Đường Đến Xứ Oz

Lượt đọc: 14 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mục Lục Các Chương

❊ ❊ ❊

1. Đường đến Butterfield

2. Dorothy gặp Button-bright

3. Một ngôi làng kỳ quặc

4. Vua Dox

5. Con gái Cầu Vồng

6. Thành phố của những loài thú

7. Sự biến đổi của Người Bờm Xờm

8. Người Âm Nhạc

9. Chạm trán bọn Scoodler

10. Thoát khỏi cái vạc súp

11. Johnny Dooit ra tay

12. Vượt qua Sa mạc Chết

13. Hồ Sự Thật

14. Tik-Tok và Billina

15. Lâu đài thiếc của Hoàng đế

16. Thăm cánh đồng bí ngô

17. Chiex xe hoàng gia đến nơi

18. Thành phố Ngọc Lục Bảo

19. Sự chào đón Người Bờm Xờm

20. Công chúa Ozma xứ Oz

21. Dorothy tiếp đón các vị khách

22. Những vị khách quan trọng đến nơi

23. Bữa tiệc lớn

24. Lễ kỷ niệm sinh nhật

"Làm ơn, thưa cô," người đàn ông bờm xờm nói, "cô có thể chỉ cho tôi đường đến Butterfield không?"

Dorothy nhìn quan sát ông ta. Phải, ông ta bờm xờm thật; nhưng trong mắt ông ta có một ánh lấp lánh có vẻ dễ mến.

"Ồ, vâng," cô đáp; "tôi có thể chỉ cho ông. Nhưng đây hoàn toàn không phải con đường đó."

"Không phải à?"

"Ông băng qua mảnh đất mười mẫu, đi theo lối mòn ra đường cái, đi về hướng bắc đến ngã năm, rồi rẽ—để tôi xem nào—"

"Chắc chắn rồi, thưa cô; cứ chỉ đến tận Butterfield, nếu cô thích," người đàn ông bờm xờm nói.

"Ông rẽ vào nhánh đường cạnh cái gốc cây liễu, tôi tin thế; hoặc không thì nhánh đường cạnh các hang chuột túi; hoặc không thì——"

"Không nhánh nào dùng được hả cô?"

"Tất nhiên là không rồi, Người Bờm Xờm. Ông phải đi đúng đường mới tới được Butterfield."

"Và đó là lối đi cạnh cái gốc cây chuột túi, hay là——"

"Trời đất ơi!" Dorothy kêu lên; "tôi đành phải dẫn đường cho ông thôi; ông ngốc quá. Chờ một phút để tôi chạy vào nhà lấy chiếc mũ rơm che nắng."

Người đàn ông bờm xờm đứng đợi. Ông ngậm một cọng rơm yến mạch trong miệng, nhai chậm rãi như thể nó rất ngon; nhưng thực ra thì không. Cạnh nhà có một cây táo, và mấy quả đã rụng xuống đất. Người đàn ông bờm xờm nghĩ rằng chúng sẽ ngon hơn cọng rơm yến mạch, thế là ông bước tới để nhặt vài quả. Một chú chó nhỏ màu đen với đôi mắt nâu sáng lao vụt ra từ ngôi nhà trang trại và chạy như bay về phía người đàn ông bờm xờm — người lúc này đã nhặt được ba quả táo và nhét vào một trong những cái túi lớn rộng thùng thình trên chiếc áo khoác bờm xờm của mình. Chú chó nhỏ sủa vang, lao thẳng vào chân người đàn ông bờm xờm; nhưng ông chộp lấy cổ chú chó và nhét nó vào chiếc túi lớn cùng với những quả táo. Sau đó ông còn nhặt thêm nhiều quả táo nữa, bởi dưới đất có rất nhiều; và mỗi quả táo ông ném vào túi lại đập trúng đầu hoặc lưng chú chó nhỏ, khiến nó gừ gừ kêu lên. Chú chó nhỏ tên là Toto, và nó rất hối hận vì đã chui vào túi của người đàn ông bờm xờm.

Chẳng mấy chốc Dorothy bước ra khỏi nhà với chiếc mũ che nắng trên đầu, cô gọi lớn:

"Đi thôi, Người Bờm Xờm, nếu ông muốn tôi chỉ đường cho đến Butterfield." Cô trèo qua hàng rào vào khoảnh đất mười mẫu và ông đi theo sau cô, bước đi chậm chạp và vấp váp qua những gò đất nhỏ ngoài bãi cỏ như thể ông đang bận nghĩ chuyện gì khác mà chẳng hề chú ý đến chúng.

"Ôi chao, sao ông vụng về thế!" cô bé nói. "Chân ông mỏi lắm à?"

"Không, thưa cô; râu của tôi cơ; chúng rất dễ mỏi vào thời tiết ấm áp này," ông đáp. "Tôi ước gì trời đổ tuyết; cô có ước thế không?"

"Tất nhiên là không rồi, Người Bờm Xờm," Dorothy đáp, liếc nhìn ông vẻ nghiêm khắc. "Nếu tháng Tám mà có tuyết rơi thì ngô, yến mạch và lúa mì sẽ hỏng hết; rồi Bác Henry sẽ chẳng còn vụ thu hoạch nào; và điều đó sẽ khiến bác ấy nghèo đi; và——"

"Thôi được rồi," người đàn ông bờm xờm nói. "Chắc là trời không đổ tuyết đâu. Đây có phải lối mòn không?"

"Đúng vậy," Dorothy đáp, trèo qua một hàng rào khác; "tôi sẽ đi cùng ông ra đến đường cái."

"Cảm ơn cô nhé; quả thực cô rất tốt bụng so với vóc dáng của mình," ông nói với vẻ biết ơn.

Dorothy vừa rảo bước dọc theo lối mòn vừa nhận xét: "Không phải ai cũng biết đường đến Butterfield đâu; nhưng tôi đã cùng Bác Henry lái xe đến đó không biết bao nhiêu lần, thế nên tôi tin mình có bị bịt mắt cũng vẫn tìm ra đường."

"Đừng làm thế, thưa cô," người đàn ông bờm xờm số sắng can ngăn; "cô có thể đi nhầm đấy."

"Tôi không nhầm đâu," cô vừa cười vừa đáp. "Đây là đường cái rồi. Bây giờ, đó là ngã rẽ thứ hai — không, là thứ ba bên trái — hoặc không thì là thứ tư. Để xem nào. Ngã rẽ đầu tiên là chỗ cây du; ngã rẽ thứ hai là cạnh mấy cái hang chuột túi; và rồi——"

"Rồi sao nữa?" ông hỏi, đút tay vào túi áo khoác. Toto liền chộp lấy một ngón tay và cắn; người đàn ông bờm xờm vội rút tay ra khỏi cái túi đó và thốt lên "Ôi!"

Dorothy không để ý. Cô lấy tay che mắt khỏi ánh mặt trời, lo lắng nhìn dọc theo con đường.

"Đi nào," cô ra lệnh. "Chỉ còn một đọn đường nữa thôi, nên tôi cứ dẫn ông đi cho trót."

Đi một lúc, họ đến nơi có năm con đường rẽ ra các hướng khác nhau; Dorothy chỉ vào một con đường và nói:

"Đường đó đấy, Người Bờm Xờm."

"Cảm ơn cô nhiều nhé," ông nói, rồi bước sang một con đường khác.

"Không phải đường đó!" cô kêu lên; "ông đi ngược đường rồi."

Ông khựng lại.

"Tôi cứ tưởng cô bảo đường kia mới là đường đi Butterfield," ông nói, đưa tay luồn qua bộ râu bờm xờm với vẻ đầy bối rối.

"Thì đúng là vậy mà."

"Nhưng tôi có muốn đi Butterfield đâu, thưa cô."

"Ông không muốn à?"

"Tất nhiên là không rồi. Tôi muốn cô chỉ đường cho tôi, để tôi không đi nhầm đến đó chứ."

“Ồ! Thế thì ông muốn đi đâu?”

"Tôi đi đâu cũng được, thưa cô."

Câu trả lời này khiến cô bé ngạc nhiên; và nó cũng làm cô bực mình khi nghĩ rằng mình đã mất công rắc rối thế này mà chẳng được tích sự gì.

Người đàn ông bờm xờm quay tròn người một cách chậm rãi như một chiếc cối xay gió bằng xương bằng thịt, rồi nhận xét: "Ở đây có rất nhiều đường."

"Tôi thấy từ chỗ này người ta có thể đi đến hầu như bất cứ đâu."

Dorothy cũng quay người lại và kinh ngạc ngước nhìn. Có rất nhiều đường thật; nhiều hơn bất cứ lúc nào cô từng thấy trước đây. Cô thử đếm chúng, vốn biết rằng đáng lẽ chỉ có năm con đường; nhưng khi đếm đến mười bảy thì cô bắt đầu hoa mắt và dừng lại, bởi số đường nhiều như nan hoa của một chiếc bánh xe và tỏa đi khắp mọi hướng từ nơi họ đang đứng; thế nên nếu cô cứ đếm tiếp thì khả năng cao sẽ đếm trùng vài con đường.

"Trời đất ơi!" cô thốt lên. "Trước đây chỗ này chỉ có đúng năm con đường, tính cả đường cái. Còn bây giờ — ơ kìa, đường cái đâu rồi, Người Bờm Xờm?"

"Chịu thôi, thưa cô," ông đáp, ngồi phịch xuống đất như thể đã mỏi chân vì đứng lâu. "Chẳng phải nó vừa ở đây một phút trước sao?"

"Tôi tưởng thế," cô đáp với vẻ vô cùng hoang mang. "Và tôi cũng thấy mấy cái hang chuột túi, cùng với cái gốc cây mục nữa chứ; nhưng bây giờ chúng đâu mất rồi. Những con đường này lạ hoắc — và sao mà lắm thế không biết! Ông đoán xem tất cả chúng dẫn đi đâu?"

"Đường xá," người đàn ông bờm xờm nhận xét, "chẳng dẫn đi đâu cả. Chúng nằm yên một chỗ để người ta đi lại trên đó thôi."

Ông thọc tay vào chiếc túi bên hông và rút ra một quả táo — thật nhanh, trước khi Toto kịp cắn ông lần nữa. Lần này chú chó nhỏ chõ đầu ra và sủa "Gâu gâu!" to đến mức khiến Dorothy giật nảy mình.

"Ôi Toto!" cô kêu lên; "mày chui từ đâu ra thế?"

"Tôi mang nó theo cùng," người đàn ông bờm xờm nói.

"Mang theo làm gì?" cô hỏi.

"Để canh giữ số táo trong túi tôi này cô, kẻo có kẻ trộm mất."

Một tay người đàn ông bờm xờm cầm quả táo bắt đầu ăn, trong khi tay kia lôi Toto ra khỏi túi và thả nó xuống đất. Đương nhiên Toto lập tức lao về phía Dorothy, sủa mừng rỡ vì được giải thoát khỏi chiếc túi tối thui. Khi cô bé âu yếm vỗ đầu nó xong, nó liền ngồi phịch xuống trước mặt cô, chiếc lưỡi đỏ lè thõng ra một bên miệng, ngước đôi mắt nâu sáng long lanh nhìn lên khuôn mặt cô như muốn hỏi xem họ phải làm gì tiếp theo.

Dorothy chẳng biết làm gì hơn. Cô lo lắng nhìn quanh tìm một cột mốc quen thuộc nào đó; nhưng mọi thứ đều lạ lẫm. Xen giữa các nhánh đường là những đồng cỏ xanh rờn cùng vài bụi cây và thân gỗ, nhưng cô hoàn toàn chẳng thấy bóng dáng ngôi nhà trang trại mà cô vừa bước ra đâu cả, hay bất cứ thứ gì cô từng thấy trước đây — ngoại trừ người đàn ông bờm xờm và con chó Toto.

Thêm vào đó, cô đã quay mòng mòng không biết bao nhiêu lần để tìm xem mình đang ở đâu, đến nỗi bây giờ cô thậm chí không thể phân biệt nổi đâu là hướng về trang trại; điều này bắt đầu làm cô lo lắng và bồn chồn.

"Tôi e là, Người Bờm Xờm," cô vừa thở dài vừa nói, "chúng ta lạc mất rồi!"

"Có gì mà phải sợ," ông đáp, vứt lõi quả táo đi và bắt đầu ăn quả tiếp theo. "Mỗi con đường này thế nào cũng dẫn đến đâu đó, nếu không thì nó đã chẳng nằm đây. Thế thì có gì mà bận tâm?"

"Tôi muốn về nhà cơ," cô nói.

"Chà, sao cô không về?" ông bảo.

"Tôi có biết phải đi con đường nào đâu."

"Thật là tệ quá," ông nói, vẻ mặt nghiêm nghị lắc lắc cái đầu bờm xờm. "Tôi ước gì mình có thể giúp cô; nhưng chịu thôi. Tôi là kẻ tha hương ng xứ mà."

"Hình như tôi cũng thế," cô nói, rồi ngồi xuống bên cạnh ông. "Thật buồn cười. Mới cách đây vài phút tôi còn ở nhà, và tôi chỉ ra đây để chỉ đường cho ông đến Butterfield——"

"Để tôi không đi nhầm đến đó——"

"Và giờ thì chính tôi cũng lạc đường và chẳng biết làm sao để về nhà nữa rồi!"

"Ăn táo đi," người đàn ông bờm xờm gợi ý, chìa cho cô một quả táo vỏ đỏ hồng phớt.

"Tôi không đói," Dorothy nói và đẩy ra.

"Nhưng ngày mai có thể cô sẽ đói; lúc ấy cô sẽ thấy hối hận vì đã không ăn quả táo đấy," ông bảo.

"Nếu lúc đó đói, tôi sẽ ăn táo lúc đó," Dorothy hứa.

"Biết đâu lúc đó lại chẳng còn quả táo nào ấy chứ," ông đáp, rồi tự mình bắt đầu ăn quả táo đỏ hồng ấy. Ông nói tiếp: "Đôi khi loài chó có thể tìm đường về nhà giỏi hơn con người; biết đâu con chó của cô có thể dẫn cô quay lại trang trại."

"Mày làm được không, Toto?" Dorothy hỏi.

Toto ngoe nguẩy chiếc đuôi một cách nhiệt tình.

"Được rồi," cô bé nói; "chúng ta về nhà thôi."

Toto ngó nghiêng một lát rồi lao vút lên một trong các con đường.

"Tạm biệt Người Bờm Xờm nhé," Dorothy gọi với theo, rồi chạy đuổi theo Toto. Chú chó nhỏ hí hửng nhảy chân sáo một đoạn khá xa; rồi nó quay lại, ngước đôi mắt đầy vẻ dò hỏi nhìn cô chủ.

"Ồ, đừng có trông mong tôi chỉ bảo gì nhé; tôi có biết đường đâu," cô nói. "Mày phải tự tìm lấy thôi."

Nhưng Toto nào tìm được. Nó ngoe nguẩy đuôi, hắt xì, lắc đôi tai rồi chạy lùi về chỗ họ vừa bỏ lại người đàn ông bờm xờm. Từ đây, nó bắt đầu rẽ sang một con đường khác; rồi lại quay lại thử một con đường khác nữa; nhưng lần nào nó cũng thấy con đường đó lạ hoắc và quyết định rằng chúng sẽ chẳng đưa họ về đến trang trại đâu. Cuối cùng, khi Dorothy đã bắt đầu thấy mệt phờ vì đuổi theo nó, Toto liền ngồi phịch xuống bên cạnh người đàn ông bờm xờm, thở hổn hển và chịu thua.

Dorothy cũng ngồi xuống, vẻ đầy trầm ngâm. Cô bé đã trải qua vài cuộc phiêu lưu kỳ quặc kể từ khi đến sống ở trang trại; nhưng đây là chuyến đi kỳ quặc nhất trong số đó. Lạc đường chỉ trong vỏn vẹn mười lăm phút, ngay gần nhà và lại ở một Bang Kansas lãng mạn-vô-cùng-tẻ-nhạt thế này, là một trải nghiệm khiến cô hoàn toàn bối rối.

"Liệu người nhà của cô có lo lắng không?" người đàn ông bờm xờm hỏi, đôi mắt lấp lánh vẻ thân thiện.

"Chắc là có rồi," Dorothy đáp và thở dài. "Bác Henry bảo lúc nào cũng có chuyện xảy ra với tôi hết; nhưng cuối cùng thì tôi vẫn luôn về nhà an toàn. Thế nên có lẽ bác ấy sẽ tự an ủi và nghĩ rằng lần này tôi cũng sẽ về nhà an toàn thôi."

"Tôi chắc chắn là cô sẽ thế," người đàn ông bờm xờm mỉm cười gật đầu với cô. "Những cô bé ngoan thì chẳng bao giờ gặp tai họa gì đâu, cô biết đấy. Về phần tôi, tôi cũng ngoan chán; thế nên chẳng có gì làm tổn thương nổi tôi cả."

Dorothy tò mò nhìn ông. Quần áo ông bờm xờm, giày của ông bờm xờm và thủng lỗ chỗ, tóc và râu của ông cũng bờm xờm. Thế nhưng nụ cười của ông lại ngọt ngào và ánh mắt thì rất đỗi hiền từ.

"Sao ông lại không muốn đến Butterfield?" cô hỏi.

"Bởi vì ở đó có một lão nợ tôi mười lăm xu, và nếu tôi đến Butterfield mà lão ta trông thấy tôi, lão sẽ lại muốn trả tiền cho tôi. Tôi không cần tiền, cô bé ạ."

"Sao lại thế?" cô thắc mắc.

"Tiền bạc," người đàn ông bờm xờm tuyên bố, "làm cho con người ta trở nên kiêu ngạo và hống hách; tôi không muốn kiêu ngạo và hống hách. Tất cả những gì tôi muốn là được mọi người yêu mến; và chừng nào tôi còn giữ Nam Châm Tình Yêu bên mình thì bất cứ ai tôi gặp cũng nhất định sẽ yêu thương tôi sâu sắc."

"ĐÂY, CÔ BÉ Ạ, CHÍNH LÀ NAM CHÂM TÌNH YÊU KỲ DIỆU."

"Nam Châm Tình Yêu! Ồ, cái đó là cái gì thế?"

"Tôi sẽ cho cô xem, nếu cô hứa không kể cho ai nghe nhé," ông đáp bằng một giọng trầm thấp, đầy vẻ huyền bí.

"Chẳng có ai để kể cả, ngoại trừ Toto thôi," cô bé nói.

Người đàn ông bờm xờm cẩn thận lục lọi trong một cái túi áo; rồi sang túi áo thứ hai; và đến túi thứ ba. Cuối cùng ông rút ra một gói nhỏ bọc trong tờ giấy nhàu nát và buộc bằng một sợi dây bông. Ông tháo dây, mở gói ra và lấy ra một miếng kim loại hình chiếc móng ngựa. Nó xỉn màu, ngả nâu và trông không đẹp mắt cho lắm.

"Đây, cô bé ạ," ông nói với vẻ đầy trang trọng, "chính là Nam Châm Tình Yêu kỳ diệu. Nó được tặng cho tôi bởi một người Eskimo ở Quần đảo Sandwich — nơi hoàn toàn chẳng có lấy một cái bánh kẹp sandwich nào — và chừng nào tôi còn mang nó theo thì mọi sinh vật sống tôi gặp đều sẽ yêu mến tôi vô cùng."

"Sao người Eskimo đó không giữ lấy nó nhỉ?" cô hỏi, nhìn miếng nam châm với vẻ tò mò.

"Anh ta đã chán ngấy việc cứ bị người ta yêu quý và lại khao khát có ai đó căm ghét mình. Thế là anh ta đưa Nam Châm cho tôi, và ngay ngày hôm sau đã bị một con gấu xám ăn thịt."

"Thế thì anh ta không thấy hối hận à?" cô thắc mắc.

