Robert Kennedy, chủ nhân căn nhà nghỉ mát mùa hè cách căn nhà tôi sống quanh năm tám dặm, bị bắn cách đây hai đêm. Ông chết đêm qua. Đời là thế.
Martin Luther King bị bắn cách đây một tháng[1]. Ông cũng chết. Đời là thế.
Và hằng ngày Chính phủ của tôi cho tôi con số người chết bởi bàn tay khoa học quân sự ở Việt Nam. Đời là thế.
Cha tôi mất cách đây nhiều năm, một cái chết tự nhiên. Đời là thế. Ông là một người tử tế. Ông cũng là tay nghiện súng. Ông để lại cho tôi những khẩu súng của ông. Chúng đã gỉ.
Trên Tralfamadore, Billy Pilgrim nói, chẳng mấy ai quan tâm đến Chúa Giêsu. Nhân vật Trái đất hấp dẫn đầu óc người Tralfamadore nhất, ông nói, là Charles Darwin, người dạy rằng người nào chết thì phải chết thôi, rằng xác chết là sự cải thiện. Đời là thế.
Ý tưởng chung tương tự cũng xuất hiện trong cuốn Tấm bảng lớn của Kilgore Trout. Những sinh vật đĩa bay bắt giữ nhân vật của Trout hỏi anh ta về Darwin. Họ cũng hỏi anh ta về môn golf.
Nếu những gì Billy Pilgrim học được từ người Tralfamadore là đúng, tức là tất cả chúng ta đều sống mãi mãi, bất kể đôi khi chúng ta có vẻ chết rồi, tôi cũng không cảm thấy vui mừng thái quá. Tuy vậy - nếu tôi bỏ cả vĩnh hằng ghé thăm khoảnh khắc này khoảnh khắc nọ, tôi biết ơn rằng rất nhiều trong số đó là khoảnh khắc đẹp.
Một trong những khoảnh khắc đẹp nhất trong thời gian gần đây là chuyến trở về Dresden cùng chiến hữu ngày xưa, O’Hare.
Chúng tôi đáp máy bay của hãng Hàng không Hungary từ Đông Berlin. Viên phi công để ria vểnh. Trông ông ta giống Adolphe Menjou[2]. Ông ta hút xì gà Cuba trong khi máy bay tiếp nhiên liệu. Khi cất cánh, không hề có cảnh báo thắt dây an toàn.
Khi máy bay đã ở trên không, một cậu tiếp viên trẻ mang cho chúng tôi bánh mì lúa mạch, salami, bơ, phó mát và vang trắng. Cái khay gấp trước mặt tôi không chịu bung ra. Cậu tiếp viên vào trong khoang lái tìm dụng cụ, trở ra với một cái khui bia. Cậu ta dùng nó để nạy cái khay ra.
Chỉ có sáu hành khách khác. Họ nói nhiều thứ tiếng. Họ cũng có một quãng thời gian đẹp. Đông Đức ngay bên dưới, đã lên đèn. Tôi tưởng tượng mình đang thả bom lên những ngọn đèn ấy, những xóm làng, thành phố và thị trấn ấy.
Cả O’Hare lẫn tôi chưa bao giờ mong kiếm được tiền, vậy mà giờ chúng tôi ở đây, cực kỳ giàu có.
“Nếu có khi nào anh ghé qua Cody, bang Wyoming,” tôi uể oải bảo anh ta, “cứ hỏi thăm Bob Hoang”.
O’Hare mang theo một cuốn sổ nhỏ, trên bìa sau có in cước bưu chính, chiều dài các đường bay, chiều cao của các ngọn núi nổi tiếng và những thông tin chính khác về thế giới. Anh đang tìm thông tin dân số của Dresden, nhưng không có trong sổ, rồi anh bắt gặp đoạn này, bèn đưa tôi đọc:
Trung bình, mỗi ngày thế giới đón nhận 324.000 em bé chào đời. Cũng trong ngày đó, trung bình 10.000 người sẽ chết vì đói hoặc suy dinh dưỡng. Đời là thế. Thêm vào đó, 123.000 người sẽ chết vì những lý do khác. Đời là thế. Như vậy con số tăng thuần mỗi ngày trên thế giới là 191.000. Cục Nghiên cứu Dân số dự báo tổng dân số thế giới sẽ tăng gấp đôi thành 7.000.000.000 người trước năm 2000.
“Tớ đồ rằng tất cả bọn họ đều muốn có phẩm giá,” tôi nói.
“Tớ cũng nghĩ vậy,” O’Hare nói.
Trong lúc đó Billy Pilgrim cũng đang trở về Dresden, nhưng không ở thời kỳ hiện tại. Anh trở về Dresden của năm 1945, hai ngày sau khi thành phố bị phá hủy. Lúc bấy giờ Billy và những người còn lại đang được đám gác dong vào đống đổ nát. Tôi ở đó. O’Hare cũng ở đó. Hai đêm vừa rồi chúng tôi trú ở chuồng ngựa của ông chủ quán trọ mù. Chính quyền tìm thấy chúng tôi ở đó. Họ bảo chúng tôi cần phải làm gì. Chúng tôi phải mượn cuốc chim, xẻng, xà beng, xe cút kít từ hàng xóm. Chúng tôi phải mang những dụng cụ này tới những chỗ ấy trong đống đổ nát, sẵn sàng làm việc.
