Lò Sát Sinh Số 5

Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
BỐN

❊ ❊ ❊

Đêm đám cưới con gái, Billy Pilgrim không ngủ được. Năm ấy anh bốn mươi tư tuổi. Chiều hôm đó đám cưới diễn ra dưới tấm dù sọc tươi vui căng ở sân sau nhà Billy. Những cái sọc màu đen và cam.

Billy và vợ, Valencia, cuộn lấy nhau như những chiếc thìa trên cái giường đôi thênh thang. Tấm đệm Magic Fingers rung nhè nhẹ. Valencia không cần rung vẫn ngủ được. Nàng ngáy như máy cưa. Cô nàng đáng thương không còn cả buồng trứng lẫn tử cung. Chúng đã bị một bác sĩ phẫu thuật, một trong những đối tác của Billy ở New Holiday Inn, cắt bỏ.

Trăng tròn vành vạnh.

Billy bò ra khỏi giường dưới ánh trăng. Anh thấy rờn rợn, thấy mình tỏa sáng, cảm giác như đang được cuốn trong tấm áo choàng lông mát rượi đầy tĩnh điện. Anh nhìn xuống cặp chân trần. Chúng có màu xanh và màu ngà.

Billy lê bước dọc hành lang trên lầu, biết rõ mình sắp bị đĩa bay bắt cóc. Bóng tối và ánh trăng xen kẽ thành từng dải sọc trên hành lang. Ánh trăng rọi vào hành lang qua lối vào hai căn phòng trống của hai con của Billy, chúng không còn là trẻ con nữa. Chúng đã ra đi mãi mãi. Cảm giác sợ và không sợ dẫn lối Billy cùng lúc. Cái sợ bảo anh lúc nào thì dừng lại. Cái không sợ bảo anh khi nào thì bước tiếp. Anh dừng lại.

Anh bước vào phòng con gái. Những ngăn kéo bị vứt không. Tủ quần áo trống không. Dồn thành đống giữa phòng là tất cả những món nó không thể mang theo trong tuần trăng mật. Nó có riêng một điện thoại Princess - trên bệ cửa sổ. Chấm sáng của điện thoại chằm chằm nhìn Billy. Rồi nó đổ chuông.

Billy bắt máy. Đầu kia là một gã say. Gần như Billy có thể ngửi thấy mùi hơi thở của hắn - mùi khí lưu huỳnh trộn lẫn hoa hồng. Nhầm số. Billy gác máy. Trên bệ cửa sổ có một chai nước ngọt. Cái nhãn khoác lác rằng chai nước không chứa đựng bất kỳ chất dinh dưỡng nào.

Billy Pilgrim rón rén xuống thang lầu trên đôi chân màu xanh và màu ngà. Anh đi vào trong gian bếp, ở đó ánh trăng khiến anh chú ý đến chai sâm banh uống dở trên bàn bếp, tất cả những gì còn lại từ bữa tiệc trong lều. Ai đó đã nút nó lại. Nó như muốn nói, “Hãy uống tôi đi.”

Thành thử Billy mở nút bấc bằng ngón cái. Không có tiếng bụp nào hết. Chai sâm banh đã chết. Đời là thế.

Billy nhìn đồng hồ trên bếp ga. Còn một tiếng nữa đĩa bay mới đến. Anh đi vào phòng khách, lắc cái chai như lắc chuông báo bữa ăn tối, rồi bật ti vi. Billy hơi trôi dạt trong thời gian, xem bộ phim phát muộn hết ngược rồi lại xuôi. Đó là một bộ phim về máy bay đánh bom Mỹ trong Đệ nhị Thế chiến và những chàng phi công dũng cảm. Khi Billy xem bộ phim ngược chiều, câu chuyện diễn ra như sau:

Những chiếc máy bay Mỹ, thủng lỗ chỗ, đầy người bị thương và xác chết cất cánh giật ngược từ một sân bay ở Anh. Ở không phận Pháp, vài máy bay chiến đấu Đức bay giật lùi vào họ, hút đạn và những mảnh pháo từ các máy bay và phi công. Chúng cũng làm vậy với những máy bay đánh bom Mỹ bị bắn rơi trên mặt đất, và những chiếc máy bay đó bay ngược lên để tham gia đội hình.