"Anh ta có kịp nói gì đâu," người đàn ông bờm xờm đáp, vừa cẩn thận bọc và buộc Nam Châm Tình Yêu lại rồi cất vào một chiếc túi khác. Ông nói thêm: "Nhưng con gấu thì có vẻ chẳng hối hận tí nào."

"Ông có quen con gấu đó không?" Dorothy hỏi.

"Có chứ; tụi tôi từng hay chơi bóng cùng nhau ở Quần đảo Trứng Cá. Con gấu yêu quý tôi vì tôi có Nam Châm Tình Yêu. Tôi không thể trách nó vì đã ăn thịt người Eskimo, bởi đó vốn là bản tính của loài gấu mà."

"Có lần," Dorothy kể, "tôi quen một con Hổ Đói rất khao khát được ăn thịt những đứa trẻ mập mạp, bởi đó là bản tính của nó; nhưng nó chưa bao giờ ăn thịt đứa nào vì nó có Lương Tâm."

"Còn con gấu này," người đàn ông bờm xờm vừa thở dài vừa đáp, "thì chẳng có Lương Tâm nào cả, cô thấy đấy."

Người đàn ông bờm xờm ngồi lặng thinh suốt mấy phút, ra điều đang suy ngẫm về trường hợp của con gấu và con hổ, trong khi Toto nhìn ông với vẻ vô cùng hứng thú. Chắc hẳn chú chó nhỏ đang nghĩ đến chuyến đi trong túi áo của người đàn ông bờm xờm và lên kế hoạch giữ khoảng cách an toàn trong tương lai.

Cuối cùng, người đàn ông bờm xờm quay sang hỏi: "Tên cháu là gì vậy, cô bé?"

"Cháu tên là Dorothy," cô vừa đáp vừa chồm dậy, "nhưng bây giờ chúng ta phải làm gì đây? Cháu biết chúng ta không thể cứ ở mãi đây được."

"Hay là chúng ta đi con đường thứ bảy đi," ông gợi ý. "Số bảy là con số may mắn cho những cô bé tên là Dorothy."

"Tính từ đâu mà là thứ bảy?"

"Từ chỗ cháu bắt đầu đếm ấy."

Thế là cô đếm được bảy con đường, và con đường thứ bảy trông cũng y hệt như tất cả những con đường khác; nhưng người đàn ông bờm xờm đã đứng dậy khỏi bãi cỏ nơi ông vừa ngồi và bắt đầu rảo bước xuống con đường này như thể chắc chắn đây là lối đi tốt nhất; thế là Dorothy và Toto liền đi theo ông.

CON đường thứ bảy là một con đường đẹp, uốn lượn hết bên này đến bên khác — luồn lách qua những đồng cỏ xanh tươi, những cánh đồng ngập tràn hoa cúc dại và hoa thược dược, cùng những rind cây râm mát. Hoàn toàn không có bóng dáng ngôi nhà nào quanh đó, và suốt một đoạn đường dài họ chẳng gặp lấy một sinh vật sống nào.

Dorothy bắt đầu sợ rằng họ đang đi ra khá xa trang trại, bởi ở đây mọi thứ đều lạ lẫm đối với cô; nhưng quay trở lại nơi giao nhau của tất cả các con đường kia cũng chẳng ích gì, vì con đường tiếp theo họ chọn có thể sẽ còn dẫn cô đi xa nhà hơn nữa.

Cô tiếp tục đi sát bên người đàn ông bờm xờm — người đang huýt sáo những giai điệu vui tươi để xua tan mệt nhọc dọc đường — cho đến khi họ vừa rẽ qua một khúc cua thì trước mắt họ hiện ra một cây hạt dẻ lớn tạo thành một vòm râm mát cả một góc đường. Ngồi trong bóng râm là một cậu bé mặc đồ thủy thủ, đang dùng một mẩu gỗ khoét một cái điều xuống đất. Chắc hẳn cậu đã đào từ nãy đến giờ, bởi cái lỗ đã đủ rộng để nhét lọt cả một quả bóng đá.

Dorothy, Toto và người đàn ông bờm xờm dừng bước trước mặt cậu bé — người vẫn cặm cụi đào bới với vẻ điềm tĩnh và kiên trì.

"Em là ai thế?" cô bé hỏi.

Cậu bé điềm tĩnh ngước nhìn cô. Guơng mặt cậu tròn trịa, bầu bĩnh và đôi mắt thì to, xanh thẳm và đầy vẻ đăm chiêu.

"Em là Button-Bright," cậu đáp.

"Nhưng tên thật của em là gì?" cô gặng hỏi.

"Button-Bright."

"Đấy đâu phải là một cái tên thật-sự!" cô thốt lên.

"Không phải à?" cậu vừa hỏi vừa tiếp tục đào đất.

"Tất nhiên là không rồi. Đó chỉ là một cái... một cái để gọi thôi. Em phải có tên chứ."

"Phải á?"

"Chứ sao. Mẹ em gọi em là gì?"

Cậu khựng tay đào, cố gắng suy nghĩ.

"Bố luôn bảo em sáng dạ như cái cúc áo; thế nên mẹ luôn gọi em là Button-Bright," cậu nói.

"Thế bố em tên là gì?"

"Bố thôi."

"Còn gì nữa?"

"Không biết."

"Thôi nào," người đàn ông bờm xờm vừa mỉm cười vừa nói. "Chúng ta cứ gọi cậu bé là Button-Bright giống như mẹ cậu ấy gọi đi. Cái tên đó cũng tốt chán, thậm chí còn hay hơn khối tên khác."

Dorothy đứng nhìn cậu bé đào đất.

"Em sống ở đâu thế?" cô hỏi.

"Không biết," câu trả lời là vậy.

"Sao em lại đến được đây?"

"Không biết," cậu lại đáp.

"Em không biết mình từ đâu đến à?"

"Không," cậu bảo.

"Chà, thế thì chắc chắn cậu bé này bị lạc rồi," cô nói với người đàn ông bờm xờm. Rồi cô quay lại nhìn cậu bé một lần nữa.

"Thế em định làm gì bây giờ?" cô hỏi.

"Đào đất," cậu đáp.

"Nhưng em đâu thể đào mãi được; rồi sau đó em tính sao?" cô gặng hỏi đến cùng.

"Không biết," cậu bé đáp.

"Nhưng em phải biết một điều gì chứ," Dorothy bắt đầu thấy bực mình.

"Em phải biết á?" cậu ngước nhìn vẻ ngạc nhiên.

"Đương nhiên là phải thế rồi."

"Em phải biết cái gì cơ?"

"Ít nhất là chuyện gì sẽ xảy ra với em chẳng hạn," cô đáp.

"Thế chị có biết chuyện gì sẽ xảy ra với chị không?" cậu hỏi lại với vẻ nghiêm túc.

"Chị... chị không biết chính xác," cô đành thừa nhận.

"Thế chị có biết chuyện gì sẽ xảy ra với chị không?" cậu tiếp tục hỏi.

"Chị cũng chịu thôi," Dorothy đáp, sực nhớ đến những rắc rối hiện tại của chính mình.

Người đàn ông bờm xờm bật cười.

"Chẳng ai biết được mọi thứ đâu, Dorothy ạ," ông nói.

"Nhưng Button-Bright có vẻ chẳng biết một chút gì cả," cô tuyên bố. "Em có biết gì không, Button-Bright?"

Cậu bé lắc đầu — mái tóc xoăn xinh xắn rung rinh cả lên — rồi điềm tĩnh đáp:

"Không biết."

Chưa bao giờ Dorothy gặp ai lại có thể cung cấp cho cô ít thông tin đến thế. Rõ ràng là cậu bé đã bị lạc, và người nhà chắc chắn sẽ rất lo lắng cho cậu. Cậu trông có vẻ nhỏ hơn Dorothy khoảng hai hoặc ba tuổi, và được ăn mặc rất đẹp, như thể có ai đó vô cùng yêu thương và chăm chút cho vẻ ngoài của cậu. Thế thì làm sao mà cậu lại ra được cái con đường quạnh hiu này cơ chứ? Cô thầm tự hỏi.

Ngay cạnh Button-Bright dưới đất là một chiếc mũ thủy thủ có gắn chiếc mỏ neo mạ vàng trên vành. Chiếc quần thủy thủ của cậu dài và ống rộng thùng thình, còn phần cổ áo rộng của chiếc áo Blouse thì được thêu những chiếc mỏ neo vàng ở các góc. Cậu bé vẫn đang cặm cụi khoét cái hố của mình.

"Em đã ra biển bao giờ chưa?" Dorothy hỏi.

"Ra biển để xem cái gì?" Button-Bright đáp.

"Ý chị là em đã từng đến nơi nào có nước chưa?"

"Có," Button-Bright nói; "sau nhà em có một cái giếng nước."

"Em chẳng hiểu ý chị gì cả," Dorothy kêu lên. "Ý chị là em đã từng ở trên một con tàu lớn trôi bồng bềnh giữa đại dương bao la chưa?"

"Không biết," cậu đáp.

"Thế sao em lại mặc đồ thủy thủ?"

"Không biết," cậu lại trả lời.

Dorothy hoàn toàn tuyệt vọng.

"Em đúng là ngốc khủng khiếp luôn đấy, Button-Bright," cô nói.

"Em ngốc á?" cậu hỏi.

"Ừ, ngốc thật đấy."

"Sao lại thế?" cậu ngước đôi mắt to tròn nhìn cô.

Cô định đáp: "Không biết," nhưng kịp thời ngậm miệng lại.

"Cái đó là việc em phải trả lời chứ," cô đáp.

"Hỏi Button-Bright cũng bằng thừa," người đàn ông bờm xờm — nãy giờ vẫn đang ăn quả táo khác — lên tiếng; "nhưng cháu có nghĩ rằng phải có ai đó chăm sóc tội nghiệp cho thằng bé chứ? Tốt nhất là để nó đi cùng chúng ta đi."

Toto đang chăm chú nhìn với vẻ tò mò vào cái hố mà cậu bé đang đào, và càng lúc càng tỏ ra hào hứng hơn, có lẽ nó nghĩ rằng Button-Bright đang định bắt con thú hoang nào đó. Chú chó nhỏ bắt đầu sủa vang rồi nhảyỏm luôn xuống hố, dùng những chiếc móng vuốt tí xíu bới tung đất đá văng tung tóe khắp nơi. Đất văng cả lên người cậu bé. Dorothy liền túm lấy cậu kéo đứng dậy, dùng tay phủi sạch quần áo cho cậu.

"Dừng lại đi, Toto!" cô gọi lớn. "Trong cái hố đó chẳng có con chuột nhắt hay con sóc đất nào đâu, đừng có mà ngốc thế."

Toto khựng lại, ngửi ngửi cái hố với vẻ đầy nghi ngờ rồi nhảymót ra ngoài, ngoe nguẩy chiếc đuôi như thể nó vừa lập được chiến công hiển hách nào đó.

"Chà," người đàn ông bờm xờm nói, "chúng ta lên đường thôi, kẻo trời tối mà vẫn chẳng đi đến đâu cả."

"Ông tính đi đến đâu cơ chứ?" Dorothy hỏi.

"Tôi cũng giống như Button-Bright thôi; chịu chết chẳng biết," người đàn ông bờm xờm vừa cười vừa đáp. "Nhưng qua kinh nghiệm lâu năm, tôi rút ra được rằng con đường nào rồi cũng dẫn đến đâu đó, nếu không thì đã chẳng có đường; thế nên nếu chúng ta chịu khó đi đủ lâu, cháu yêu ạ, thế nào rồi cuối cùng chúng ta cũng đến được một chốn nào đó thôi. Chốn đó là đâu thì lúc này chúng ta thậm chí chẳng thể đoán trước được, nhưng khi đến nơi thì chắc chắn chúng ta sẽ rõ."

"À, vâng," Dorothy nói; "nghe có lý đấy chứ, Người Bờm Xờm."

BUTTON-BRIGHT ngoan ngoãn nắm lấy tay người đàn ông bờm xờm; bởi như các bạn đã biết, người đàn ông bờm xờm đang mang Nam Châm Tình Yêu, đó chính là lý do khiến Button-Bright yêu mến ông ngay lập tức. Họ bắt đầu lên đường, Dorothy đi bên cạnh, còn Toto thì lẽo đẽo phía sau, tốp nhỏ lầm lũi bước đi với vẻ vui vẻ hơn mức các bạn có thể tưởng tượng. Cô bé đã dần quen với những cuộc phiêu lưu kỳ quái, và chúng khiến cô vô cùng thích thú. Dorothy đi đến đâu là Toto theo sát đến đấy, hệt như chú cừu non của Mary vậy. Button-Bright chẳng hề tỏ ra sợ hãi hay lo lắng gì dù bản thân đang bị lạc, còn người đàn ông bờm xờm thì có lẽ chẳng có nổi một mái nhà, và ở đâu ông cũng thấy vui vẻ như nhau cả.

Chẳng mấy chốc, họ nhìn thấy phía trước có một chiếc cổng vòm nguy nga bắc ngang qua đường, và khi đến gần hơn, họ nhận ra chiếc cổng vòm ấy được chạm trổ vô cùng tinh xảo cùng những màu sắc rực rỡ. Chạy dọc theo phần đỉnh là một hàng chim công với chiếc đuôi xòe rộng, và tất cả những chiếc lông đều được tô vẽ vô cùng lộng lẫy. Ở chính giữa là chiếc đầu cáo lớn với vẻ mặt ranh mãnh, tinh ranh, đeo một cặp kính lớn trên mắt và đội một chiếc vương miện vàng nhỏ với những chóp nhọn lấp lánh trên đỉnh đầu.

Trong lúc những lữ khách đang tò mò ngắm nhìn chiếc cổng vòm đẹp đẽ này thì bỗng từ trong đó một đội quân tiến ra — chỉ có điều những người lính này toàn là cáo mặc đồng phục. Chúng mặc áo khoác xanh lá cây, quần vàng, những chiếc mũ tròn nhỏ và đôi bốt cao đều có màu đỏ rực. Ngoài ra, giữa mỗi chiếc đuôi dài xù lông còn được thắt một chiếc nơ đỏ to tướng. Mỗi người lính đều mang một thanh kiếm gỗ có cạnh là hàng răng sắc nhọn, và cảnh tượng những chiếc răng ấy thoạt nhìn khiến Dorothy phải rùng mình.

Đi đầu đội quân cáo là một viên đội trưởng, bộ đồng phục được thêu viền tết bằng chỉ vàng trông lộng lẫy hơn hẳn những kẻ khác.

Gần như trước khi mấy người bạn của chúng ta kịp định thần thì đám lính đã vây kín các phía, và viên đội trưởng cất giọng khàn khàn hô lớn:

"Đầu hàng đi! Các người là tù nhân của chúng ta rồi."

"Tù nhân là gì thế?" Button-Bright hỏi.

"Tù nhân là kẻ bị bắt giữ," viên đội trưởng cáo vừa kiêu hãnh đi qua đi lại vừa đáp.

"Bị bắt giữ là gì thế?" Button-Bright hỏi tiếp.

"Cậu chính là một kẻ như thế đấy," viên đội trưởng bảo.

Câu nói đó làm người đàn ông bờm xờm bật cười.

"Chào buổi chiều, đội trưởng," ông vừa nói vừa cúi đầu lịch sự trước tất cả đám cáo và cúi thật thấp trước người chỉ huy của chúng. "Tôi hi vọng ngài vẫn khỏe mạnh, và gia đình đều bình an cả chứ?"

Viên đội trưởng cáo nhìn người đàn ông bờm xờm, những nét mặt sắc sảo của hắn bỗng trở nên dễ mến và mỉm cười.

"Chúng tôi đều khỏe cả, cảm ơn Người Bờm Xờm nhé," hắn đáp; và Dorothy hiểu rằng Nam Châm Tình Yêu đang phát huy tác dụng, khiến tất cả lũ cáo giờ đây đều yêu mến người đàn ông bờm xờm vì điều đó. Nhưng Toto thì không biết chuyện này, nó bắt đầu sủa giận dữ và lao vào định cắn vào phần chân lông lá của viên đội trưởng — nơi lộ ra giữa đôi bốt đỏ và chiếc quần vàng của hắn.

"Dừng lại, Toto!" cô bé kêu lên, vội vóm lấy chú chó vào lòng. "Họ là bạn của chúng ta mà."

"Ồ, hóa ra chúng ta là bạn!" viên đội trưởng ngạc nhiên thốt lên. "Ban đầu ta cứ ngỡ các ngươi là kẻ thù, nhưng hóa ra lại là bạn. Các ngươi phải đi cùng ta đến yết kiến Vua Dox thôi."

"Hắn là ai thế?" Button-Bright ngước đôi mắt đăm chiêu hỏi.

"Vua Dox xứ Foxville; vị quân vương vĩ đại và thông thái cai trị cộng đồng của chúng ta."

"Quân vương là gì, và cộng đồng là gì?" Button-Bright thắc mắc.

"Đừng hỏi lắm câu thế chứ, nhóc con."

"Sao lại thế?"

"À, sao lại thế nhỉ?" viên đội trưởng trầm trồ nhìn Button-Bright với vẻ đầy ngưỡng mộ. "Nếu không đặt câu hỏi thì ngươi sẽ chẳng học được gì cả. Hoàn toàn chính xác. Ta đã sai. Cậu nhóc này quả là một đứa trẻ rất thông minh — thông minh tuyệt vời ấy chứ. Nhưng bây giờ, các bạn của ta, xin hãy đi theo ta, vì đó là bổn phận của ta phải hộ tống các vị đến cung điện hoàng gia ngay lập tức."

Bọn lính lại quay đầu diễu hành qua cổng vòm, và đi cùng chúng là người đàn ông bờm xờm, Dorothy, Toto và Button-Bright. Vừa bước qua lối mở, trước mắt họ hiện ra một thành phố lớn và vô cùng đẹp đẽ, toàn bộ các ngôi nhà đều làm bằng đá cẩm thạch chạm trổ với những màu sắc tuyệt đẹp. Các họa tiết trang trí chủ yếu là chim chóc và các loài gia cầm khác như công, trĩ, gà tây, gà thảo nguyên, vịt và ngỗng. Phía trên mỗi khung cửa ra vào đều được chạm nổi hình đầu của chú cáo sống trong ngôi nhà đó, hiệu ứng này trông khá đẹp mắt và vô cùng độc đáo.

Khi mấy người bạn của chúng ta bước qua, một vài con cáo bước ra hiên nhà và ban công để ngắm nhìn những người lạ mặt. Đám cáo này đều ăn mặc rất bảnh bao, những cô cáo và bà cáo diện các bộ váy kết từ lông vũ đan xen vào nhau một cách khéo léo và nhuộm những gam màu tươi sáng mà Dorothy thấy khá nghệ thuật và vô cùng thu hút.

Button-Bright trố mắt nhìn đến mức hai mắt tròn xoe, và suýt nữa thì vấp ngã dúi dụi mấy bận nếu không có người đàn ông bờm xờm nắm chặt lấy tay cậu. Tất cả bọn họ đều vô cùng thích thú, còn Toto thì phấn khích đến nỗi cứ muốn sủa inh ỏi suốt và chồm lên đuổi đánh bất cứ con cáo nào nó bắt gặp trong tầm mắt; nhưng Dorothy ôm chặt lấy cái cơ thể cứ ngoe nguẩy liên tục của nó trong vòng tay và bắt nó phải ngoan ngoãn giữ phép tắc. Cuối cùng thì nó cũng chịu yên lặng như một chú chó khôn ngoan, khi nhận ra ở Foxville có quá nhiều cáo để mà gây sự cùng một lúc.

Chẳng mấy chốc họ đi đến một quảng trường lớn, và chính giữa quảng trường là cung điện hoàng gia. Dorothy nhận ra nó ngay lập tức bởi phía trên cánh cửa lớn có chạm nổi hình đầu con cáo y hệt như cái cô đã thấy trên cổng vòm, và con cáo này là kẻ duy nhất đội chiếc vương miện bằng vàng.