Có những rào chắn trên những con lộ chính dẫn vào đống đổ nát. Người Đức phải dừng chân ở đó. Họ không được phép khám phám Mặt trăng.
Sáng hôm đó, tù binh từ nhiều nơi tập trung ở chỗ ấy ở Dresden. Lệnh đã ban rằng đây là nơi cuộc đào bới tìm kiếm xác bắt đầu. Thế là cuộc đào bới bắt đầu.
Billy thấy mình được ghép đôi với một tay người Maori, bị bắt ở Tobruk. Người Maori nâu màu sô cô la. Trên trán và má anh xăm hình những xoáy nước. Billy và người Maori đào xuống lớp đá trơ khấc của Mặt trăng, không hy vọng tìm thấy gì. Lớp đất đá đè lên nhau lỏng lẻo, nên liên tục có những đợt đất đá lở xuống.
Người ta đào nhiều hố cùng lúc. Không ai biết mình cần tìm cái gì ở đó. Nhiều hố đào chẳng thấy gì - đụng phải vỉa hè, hay những tảng đá quá lớn không thể đào tiếp. Không có máy móc gì. Ngay cả ngựa, lừa hay bò cũng không thể băng qua bề mặt Mặt trăng.
Billy, người Maori và những người khác cùng chung sức đào một cái hố, rốt cuộc cũng đào tới một lớp gỗ vắt qua những tảng đá kết lại với nhau tình cờ tạo thành một mái vòm. Họ khoét một lỗ vào lớp gỗ. Dưới đó có bóng tối và một khoảng không.
Một linh Đức mang theo đèn pin leo xuống bóng tối, biến mất một lúc lâu. Cuối cùng khi quay lại, anh ta bảo với cấp trên đang đứng trên rìa hố rằng có hàng tá xác dưới đó. Họ ngồi trên ghế băng. Họ không thể nhận dạng được nữa.
Đời là thế.
Cấp trên nói rằng cần khoét rộng cái lỗ trên tấm gỗ, và phải thả một thang dây xuống dưới để khiêng xác ra. Như vậy cái mỏ xác người đầu tiên ở Dresden bắt đầu được khai thác.
Chẳng mấy chốc hàng trăm mỏ xác người bắt đầu hoạt động. Thoạt tiên chúng không hôi lắm, chỉ là những bảo tàng sáp. Nhưng rồi các xác chết phân hủy và chảy nước, mùi hôi bốc như mùi hoa hồng trộn lẫn khí lưu huỳnh.
Đời là thế.
Người Maori làm việc cùng Billy chết vì chứng nôn khan, sau khi được lệnh phải leo xuống chỗ bốc mùi ấy mà làm việc. Anh ta cấu xé chính mình, nôn thốc nôn tháo.
Đời là thế.
Rồi người ta sử dụng phương pháp mới. Các xác chết không được đưa ra nữa. Chúng được lính hỏa táng bằng súng phun lửa ngay tại chỗ. Lính đúng bên ngoài hầm trú ẩn, chỉ cần phun lửa vào trong.
Đâu đó trong đó ông thầy giáo trung học già đáng thương, Edgar Derby, bị bắt quả tang lấy một ấm trà từ hầm mộ. Ông bị bắt vì tội trộm cắp. Ông bị xét xử và bị bắn.
Đời là thế.
Và đâu đó trong đó là mùa xuân. Những mỏ xác người được đóng lại. Lính tráng rời đi để chiến đấu với người Nga. Ở ngoại ô, đàn bà và trẻ con đào chiến hào. Billy và những người còn lại trong nhóm bị nhốt trong chuồng ngựa ở ngoại ô. Và rồi một sáng thức dậy, họ phát hiện ra cửa không bị khóa. Đệ nhị Thế chiến ở châu Âu đã kết thúc.
Billy và những người còn lại lếch thếch đi trên con đường râm mát. Cây cối đâm chồi nảy lộc. Ngoài này không có gì, không có bất cứ bóng dáng xe cộ phương tiện nào cả. Chỉ một chiếc xe duy nhất, một xe thùng hai ngựa kéo bị bỏ không ở đó. Thùng xe màu xanh lá và có hình quan tài.
Chim chóc đang nói líu lo.
Một con chim nói với Billy Pilgrim, “Tu-iu-huýt?”
❀ ❀ ❀
[1] Martin Luther King bị bắn vào tháng Tư năm 1968. Lò sát sinh số 5 được xuất bản lần đầu vào tháng Ba năm 1969.
[2] Adolphe Jean Menjou (1890 - 1963) diễn viên điện ảnh người Mỹ.