Đội hình bay giật lùi ngang qua một thành phố Đức chìm trong lửa. Các máy bay đánh bom mở cửa chứa bom, phát ra một từ tính kỳ diệu thu nhỏ đám lửa lại, gom chúng vào trong những ống thép hình trụ, và nhấc những ống đó vào trong bụng máy bay. Các ống chứa được xếp gọn gàng trên giá. Người Đức phía bên dưới cũng có những thiết bị kỳ diệu của mình, là những ống thép dài. Họ dừng những ống này để hút thêm những mảnh đạn khỏi phi hành đoàn và máy bay. Nhưng tuy vậy vẫn còn một số người Mỹ bị thương, và một số máy bay ném bom bị hư hỏng nặng. Dù vậy, khi bay ngang qua Pháp, các máy bay chiến đấu Đức lại xuất hiện và giúp cho cả người lẫn máy bay Mỹ trở về nguyên vẹn như mới.

Khi các máy bay ném bom trở về căn cứ, các ống thép hình trụ được lấy khỏi giá và chở ngược về Hoa Kỳ, nơi các nhà máy ngày đêm làm việc, gỡ các ống trụ ra, tách những thứ nguy hiểm bên trong thành khoáng chất. Cảm động làm sao, chủ yếu là phụ nữ làm công việc này. Khoáng chất sau đó được chở đến các chuyên gia ở các vùng xa xôi. Việc của họ là trả các khoáng chất này vào trong lòng đất, che giấu chúng khéo léo, để chúng không bao giờ làm hại ai nữa.

Các phi công Mỹ nộp lại đồng phục, trở thành những chú nhóc trung học. Và Hitler biến thành một em bé, Billy Pilgrim nghĩ vậy. Chuyện đó không có trong phim. Billy chỉ ngoại suy ra thôi. Mọi người đều biến thành em bé, và toàn thể nhân loại, không có ngoại lệ, chung sức về mặt sinh học để tạo ra hai con người hoàn hảo tên là Adam và Eva, anh nghĩ vậy.

Billy xem các bộ phim chiến tranh ngược chiều rồi thuận chiều - và đã đến lúc ra sân sau để gặp đĩa bay.

Anh đi ra, đôi chân màu xanh và màu ngà của anh giẫm trên thảm cỏ ẩm ướt. Anh khựng lại, nốc một ngụm từ chai sâm banh đã chết. Nó có vị như nước ngọt 7Up. Anh không ngước mắt lên trời, dù biết có một chiếc đĩa bay của người Tralfamadore trên đó. Chẳng bao lâu anh sẽ nhìn thấy nó, cả trong lẫn ngoài, và chẳng bao lâu nữa anh cũng sẽ nhìn thấy nơi mà từ đó nó bay đến - chẳng bao lâu nữa.

Anh nghe trên đầu mình một tiếng kêu như tiếng cú du dương, nhưng đó không phải là tiếng cú du dương. Đó là đĩa bay của người Tralfamadore, di chuyển trong cả không gian và thời gian, do đó với Billy Pilgrim nó dường như bất thình lình hiện ra. Đâu đó một con chó to cất tiếng sủa.

Chiếc đĩa bay có đường kính khoảng ba mươi mét, quanh viền có các lỗ hỏa mai. Anh sáng từ các lỗ hỏa mai phập phồng tím. Tiếng ồn duy nhất phát ra từ nó là tiếng cú kêu. Nó sà xuống, lơ lửng trên đầu Billy, phóng luồng ánh sáng tím phập phồng hình trụ trùm lấy Billy. Bấy giờ, có âm thanh như tiếng hôn khi cửa hơi dưới đáy đĩa bay mở ra. Thòng xuống là một cái thang viền đính những bóng đèn xinh xắn như một vòng đu quay lớn.