Có rất nhiều lính cáo đang canh gác cửa, nhưng chúng cúi đầu chào viên đội trưởng và cho phép hắn vào mà không hề hạch sách gì. Viên đội trưởng dẫn họ đi qua rất nhiều căn phòng, nơi những con cáo ăn mặc lừng lẫy đang ngồi trên những chiếc ghế đẹp tuyệt trần hoặc nhấm nháp trà do những người hầu cáo mặc tạp dề trắng mang tới. Họ đến trước một ô cửa lớn rèm che dày bằng vải dệt kim tuyến vàng.

Ngay cạnh ô cửa này dựng một chiếc trống khổng lồ. Viên đội trưởng cáo tiến đến chiếc trống và đập đầu gối vào nó — hết đầu gối này đến đầu gối kia — khiến chiếc trống phát ra tiếng: "Bùm! Bùm!"

"Tất cả các vị phải làm y hệt như ta," viên đội trưởng ra lệnh; thế là người đàn ông bờm xờm liền giã đầu gối vào trống, Dorothy và Button-Bright cũng làm theo. Cậu bé rất thích giã đầu gối vào đó mãi vì thích âm thanh của nó; nhưng viên đội trưởng đã ngăn cậu lại. Toto thì không thể dùng đầu gối đánh trống được và nó cũng chẳng biết cách ngoe nguẩy đuôi vào trống, thế nên Dorothy đành đánh trống hộ nó, điều đó làm nó sủa lên, và khi chú chó nhỏ sủa thì viên đội trưởng liền cau mày.

Tấm rèm vàng được kéo dạt ra vừa đủ để tạo một lối đi, và viên đội trưởng cùng những người khác bước vào trong.

Căn phòng dài và rộng được trang trí bằng vàng với những ô cửa kính màu vô cùng lộng lẫy. Ở giữa phòng, trên một ngai vàng bằng vàng chạm trổ lộng lẫy, là nhà vua loài cáo đang ngồi, xung quanh vây quanh bởi một nhóm cáo khác, tất cả đều đeo những cặp kính lớn trên mắt, khiến chúng trông vô cùng trang nghiêm và quan trọng.

Dorothy nhận ra nhà vua ngay lập tức, bởi cô đã nhìn thấy đầu ngài chạm trổ trên cổng vòm và phía trên cửa cung điện. Từng gặp gỡ vài vị vua khác trong các chuyến hành trình của mình, cô biết phải làm gì, liền lập tức cúi chào thật thấp trước ngai vàng. Người đàn ông bờm xờm cũng cúi chào, còn Button-Bright thì gật đầu lia lịa và cất tiếng "Xin chào."

"Kẻ Thống Trang thái bình và thông thái nhất xứ Foxville," viên đội trưởng vừa cất giọng ra vẻ ta đây vừa thưa với Nhà Vua, "thần xin mạo muội bẩm báo rằng thần đã tìm thấy những vị khách lạ này trên con đường dẫn đến lãnh địa của Bệ Hạ, và do đó đã đưa họ đến đây yết kiến Người, đúng như bổn phận của thần."

"Được rồi — được rồi," Nhà Vua nói, sắc bén nhìn họ. "Cái gì đưa các người đến đây thế, những vị khách lạ?"

"Thưa đôi chân của chúng thần, nếu điều đó làm Bệ Hạ Long Khẩu thấy hài lòng," người đàn ông bờm xờm đáp.

"Mục đích các người đến đây có việc gì?" câu hỏi tiếp theo vang lên.

"Để chuồn đi càng nhanh càng tốt," người đàn ông bờm xờm đáp.

Đương nhiên là Nhà Vua chẳng biết gì về viên Nam Châm rồi; nhưng nó lại khiến ngài yêu mến người đàn ông bờm xờm ngay tức khắc.

"Các người muốn đi hay ở thế nào là tùy ý," ngài bảo; "nhưng ta rất muốn dẫn các ngươi đi ngắm cảnh thành phố của ta và tiếp đón phái đoàn các ngươi trong lúc còn ở đây. Ta xin đảm bảo rằng chúng ta vô cùng vinh hạnh khi được cô bé Dorothy ghé thăm, và chúng ta rất trân trọng lòng tốt của cô bé khi đến viếng thăm nơi này. Bởi bất cứ vương quốc nào Dorothy đặt chân tới thì chắc chắn cũng sẽ trở nên nổi tiếng."

Câu nói này khiến cô bé hết sức ngạc nhiên, liền hỏi:

"Sao Bệ Hạ lại biết tên cháu ạ?"

"Chà, ai mà chẳng biết cháu, cô bé," Nhà Vua loài cáo nói. "Cháu không nhận ra điều đó sao? Cháu đã trở thành một nhân vật khá quan trọng kể từ khi Công chúa Ozma xứ Oz kết bạn với cháu đấy."

"Bệ Hạ quen biết Ozma ạ?" cô ngạc nhiên hỏi.

"Ta rất tiếc phải nói rằng ta chưa từng gặp ngài ấy," ngài buồn rầu đáp; "nhưng ta hy vọng sẽ sớm được diện kiến. Cháu biết đấy, Công chúa Ozma sắp sửa tổ chức lễ kỷ niệm sinh nhật vào ngày hai mươi mốt tháng này."

"Thế ạ?" Dorothy nói. "Cháu không biết chuyện đó."

"Đúng vậy; đó sẽ là buổi lễ hoàng gia lộng lẫy nhất từng được tổ chức ở bất cứ thành phố nào trong Xứ Sở Thần Tiên, và ta hy vọng cháu sẽ cố gắng xin giúp ta một lời mời."

Dorothy suy nghĩ một lát.

"Cháu chắc chắn Ozma sẽ mời Bệ Hạ nếu cháu mở lời," cô nói; "nhưng làm sao Bệ Hạ đến được Xứ Sở Oz và Thành Phố Ngọc Lục Bảo cơ chứ? Từ Kansas đến đó xa lắm đấy."

"Kansas!" ngài ngạc nhiên thốt lên.

"Ơ hay, vâng; chẳng phải bây giờ chúng ta đang ở Kansas sao ạ?" cô đáp lại.

"Thật là một ý nghĩ kỳ quặc làm sao!" Nhà Vua loài cáo bật cười kêu lên. "Cái gì khiến cháu lại nghĩ đây là Kansas thế?"

"Cháu vừa rời khỏi trang trại của Bác Henry mới chừng hai tiếng trước thôi; chính vì thế đấy ạ," cô đáp với vẻ hơi bối rối.

"Nhưng nói cho ta nghe nào, cô bé, cháu đã từng thấy thành phố nào tuyệt vời như Foxville ở Kansas chưa?" ngài gặng hỏi.

"Dạ chưa, thưa Bệ Hạ."

"Và chẳng phải cháu đã từng đi từ Oz về Kansas trong chưa đầy nửa nốt nhạc, nhờ vào đôi Giày Bạc và chiếc Thắt Lưng Ma Thuật đó sao?"

"Vâng, thưa Bệ Hạ," cô thừa nhận.

"Thế thì tại sao cháu lại ngạc nhiên khi chỉ mất một hai tiếng đồng hồ là có thể đến Foxville — nơi vốn nằm gần xứ Oz hơn là đến Kansas chứ?"

"Trời đất quỷ thần ơi!" Dorothy kêu lên; "đây lại là một cuộc phiêu lưu thần tiên nữa sao?"

"Có vẻ là thế," Nhà Vua loài cáo mỉm cười đáp.

Dorothy quay sang nhìn người đàn ông bờm xờm, nét mặt cô vừa nghiêm nghị vừa trách móc.

"Ông là một pháp sư đấy à? Hay là một nhân vật thần tiên cải trang hả?" cô hỏi. "Ông đã làm phép thôi miên tôi khi ông hỏi đường đi Butterfield phải không?"

Người đàn ông bờm xờm lắc đầu.

"Có ai từng nghe nói về một vị tiên bờm xờm bao giờ chưa cơ chứ?" ông đáp. "Không đâu, Dorothy bé bỏng của tôi ạ; tôi xin đảm bảo rằng chuyến đi này hoàn toàn chẳng dính líu gì đến tôi cả. Có điều gì đó kỳ lạ cứ bám lấy tôi kể từ khi tôi sở hữu Nam Châm Tình Yêu; nhưng tôi cũng mù tịt chẳng hơn gì cháu đâu. Tôi hoàn toàn không có ý định kéo cháu rời khỏi nhà đâu. Nếu cháu muốn tìm đường quay lại trang trại, tôi sẵn sàng đi cùng cháu và sẽ cố gắng hết sức để giúp cháu."

“Thôi quên đi,” cô bé trầm ngâm nói. “Ở Kansas chẳng có nhiều cảnh để xem như ở đây, và tôi đoán là Dì Em sẽ chẳng lo lắng gì mấy đâu; nghĩa là, miễn là tôi đừng đi quá lâu.”

“Đúng thế,” Nhà Vua loài cáo gật đầu tỏ vẻ tán thành. “Hãy bằng lòng với số phận của mình, dù nó có ra sao đi nữa, nếu cháu là một người khôn ngoan. Điều đó làm ta nhớ ra rằng trong chuyến phiêu lưu này cháu có một người bạn đồng hành mới — cậu bé trông vô cùng thông minh và sáng sủa.”

"Đúng vậy ạ," Dorothy nói; và người đàn ông bờm xờm bồi thêm:

"Đó chính là tên của cậu nhóc đó, thưa Bệ Hạ — Button-Bright."

Thật là thú vị khi quan sát biểu cảm trên khuôn mặt Vua Dox khi ngài ngắm nghía cậu bé từ chiếc mũ thủy thủ đến đôi giày cụt lủn của cậu; và cũng buồn cười không kém khi thấy Button-Bright trố mắt nhìn chằm chằm lại Nhà Vua. Chưa từng có con cáo nào được thấy một gương mặt trẻ thơ tươi tắn và trong trẻo nhường ấy, và cũng chưa có đứa trẻ nào từng nghe một con cáo cất lời nói chuyện, hoặc gặp một con cáo ăn mặc bảnh bao và cai trị một thành phố to lớn đến thế. Tôi lấy làm tiếc phải nói rằng chưa từng có ai kể cho cậu bé nghe nhiều về những sinh vật thần tiên bất kỳ loại nào; hoàn cảnh là như thế, nên thật dễ hiểu vì sao trải nghiệm kỳ lạ này lại khiến cậu giật mình và kinh ngạc đến thế.

"Cậu thấy chúng ta thế nào?" Nhà Vua hỏi.

"Không biết," Button-Bright đáp.

"Đương nhiên là cậu không biết rồi. Vừa mới quen nhau chưa được bao lâu mà," Bệ Hạ đáp lại. "Cậu đoán tên ta là gì nào?"

"Không biết," Button-Bright nói.

"Làm sao mà cậu biết được chứ? Thôi được, ta sẽ nói cho cậu hay. Tên riêng của ta là Dox, nhưng một vị Vua thì không thể dùng tên riêng để gọi được; ngài bắt buộc phải lấy một cái tên chính thức. Do đó, tên chính thức của ta là Vua Renard Đệ Tứ. Ren-ard với trọng âm nhấn vào chữ 'Ren'."

"'Ren' là gì thế?" Button-Bright hỏi.

"Thông minh thật đấy!" Nhà Vua thốt lên, quay sang các cận thần với gương mặt đầy vẻ hài lòng. "Cậu nhóc này quả thực vô cùng lanh lợi. 'Ren là gì?' — cậu ta hỏi vậy đấy; và dĩ nhiên tự bản thân chữ 'ren' thì chẳng có nghĩa gì sất. Phải; cậu ta thực sự rất lanh lợi."

"Câu hỏi đó chính là điều mà Bệ Hạ có thể gọi là 'tinh ranh như cáo'," một vị cận thần — một con cáo già lông xám — nhận xét.

"Chính xác là thế," Nhà Vua tuyên bố. Ngài lại quay sang Button-Bright và hỏi:

"Sau khi ta đã nói tên cho cậu nghe rồi, cậu sẽ gọi ta bằng gì nào?"

"Vua Dox," cậu bé đáp.

"Tại sao thế?"

"Bởi vì chữ 'ren' chẳng có nghĩa gì cả," câu trả lời là vậy.

"Hay lắm! Quả là rất hay! Chắc chắn cậu có một tư duy vô cùng xuất chúng. Cậu có biết tại sao hai cộng hai lại bằng bốn không?"

"Không," Button-Bright đáp.

"Lanh lợi! quả thực rất lanh lợi. Tất nhiên là cậu không biết rồi. Chẳng ai biết tại sao cả; chúng ta chỉ biết nó là như thế, chứ không thể giải thích tại sao lại thế được. Button-Bright ạ, mái tóc xoăn và đôi mắt xanh biếc kia không hợp chút nào với vẻ uyên bác nhường ấy. Chúng làm cậu trông quá trẻ con, và che lấp đi sự lanh lợi thực sự của cậu. Do đó, ta sẽ ban cho cậu một đặc ân lớn. Ta sẽ ban cho cậu chiếc đầu của một loài cáo, để từ nay về sau cậu có thể trông lanh lợi đúng như con người thật của cậu."

Vừa nói, Nhà Vua vừa phất vuốt về phía cậu bé, và lập tức mái tóc xoăn xinh xắn, gương mặt tròn trịa tươi tắn cùng đôi mắt xanh to tròn đã biến mất, thay vào đó là chiếc đầu cáo hiện ra trên đôi vai của Button-Bright — một chiếc đầu lông lá với chiếc chiếc mũi nhọn, đôi tai vểnh và đôi mắt nhỏ sắc bén.

"Ôi, đừng làm thế chứ!" Dorothy kêu lên, lùi lại với vẻ mặt kinh hoàng và chấn động trước người bạn đồng hành vừa biến hình của mình.

"Quá muộn rồi cô bé; chuyện đã rồi đấy thôi. Nhưng cháu cũng sẽ có một chiếc đầu cáo nếu cháu chứng minh được rằng mình thông minh chẳng kém gì Button-Bright."

"Cháu không muốn đâu; đáng sợ quá!" cô thốt lên; và khi nghe thấy phán quyết đó, Button-Bright liền bắt đầu oa oa khóc hệt như khi cậu còn là một đứa trẻ nhỏ.

"Sao cháu lại có thể gọi chiếc đầu đáng yêu thế này là đáng sợ cơ chứ?" Nhà Vua hỏi. "Theo quan điểm của ta thì nó xinh xắn hơn cái mặt cũ của cậu ta nhiều, và vợ ta bảo ta là một kẻ có con mắt thẩm mỹ rất tinh tường đấy. Đừng khóc nữa, chú cáo con ạ. Hãy cười lên và tự hào vào, bởi cháu đã được ban ơn vô cùng lớn lao đấy. Cháu thích chiếc đầu mới này không, Button-Bright?"

"K-k-không b-b-biết!" cậu bé nức nở.

"Làm ơn, xin hãy biến cậu ấy trở lại như cũ đi, thưa Bệ Hạ!" Dorothy nài nỉ.

Vua Renard Đệ Tứ lắc đầu.

"Ta không thể làm thế được," ngài nói; "ta không có khả năng đó, dẫu cho ta có muốn đi nữa. Không, Button-Bright bắt buộc phải mang chiếc đầu cáo này, và ngay khi quen dần với nó thì chắc chắn cậu ta sẽ yêu nó tha thiết cho mà xem."

Cả người đàn ông bờm xờm lẫn Dorothy đều tỏ vẻ nghiêm nghị và lo lắng, bởi họ vô cùng đau lòng khi tai họa âydáng xuống người bạn nhỏ của mình. Toto sủa vào mặt cậu cáo-nhỏ một hai tiếng, không nhận ra đây chính là người bạn cũ đang mang chiếc đầu động vật; nhưng Dorothy đã đánh vào lưng con chó và bắt nó im lặng. Về phần bầy cáo, chúng đều có vẻ cho rằng chiếc đầu mới của Button-Bright rất hợp với cậu và Nhà Vua đã ban một ân huệ cực lớn cho vị khách nhỏ tuổi này.

Thật buồn cười khi thấy cậu bé đưa tay lên sờ chiếc mũi nhọn và cái miệng rộng của mình, rồi lại òa khóc nức nở vì đau buồn. Cậu ngoe nguẩy đôi tai một cách kỳ cục và những giọt nước mắt đọng lại trong đôi mắt đen láy. Nhưng Dorothy vẫn chưa thể cười nổi với bạn mình, vì cô đang cảm thấy vô cùng áy náy.

Đúng lúc đó, ba nàng công chúa cáo — những cô con gái của Nhà Vua — bước vào phòng, và khi nhìn thấy Button-Bright, nàng thứ nhất thốt lên: "Trông cậu ấy mới đáng yêu làm sao!" nàng thứ hai vui sướng kêu lên: "Trông cậu ấy mới ngọt ngào làm sao!" và nàng công chúa thứ ba vỗ tay thích thú nói: "Trông cậu ấy mới đẹp đẽ làm sao!"

Button-Bright nín khóc và rụt rè hỏi:

"Thật thế không ạ?"

"Trên đời này chẳng có gương mặt nào xinh xắn hơn thế nữa đâu," nàng công chúa cáo lớn nhất tuyên bố.

"Cậu phải sống ở đây với chúng tôi mãi mãi, và làm em trai của chúng tôi nhé," nàng tiếp theo nói.

"Chúng tôi sẽ yêu quý cậu vô cùng," nàng thứ ba nói.

Những lời ca tụng đó đã an ủi cậu bé rất nhiều, và cậu ngó nghiêng xung quanh rồi cố gắng mỉm cười. Đó là một nỗ lực thảm hại, bởi gương mặt cáo còn mới và cứng đơ, và Dorothy thấy biểu cảm của cậu trông còn ngốc nghếch hơn cả trước khi biến hình.

"Tôi nghĩ bây giờ chúng ta nên đi thôi," người đàn ông bờm xờm lo lắng lên tiếng, bởi ông chẳng biết Nhà Vua sẽ lại nảy sinh ý định quái gở gì tiếp theo.

"Xin các vị đừng rời đi vội, ta nài nỉ đấy," vua Renard khẩn khoản. "Ta định tổ chức tiệc tùng và vui chơi suốt mấy ngày liền để chào mừng chuyến ghé thăm của các vị."

"Cứ tổ chức sau khi chúng tôi đi rồi ấy, vì chúng tôi không đợi được đâu," Dorothy quả quyết nói. Nhưng khi thấy điều đó làm Nhà Vua không vui, cô nói thêm: "Nếu cháu muốn nhờ Ozma mời Bệ Hạ đến dự tiệc của ngài ấy thì cháu phải tìm gặp ngài ấy càng sớm càng tốt chứ ạ."

Bất chấp mọi vẻ đẹp của Foxville và những bộ trang phục lộng lẫy của cư dân nơi đây, cả cô bé lẫn người đàn ông bờm xờm đều cảm thấy họ không hoàn toàn an toàn ở đây, và sẽ rất vui mừng nếu được rời khỏi nơi này càng sớm càng tốt.

"Nhưng bây giờ trời đã tối rồi," Nhà Vua nhắc nhở họ, "và dẫu sao các vị cũng phải ở lại với chúng tôi cho đến sáng mai. Do đó, ta mời các vị làm khách dự bữa tối của ta, và sau đó đến rạp hát ngồi ở lô ghế hoàng gia. Sáng mai, nếu các vị thực sự khăng khăng đòi đi, các vị có thể tiếp tục hành trình của mình."

Họ đồng ý với đề nghị này, và một số người hầu cáo đã dẫn họ đến một dãy phòng xinh xắn trong cung điện lớn.

