sẽ bị viêm phổi.)

[3] “That Old Gang of Mine”; một bài hát ra đời năm 1923 và trở nên rất nổi tiếng những năm sau đó ở Mỹ.

[4] The rack: một loại dụng cụ tra tấn, phạm nhân sẽ bị trói tay và chân lên một cái khung hình chữ nhật. Các trục lăn ở hai đầu khung sẽ từ từ kéo căng cơ thể phạm nhân.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.