Một khẩu súng gây tê nhắm bắn vào Billy từ một trong các lỗ hỏa mai khiến ý chí của anh bị tê liệt. Anh buộc phải bắt lấy nấc dưới cùng của cái thang đong đưa. Nấc thang có điện, khiến hai tay Billy bị dán chặt vào đó. Anh bị hút vào trong khoang kín khí, và cửa đáy tự động đóng lại. Chỉ khi đó cái thang mới thả anh ra và cuộn lại vào một cái guồng trong khoang kín khí. Chỉ khi đó thì não Billy mới bắt đầu hoạt động trở lại.

Bên trong khoang có hai cái lỗ, những cặp mắt vàng vọt dán vào đó. Trên tường có một cái loa. Người Tralfamadorie vốn không có thanh quản. Họ thần giao cách cảm với nhau. Họ nói chuyện được với Billy nhờ vào một máy tính và một loại cơ quan chạy bằng điện có thể tạo ra mọi ngữ âm của người Trái đất.

“Ngài Pilgrim, chào mừng ngài lên tàu,” cái loa nói. “Ngài có câu hỏi gì không?”

Billy liếm môi, suy nghĩ một lát, rồi cuối cùng hỏi: “Tại sao lại là tôi?”

“Đó là một câu hỏi rất Trái đất, thưa ngài Pilgrim. Tại sao lại là ngài? Tại sao lại là chúng tôi? Tại sao bất cứ thứ gì? Bỏi vì khoảnh khắc này đơn giản là thế. Đã bao giờ ngài thấy những con bọ bị mắc kẹt trong hổ phách chưa?”

“Rồi.” Billy quả có một cái chặn giấy ở văn phòng là một giọt hổ phách đánh bóng có ba con bọ rùa nhận chìm bên trong.

“Đấy, ngài Pilgrim, chúng ta ở đây, bị mắc kẹt trong hổ phách chính là khoảnh khắc này. Không có tại sao tại siếc gì cả.”

Họ bom chất gây mê vào không khí xung quanh Billy, khiến anh chìm vào giấc ngủ. Họ khênh anh vào một căn phòng, ở đó anh bị cột vào chiếc ghế bành Barcalounger màu vàng lấy trộm từ kho của cửa hàng Sears Roebuck. Khoang đĩa bay len đầy các món đồ ăn cắp khác, sẽ được dùng để trang bị môi trường sống nhân tạo cho Billy trong một sở thú trên Tralfamadore.

Gia tốc kinh hoàng của đĩa bay lúc rời Trái đất vặn xoắn tấm thân đang say ngủ của Billy, làm biến dạng gương mặt anh, giật anh ra khỏi thời gian, đưa anh về cuộc chiến.

Khi tỉnh dậy anh thấy mình không nằm trong đĩa bay. Anh lại đang ở trong toa hàng trên con tàu băng qua nước Đức.

Có mấy người nhổm dậy trên sàn tàu, mấy người khác thì nằm xuống. Billy cũng định nằm xuống. Nếu ngủ được thì hay. Trong toa tối thui, bên ngoài cũng vậy, tàu đi chừng hai dặm một giờ. Toa tàu dường như chẳng bao giờ đi nhanh hơn thế này. Lâu lắm mới nghe một cách khi toa tàu chạy qua một chỗ nối giữa các thanh ray. Cứ như cách một tiếng, rồi một năm trôi qua, rồi mới nghe cách một tiếng khác.

Đoàn tàu thường xuyên dừng lại nhường cho những chuyến tàu thực sự quan trọng ầm ĩ lướt qua. Nó cũng thường ngừng lại ở đường tránh tàu gần các nhà giam và bỏ lại vài toa ở đó. Nó bò lê xuyên qua nước Đức, càng lúc càng ngắn đi.