Button-Bright sợ phải ở một mình, thế nên Dorothy đã đưa cậu vào phòng riêng của cô. Trong lúc một cô hầu gái cáo đang chải tóc cho cô bé — lúc này hơi bị rối tung lên — và thắt những chiếc ruy băng tươi tắn, sáng sủa vào đó, thì một cô hầu gái cáo khác chải mượt phần lông trên mặt và đầu tội nghiệp của Button-Bright rồi chải cẩn thận, buộc một chiếc nơ hồng vào mỗi chiếc tai nhọn của cậu. Mấy cô hầu gái muốn mặc cho bọn trẻ những bộ trang phục đẹp đẽ dệt từ lông vũ hệt như tất cả loài cáo vẫn mặc; nhưng cả hai đều không đồng ý.

"Bộ đồ thủy thủ và cái đầu cáo trông chẳng hợp nhau tẹo nào," một trong số những cô hầu gái nhận xét; "vì chẳng có con cáo nào từng làm thủy thủ cả, theo như trí nhớ của ta."

"Tôi không phải là cáo!" Button-Bright kêu lên.

"Than ôi, không phải rồi," cô hầu gái đồng tình. "Nhưng cậu lại đang mang một chiếc đầu cáo xinh xắn trên đôi vai gầy guộc kia, và điều đó cũng gần như việc làm một con cáo rồi."

Cậu bé sực nhớ đến vận rủi của mình, lại bắt đầu khóc. Dorothy dỗ dành, an ủi cậu và hứa sẽ tìm cách trả lại cho cậu chiếc đầu nguyên bản.

"Nếu chúng ta xoay sở tìm được gặp Ozma," cô nói, "Công chúa sẽ biến em trở lại thành chính mình chỉ trong nửa giây thôi; thế nên cứ mang chiếc đầu cáo đó thật thoải mái vào em nhé, đừng lo lắng gì về nó cả. Nó chẳng đẹp bằng cái đầu cũ của em đâu, mặc cho bọn cáo nói gì đi nữa; nhưng em cứ chịu khó mang nó thêm một chút nữa thôi, được chứ?"

"Không biết," Button-Bright ngập ngừng đáp; nhưng sau đó cậu không khóc nữa.

Dorothy để mấy cô hầu gái ghim ruy băng lên vai áo, xong xuôi là họ sẵn sàng cho bữa tối của Nhà Vua. Khi gặp lại người đàn ông bờm xờm trong phòng khách lộng lẫy của cung điện, họ thấy ông vẫn y hệt như trước. Ông từ chối việc cởi bỏ bộ quần áo bờm xờm để thay đồ mới, vì ông bảo nếu làm thế thì ông sẽ không còn là người đàn ông bờm xờm nữa, và khi ấy có khi ông lại phải làm quen lại từ đầu với chính bản thân mình.

Ông bảo Dorothy rằng ông đã chải mái tóc và bộ râu bờm xờm của mình rồi; nhưng cô nghĩ chắc ông đã chải ngược chiều mất tiêu, bởi chúng vẫn bờm xờm y như cũ.

Về phần đám cáo tập trung lại để ăn tối cùng những vị khách lạ, chúng ăn mặc đẹp đến hoàn mỹ, và những bộ trang phục lộng lẫy của chúng khiến chiếc váy giản dị của Dorothy, bộ đồ thủy thủ của Button-Bright và trang phục bờm xờm của người đàn ông bờm xờm bỗng trở nên tầm thường. Tuy nhiên, chúng đối xử với các vị khách của mình bằng sự tôn trọng tuyệt vời và bữa tối do Nhà Vua thết đãi quả thực rất ngon.

Như các bạn đã biết, loài cáo rất thích thịt gà và các loài gia cầm khác; thế nên chúng dọn súp gà, gà tây quay, vịt hầm, gà rừng chiên, chim cút rô-ti và bánh nướng nhân ngỗng, và vì cách nấu nướng cực kỳ xuất sắc nên các vị khách của Nhà Vua đã thưởng thức bữa ăn vô cùng ngon lành và ăn ngấu nghiến các món.

Cả nhóm đi đến rạp hát, nơi họ xem một vở kịch do những con cáo diễn xuất trong những bộ trang phục làm từ lông vũ rực rỡ màu sắc. Vở kịch kể về một cô cáo bị một lũ sói độc ác bắt cóc đưa về hang của chúng; và đúng lúc chúng sắp giết thịt cô thì một đội quân cáo tiến đến, giải cứu cô bé và trừng trị tất cả lũ sói độc ác bằng cái chết.

“Cậu thấy thế nào?” Nhà Vua hỏi Dorothy.

“Khá được ạ,” cô đáp. “Nó làm cháu nhớ đến một trong những ngụ ngôn của ông Aesop.”

“Đừng nhắc đến Aesop trước mặt ta, ta xin đấy!” Vua Dox kêu lên. “Ta căm ghét cái tên của lão ta. Lão viết rất nhiều về loài cáo, nhưng lúc nào cũng miêu tả chúng là độc ác và gian xảo, trong khi chúng ta hiền lành và tốt bụng, như các vị có thể thấy đấy.”

"Nhưng những câu chuyện ngụ ngôn của ông ấy cho thấy các ngài rất thông thái, lanh lợi và khôn ngoan hơn các loài động vật khác," người đàn ông bờm xờm trầm ngâm nhận xét.

"Chứ sao nữa. Chẳng có gì phải bàn cãi về việc chúng ta biết nhiều hơn con người cả," Nhà Vua kiêu hãnh đáp. "Nhưng chúng ta dùng sự thông thái của mình để làm điều thiện, chứ không phải điều ác; thế nên cái tên Aesop kinh khủng đó chẳng biết quái gì về những gì lão đang nói đâu."

Họ không dám phản bác lại ngài, bởi họ cảm thấy một vị vua thì phải hiểu rõ bản tính loài cáo hơn con người chứ; thế nên họ cứ ngồi im xem kịch, và Button-Bright trở nên hào hứng đến mức quên mất rằng mình đang mang chiếc đầu cáo.

Sau đó, họ quay lại cung điện và ngủ trên những chiếc giường êm ái nhồi lông vũ; bởi loài cáo nuôi rất nhiều gia cầm để làm thức ăn, và dùng lông của chúng để may mặc cũng như để nằm ngủ.

Dorothy tự hỏi tại sao các loài động vật sống ở Foxville lại không khoác lên mình bộ da lông vốn có của chúng giống như loài cáo hoang; khi cô đề cập điều đó với Vua Dox, ngài bảo rằng chúng ăn mặc như vậy vì chúng đã văn minh.

"Nhưng các ngài sinh ra đã trần truồng cơ mà," cô nhận xét, "và các ngài có vẻ chẳng cần đến quần áo làm gì."

"Con người sinh ra cũng trần truồng vậy thôi," ngài đáp; "và cho đến khi họ trở nên văn minh, họ chỉ mặc bộ da tự nhiên của mình mà thôi. Nhưng trở nên văn minh có nghĩa là phải ăn mặc thật lộng lẫy và đẹp đẽ hết mức có thể, và trưng diện quần áo của mình để hàng xóm láng giềng phải ganh tị, và chính vì lý do đó mà cả loài cáo văn minh lẫn con người văn minh đều dành phần lớn thời gian chỉ để chưng diện quần áo cho bản thân."

"Tôi thì không thế," người đàn ông bờm xờm tuyên bố.

"Đúng thế thật," Nhà Vua vừa kỹ lưỡng quan sát ông vừa nói: "nhưng có lẽ anh chưa văn minh."

Sau một giấc ngủ ngon và được nghỉ ngơi thoải mái qua đêm, họ ăn sáng cùng Nhà Vua rồi chào tạm biệt Bệ Hạ.

"Các ngài đối xử tử tế với chúng tôi — ngoại trừ tội nghiệp Button-Bright," Dorothy nói, "và chúng tôi đã có những khoảng thời gian tuyệt vời ở Foxville."

"Thế thì," Vua Dox nói, "có lẽ các vị sẽ rất tốt bụng nếu xin giúp ta một lời mời đến dự lễ kỷ niệm sinh nhật Công chúa Ozma chứ?"

"Cháu sẽ cố gắng ạ," cô hứa; "nếu cháu gặp ngài ấy kịp lúc."

"Hãy nhớ là ngày hai mươi mốt nhé," ngài tiếp tục; "và nếu các vị lo liệu để ta được mời, ta sẽ tìm cách vượt qua Sa Mạc Đáng Sợ để đến Xứ Sở Oz kỳ diệu. Ta luôn ao ước được ghé thăm Thành Phố Ngọc Lục Bảo, thế nên ta chắc chắn việc các vị đến đây đúng vào lúc này là một cơ hội may mắn, vì các vị là bạn của Công chúa Ozma và có thể giúp ta lấy được lời mời."

"Nếu cháu gặp Ozma, cháu sẽ xin ngài ấy mời Bệ Hạ," cô đáp.

Vua loài cáo đã chuẩn bị cho họ một bữa trưa ngon miệng, người đàn ông bờm xờm nhét nó vào túi, và viên đội trưởng cáo đã hộ tống họ đến cổng vòm ở phía bên kia ngôi làng — hướng đối diện với lối họ từng bước vào. Ở đây họ lại thấy có lính canh gác đường.

"Các ngài sợ kẻ thù à?" Dorothy hỏi.

"Không; bởi vì chúng ta luôn cảnh giác và tự bảo vệ được mình," viên đội trưởng đáp. "Nhưng con đường này dẫn đến một ngôi làng khác do những con thú to lớn, ngu ngốc cư ngụ; chúng có thể gây rắc rối cho chúng ta nếu chúng nghĩ rằng chúng ta sợ chúng."

"Đó là loài thú gì thế?" người đàn ông bờm xờm hỏi.

Viên đội trưởng ngập ngừng đáp. Cuối cùng hắn nói:

"Các vị sẽ rõ tất cả khi đến thành phố của chúng. Nhưng đừng sợ chúng nhé. Button-Bright vô cùng thông minh và bây giờ lại có một gương mặt lanh lợi đến thế, ta chắc chắn cậu bé sẽ xoay sở tìm ra cách bảo vệ các vị."

Điều này làm Dorothy và người đàn ông bờm xờm cảm thấy khá bất an, bởi họ không đặt quá nhiều niềm tin vào sự khôn ngoan của cậu bé cáo như viên đội trưởng tưởng tượng. Nhưng vì viên hộ tống chẳng chịu nói thêm gì về đám thú nữa, họ đành chào tạm biệt hắn và tiếp tục cuộc hành trình.

TOTO, lúc này được thả rông chạy nhảy tùy thích, vô cùng sung sướng vì được tự do và thỏa sức sủa chim chóc cùng đuổi bắt bướm. Vùng đồng quê xung quanh thật quyến rũ, tuy nhiên giữa những cánh đồng hoa dại xinh đẹp và những lùm cây rậm rạp lại chẳng hề có bóng dáng ngôi nhà nào hay dấu vết của cư dân. Chim chóc bay lượn trên không trung và những chú thỏ trắng lanh lợi lẩn khuất giữa những thảm cỏ cao cùng bụi rậm xanh rờn; Dorothy thậm chí còn để ý thấy những con kiến đang cặm cụi làm việc dọc lối đi, mang theo những tải hạt cỏ ba lá khổng lồ; nhưng tuyệt nhiên chẳng có bóng dáng con người nào cả.

Họ rảo bước nhanh nhẹn suốt một hai tiếng đồng hồ, bởi ngay cả cậu bé Button-Bright cũng là một người đi bộ cừ khôi và chẳng dễ mỏi mệt. Cuối cùng, khi rẽ qua một khúc cua trên đường, trước mắt họ xuất hiện một cảnh tượng vô cùng kỳ lạ.

Một cô bé rạng rỡ và xinh đẹp, dáng người cân đối như một nàng tiên và ăn mặc cực kỳ tinh tế, đang uyển chuyển nhảy múa giữa con đường hoang vắng, xoay tròn chầm chậm hết bên này đến bên khác, đôi chân thanh thoát lướt đi thoăn thoắt đầy nhịp nhàng. Cô mặc những bộ xiêm y bồng bềnh, mềm mại buông rủ khiến Dorothy liên tưởng đến những chiếc mạng nhện được dệt thành, chỉ có điều chúng mang những sắc thái nhẹ nhàng của màu tím, hồng, hoàng ngọc, ô-liu, xanh da trời và trắng, hòa quyện vào nhau một cách vô cùng hài hòa thành những đường sọc tệp vào nhau qua những lớp chuyển màu dịu nhẹ. Mái tóc cô óng ả như tơ vàng ròng và buông xõa bồng bềnh quanh người như một đám mây, không một lọn tóc nào bị kẹp hay buộc bởi ghim cài, trâm trang trí hay ruy băng.

Tràn ngập sự kinh ngạc và ngưỡng mộ, mấy người bạn của chúng ta tiến đến và đứng ngắm nhìn điệu nhảy vô cùng cuốn hút này. Cô bé không hề cao hơn Dorothy, dù có phần mảnh mai hơn; và cũng chẳng trông có vẻ lớn tuổi hơn nữ anh hùng nhỏ bé của chúng ta là mấy.

Bỗng cô khựng lại, ngừng nhảy múa như thể lần đầu tiên nhận ra sự hiện diện của những người lạ mặt. Khi cô quay lại đối mặt với họ, e thẹn như một chú hươu con hoảng sợ, đứng nhón bằng một chân như trực bay đi ngay giây lát tiếp theo, Dorothy ngạc nhiên khi thấy những giọt nước mắt trào ra từ đôi mắt màu hoa cà, lăn dài trên đôi má ửng hồng xinh đẹp. Việc một thiếu nữ thanh tao vừa nhảy múa vừa khóc lóc quả thực là điều hết sức bất ngờ; thế nên Dorothy liền cất giọng mềm mại, đầy cảm thông:

POLYCHROME — CON GÁI CẦU VỒNG

"Em không vui à, cô bé?"

"Rất buồn ạ!" câu trả lời vang lên; "Em bị lạc rồi."

"Ơ hay, bọn chị cũng thế mà," Dorothy mỉm cười nói; "nhưng tụi chị có khóc lóc gì đâu."

"Thế á? Sao lại thế?"

"Bởi vì chị từng bị lạc trước đây rồi, và lần nào cũng tìm được đường về hết," Dorothy đơn giản đáp.

"Nhưng em chưa bao giờ bị lạc bao giờ," thiếu nữ thanh tao thì thầm, "và em đang lo lắng lắm."

"Vừa nãy em còn nhảy múa cơ mà," Dorothy bối rối hỏi.

"À, cái đó chỉ để giữ ấm người thôi," thiếu nữ nhanh chóng giải thích. "Em xin đảm bảo là không phải vì em cảm thấy vui vẻ hay phấn khởi đâu ạ."

Dorothy chăm chú nhìn cô. Bộ xiêm y mỏng manh bay bổng của cô có lẽ không giữ ấm được là bao, tuy nhiên thời tiết lại chẳng hề se lạnh tẹo nào, mà trái lại rất ôn hòa và dễ chịu, hệt như một ngày mùa xuân vậy.

"Em là ai thế, bé ngoan?" cô nhẹ nhàng hỏi.

"Em là Polychrome," câu trả lời là vậy.

"Polly gì cơ?"

"Polychrome. Em là Con Gái của Cầu Vồng."

"Ồ!" Dorothy há hốc mồm thốt lên; "Chị không biết là Cầu Vồng lại có con đấy. Nhưng lẽ ra chị phải đoán ra trước khi em mở lời rồi. Em chẳng thể là cái gì khác ngoài điều đó được."

"Sao lại thế ạ?" Polychrome thắc mắc như thể vô cùng ngạc nhiên.

"Bởi vì em quá đỗi đáng yêu và ngọt ngào."

Cô thiếu nữ mỉm cười qua làn nước mắt, bước đến bên Dorothy và đặt những ngón tay mảnh mai vào bàn tay bầu bĩnh của cô bé Kansas.

"Chị sẽ làm bạn với em — chịu không nào?" cô nài nỉ nói.

"Đương nhiên rồi."

"Và tên của các chị là gì ạ?"

"Chị là Dorothy; còn đây là người bạn của chị, Người Bờm Xờm — người sở hữu Nam Châm Tình Yêu; và đây là Button-Bright — chỉ có điều em không thấy được cậu ấy đúng như nguyên bản vì Vua Cáo đã bất cẩn biến đầu cậu ấy thành đầu cáo mất tiêu rồi. Nhưng cái đầu thật của Button-Bright trông rất dễ nhìn, và chị hy vọng sẽ có lúc đổi lại được đầu cũ cho em ấy."

Con Gái Cầu Vồng vui vẻ gật đầu, không còn sợ hãi những người bạn đồng hành mới nữa.

"Nhưng còn đây là ai thế ạ?" cô hỏi, chỉ tay về phía Toto — con chó đang ngồi trước mặt, ngoe nguẩy đuôi vô cùng thân thiện và ngước đôi mắt sáng long lang ngắm nhìn cô tiểu thư xinh đẹp. "Đây cũng là một người bị phù phép sao ạ?"

"Ồ không, Polly — chị gọi em là Polly nhé, được chứ? Tên đầy đủ của em khó đọc quá."

"Cứ gọi em là Polly nếu chị muốn, Dorothy ạ."

"Ừm, Polly này, Toto chỉ là một con chó thôi; nhưng nói thật là nó khôn hơn Button-Bright đấy; và chị rất quý nó."

"Em cũng thế," Polychrome nói, uyển chuyển cúi người vỗ đầu Toto.

"Nhưng làm thế nào mà Con Gái Cầu Vồng lại ra được con đường hoang vắng này và bị lạc cơ chứ?" người đàn ông bờm xờm — nãy giờ vẫn im lặng lắng nghe mọi chuyện với vẻ kinh ngạc — lên tiếng hỏi.

"Số là sáng nay cha căng chiếc cầu vồng của người qua đây, sao cho một đầu của nó chạm vào con đường này," cô đáp; "và em đang mải nhảy múa trên những tia sáng xinh đẹp đó — như em vẫn thích làm — mà chẳng hề để ý rằng mình đã trượt quá xa qua chỗ uốn của vòng tròn. Bỗng nhiên em bắt đầu trượt, và trượt ngày một nhanh hơn cho đến khi cuối cùng em đập người xuống đất, ngay đúng cái chóp tận cùng. Đúng lúc đó cha lại kéo cầu vồng lên mà chẳng hề hay biết gì về em, và mặc dù em đã cố gắng chộp lấy đầu cầu vồng để níu thật chặt, nhưng nó đã tan biến hoàn toàn và để lại một mình em bơ vơ, bất lực trên mặt đất lạnh lẽo, cứng ngắc này!"

"Chị thấy chẳng lạnh tẹo nào đâu, Polly," Dorothy bảo; "nhưng có lẽ em ăn mặc không được ấm áp cho lắm."

"Em đã quen sống ở gần mặt trời rồi," Con Gái Cầu Vồng đáp, "nên thoạt đầu em cứ sợ mình sẽ bị cóng khi xuống dưới này. Nhưng mấy điệu nhảy đã làm em ấm lên phần nào, và giờ thì em đang tự hỏi làm sao mình có thể tìm đường về nhà đây."

"Cha em không nhớ em, rồi đi tìm và hạ một chiếc cầu vồng khác xuống cho em sao?"

"Có lẽ là có; nhưng dạo này ngài đang rất bận vì mùa này ở nhiều nơi trên thế giới trời mưa liên tục, và ngài phải đặt cầu vồng của mình ở rất nhiều nơi khác nhau. Theo chị thì em nên làm gì bây giờ, Dorothy?"

"Đi cùng bọn chị đi," câu trả lời là vậy. "Chị định tìm đường đến Thành Phố Ngọc Lục Bảo — nơi nằm trong Xứ Sở Thần Tiên Oz. Thành Phố Ngọc Lục Bảo được cai trị bởi một người bạn của chị, Công chúa Ozma, và nếu chúng ta xoay sở đến được đó, chị chắc chắn ngài ấy sẽ biết cách đưa em trở về với cha."

"Chị thực sự nghĩ thế chứ?" Polychrome lo lắng hỏi.

"Chị khá chắc chắn đấy."

"Vậy em sẽ đi cùng các chị," cô thiếu nữ nhỏ bé nói; "vì việc đi lại sẽ giúp em giữ ấm cơ thể, và cha có thể tìm thấy em ở bất cứ góc nào trên thế giới này — miễn là ngài có thời gian đi tìm."

"Thế thì đi thôi," người đàn ông bờm xờm vui vẻ nói; và họ lại tiếp tục lên đường. Polly đi bên cạnh Dorothy một lúc, nắm chặt tay người bạn mới như thể sợ buông ra; nhưng bản tính của cô có vẻ nhẹ nhàng và bồng bềnh hệt như tà áo mỏng manh, bởi bỗng nhiên cô phóng vụt lên trước và xoay một vòng tròn đầy chóng mặt. Sau đó cô hí hửng chạy lùi lại phía họ với đôi mắt long lanh và đôi má ửng hồng, đã lấy lại được tâm trạng vui vẻ quen thuộc và quên sạch mọi nỗi lo lắng về chuyện bị lạc đường.

Họ nhận ra cô là một người bạn đồng hành vô cùng duyên dáng, và những điệu nhảy cùng tiếng cười của cô — bởi thỉnh thoảng cô cười vang lên hệt như tiếng chuông bạc ngân — đã góp phần làm chuyến hành trình thêm phần sinh động và giữ cho họ luôn vui vẻ.

ĐẾN trưa, họ mở chiếc giỏ đựng bữa trưa của Vua Cáo ra, và thấy có một con gà tây quay thơm phức ăn kèm sốt nam việt quất cùng vài lát bánh mì phết bơ. Khi họ ngồi xuống bãi cỏ bên vệ đường, người đàn ông bờm xờm dùng con dao bỏ túi cắt con gà tây ra và chuyền các phần cho mọi người.

"Các người không có chút giọt sương, bánh sương mù hay bánh mây nào sao?" Polychrome ngước nhìn vẻ khao khát hỏi.

"Làm gì có," Dorothy đáp. "Dưới mặt đất này bọn chị toàn ăn đồ ăn đặc thôi. Nhưng có một chai trà lạnh đấy. Em uống thử chút không?"

Con Gái Cầu Vồng chăm chú nhìn Button-Bright đang ngấu nghiến chiếc đùi gà tây.

"Nó ngon không?" cô hỏi.

Cậu bé gật đầu.

"Cậu nghĩ tớ có ăn được không?"

"Miếng này thì không," Button-Bright đáp.

"Ý tớ là một miếng khác cơ?"

"Không biết," cậu đáp.

"Thôi được, tớ sẽ thử xem sao, vì tớ đói lắm rồi," cô quyết định, rồi cầm một lát lườn gà tây trắng mỏng do người đàn ông bờm xờm cắt cho, cùng một mẩu bánh mì phết bơ. Khi nếm thử, Polychrome thấy thịt gà tây rất ngon — thậm chí còn ngon hơn cả bánh mây; nhưng chỉ một chút là cô đã thấy đủ no và kết thúc bữa ăn bằng một ngụm trà lạnh nhỏ xíu.

"Chừng đó chắc chỉ vừa đủ cho một con ruồi ăn," Dorothy — người đang tự thưởng cho mình một bữa ăn thị tảng — nhận xét. "Nhưng chị quen vài người ở xứ Oz chẳng bao giờ ăn uống gì cả."

"Họ là ai thế?" người đàn ông bờm xờm thắc mắc.

"Một người là Bù Nhìn nhồi rơm, còn người kia là Người Thiếc làm bằng thiếc. Các bác ấy chẳng có cảm giác thèm ăn nào trong người cả, anh biết đấy; thế nên họ chẳng bao giờ ăn uống bất cứ thứ gì."

"Họ còn sống chứ?" Button-Bright hỏi.

"Ồ có chứ," Dorothy đáp; "và họ vô cùng lanh lợi lại còn rất tốt bụng nữa. Nếu chúng ta đến được xứ Oz, chị sẽ giới thiệu họ với em."

"Chị thực sự hy vọng đến được xứ Oz chứ?" người đàn ông bờm xờm hỏi, nhấp một ngụm trà lạnh.

POLLY NHẤP MỘT CHÚT TRÀ LẠNH

"Cháu cũng chẳng biết nên trông mong điều gì nữa," cô bé nghiêm túc đáp; "nhưng cháu nhận ra rằng nếu lỡ bị lạc thì thể nào cuối cùng cháu cũng đến được Xứ Sở Thần Tiên Oz bằng cách này hay cách khác; thế nên biết đâu lần này chúng ta cũng đến được đấy. Nhưng cháu không dám hứa trước đâu nhé; tất cả những gì cháu có thể làm là chờ xem sao thôi."

"Bù Nhìn có dọa em sợ không?" Button-Bright hỏi.

"Không; vì em đâu phải là con quạ," cô đáp. "Cậu ấy có nụ cười đáng yêu nhất mà em từng thấy — chỉ có điều nó được vẽ lên mặt nên cậu ấy muốn thế cũng không được."

Bữa trưa kết thúc, họ lại tiếp tục lên đường, người đàn ông bờm xờm, Dorothy và Button-Bright lầm lũi bước đi với vẻ đăm chiêu sánh bước bên nhau, còn Con Gái Cầu Vồng thì nhí nhảnh nhảy múa phía trước.

Đôi khi cô lướt vút dọc con đường nhanh đến mức gần như khuất bóng, rồi lại hí hửng chạy lùi lại chào đón họ bằng tiếng cười lanh lảnh như bạc. Nhưng có lần cô quay lại với vẻ điềm đạm hơn, và nói:

"Có một thành phố ở đoạn đằng kia kìa."

"Chị đoán trước được điều đó rồi," Dorothy đáp; "vì dân làng cáo đã cảnh báo chúng ta rằng có một thành phố nằm trên con đường này. Nơi đó toàn là mấy con thú ngốc nghếch nào đó, nhưng chúng ta đừng sợ chúng vì chúng sẽ không làm hại chúng ta đâu."

"Được rồi," Button-Bright nói; nhưng Polychrome thì chẳng biết là có ổn hay không.

"Đó là một thành phố lớn," cô nói, "và con đường chạy xuyên qua giữa lòng nó luôn."

"Không sao đâu," người đàn ông bờm xờm nói; "chừng nào tôi còn mang theo Nam Châm Tình Yêu thì mọi sinh vật sống đều sẽ yêu mến tôi, và các cháu cứ yên tâm là tôi sẽ không để bất kỳ người bạn nào của mình bị tổn thương dẫu chỉ một chút."

Điều này phần nào an ủi họ, và họ tiếp tục tiến bước. Chẳng mấy chốc họ đến trước một tấm biển ghi:

"NỬA DẶM NỮA LÀ ĐẾN DUNKITON."

"Ồ," người đàn ông bờm xờm nói, "nếu đó là lũ lừa thì chúng ta chẳng có gì phải sợ hết."

"Chúng có thể đá đấy," Dorothy nghi ngờ nói.

"Thế thì chúng ta sẽ cắt mấy cọng roi mây và dạy cho chúng biết điều," ông đáp. Ngay tại gốc cây đầu tiên, ông tự cắt cho mình một chiếc roi dài và mảnh từ một cành cây, và tiện thể cắt những chiếc roi ngắn hơn cho những người khác.

"Đừng sợ mà không dám bắt bảo ban đám thú nhé," ông nói; "chúng quen bị trị rồi."

Chẳng mấy chốc con đường dẫn họ đến những cánh cổng của thành phố. Xung quanh là một bức tường cao đã được quét vôi trắng, và cánh cổng ngay trước mặt những lữ khách chỉ là một khoảng trống trên tường, hoàn toàn không có thanh chắn ngang. Không có tòa tháp, ngọc xá lợi hay mái vòm nào nhô lên phía trên rào chắn, và cũng chẳng có sinh vật sống nào lộ diện khi mấy người bạn tiến lại gần.

Bỗng nhiên, khi họ chuẩn bị táo tợn bước qua lối mở thì một thứ âm thanh ầm ĩ chát chúa vang lên, dội ngược vang vọng khắp mọi phía, khiến họ gần như điếc tai vì tiếng ồn và phải đưa tay bịt tai lại để ngăn tiếng động lọt vào.

Nó giống như tiếng đại bác nả dồn dập, chỉ là chẳng thấy bóng dáng quả đạn pháo hay vật phóng nào; nó giống như tiếng sấm gầm rền trời, chỉ là trên bầu trời không một bóng mây; nó giống như tiếng sóng biển vỗ ầm ầm vô số bọt trắng trên bờ biển gồ ghề, chỉ là xung quanh hoàn toàn chẳng có biển hay vùng nước nào cả.

Họ chần chừ không dám tiến lên; nhưng vì tiếng động đó chẳng gây tổn hại gì, họ liền bước qua bức tường quét vôi trắng và nhanh chóng phát hiện ra nguyên nhân của sự náo động này. Bên trong có treo rất nhiều tấm thiếc hoặc sắt mỏng, và áp sát vào những tấm kim loại này là một hàng những con lừa đang dùng gót chân đạp giò đá liên hồi đầy hung hãn.

Người đàn ông bờm xờm chạy vụt đến con lừa gần nhất và giáng cho nó một roi đau điếng.

"Im cái tiếng ồn đó lại!" ông quát lớn; và con lừa liền ngừng đá vào tấm kim loại, quay đầu nhìn người đàn ông bờm xờm với vẻ đầy ngạc nhiên. Ông tiếp tục quất con lừa kế tiếp và bắt nó dừng lại, rồi đến con tiếp theo, cứ thế cho đến khi tiếng gót chân khua lách cách dứt hẳn và âm thanh kinh khủng ấy dịu xuống. Đám lừa tụm lại một chỗ, nơm nớp nhìn những người lạ mặt với vẻ sợ hãi và run rẩy.

"Các người định làm gì khi gây ra thứ âm thanh nhức tai thế hả?" người đàn ông bờm xờm nghiêm khắc hỏi.

"Chúng tôi đang dọa cho lũ cáo sợ chạy mất," một con lừa rụt rè đáp. "Thường thì chúng sẽ chạy thục mạng khi nghe thấy tiếng động này, bởi nó làm chúng sợ hãi."

"Ở đây làm gì có con cáo nào," người đàn ông bờm xờm nói.

"Tôi xin phép được bất đồng quan điểm với ông. Dù sao thì cũng có một con đấy," con lừa đáp, ngồi thẳng trên hai chân sau và khua một chiếc móng vuốt về phía Button-Bright. "Chúng tôi thấy nó đi tới và cứ ngỡ cả đội quân cáo đang kéo đến tấn công chúng tôi cơ."

"Button-Bright không phải là cáo," người đàn ông bờm xờm giải thích. "Cậu nhóc chỉ đang mang tạm một chiếc đầu cáo cho đến khi lấy lại được cái đầu thật của mình thôi."

"À, ra thế," con lừa nhận xét, vừa vẫy vẫy chiếc tai trái đầy vẻ trầm ngâm. "Tôi xin lỗi vì đã gây ra sự hiểu lầm lớn thế này, và khiến chúng tôi tốn bao nhiêu công sức lo lắng vô ích."

Lúc này đám lừa khác cũng đã ngồi thẳng dậy và đang tò mò săm soi những người lạ mặt bằng đôi mắt to trân trân, đờ đẫn. Quả thực chúng trông rất kỳ quặc; bởi chúng đeo những chiếc cổ áo trắng rộng quanh cổ và mép cổ áo có rất nhiều viền răng cưa và chóp nhọn. Những chú lừa đực đội những chiếc mũ chóp cao nhọn hoắt cài giữa đôi tai to lớn, còn những cô lừa cái thì đội mũ che nắng có khoét lỗ trên đỉnh để thò đôi tai ra ngoài. Nhưng chúng hoàn toàn chẳng mặc quần áo gì khác ngoại trừ bộ da lông trên người, dẫu cho rất nhiều con có đeo vòng tay bằng vàng và bạc ở cổ chân trước cùng các vòng kim loại đủ loại ở cổ chân sau. Khi đá, chúng thường lấy hai chân trước làm điểm tựa chống đỡ, nhưng bây giờ thì tất cả đều đứng hoặc ngồi thẳng trên hai chân sau và dùng hai chân trước làm tay. Do không có ngón tay hay bàn tay nên loài vật này khá vụng về, các bạn có thể đoán được đấy; nhưng Dorothy vẫn ngạc nhiên khi quan sát thấy chúng có thể làm được vô số việc bằng những chiếc móng vuốt cứng và nặng nề của mình.

Có con lừa lông trắng, có con lông nâu, xám, đen hoặc đốm; nhưng lớp lông của chúng rất mượt mà, còn cổ áo và mũ rộng vành giúp chúng trông có vẻ gọn gàng, dù có phần kỳ cục.

"Tôi phải nói đây là một cách chào đón khách khứa rất lịch sự đấy nhé!" người đàn ông bờm xờm với giọng điệu trách móc cất lời.

"Ồ, chúng tôi đâu có ý bất lịch sự," một con lừa lông xám chưa từng lên tiếng nãy giờ đáp lại. "Nhưng các vị đến mà chẳng báo trước, cũng chẳng gửi danh thiếp ghé thăm theo đúng phép tắc gì cả."

"Điều đó thì quả thật có thật," người đàn ông bờm xờm thừa nhận; "nhưng bây giờ các vị đã được thông báo rằng chúng ta là những lữ khách quan trọng và nổi tiếng, tôi hy vọng các vị sẽ dành cho chúng tôi sự đón tiếp tương xứng."

Những từ ngữ hoa mỹ đó khiến đám lừa vô cùng thích thú, và khiến chúng cúi đầu trước người đàn ông bờm xờm với vẻ cực kỳ cung kính. Con lừa xám lên tiếng:

"Các vị sẽ được dẫn yết kiến trước Bệ Hạ Vua Kik-a-bray vĩ đại và hiển hách, ngài sẽ chào đón các vị đúng với tầm vóc cao quý của mình."

"Đúng thế," Dorothy đáp. "Đưa tụi tôi đến gặp ai đó biết điều một chút đi."

"Ồ, tất cả chúng tôi ai mà chẳng biết điều, cô bé, nếu không thì chúng tôi đã chẳng làm lừa," con lừa xám đầy vẻ đường hoàng khẳng định. "Từ 'lừa' có nghĩa là 'thông minh', cô biết đấy."

"Tôi có biết đâu," cô đáp. "Tôi cứ tưởng nó có nghĩa là 'ngu ngốc'."

"Hoàn toàn không phải thế, cô bé ạ. Nếu cô tra cứu trong Bách Khoa Toàn Thư Donkaniara, cô sẽ thấy tôi nói chuẩn xác. Nào, đi thôi; chính tôi sẽ hộ tống các vị yết kiến vị quân vương lừng lẫy, cao quý và uyên bác nhất của chúng tôi."

Loài lừa nào mà chẳng thích những từ ngữ to tát, thế nên chẳng có gì lạ khi con lừa xám lại dùng lắm từ đao to búa lớn đến vậy.

HỌ thấy các ngôi nhà trong thị trấn đều thấp lè tè, vuông vức và được xây bằng gạch, quét vôi trắng gọn gàng từ trong ra ngoài. Các ngôi nhà không được xếp thành hàng lối tạo thành những con phố ngăn nắp, mà được đặt rải rác chỗ này chỗ kia theo kiểu ngẫu hứng khiến những người lạ mặt vô cùng bối rối không biết đường nào mà lần.

Con lừa xám vừa đi bộ trên hai chân sau dẫn đường cho khách bằng một dáng đi vừa lợ ngợ vừa buồn cười, vừa nhận xét: "Những kẻ ngu ngốc mới cần đến phố xá với những con số nhà đánh số trong thành phố để dẫn đường cho chúng đi; còn loài lừa khôn ngoan thì tự tìm đường quanh co mà chẳng cần đến mấy cái dấu hiệu vô lý đó. Hơn nữa, một thành phố bài trí lộn xộn trông sẽ đẹp mắt hơn nhiều so với một nơi có đường sá thẳng tắp."

Dorothy không đồng ý với quan điểm này, nhưng cô chẳng nói gì để phản bác lại. Thoắt cái, cô nhìn thấy một tấm biển treo trên một ngôi nhà ghi: "Bà de Fayke, Chuyên gia Bói Móng," và cô liền hỏi người dẫn đường:

"Làm ơn cho hỏi 'chuyên gia bói móng' là gì thế ạ?"

"Là kẻ xem vận mệnh cho cô qua bộ móng của cô đấy," con lừa xám đáp.

"Ồ, tôi hiểu rồi," cô bé nói. "Ở đây các ngài văn minh phết nhỉ."

"Dunkiton," nó đáp, "chính là trung tâm của nền văn minh cao nhất thế giới."

Họ đi đến một ngôi nhà nơi có hai chú lừa non đang quét vôi bức tường, và Dorothy đứng lại một lát để quan sát chúng. Chúng nhúng phần đuôi — vốn trông giống hệt những chiếc cọ vẽ — vào một xô vôi trắng, quay lưng vào tường rồi ngoe nguẩy chiếc đuôi sang phải sang trái cho đến khi vôi dính đều lên tường, sau đó chúng lại nhúng những chiếc cọ ngộ nghĩnh này vào xô và lặp lại động tác đó.

"Chắc là vui lắm nhỉ," Button-Bright nói.

"Không; đó là công việc," con lừa già đáp; "nhưng chúng tôi bắt bọn trẻ con làm hết mọi việc quét vôi để chúng khỏi quậy phá."

"Chúng không đi học à?" Dorothy hỏi.

"Tất cả loài lừa sinh ra đều đã khôn ngoan sẵn rồi," câu trả lời là vậy, "thế nên trường học duy nhất chúng tôi cần chính là trường đời. Sách vở chỉ hợp với những kẻ chẳng biết gì, nên mới buộc phải học hỏi mọi thứ từ người khác."

"Nói cách khác, kẻ nào càng ngu ngốc thì lại càng tưởng mình biết nhiều," người đàn ông bờm xờm nhận xét. Con lừa xám chẳng thèm đếm xỉa gì đến câu nói này bởi nó vừa dừng bước trước một ngôi nhà có vẽ phía trên cửa ra vào hình một cặp móng guốc, kẹp giữa là cái đuôi lừa cùng một chiếc vương miện và vương trượng thô kệch phía trên.

"Để tôi xem bệ hạ vĩ đại Vua Kik-a-bray có ở nhà không đã," nó nói. Nó ngẩng đầu cất tiếng gọi "Hí-hô! hí-hô! hí-hô!" ba lần liền bằng một giọng nghe rợn cả người, rồi quay ngoắt lại dùng gót chân đá phành phạch vào cánh cửa. Một lát sau chẳng thấy ai trả lời; rồi cánh cửa hé mở vừa đủ để thò một cái đầu lừa ra nhìn họ.

Đó là một chiếc đầu lông trắng, với đôi tai to tướng và đôi mắt tròn trân trân, nghiêm nghị.

"Lũ cáo đi rồi chứ?" nó run rẩy hỏi bằng một giọng lắp bắp.

"Chúng chưa tới đâu, tâu bệ hạ vĩ đại nhất," con lừa xám đáp. "Những vị khách mới đến đây hóa ra lại là các lữ khách lỗi lạc đấy ạ."

"Ồ," Nhà Vua cất giọng với vẻ nhẹ nhõm. "Cho họ vào đi."