Thế rồi Billy từ từ buông người xuống, bám vào thanh giằng chéo trong góc để khiến mình gần như vô trọng lượng đối với những người đang nằm trên sàn. Anh biết rằng quan trọng là phải biến mình thành bóng ma lúc nằm xuống. Anh đã quên mất vì sao, nhưng lời nhắc nhở đến gần như lập tức.

“Pilgrim,” một gã mà anh sắp sửa nằm chen vào lên tiếng, “phải mày đó không?”

Billy không nói gì, mà rất lịch sự len vào, nhắm mắt lại.

“Mẹ kiếp,” gã kia nói. “Là mày, phải không?” Gã ngồi dậy thô lỗ sờ soạng Billy. “Đúng là mày rồi. Cút mẹ mày đi.”

Billy giờ cũng ngồi dậy, khổ sở, mắt ngân ngấn.

“Biến ra khỏi đây. Tao muốn ngủ.”

“Câm đi,” ai đó lên tiếng.

“Tao sẽ câm khi thằng Pilgrim biến khỏi đây.”

Vậy là Billy phải đứng dậy, bám vào thanh giằng chéo. “Tôi biết ngủ ở đâu?” anh thì thào hỏi.

“Không phải với tao.”

“Không phải với tao, thằng khốn,” một ai khác nói. “Mày la hét, đấm đá lung tung.”

“Thật sao?”

“Lại còn không thật. Còn rên rỉ nữa.”

“Thật sao?”

“Cút xa khỏi đây, Pilgrim.”

Và giờ thì giọng nói khắp mọi xó của toa tàu cùng hòa vào một bản đồng ca cay nghiệt. Gần như ai cũng có một câu chuyện độc địa về một tội vạ gì đó Billy Pilgrim gây ra cho mình trong khi ngủ. Ai cũng bảo Billy Pilgrim cút ra xa.

Vậy là Billy Pilgrim phải ngủ đứng, hoặc không ngủ gì cả. Thức ăn thì không còn tuôn vào qua lỗ thông gió nữa, cả ngày và đêm càng lúc càng rét.

Vào ngày thứ tám, gã ma cà bông bốn mươi tuổi nói với Billy, “Thế này không đến nỗi tệ. Ở đâu tao cũng thấy thoải mái.”

“Thật sao?” Billy nói.

Vào ngày thứ chín, gã ma cà bông ngủm. Đời là thế. Lòi cuối cùng của gã là, “Mày nghĩ thế này là tệ hả? Không tệ chút nào đâu.”

Có một mối liên hệ giữa chết chóc và ngày thứ chín. Có một cái chết cũng đến vào ngày thứ chín trên toa tàu phía trước toa của Billy. Roland Weary chết vì hoại tử từ đôi chân nham nhở của hắn. Đời là thế.

Weary, trong trạng thái mê sảng gần như liên tục, kể đi kể lại về Ba người lính Ngự lâm, nhận thức rằng mình đang chết dần, gửi gắm lời nhắn nhủ về cho gia đình ở Pittsburgh. Hơn cả, hắn muốn được báo thù, nên hắn lặp đi lặp lại tên người đã giết hắn. Mọi người trong toa tàu thuộc bài rất kỹ.

“Ai giết tôi?” hắn sẽ hỏi.

Và mọi người đều biết câu trả lời, đó là: “Billy Pilgrim.”

Nghe này - vào đêm thứ mười chốt được rút khỏi khoen cửa toa của Billy, và cửa mở ra. Billy Pilgrim đang nằm co quắp trên thanh giằng góc, tự đóng câu rút, treo người ở đó với một cái móc màu xanh và màu ngà, móc qua mép dưới lỗ thông gió. Billy ho khi cửa mở, và khi ho anh bắn ra ít phân lỏng như cháo. Việc này diễn ra theo Định luật thứ ba về Chuyển động của Isaac Newton. Định luật này cho ta biết rằng mỗi động lực sẽ làm phát sinh một phản lực cùng giá trị, cùng độ lớn, nhưng ngược chiều.