Ngài mở toang cánh cửa, và cả nhóm bước vào một căn phòng lớn — mà Dorothy thấy chẳng giống cung điện của vua tẹo nào. Trên sàn nhà trải những chiếc chiếu đan bằng cỏ và căn phòng gọn gàng, sạch sẽ; nhưng Bệ Hạ hoàn toàn chẳng có món đồ nội thất nào khác — có lẽ vì ngài chẳng cần đến chúng. Ngài ngồi xổm xuống chính giữa phòng và một chú lừa nâu nhỏ chạy đi mang tới một chiếc vương miện bằng vàng đặt lên đầu vị quân vương, cùng một chiếc gậy quyền uy bằng vàng gắn một quả cầu nạm ngọc ở đầu — thứ mà Nhà Vua cầm giữa hai móng guốc trước khi ngồi thẳng dậy.

"Thế nào," Bệ Hạ vừa khẽ lúc lắc đôi tai dài vừa lên tiếng, "hãy nói cho ta hay vì sao các ngươi có mặt ở đây, và các ngươi muốn ta phải làm gì cho các ngươi nào." Ngài nhìn Button-Bright khá sắc bén, như thể e dè chiếc đầu kỳ quặc của cậu bé, dẫu cho người đàn ông bờm xờm mới là người đứng ra lên tiếng đáp lời.

"Kính lấp bệ hạ tối cao và vĩ đại nhất xứ Dunkiton," ông nói, cố nhịn cười trước khuôn mặt nghiêm nghị của Nhà Vua, "chúng tôi là những lữ khách đang du hành qua lãnh địa của ngài, và đã bước vào thành phố lừng lẫy này bởi con đường buộc chúng tôi phải đi qua đó, chứ chẳng có lối nào đi vòng qua được cả. Tất cả những gì chúng tôi mong muốn là được bày tỏ lòng kính trọng với Bệ Hạ — vị vua thông thái nhất trên đời này, tôi chắc chắn là thế — rồi tiếp tục lên đường."

Lời nịnh nọt lịch sự này làm Nhà Vua vô cùng hài lòng; thực ra nó làm ngài thích thú đến mức trở thành một lời nói kém may mắn đối với người đàn ông bờm xờm. Có lẽ Nam Châm Tình Yêu đã giúp chiếm lấy thiện cảm của Bệ Hạ cũng như lời nịnh hót kia, nhưng dù thế nào đi nữa thì con lừa trắng cũng nhìn người vừa cất lời bằng ánh mắt hiền từ và nói:

"Chỉ có loài lừa mới dùng được những từ ngữ hoa mỹ và to tát như thế, và anh quá đỗi khôn ngoan và đáng khâm phục về mọi mặt để chỉ làm một con người tầm thường. Hơn nữa ta cảm thấy yêu quý anh chẳng kém gì thần dân ưu tú của mình, thế nên ta sẽ ban cho anh món quà lớn nhất trong khả năng của ta — chiếc đầu của loài lừa."

Vừa nói ngài vừa phất cây gậy quyền uy nạm ngọc. Dẫu cho người đàn ông bờm xờm kêu lên và cố nhảy lùi lại để trốn chạy, mọi nỗ lực đều vô ích. Bỗng nhiên chiếc đầu của chính ông đã biến mất và một chiếc đầu lừa hiện ra thay thế — một chiếc đầu nâu, bờm xờm trông ngốc nghếch và buồn cười đến mức Dorothy và Polly phải bật cười khúc khích, và ngay cả khuôn mặt cáo của Button-Bright cũng thoáng nụ cười.

"Trời đất ơi! Quỷ thần ơi!" người đàn ông bờm xờm vừa sờ sờ chiếc đầu lừa mới bờm xờm cùng đôi tai dài vừa kêu lên. "Thật là một tai họa — một tai họa quá lớn! Trả lại cái đầu cũ cho tôi mau, tên vua ngốc nghếch kia — nếu anh thực sự yêu quý tôi!"

"Anh không thích nó à?" Nhà Vua ngạc nhiên hỏi.

"Hí-hô! Tôi ghét nó chết đi được! Lấy nó đi — mau lên!" người đàn ông bờm xờm bảo.

VUA KICK-A-BRAY RA TAY PHÙ PHÉP NGƯỜI ĐÀN ÔNG BỜM XỜM

"Nhưng ta không thể làm thế được," câu trả lời là vậy. "Phép thuật của ta chỉ tác dụng theo một chiều thôi. Ta có thể làm ra chứ không thể đảo ngược được. Anh buộc phải tìm cho ra Hồ Sự Thật, và tắm trong làn nước của nó mới mong lấy lại được chiếc đầu của chính mình. Nhưng ta khuyên anh không nên làm thế. Chiếc đầu này đẹp hơn cái cũ nhiều."

"Cái đó còn tùy thuộc vào gu thẩm mỹ," Dorothy nói.

"Hồ Sự Thật nằm ở đâu thế?" người đàn ông bờm xờm số sắng hỏi.

"Đâu đó ở Xứ Sở Thần Tiên Oz; nhưng vị trí chính xác của nó thì ta không thể nói rõ được," câu trả lời là vậy.

"Đừng lo, Người Bờm Xờm," Dorothy mỉm cười nói vì thấy bạn mình ngoe nguẩy đôi tai mới một cách vô cùng tếu táo. "Nếu Hồ Sự Thật nằm ở xứ Oz thì thể nào chúng ta cũng tìm ra khi đến đó thôi."

"Ồ! Các người định đi Xứ Sở Oz á?" Vua Kik-a-bray ngạc nhiên hỏi.

"Tôi cũng chẳng rõ nữa," cô đáp; "nhưng người ta bảo chúng ta ở gần xứ Oz hơn là Kansas, và nếu thế thì cách nhanh nhất để tôi về nhà là tìm gặp Ozma."

"Hí-hô! Các ngươi có quen Công chúa Ozma hùng mạnh không đấy?" Nhà Vua hỏi, giọng vừa ngạc nhiên vừa háo hức.

"Chứ sao lại không; ngài ấy là bạn cháu mà," Dorothy nói.

"Thế thì có lẽ cô sẽ giúp ta một việc," con lừa trắng phấn khích tiếp lời.

"Việc gì ạ?" cô hỏi.

"Có lẽ cô có thể xin cho ta một lời mời đến dự lễ kỷ niệm sinh nhật Công chúa Ozma — buổi lễ hoàng gia hoành tráng nhất từng được tổ chức ở Xứ Sở Thần Tiên. Ta rất muốn đến đó."

"Hí-hô! Đáng lẽ ngài phải bị trừng phạt thay vì được thưởng vì đã trút cái đầu kinh khủng này cho tôi chứ," người đàn ông bờm xờm buồn rầu nói.

"Tôi ước gì ông đừng kêu 'hí-hô' nhiều thế," Polychrome nài nỉ ông; "nó làm tôi nổi hết cả da gà da cóc lên này."

"Nhưng tôi có muốn thế đâu em, cái đầu lừa của tôi cứ muốn hí lên liên hồi ấy chứ," ông đáp. "Thế cái đầu cáo của cháu có muốn sủa ẳng ẳng suốt ngày không?" ông hỏi Button-Bright.

"Không biết," cậu bé đáp, vẫn dán mắt nhìn chằm chằm vào đôi tai của người đàn ông bờm xờm. Chúng có vẻ làm cậu vô cùng hứng thú, và cảnh tượng đó cũng khiến cậu quên bén mất cái đầu cáo của chính mình — đó cũng là một sự an ủi.

"Polly thấy sao? Chúng ta có nên hứa tặng nhà vua lừa một lời mời đến dự tiệc của Ozma không?" Dorothy hỏi Con Gái Cầu Vồng — người đang thoăn thoắt lượn lờ quanh phòng hệt như một tia nắng bởi cô chẳng bao giờ chịu đứng yên nổi.

"Cứ tùy ý chị đi cưng," Polychrome đáp. "Biết đâu ngài ấy lại có thể góp phần làm trò vui cho các vị khách của Công chúa."

"Thế thì, nếu ngài cho chúng tôi ít đồ ăn tối và một chỗ ngủ qua đêm nay, rồi cho phép chúng tôi lên đường từ sáng sớm mai," Dorothy nói với Nhà Vua, "cháu sẽ xin Ozma mời ngài — nếu cháu tình cờ đến được xứ Oz."

"Tuyệt! Hí-hô! Quá tuyệt!" Kik-a-bray hoan hỉ kêu lên. "Tất cả các vị sẽ có bữa tối thịnh soạn và những chiếc giường êm ái. Các vị thích món ăn nào hơn, cháo cám hay yến mạch nguyên vỏ?"

"Không món nào cả," Dorothy nhanh nhảu đáp.

"Có lẽ ít cỏ khô, hoặc một ít cỏ tươi mọng nước sẽ hợp với các vị hơn nhỉ," Kik-a-bray trầm ngâm gợi ý.

"Các ngài chỉ có mỗi mấy thứ đó để ăn thôi á?" cô bé hỏi.

"Các người còn muốn gì hơn nữa?"

"Thì, ngài thấy đấy, chúng tôi đâu phải là loài lừa," cô giải thích, "nên chúng tôi quen ăn những thứ khác rồi. Lũ cáo đã thết đãi chúng tôi một bữa tối rất ngon ở Foxville."

"Bọn tôi muốn chút giọt sương và bánh sương mù," Polychrome nói.

"Tôi thích táo và bánh mì kẹp giăm-bông hơn," người đàn ông bờm xờm tuyên bố; "vì mặc dù mang đầu lừa nhưng cái bao tử của tôi vẫn là bao tử của riêng tôi."

"Cháu muốn ăn bánh ngọt," Button-Bright nói.

"Tôi nghĩ bít-tết và bánh sô-cô-la nhiều lớp sẽ ngon nhất đấy," Dorothy nói.

"Hí-hô! Thật là!" Nhà Vua kêu lên. "Có vẻ như mỗi người các ngươi lại thích một món ăn khác nhau. Sao mà mọi sinh vật sống lại kỳ quặc đến thế cơ chứ, trừ loài lừa ra!"

"Và những con lừa như ngài mới là kỳ quặc nhất ấy chứ," Polychrome bật cười.

"Thôi được," Nhà Vua quyết định, "ta đoán Cây Gậy Phép của ta sẽ tạo ra những thứ các ngươi thèm khát; nếu các ngươi thiếu gu thẩm mỹ thì đó không phải lỗi của ta."

Nói rồi ngài phất cây gậy có quả cầu nạm ngọc, và trước mắt họ lập tức xuất hiện một chiếc bàn trà được bày biện khăn trải bàn cùng bát đĩa xinh xắn, trên bàn chính là những món mà mỗi người vừa ước. Mấy miếng bít-tết của Dorothy còn đang bốc khói nghi ngút, còn những quả táo của người đàn ông bờm xờm thì mập mạp và đỏ hồng phớt. Nhà Vua đã quên không chuẩn bị ghế ngồi, thế nên tất cả đều đứng quanh bàn và ăn với một cái bụng đói meo. Con Gái Cầu Vồng tìm thấy ba giọt sương tí xíu trên một chiếc đĩa bằng pha lê, còn Button-Bright thì có một miếng bánh táo to đùng, cậu ngấu nghiến nó với vẻ đầy hào hứng.

Sau đó, Nhà Vua gọi con lừa nâu — vốn là người hầu cận cưng của ngài — và ra lệnh cho nó dẫn các vị khách đến ngôi nhà trống để họ qua đêm. Nơi đó chỉ có một gian phòng và chẳng có đồ nội thất nào ngoại trừ những chiếc giường rơm sạch cùng vài chiếc chiếu đan bằng cỏ; nhưng những lữ khách của chúng ta hoàn toàn bằng lòng với những thứ đơn sơ đó bởi họ hiểu rằng đó là những gì tốt nhất mà Vua Lừa có thể thết đãi. Vừa trời tối, họ liền nằm dài xuống mấy tấm chiếu và ngủ một giấc ngon lành cho đến sáng.

Vừa rạng sáng, khắp thành phố vang lên một thứ âm thanh kinh khủng. Mọi con lừa trong thành phố đều cất tiếng hí. Vừa nghe thấy tiếng đó, người đàn ông bờm xờm liền choàng tỉnh và hét to "Hí-hô!" hết cỡ.

"Dừng ngay lại!" Button-Bright cự nự. Cả Dorothy lẫn Polly đều nhìn người đàn ông bờm xờm với ánh mắt trách móc.

"Tôi có muốn thế đâu các cháu," ông nói với vẻ ngượng ngùng vì tiếng hí của mình; "nhưng tôi sẽ cố không làm thế nữa."

Dĩ nhiên là họ tha thứ cho ông, bởi vì ông vẫn giữ Nam Châm Tình Yêu trong túi nên tất cả đều buộc phải yêu mến ông nhiều như trước.

Họ không gặp lại Nhà Vua nữa, nhưng Kik-a-bray vẫn nhớ đến họ; bởi một chiếc bàn lại xuất hiện trong phòng cùng y nguyên những món ăn giống như tối hôm trước.

"Cháu không muốn ăn bánh ngọt cho bữa sáng đâu," Button-Bright bảo.

"Để chị chia cho em ít bít-tết nhé," Dorothy đề nghị; "còn thừa nhiều cho tất cả chúng ta mà."

Cậu bé tỏ ra thích thú hơn với gợi ý đó, nhưng người đàn ông bờm xờm nói ông chỉ cần táo và bánh mì kẹp là đủ, dẫu cho cuối cùng ông lại "giải quyết" luôn phần bánh ngọt của Button-Bright. Polly thì vẫn thích giọt sương và bánh sương mù hơn mọi thứ khác, thế nên ai nấy đều thưởng thức một bữa sáng xuất sắc. Toto được ăn phần bít-tết thừa, và nó đứng thẳng trên hai chân sau rất ngoan ngoãn trong lúc Dorothy đút cho nó ăn.

Bữa sáng kết thúc, họ đi xuyên qua thị trấn sang phía bên kia — hướng ngược lại với lối họ từng bước vào — con lừa nâu phục vụ dẫn đường họ qua mê cung những ngôi nhà nằm rải rác. Con đường lại hiện ra, kéo dài tít tắp dẫn vào vùng đất vô định phía trước.

"Vua Kik-a-bray bảo các vị đừng quên lời mời của ngài ấy nhé," con lừa nâu nói khi họ bước qua khoảng trống trên tường.

"Tôi không quên đâu," Dorothy hứa.

Có lẽ chưa từng có ai nhìn thấy một nhóm người kỳ lạ và nham nhở đến thế di chuyển dọc con đường, đi qua những cánh đồng xanh mướt và những rặng cây tiêu lá rủ cùng hoa trinh nữ thơm ngát. Polychrome dẫn đầu, tà áo mỏng manh bay bổng xung quanh hệt như một đám mây cầu vồng, cô nhảy múa tới lui, chốc chốc lại phóng vụt sang đây hái một bông hoa dại hay chạy sang kia ngắm một chú bọ bò ngang qua lối đi. Thỉnh thoảng Toto chạy theo sau cô, sủa mừng rỡ, rồi lại ngoan ngoãn quay về lẽo đẽo gót chân Dorothy. Cô bé người Kansas vừa bước đi vừa nắm chặt tay Button-Bright trong tay mình, cậu nhóc tí xíu mang chiếc đầu cáo đội chiếc mũ thủy thủ trông thật buồn cười. Kỳ quặc nhất có lẽ là người đàn ông bờm xờm mang chiếc đầu lừa bờm xờm, lết thết đi cuối hàng với hai tay thọc sâu vào chiếc túi lớn.

Chẳng ai trong nhóm thực sự bất hạnh cả. Tất cả đều đang đi lạc ở một vùng đất vô danh và phải chịu đựng ít nhiều phiền toái hay khó chịu; nhưng họ nhận ra mình đang có một cuộc phiêu lưu thần tiên ở Xứ Sở Thần Tiên, và rất hào hứng muốn tìm xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.

KHOẢNG giữa buổi sáng, họ bắt đầu leo lên một ngọn đồi dài. Chẳng mấy chốc ngọn đồi bất ngờ đổ dốc xuống một thung lũng xinh đẹp, nơi các lữ khách ngạc nhiên nhìn thấy một ngôi nhà nhỏ nằm bên vệ đường.

Đó là ngôi nhà đầu tiên họ thấy, và họ vội vã rảo bước xuống thung lũng để xem ai sống ở đó. Khi họ tiến lại gần chẳng thấy bóng ai, nhưng sát hơn chút nữa họ nghe thấy những âm thanh kỳ lạ phát ra từ ngôi nhà. Thoạt đầu họ không phân biệt được, nhưng khi tiếng động lớn dần, mấy người bạn của chúng ta ngỡ như nghe thấy một thứ âm thanh nhạc cụ giống như tiếng đàn phong cầm bị xì hơi; giai điệu vang lên bên tai họ thế này:

Tiddle-widdle-iddle, oom pom-pom!

Oom, pom-pom! oom, pom-pom!

Tiddle-tiddle-tiddle, oom pom-pom!

Oom, pom-pom—pah!

"Cái gì thế nhỉ, ban nhạc hay đàn môi vậy?" Dorothy hỏi.

"Không biết," Button-Bright đáp.

"Nghe giống như cái máy hát bị hỏng ấy," người đàn ông bờm xờm nói, giỏng đôi tai to tướng để nghe ngóng.

"Ôi, trong Xứ Sở Thần Tiên làm gì có máy hát cơ chứ!" Dorothy kêu lên.

"Nghe cũng hay phết chứ bộ, phải không?" Polychrome vừa nói vừa cố nhảy múa theo nhịp điệu.

Tiddle-widdle-iddle, oom pom-pom,

Oom pom-pom; oom pom-pom!

tiếng nhạc lọt vào tai họ rõ mồn một khi họ đến gần ngôi nhà hơn. Chẳng mấy chốc họ nhìn thấy một gã béo lùn đang ngồi trên chiếc ghế băng trước cửa. Gã mặc chiếc áo khoác đỏ viền tết dây dài đến eo, áo lê-gít xanh lam và quần trắng có sọc vàng hai bên ống. Trên cái đầu hói trơ trụi đội một chiếc mũ tròn đỏ nhỏ xíu được giữ bằng một sợi dây thun vòng dưới cằm. Gương mặt gã tròn trịa, đôi mắt xanh lợt lạt, và tay đeo găng cotton trắng. Gã tì người lên một chiếc gậy ba toong có chuôi vàng chắc chắn, chúi người về phía trước ghế để quan sát những vị khách đang tiến đến.

Điều kỳ quặc là những âm thanh âm nhạc mà họ vừa nghe hình như phát ra từ chính bên trong cơ thể gã béo lùn; bởi gã chẳng chơi loại nhạc cụ nào và xung quanh cũng chẳng có chiếc đàn nào cả.

Họ tiến lại gần và đứng thành một hàng, trân trân nhìn gã, và gã cũng trân trân nhìn lại trong khi những âm thanh kỳ quặc vẫn phát ra từ người gã:

Tiddle-iddle-iddle, oom pom-pom,

Oom, pom-pom; oom pom-pom!

Tiddle-widdle-iddle, oom pom-pom,

Oom, pom-pom—pah!

"Chà, gã đúng là một gã chuyên-gia-âm-nhạc chính hiệu rồi!" Button-Bright nói.

"Chuyên-gia-âm-nhạc là gì thế?" Dorothy hỏi.

"Hắn kìa!" cậu bé đáp.

Nghe thấy thế, gã béo lùn liền ưỡn người thẳng hơn lúc trước một chút, như thể vừa được khen ngợi, và những âm thanh vẫn tiếp tục phát ra:

Tiddle-widdle-iddle, oom pom-pom,

Oom pom-pom, oom——

"Dừng lại đi!" người đàn ông bờm xờm số sắng kêu lên. "Dừng cái thứ tiếng ồn kinh khủng đó lại!"

Gã béo buồn bã nhìn ông và cất tiếng đáp lời. Khi gã cất lời, giai điệu thay đổi và lời ca hình như hòa nhịp theo những nốt nhạc. Gã nói — hay đúng hơn là hát rằng:

Đây chẳng phải thứ tiếng ồn đâu nhé,

Mà là Âm Nhạc, hài hòa và trong trẻo.

Hơi thở khiến ta trỗi khúc ca,

Hệt như đàn ống suốt ngày ta...

Nốt trầm đọng lại ngay tai trái.

"Buồn cười thật đấy!" Dorothy thốt lên; "gã bảo hơi thở của mình tạo ra âm nhạc cơ đấy."

"Toàn nhảm nhí," người đàn ông bờm xờm tuyên bố; nhưng lúc này tiếng nhạc lại vang lên, và tất cả bọn họ đành chăm chú lắng nghe.

Phổi ta ngập tràn những chiếc lưỡi gà,

Hệt như kèn ống, chắc chắn là...

Dù hít vào hay thở mũi ra,

Lưỡi gà bắt buộc phải tấu khúc ca.

Nên hít thở để sống, ai cũng biết,

Ta bóp ra âm nhạc bước đi...

Rất tiếc sự đời lại thế này...

Xin hãy tha thứ tiếng kèn ta!

"Tội nghiệp ông ấy," Polychrome nói; "ông ấy có muốn thế đâu. Thật là một tai họa lớn làm sao!"

"Đúng thế," người đàn ông bờm xờm đáp; "chúng ta chỉ phải nghe thứ âm nhạc này một lúc ngắn cho đến khi rời đi; nhưng tội nghiệp gã ta phải nghe chính mình suốt cả cuộc đời, chừng đó cũng đủ phát điên rồi. Các cháu có nghĩ thế không?"

"Không biết," Button-Bright đáp. Toto sủa "Gâu gâu!" còn những người khác thì bật cười.

"Có lẽ vì thế mà gã mới sống thui thủi một mình," Dorothy đoán.

"Đúng vậy; nếu có hàng xóm thì thể nào họ cũng đánh cho gã một trận tơi bời," người đàn ông bờm xờm đáp.

Suốt quãng thời gian đó, gã chuyên-gia-âm-nhạc béo lùn vẫn cứ liên tục thở ra những nốt nhạc:

Tiddle-tiddle-iddle, oom, pom-pom,

và họ buộc phải nói thật to mới nghe được tiếng của nhau. Người đàn ông bờm xờm cất giọng hỏi:

"Ngươi là ai thế, hả bạn?"

Câu trả lời vang lên thành một đoạn ngâm nga:

Ta là Allegro da Capo, một danh nhân trứ danh;

Tìm đâu ra kẻ cao thấp xứng đôi, nếu sánh ngang?

Có kẻ thử chơi mà chẳng nổi,

Lại phải luyện tập suốt ngày dài;

Còn ta ngẫu hứng từ muôn thuở,

Tự thuở đời ta mới chớm khai.

"Chà, hình như gã đang tự hào về chuyện đó đấy," Dorothy thốt lên, "và tớ thấy hình như tớ từng nghe thứ âm nhạc tệ hơn thế này rồi."

"Ở đâu thế?" Button-Bright hỏi.

"Tớ quên mất tiêu rồi. Nhưng ngài Da Capo đây quả thực là một kẻ kỳ lạ — phải không? — và biết đâu ngài ấy là người duy nhất trên đời này có kiểu kỳ cục thế này."

Lời ca tụng có vẻ làm gã béo lùn vô cùng thích thú, gã ưỡn ngực ra, ra vẻ quan trọng rồi cất tiếng ca:

Ta chẳng mang theo ban nhạc nào,

Mà chính ta là một ban nhạc đây!

Chẳng cần gồng mình rặn khúc ca,

Trái lại, giai điệu cất vang xa...

Tiếng kèn của ta luôn trong trẻo,

Chẳng giáng sầu đau, chẳng lỗi lầm;

Nhìn sắc, tự nhiên đà thỏa mãn,

Chỉ là chuyện nhỏ với ta thôi.

"Tôi không hiểu lắm," Polychrome với vẻ mặt bối rối nói; "nhưng có lẽ vì tôi chỉ quen với âm nhạc của các tầng trời thôi."

"Cái đó là gì thế?" Button-Bright hỏi.

"Ồ, ý Polly là khí quyển với bán cầu ấy mà," Dorothy giải thích.

"À," Button-Bright nói.

"Gâu gâu!" Toto sủa.

Nhưng gã chuyên-gia-âm-nhạc vẫn cứ liên tục thở ra điệp khúc

Oom, pom-pom; oom, pom-pom——

và nó có vẻ làm phật ý thần kinh của người đàn ông bờm xờm.

"Câm mồm đi, không được à?" ông giận dữ quát lên; "hoặc là thở thầm thôi; không thì kẹp cái kẹp quần áo vào mũi ấy. Làm gì đi chứ!"

Nhưng gã béo với vẻ mặt buồn bã lại hát câu trả lời này:

Âm nhạc vốn có muôn vàn nét quyến rũ,

Làm dịu cả dã nhân, người ta thường bảo nhau;

Thế nên thấy mình hoang dã dẫu chút nào,

Hãy lắng nghe điệu nhảy của ta đây...

Bởi lẽ sự thật đó mới chính là cách chân phương.

Người đàn ông bờm xờm phì cười trước câu nói này, và khi cười, ông há to cái miệng lừa rộng ngoác. Dorothy bảo:

"Tớ không biết thơ của gã hay ho đến mức nào, nhưng nó có vẻ khớp với các nốt nhạc, thế là đủ mong đợi rồi."

"Em thích đấy chứ," Button-Bright — nãy giờ vẫn dán mắt nhìn chằm chằm gã chuyên-gia-âm-nhạc với hai chân dạng rộng — nói. Đến sự ngạc nhiên của những người bạn, cậu bé liền bắn ra một câu hỏi dài:

"Nếu em nuốt chửng một cái đàn môi, em sẽ thành cái gì?"

"Thành một cây đàn oóc-gan nhỏ," người đàn ông bờm xờm đáp. "Nhưng thôi nào các cháu; thầy trò mình nên tiếp tục hành trình trước khi Button-Bright nuốt chửng thứ gì khác. Chúng ta phải tìm cho ra Xứ Sở Thần Tiên Oz đó, các cháu biết đấy."

Nghe thấy câu nói này, gã chuyên-gia-âm-nhạc liền nhanh chóng cất giọng:

Nếu các vị đến vùng đất xứ Oz,

Xin hãy mang tôi đi cùng với nào;

Bởi sinh nhật Ozma đang đến kề,

Tôi rất mong được tấu khúc ca...

Khúc ca tuyệt vời nhất cõi đời.

"Không, cảm ơn ngài," Dorothy nói; "chúng tôi thích đi một mình hơn. Nhưng nếu gặp Ozma tôi sẽ bảo ngài ấy là ngài muốn đến dự tiệc sinh nhật của ngài ấy."

"Lên đường thôi," người đàn ông bờm xờm lo lắng giục giã.

Polly đã nhảy múa tít tắp dọc con đường từ đời thủa nào, bỏ xa họ mãi phía trước, và những người khác quay lưng đi theo cô. Toto không thích gã béo chuyên-gia-âm-nhạc nên chồm lên định cắn cái chân béo múp của gã. Dorothy vội tóm lấy chú chó đang gừ gừ và rảo bước theo những người bạn — lúc này đang đi nhanh hơn bình thường để thoát khỏi tầm nghe.

Họ phải trèo lên một ngọn đồi, và cho đến khi lên đến đỉnh, họ vẫn không sao thoát khỏi tiếng kèn đơn điệu của gã chuyên-gia-âm-nhạc:

"Oom, pom-pom; oom, pom-pom;

Tiddle-iddle-widdle, oom, pom-pom;

Oom, pom-pom—pah!"

Tuy nhiên, khi họ vừa qua khỏi đỉnh đồi và xuống dốc bên kia, âm thanh ấy nhỏ dần và mất hút, khiến tất cả đều cảm thấy nhẹ nhõm hẳn.

"Tớ mừng vì không phải sống cùng gã chơi đàn ống đó; cậu có thấy thế không, Polly?" Dorothy hỏi.

"Ừ, đúng thế thật," Con Gái Cầu Vồng đáp.

"Gã đó cũng hay đấy chứ," Button-Bright nghiêm nghị nhận xét.

"Chị hy vọng Công chúa Ozma của em sẽ không mời gã đến dự tiệc sinh nhật," người đàn ông bờm xờm nhận xét; "vì âm nhạc của gã sẽ làm mấy vị khách phát điên mất. Cậu làm tôi nảy ra một ý đấy, Button-Bright ạ; tôi tin chắc là gã chuyên-gia-âm-nhạc này hồi nhỏ đã nuốt nhầm một cái đàn xếp mất rồi."

"Đàn xếp là gì thế ạ?" cậu bé hỏi.

"Đó là một loại nếp gấp," Dorothy giải thích, vừa đặt con chó xuống đất.

"Gâu gâu!" Toto sủa lên, rồi lao đi với tốc độ điên cuồng để rượt đuổi một con ong nghệ.

CẢNH vật lúc này chẳng còn đẹp đẽ gì nữa. Trước mắt các lữ khách hiện ra một vùng đồng bằng đá lởm chởm ngập những ngọn đồi chẳng mọc nổi một cọng cỏ xanh. Họ cũng đang tiến gần đến mấy ngọn núi thấp, và con đường — vốn dĩ từng bằng phẳng và dễ chịu cho việc bước đi — giờ trở nên gồ ghề và lồi lõm.

Đôi chân nhỏ bé của Button-Bright vấp váp không dưới một lần, và Polychrome cũng ngừng nhảy múa bởi việc di chuyển lúc này quá khó khăn đến nỗi cô chẳng cần nhảy để giữ ấm nữa.

Đã là buổi chiều, thế mà chẳng có nổi thứ gì để làm bữa trưa ngoại trừ đúng hai quả táo mà người đàn ông bờm xờm đã lấy từ bàn ăn sáng. Ông chia chúng thành bốn phần và đưa mỗi phần cho những người bạn đồng hành. Dorothy và Button-Bright rất vui khi nhận phần của mình; nhưng Polly chỉ cắn một miếng nhỏ là đủ, còn Toto thì không thích ăn táo.

"Các cậu có biết," Con Gái Cầu Vồng cất tiếng hỏi, "đây có phải con đường chính xác dẫn đến Thành Phố Ngọc Lục Bảo không?"

"Không, tớ không biết," Dorothy đáp; "nhưng đây là con đường duy nhất ở vùng này, thế nên chúng ta cứ đi đến tận cùng của nó xem sao."

"Trông có vẻ như nó sắp sửa kết thúc đến nơi rồi đấy," người đàn ông bờm xờm nhận xét; "và nếu nó hết đường thật thì chúng ta phải làm sao đây?"

"Không biết," Button-Bright đáp.

"Chị cũng chịu chết chẳng biết nữa," Dorothy trầm ngâm tiếp lời.

"Nếu chị có Chiếc Thắt Lưng Ma Thuật của mình," Polychrome nói, "thì lúc này nó đã giúp ích cho chúng ta khối việc rồi."

"Thắt Lưng Ma Thuật của chị là gì thế?" Polychrome thắc mắc.

"Đó là thứ chị cướp được từ Vua Nome một dạo, và nó có thể làm được hầu như bất cứ điều kỳ diệu nào. Nhưng chị để nó lại chỗ Ozma rồi, các em biết đấy; vì phép thuật chẳng phát huy tác dụng ở Kansas, mà chỉ có hiệu lực ở các xứ sở thần tiên thôi."

"Đây có phải xứ sở thần tiên không?" Button-Bright hỏi.

"Chắc em phải biết chứ," cô bé nghiêm nghị nói. "Nếu đây không phải xứ sở thần tiên thì em làm sao có được cái đầu cáo và Người Bờm Xờm làm sao có được cái đầu lừa, và Con Gái Cầu Vồng làm sao mà tàng hình được cơ chứ."

"Tàng hình là gì thế?" cậu bé hỏi.

"Em chẳng biết cái quái gì cả, Button-Bright ạ. Tàng hình là thứ mà người ta không thể nhìn thấy được."

"Thế thì Toto đang tàng hình đấy," cậu bé tuyên bố, và Dorothy nhận ra cậu nói đúng. Toto đã biến mất khỏi tầm mắt, nhưng họ có thể nghe tiếng nó đang sủa vang giận dữ giữa những đống đá xám xịt phía trước.

Họ bước nhanh hơn một chút để xem con chó đang sủa cái gì, và phát hiện ra đậu trên một mỏm đá bên đường là một sinh vật kỳ lạ. Nó có hình dạng của một con người, cỡ trung bình, khá mảnh mai và uyển chuyển; nhưng khi nó ngồi im lìm, bất động trên đỉnh mỏm đá, họ có thể thấy mặt nó đen như mực, mặc một bộ trang phục vải đen trông như đồ bơi liền thân ôm sát lấy da thịt. Bàn tay nó cũng đen nốt, và các ngón chân quặp xuống hệt như chân chim. Sinh vật này đen sì từ đầu đến chân ngoại trừ mái tóc mịn màng, màu vàng, được cắt bằng ngang trán trên vương miện đen và cắt sát hai bên. Đôi mắt nó — dán chặt vào con chó đang sủa — nhỏ xíu, lấp lánh và trông giống như mắt của một con chồn.

"Đố các cậu đoán được quái vật gì thế kia đấy?" Dorothy hạ giọng thì thầm, khi nhóm lữ khách nhỏ bé đứng ngắm nhìn sinh vật kỳ lạ.

"Không biết," Button-Bright đáp.

Thứ đó bỗng chồm lên và xoay nửa vòng người, vẫn ngồi nguyên chỗ đó nhưng phần thân bên kia lại quay về phía họ. Thay vì màu đen, nó hoàn toàn trắng tinh, với gương mặt hệt như một gã hề trong rạp xiếc và mái tóc màu tím rực rỡ. Sinh vật này có thể uốn người về bất cứ hướng nào, và những ngón chân màu trắng lúc này cũng quặp theo đúng hướng mà những ngón chân đen ở phía bên kia vừa làm.

"Nó có khuôn mặt ở cả đằng trước lẫn đằng sau," Dorothy ngạc nhiên thì thầm; "chỉ là chẳng có phần lưng nào hết, mà toàn là hai mặt trước."

Sau khi quay người xong, sinh vật lại ngồi bất động như trước, trong khi Toto tiếp tục sủa con người da trắng dữ dội hơn cả lúc sủa người da đen.

"Có lần," người đàn ông bờm xờm kể, "tớ có một con rối lò xo như thế đấy, có hai mặt."

"Nó có sống không?" Button-Bright hỏi.

"Không," người đàn ông bờm xờm đáp; "nó hoạt động bằng dây, làm bằng gỗ."

"Tớ tự hỏi không biết cái này có hoạt động bằng dây không nhỉ," Dorothy nói; nhưng Polychrome hét lên "Kìa nhìn kìa!" vì một sinh vật y hệt như thế vừa xuất hiện, đang ngồi trên một mỏm đá khác với phần thân màu đen hướng về phía họ. Cả hai xoay đầu lại và lộ diện khuôn mặt đen sì ở phần thân trắng của con này và khuôn mặt trắng ở phần thân đen của con kia.

"Thật là kỳ lạ," Polychrome nói; "và đầu chúng có vẻ lỏng lẻo làm sao! Các cậu nghĩ chúng có thân thiện với chúng ta không?"

"Tớ chịu, Polly," Dorothy đáp. "Hay là chúng ta đi hỏi xem sao."

Mấy sinh vật lại lật đật quay qua quay lại, lần lượt khoe mặt đen hoặc mặt trắng; và lúc này lại có thêm một con nữa xuất hiện trên một mỏm đá khác. Mấy người bạn của chúng ta đã đi vào một thung lũng nhỏ giữa những ngọn đồi, và nơi họ đang đứng lúc này bị bao quanh bởi những mỏm đá lởm chởm, ngoại trừ lối đi có con đường chạy qua.

"Bây giờ là bốn con rồi đấy," người đàn ông bờm xờm nói.

"Năm con," Polychrome tuyên bố.

"Sáu con," Dorothy nói.

"Nhiều lắm!" Button-Bright kêu lên; và quả thực là thế — cả một hàng những sinh vật hai mặt đen trắng đang ngồi trên mấy mỏm đá xung quanh.

Toto ngừng sủa và chạy thụt lùi vào giữa hai chân Dorothy, rồi co rúm người lại như đang sợ hãi. Mấy sinh vật trông chẳng hề dễ mến hay thân thiện chút nào, và khuôn mặt lừa của người đàn ông bờm xờm bỗng trở nên vô cùng nghiêm trọng.

"Hỏi xem chúng là ai và muốn gì đi," Dorothy thì thầm; thế nên người đàn ông bờm xờm liền cất giọng thật to gọi:

"Các ngươi là ai thế?"

"Scoodlers!" chúng đồng thanh gào lên, giọng chát chúa và thé lên chói tai.

"Các ngươi muốn gì?" người đàn ông bờm xờm gọi tiếp.

"Tụi bay!" chúng gào lên, chĩa những ngón tay gầy guộc về phía nhóm người; và tất cả đồng loạt xoay ngoắt người sang mặt màu trắng, rồi lại xoay tít trở lại sang mặt màu đen.

"Nhưng các ngươi giữ bọn ta lại làm gì cơ chứ?" người đàn ông bờm xờm lo lắng hỏi.

"Làm súp!" tất cả đồng thanh hô vang như chỉ có một người.

"CÁC NGƯƠI!" CHÚNG GÀO LÊN

"Trời đất quỷ thần ơi!" Dorothy hơi run rẩy lên tiếng; "lũ Scoodlers này chắc là bọn ăn thịt người chính hiệu rồi."

"Không muốn làm súp đâu," Button-Bright phản đối, bắt đầu khóc lóc.

"Nín nào cưng," cô bé cố dỗ dành; "chẳng ai trong chúng ta muốn làm súp cả. Nhưng đừng lo; Người Bờm Xờm sẽ bảo vệ chúng ta mà."

"Thật thế chứ?" Polychrome — kẻ vốn chẳng ưa lũ Scoodlers tẹo nào và cứ bám sát rịt lấy Dorothy — hỏi.

"Tôi sẽ cố gắng," người đàn ông bờm xờm hứa hẹn; nhưng trông ông vô cùng lo lắng.

Sực nhớ ra chiếc Nam Châm Tình Yêu trong túi, ông bèn tự tin hơn một chút và hỏi lũ sinh vật:

"Các ngươi không yêu mến ta sao?"

"Có chứ!" chúng đồng thanh hô lớn.

"Thế thì các ngươi không được làm hại ta hay những người bạn của ta đâu nhé," người đàn ông bờm xờm quả quyết nói.

"Tụi tao yêu mày trong nồi súp!" chúng gào lên, và trong chớp mắt lại quay ngoắt mặt trắng ra phía trước.

"Thật là khủng khiếp!" Dorothy nói. "Đây chính là lúc, Người Bờm Xờm ạ, mà ông được yêu mến hơi bị thái quá rồi đấy."

"Tớ không muốn làm súp đâu!" Button-Bright lại mếu máo rên rỉ; và Toto cũng bắt đầu rên rỉ thảm thiết, hệt như nó cũng chẳng muốn làm súp nốt.

"Cách duy nhất," người đàn ông bờm xờm nhỏ giọng nói với mấy đứa bạn, "là chúng ta phải mau chóng chuồn khỏi cái hốc đá này và bỏ lại lũ Scoodlers phía sau. Đi theo tôi nào các cháu, đừng có chú ý đến những gì chúng làm hay nói."