Định luật này rất hữu ích với ngành nghiên cứu tên lửa.

Đoàn tàu đã tới một chỗ tránh tàu gần một nhà giam nguyên thủy được xây nhằm làm trại thanh trừng tù binh chiến tranh Nga.

Bọn gác nhòm vào toa Billy dò xét, khẽ thì thầm. Chúng chưa bao giờ xử lý người Mỹ trước đây, nhưng chắc chắn chúng hiểu rõ loại hàng hóa này. Chúng biết về căn bản đó là một loại chất lỏng có thể khiến nó từ từ chảy về phía tiếng gù gù và ánh sáng. Khi ấy là ban đêm.

Anh sáng duy nhất bên ngoài phát ra từ một bóng đèn lẻ loi treo một cây cọc cao và ở khá xa. Bên ngoài mọi thứ đều tĩnh lặng, ngoại trừ đám gác, chúng rì rầm như lũ chim bồ câu gù. Và chất lỏng bắt đầu chảy. Nó dồn lại ở cửa, rồi từng giọt rơi tõm xuống đất.

Billy là người áp chót ra tới cửa. Gã ma cà bông là kẻ sau chót. Gã ma cà bông không trôi được, không chảy được. Gã không còn là chất lỏng nữa. Gã là đá. Đời là thế.

Billy không muốn rơi từ toa xuống đất. Anh thật sự tin rằng mình sẽ vỡ tan như thủy tinh. Thành thử đám gác đỡ anh xuống, vẫn rì rầm. Chúng đặt anh xuống mặt hướng về đoàn tàu. Đoàn tàu lúc này chỉ còn một mẩu.

Chỉ còn một đầu máy, một toa than, và ba toa hàng nhỏ. Toa cuối cùng là thiên đường di động của đám gác đường tàu. Bên trong thiên đường di động đó, bàn ăn lại được bày biện. Người ta đang ăn bữa tối.

Ở dưới chân cái cột treo bóng đèn là ba đống trông như đống rơm. Đám lính Đức dỗ dành hoặc chọc ghẹo để lùa đám tù Mỹ tới ba đống đó, hóa ra không phải là đống rơm. Đó là áo khoác lấy từ các tù binh đã chết. Đời là thế.

Đám gác tỏ rõ ý chúng: bất cứ lính Mỹ nào chưa có áo khoác hãy lấy một cái. Những chiếc áo khoác bị dính cứng với băng, nên đám gác phải dùng lưỡi lê để phá băng, gỡ cổ áo, gấu áo, ống tay áo và vân vân, rồi bóc những chiếc áo khoác và phân phát ngẫu nhiên. Những chiếc áo khoác đều cứng ngắc, có hình chóp khuôn theo cái đống chúng bị chất lên.

Chiếc áo khoác Billy Pilgrim lấy được cũng nhàu nhĩ và đông cứng như vậy, và nó nhỏ quá, thành ra trông chẳng giống áo mà chỉ như một cái mũ đen, lớn chành ra ba góc. Trên áo còn có những vệt bẩn, như vết dầu máy hay mứt dâu cũ. Dường như có một con thú đầy lông bị đóng băng chết ngắc vào cái áo. Con thú thực ra là cái cổ áo có lông.

Billy đờ đẫn liếc nhìn áo khoác của những người cùng tốp. Áo của họ đều có cúc đồng, kim tuyến, dải viền, số, sọc, đại bàng, hoặc trăng, sao lủng lẳng. Chúng đều là áo khoác lính. Billy là người duy nhất có áo của một dân thường đã chết. Đời là thế.

Billy và những người còn lại được động viên lê bước qua đoàn tàu ngắn ngủn của họ và đi vào trại giam. Chẳng có gì ấm áp hay sinh động hấp dẫn họ, chỉ có hàng nghìn lán thấp, hẹp, dài thượt, bên trong không đèn đuốc gì.

Đây đó có tiếng chó sủa. Nhờ nỗi sợ hãi, tiếng vọng và sự thinh lặng mùa đông, tiếng con chó đó nghe như tiếng một cái chiêng đồng bự chảng.

Billy và những người khác được dỗ dành đi qua hết cổng này đến cổng kia, rồi Billy nhìn thấy tay người Nga đầu tiên. Gã lẻ loi trong đêm - trông như một cái bị rách với gương mặt tròn, dẹt lấp lánh như một cái mặt đồng hồ dạ quang.

Billy đi ngang cách gã chừng một thước. Giữa họ là hàng rào kẽm gai. Gã Nga không vẫy tay hay nói năng gì, mà nhìn thẳng vào tâm hồn Billy với vẻ hy vọng ngọt ngào, như thể Billy có thể mang tin tốt lành nào đến cho gã - những tin tức mà gã có khi quá đần nên không thể hiểu được, nhưng dẫu sao vẫn là tin tốt.

Billy lịm đi trong lúc bước qua hết cổng này đến cổng kia. Anh tới một chỗ anh tưởng là một tòa nhà trên hành tinh Tralfamadore. Ở đó ánh đèn gay gắt, nền gạch trắng chạy dài. Tuy vậy, nơi đó vẫn ở trên Trái đất. Đó là khu khử chấy rận mà mọi tù binh mới phải đi qua.

Billy làm theo lệnh, cởi bỏ áo quần. Ở trên Tralfamadore đó cũng là việc đầu tiên người ta bảo anh làm.

Một tên người Đức đo bắp tay phải của Billy bằng ngón cái và ngón trỏ, hỏi bạn gã rằng cái kiểu quân đội gì lại đưa ra trận một gã yếu nhớt thế này. Họ nhìn sang các lính Mỹ khác, phát hiện ra nhiều người có thể hình tồi tệ chẳng kém Billy.

Một trong những người có thể hình khá nhất là tay người Mỹ già nhất ở đây, một giáo viên trung học quê Indianapolis. Ông tên là Edgar Derby. Ông không cùng toa với Billy. Ông cùng toa với Roland Weary, đã đỡ đầu Roland Weary khi hắn hấp hối. Đời là thế. Derby bốn mươi tư tuổi. Ông già đến nỗi có một cậu con trai là lính thủy ở chiến trường Thái Bình Dương.

Derby đã tận dụng quan hệ để được đăng lính ở tuổi này. Ở Indianapolis ông dạy môn Những Vấn đề Đương đại của Văn minh phương Tây. Ông cũng huấn luyện đội quần vợt và chăm sóc cơ thể mình rất mực.

Con trai của Derby sẽ sống sót qua cuộc chiến. Derby thì không. Tấm thân khỏe khoắn của ông sẽ bị xuyên đầy những lỗ bởi một đội hành hình ở Dresden sau sáu mươi tám ngày nữa. Đời là thế.

Người Mỹ có thể hình tệ nhất không phải là Billy. Người có thể hình tệ nhất là một gã trộm xe quê ở Cicero, Illinois. Gã tên là Paul Lazzaro. Gã bé loắt choắt, không chỉ xương và răng gã thối mục, mà da gã cũng tởm. Khắp người Lazzaro phủ đầy những vết sẹo lốm đốm cỡ đồng xu. Gã cũng có nhiều hạch nhọt.

Lazzaro cũng cùng toa tàu với Roland Weary, và gã đã hứa danh dự với Weary rằng gã sẽ tìm cách buộc Billy Pilgrim trả giá cho cái chết của Weary. Gã đang nhìn quanh, tự nhủ kẻ trần truồng nào là Billy.

Đám người Mỹ trần truồng đứng vào dưới các đầu sen tắm dọc bức tường gạch trắng. Không có cái van nào cho họ vặn. Họ chỉ có thể chờ đợi bất cứ thứ gì đang đến. Dương vật họ teo lại và tinh hoàn thụt vào trong. Sinh sản không phải là công việc chính của bữa tối hôm đó.

Một bàn tay vô hình vặn van tổng. Từ các đầu sen tắm, mưa nóng bỏng phun ra. Trận mưa là ngọn lửa hàn xì không làm người ta ấm hơn. Nó nhảy nhót gào thét trên làn da Billy mà chẳng làm tan đi băng giá sâu tận tủy những lóng xương dài của anh.

Trong khi đó quần áo của đám lính Mỹ được đưa qua khí độc. Chấy, rận, vi khuẩn chết hàng tỷ tỷ. Đời là thế.

Và Billy vọt ngược thời gian trở về thuở sơ sinh. Anh là một em bé vừa được mẹ tắm. Bây giờ mẹ quấn anh trong khăn tắm, mang anh vào căn phòng hồng nhạt ngập tràn ánh nắng. Bà mở anh ra, đặt anh nằm trên tấm khăn khiến anh buồn buồn, rắc bột phấn vào giữa hai chân anh, đùa với anh, vỗ nhẹ cái bụng mềm của anh. Lòng bàn tay bà trên cái bụng mềm của anh tạo ra những âm thanh bì bạch.

Billy ríu rít, gù gù.

Và rồi Billy lại là một bác sĩ chăm sóc thị lực trung niên, lần này đang chơi golf trong một buổi sáng Chủ nhật mùa hè nắng cháy. Billy không bao giờ đi nhà thờ nữa. Anh đang chơi với ba bác sĩ chăm sóc thị lực khác. Billy đang có bóng golf ở trên sân và đã đánh bảy gậy, và tới lượt anh đánh.

Đó là một cú gảy cách lỗ hai mét rưỡi và anh đã thành công. Anh cúi người nhặt bóng khỏi lỗ, mặt trời khuất sau một đám mây. Billy bỗng dưng chóng mặt. Khi tỉnh lại, anh không còn trên sân golf nữa. Anh bị buộc vào chiếc ghế thư giãn màu vàng trong một căn phòng trắng trên chiếc đĩa bay đang hướng về phía Tralfamadore.

“Tôi đang ở đâu đây?” Billy Pilgrim hỏi.

“Kẹt trong một giọt hổ phách khác, ngài Pilgrim. Chúng ta đang ở nơi chúng ta cần có mặt ngay thời điểm này - cách Trái đất ba trăm triệu dặm, hướng tới một xoáy thời gian giúp ta tới được Tralfamadore trong vòng vài tiếng đồng hồ thay vì vài thế kỷ.”

“Tôi… tôi đến đây bằng cách nào?”

“Cần phải có một sinh vật Trái đất khác giải thích cho ngài mới được. Sinh vật Trái đất là giống giải thích đại tài, giải thích vì sao sự kiện này được cấu tạo như thế, thuật lại những sự kiện khác có thể đạt được hay tránh được bằng cách nào. Tôi là một người Tralfamadore, tôi nhìn tất cả thời gian như ngài nhìn thấy rặng núi Rocky. Tất cả thời gian là tất cả thời gian. Nó không mảy may thay đổi. Nó không được dùng để cảnh báo hay giải thích. Nó chỉ đơn giản tồn tại. Cứ xét từng khoảnh khắc, rồi ngài sẽ thấy rằng tất cả chúng ta, như tôi từng nói, đều là những con bọ trong hổ phách.”

“Nghe có vẻ ông không tin vào tự do ý chí,” Billy Pilgrim nói.

“Nếu tôi không từng bỏ ra thật nhiều thời gian nghiên cứu sinh vật Trái đất,” người Tralfamadore nói, “tôi hẳn sẽ chẳng có ý niệm gì về cái gọi là ‘tự do ý chí’. Tôi đã đặt chân đến ba mốt hành tinh có sự sống trong vũ trụ, và tôi cũng đã nghiên cứu các báo cáo về một trăm hành tinh nữa. Chỉ trên Trái đất là có nói tới tự do ý chí.”

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.