Nói rồi ông bắt đầu bước nhanh dọc con đường hướng về phía lối mở giữa những hốc đá phía trước, và những người khác bám sát nút sau ông. Nhưng lũ Scoodlers đã chặn kín phía trước, hệt như muốn bịt lối đi của họ; thế nên người đàn ông bờm xờm cúi xuống nhặt một hòn đá cuội dưới đất ném thẳng vào bọn chúng để dọa chúng tránh xa đường đi.

Thấy vậy lũ Scoodlers liền rú lên những tiếng tru tréo. Hai con trong số đó tự tháo phắt đầu ra khỏi cổ và ném thẳng vào người đàn ông bờm xờm với một lực mạnh đến mức khiến ông ngã lăn kềnh ra đất, vô cùng kinh ngạc. Hai con đó lập tức lao vọt tới với những bước nhảy thoăn thoắt, chộp lấy cái đầu của mình rồi lắp trở lại người, xong xuôi chúng lại nhảy vót về vị trí cũ trên các mỏm đá.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG BỜM XỜM CHỘP LẤY NHỮNG CÁI ĐẦU VÀ NÉM XUỐNG VỰC SÂU BÊN DƯỚI

NGƯỜI đàn ông bờm xờm lồm cồm đứng dậy tự sờ soạng khắp người xem có bị thương không; nhưng may là không. Một cái đầu ném trúng ngực còn cái đầu kia ném trúng vai trái ông; tuy nhiên dẫu cho chúng có làm ông ngã nhào thì mấy cái đầu đó cũng chẳng đủ cứng để làm ông bầm dập.

"Đi thôi," ông quả quyết nói; "chúng ta phải tìm cách thoát khỏi chốn này bằng được," rồi ông lại tiếp tục cắm cổ bước đi.

Lũ Scoodlers bắt đầu gào thét và ném đầu ào ào tới tấp vào những người bạn đang hoảng sợ của chúng ta. Người đàn ông bờm xờm lại bị hất nhào lần nữa, và Button-Bright cũng vậy, cậu bé đập gót chân xuống đất rồi gào thét toáng lên hết cỡ dù chẳng bị xước xát miếng nào. Một cái đầu ném trúng Toto, khiến nó vừa kêu ẳng ẳng vừa chộp lấy cái đầu bằng một tai rồi cắm cổ chạy đi.

Lũ Scoodlers vừa ném đầu vừa tấp nập trèo xuống rượt theo để nhặt lại với tốc độ nhanh đến kinh ngạc, nhưng con lừa bị Toto cướp mất đầu thì trầy trật mãi mới lấy lại được cái đầu của mình. Cái đầu không thể nhìn thấy cơ thể bằng bất cứ cặp mắt nào vì con chó cứ vướng víu ở đó, thế nên con Scoodler không đầu cứ loạng choạng khua khoắng khắp các hốc đá và vấp ngã liên tục trong nỗ lực giành lại cái chóp của mình. Toto đang cố chạy ra ngoài đám đá để lăn cái đầu xuống dốc; nhưng vài con Scoodlers khác đã lao đến giải cứu cho chiến hữu xui xẻo của chúng, trút mưa đầu vào con chó khiến nó buộc phải thả món đồ cướp được ra và cắm cổ chạy về phía Dorothy.

Cô bé và Con Gái Cầu Vồng đều may mắn thoát khỏi trận mưa đầu đó, nhưng bây giờ họ hiểu rằng việc cố chạy trốn khỏi lũ Scoodlers đáng sợ này là vô ích.

"Chúng ta đành phải đầu hàng thôi," người đàn ông bờm xờm méo mặt tuyên bố khi gượng đứng dậy lần nữa. Ông quay lại đối mặt với kẻ thù và hỏi:

"Các ngươi muốn bọn ta phải làm gì nào?"

"Đến đây!" chúng đồng thanh gào lên một cách đầy đắc thắng, rồi lập tức nhảy phốc từ trên đá xuống vây chặt lấy các tù nhân từ mọi phía. Một điều buồn cười ở lũ Scoodlers là chúng có thể đi về bất cứ hướng nào, tới hay lui mà không cần phải quay người; bởi vì chúng có hai mặt và đúng như Dorothy đã nói, "hai mặt đằng trước", cùng bàn chân có hình dạng giống hệt chữ T ngược. Chúng di chuyển cực kỳ nhanh nhẹn và có điều gì đó từ đôi mắt lấp lánh, màu sắc đối lập cùng những chiếc đầu tháo rời được đã truyền nỗi kinh hoàng cho các tù nhân tội nghiệp, khiến họ khao khát được trốn thoát.

Nhưng bọn sinh vật đã dẫn các tù nhân rời khỏi đám hốc đá và con đường, rẽ xuống sườn đồi qua một lối mòn phụ cho đến khi họ đứng trước một ngọn núi đá thấp trông giống hệt một chiếc bát lớn úp ngược. Ngay rìa ngọn núi này là một vực sâu thẳm — sâu đến mức khi nhìn xuống chỉ thấy một màu đen kịt bên dưới. Bắc ngang qua vực sâu là một chiếc cầu đá hẹp, và ở đầu bên kia của cây cầu là một lối mở hình vòm dẫn thẳng vào trong lòng núi.

Băng qua chiếc cầu này, lũ Scoodlers dẫn các tù nhân qua lối mở vào trong lòng núi — nơi hóa ra là một mái vòm rỗng lồ lộ được thắp sáng bởi vài cái lỗ trên trần. Xung quanh không gian hình tròn là những ngôi nhà đá được xây san sát nhau, mỗi nhà đều có cửa ở tường trước. Không ngôi nhà nào rộng quá sáu feet, nhưng bọn Scoodlers là loài người gầy guộc theo chiều ngang nên chẳng cần nhiều không gian lắm. Mái vòm rộng lớn đến mức có một khoảng trống lớn ở giữa hang, ngay trước tất cả các ngôi nhà đó, là nơi tụ tập của lũ sinh vật hệt như một đại sảnh lớn.

Dorothy phải rùng mình khi nhìn thấy một cái vạc sắt khổng lồ được treo lơ lửng bằng một sợi xích chắc chắn ở giữa không gian, và ngay bên dưới vạc là một đống củi khô cùng dăm bào to tướng, sẵn sàng để châm lửa.

"Cái gì thế kia?" người đàn ông bờm xờm lùi lại khi họ bị áp giải đến gần chỗ này, khiến họ phải đẩy ông tiến lên.

"Cái Vạc Súp!" lũ Scoodlers gào lên; rồi ngay nhịp thở tiếp theo chúng hét lớn:

"Bọn tao đói rồi!"

Button-Bright — một tay nắm chặt bàn tay bầu bĩnh của Dorothy, tay kia nắm chặt tay Polly — bị cú hét này làm cho sợ đến mức lại bắt đầu khóc lóc, lặp đi lặp lại câu phản đối:

"Tớ không muốn làm súp đâu, không muốn đâu!"

"Thôi nào," người đàn ông bờm xờm an ủi; "tớ to thế này chắc đủ nấu một nồi súp béo ngậy để đãi tất cả chúng nó ấy chứ; thế nên tớ sẽ bảo chúng tống tớ vào vạc trước."

"Được đấy," Button-Bright hớ hở hơn đáp.

Nhưng lũ Scoodlers chưa sẵn sàng nấu súp ngay. Chúng dẫn các tù nhân vào một ngôi nhà ở góc xa nhất của hang — một ngôi nhà rộng hơn mấy căn kia một chút.

"Ai ở đây thế?" Con Gái Cầu Vồng hỏi. Lũ Scoodlers gần cô nhất đáp:

"Nữ Hoàng."

Điều đó làm Dorothy nhen nhóm hy vọng khi biết rằng một người phụ nữ cai trị đám sinh vật hung hãn này, nhưng chỉ một khoác chốc sau họ bị hai ba tên lính áp giải bước vào một căn phòng ảm đạm, trống huơ trống hoác — và hy vọng của cô vụt tắt.

Bởi vì Nữ Hoàng của lũ Scoodlers hóa ra còn đáng sợ hơn bất kỳ tên thần dân nào của mụ ta. Một bên người mụ đỏ rực như lửa, tóc đen nhánh như mực và mắt xanh lá cây; còn bên kia lại vàng chóe rực rỡ, tóc đỏ thẫm và mắt đen. Mụ mặc một chiếc váy ngắn màu đỏ và vàng, mái tóc thay vì được cắt bằng lại là một búi lọn xoăn tít ngắn cũn cỡn đội một chiếc vương miện tròn bằng bạc — móp méo và xoắn tít vì Nữ Hoàng đã ném cái đầu của mình đi không biết bao nhiêu lần vào bấy nhiêu thứ. Thân hình mụ gầy gò, xương xẩu và cả hai gương mặt đều chằng chịt nếp nhăn sâu.

Nữ Hoàng sắc bén hỏi khi mấy người bạn của chúng ta bị bắt đứng trước mặt mụ: "Chúng ta có gì đây?"

"Súp!" đội lính Scoodlers đồng thanh gào lên.

"Bọn tao không phải!" Dorothy phẫn nộ đáp; "tọn tao chẳng phải thứ đó."

"Ạ, nhưng chẳng mấy chốc thì phải thôi," Nữ Hoàng đáp lại, một nụ cười nham hiểm làm khuôn mặt mụ trông càng thêm đáng sợ.

"Xin lỗi bệ hạ, người đẹp tuyệt trần," người đàn ông bờm xờm vừa cúi chào Nữ Hoàng vừa nhã nhặn nói. "Tôi phải thỉnh cầu Điện Hạ cao quý để chúng tôi được đi qua mà không bị biến thành súp. Bởi vì tôi có Nam Châm Tình Yêu, và bất cứ ai gặp tôi cũng phải yêu mến tôi cùng tất cả bạn bè của tôi."

"Đúng thế," Nữ Hoàng đáp. "Chúng ta yêu quý ngươi lắm chứ; yêu đến mức tụi tao định sẽ húp nước dùng của ngươi với niềm vui thực sự đấy. Nhưng nói cho ta hay, ngươi nghĩ ta đẹp lắm sao?"

"Ngươi sẽ chẳng đẹp đẽ tẹo nào nếu ăn thịt tôi đâu," ông lắc đầu buồn bã đáp. "Đẹp người đẹp nết cơ mà, cô biết đấy."

Nữ Hoàng quay sang Button-Bright.

"Cháu có nghĩ ta đẹp không?" mụ hỏi.

"Không," cậu bé nói; "bà xấu xí lắm."

"Tớ thấy bà trông như một con rợp ấy," Dorothy nói.

"Nếu bà tự nhìn lại mình thì chắc chắn bà sẽ sợ chết khiếp cho xem," Polly bồi thêm.

Nữ Hoàng cau mày và lật từ bên mặt đỏ sang bên mặt vàng.

"Đưa bọn chúng đi," mụ ra lệnh cho lính gác, "đến sáu giờ thì tống qua máy xay thịt và đốt lửa đun sôi cái vạc súp lên. Nhớ cho thật nhiều muối vào nước dùng đấy, kẻo ta phạt nặng lũ đầu bếp."

"Có hành không thưa Bệ Hạ?" một tên lính gác hỏi.

"Nhiều hành tây, tỏi và thêm chút ớt đỏ vào. Giờ thì cút đi!"

Lũ Scoodlers lôi các tù nhân đi và nhốt vào một trong những ngôi nhà, chỉ để lại duy nhất một tên canh gác.

Nơi này giống như một nhà kho; chứa đầy các bao khoai tây cùng các giỏ đựng cà rốt, hành tây và củ cải.

"Những thứ này," tên lính gác chỉ vào đám rau củ và nói, "dùng để gia vị cho món súp của bọn tao."

Lúc này các tù nhân đã khá nản lòng bởi họ chẳng thấy lối thoát nào và không biết còn bao lâu nữa là đến sáu giờ — thời điểm máy xay thịt bắt đầu hoạt động. Nhưng người đàn ông bờm xờm rất dũng cảm và không đời nào chịu khuất phục trước cái kết cục kinh khủng đó mà không kháng cự.

"Tôi sẽ chiến đấu cho sự sống của chúng ta," ông thì thầm với bọn trẻ, "vì nếu thất bại thì tình thế cũng chẳng tệ hơn bây giờ là mấy, còn việc cứ ngồi im chờ bị nấu thành súp thì thật là ngốc nghếch và hèn nhát."

Tên Scoodler canh gác đứng gần cửa ra vào, hết quay mặt trắng về phía họ lại quay mặt đen, hệt như muốn khoe với tất cả bốn con mắt tham lam của hắn cảnh tượng có quá nhiều tù nhân mập mạp. Các tù nhân ngồi thành một cụm buồn rầu ở đầu bên kia căn phòng — ngoại trừ Polychrome cứ nhảy tới nhảy lui trong không gian nhỏ để giữ ấm, bởi cô cảm thấy hơi lạnh từ hang đá. Mỗi khi đến gần người đàn ông bờm xờm, ông lại thì thầm gì đó vào tai cô, và Polly lại gật đầu xinh xắn như thể hiểu rõ.

Người đàn ông bờm xờm bảo Dorothy và Button-Bright đứng che trước mặt ông trong lúc ông trút chỗ khoai tây trong một chiếc bao ra ngoài. Khi việc đó được thực hiện bí mật xong xuôi, bé Polychrome vừa nhảy múa đến gần tên lính gác vừa bất ngờ giơ tay tát thẳng vào mặt hắn, rồi chớp nhoáng xoay tròn người lùi ra thật nhanh để về với nhóm bạn.

Tên Scoodler giận dữ lập tức tháo phắt đầu ra ném vào Con Gái Cầu Vồng; nhưng người đàn ông bờm xờm đã lường trước điều đó, ông chộp lấy cái đầu cực kỳ gọn gàng và nhét vào bao tải rồi buộc chặt miệng lại. Thân thể tên lính gác, vì không có đôi mắt của cái đầu chỉ đường nữa, cứ chạy lung tung vô định, và người đàn ông bờm xờm dễ dàng né tránh hắn rồi mở toang cánh cửa. May mắn là lúc đó chẳng có ai ở trong hang lớn, thế nên ông bảo Dorothy và Polly cứ cắm cổ chạy thật nhanh về phía lối ra, qua chiếc cầu hẹp.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG BỜM XỜM CHỘP LẤY NHỮNG CÁI ĐẦU VÀ NÉM XUỐNG VỰC SÂU BÊN DƯỚI

"Để tớ cõng Button-Bright cho," ông nói, vì biết chân cậu bé quá ngắn không chạy nhanh được.

Dorothy ôm Toto lên, rồi nắm chặt tay Polly và cắm cổ chạy như bay về phía cửa hang. Người đàn ông bờm xờm vác Button-Bright trên vai chạy theo sau. Họ di chuyển quá nhanh và cuộc trốn chạy hoàn toàn bất ngờ đến mức họ đã gần đến cây cầu thì một tên Scoodler ngó đầu ra khỏi nhà và trông thấy họ.

Nó cất tiếng thét chát chúa lôi kéo tất cả đồng bọn từ các cửa nhà lao ra tấp nập, và chúng lập tức đuổi theo. Dorothy và Polly đã đến cầu và vượt qua khi lũ Scoodlers bắt đầu ném đầu. Một trong những thứ vũ khí kỳ quặc đập trúng lưng người đàn ông bờm xờm suýt làm ông ngã nhúi lủi; nhưng lúc này ông đã đến cửa hang, thế nên ông thả Button-Bright xuống và bảo cậu chạy qua cầu về phía Dorothy.

Sau đó người đàn ông bờm xờm quay người đối mặt với kẻ thù, đứng ngay sát bên ngoài lối mở, và hễ chúng ném đầu tới tấp vào ông bao nhiêu thì ông chộp lấy bấy nhiêu rồi ném thẳng xuống vực sâu thẳm bên dưới. Những cái thân không đầu của tốp Scoodlers đi đầu cản trở không cho bọn phía sau lao lên sát, nhưng chúng cũng ném đầu để chặn đứng các tù nhân đang tẩu thoát. Người đàn ông bờm xờm tóm gọn tất cả và gửi chúng bay vèo xuống vực thẳm đen ngòm. Trong số đó ông nhận ra cái đầu đỏ thẫm và vàng chóe của Nữ Hoàng, và ông ném nó theo những cái khác với một sự hào hứng tuyệt vời.

Chẳng mấy chốc mọi tên Scoodlers trong đám đều đã ném sạch đầu của chúng, và cái đầu nào cũng nằm dưới vực sâu, lúc này những cơ thể bất lực của bọn chúng vặn vẹo ngọ nguậy lộn xộn trong hang trong nỗ lực vô vọng tìm xem đầu mình đã bay đi đâu mất tiêu. Người đàn ông bờm xờm bật cười rồi bước qua cầu trở lại với những người bạn.

"May là hồi trẻ tớ học chơi bóng chày đấy," ông nhận xét, "vì tớ tóm gọn tất cả mấy cái đầu đó dễ như trở bàn tay, chẳng trượt cái nào. Thôi đi nào các cháu; lũ Scoodlers sẽ chẳng bao giờ dám làm phiền chúng ta hay bất kỳ ai khác nữa đâu."

Button-Bright vẫn còn sợ hãi và cứ lẩm bẩm mãi "Tớ không muốn làm súp đâu!", bởi chiến thắng đến quá đột ngột khiến cậu bé chưa nhận thức được rằng họ đã tự do và an toàn. Nhưng người đàn ông bờm xờm đảm bảo với cậu rằng mọi nguy cơ biến thành súp đã qua đi rồi, vì lũ Scoodlers sẽ chẳng thể húp súp trong một thời gian dài sắp tới.

Thế là, mong mỏi được rời khỏi cái hang u ám kinh khủng này càng sớm càng tốt, họ vội vã leo lên sườn đồi và quay trở lại con đường ngay đoạn qua chỗ họ từng chạm trán lũ Scoodlers; và các bạn có thể chắc chắn rằng họ vô cùng mừng rỡ khi đặt chân trở lại con đường quen thuộc ngày nào.

"ĐƯỜNG đi gập ghềnh khủng khiếp," Dorothy vừa lầm lũi bước đi vừa phàn nàn. Button-Bright thở dài sườn sượt và bảo cậu đói bụng. Quả thực tất cả đều đói và khát nữa; vì từ bữa sáng họ chẳng ăn gì ngoài hai quả táo, thế nên bước chân họ trĩu nặng và ai nấy đều mệt mỏi, im lặng. Cuối cùng họ cũng lê bước qua đỉnh ngọn đồi cằn cỗi và nhìn thấy trước mặt là một hàng cây xanh mướt cùng thảm cỏ trải dài dưới gốc. Một mùi hương dễ chịu thoảng bay tới.

Những lữ khách nóng bức và mệt mỏi vội vã lao tới khi trông thấy cảnh tượng sảng khoái này và chẳng mấy chốc đã đến bên rặng cây. Ở đó họ tìm thấy một con suối nước trong vắt sủi bọt, xung quanh thảm cỏ mọc đầy những khóm dâu tây dại, những quả mọng đỏ au chín mọng sẵn sàng hái ăn. Vài cây mang những quả cam vàng óng và số khác có lê nâu râm mát, thế nên những lữ khách đói khát bỗng nhiên thấy mình được cung cấp đủ thứ để ăn và uống.

Họ chẳng chần chừ hái những quả dâu tây to nhất và những quả cam chín nhất, chẳng mấy chốc đã mở tiệc thỏa thích. Vượt qua hàng cây, trước mắt họ hiện ra một vùng sa mạc đáng sợ và ảm đạm, khắp nơi toàn là cát xám. Ngay rìa vùng hoang vu khủng khiếp này dựng một tấm biển trắng lớn với những chữ cái đen được vẽ cẩn thận; và nội dung trên biển là:

CẢNH BÁO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC

LIỀU LĨNH ĐẶT CHÂN LÊN SA MẠC NÀY

Bởi vì Cát Chết sẽ Biến Bất Cứ Xác Thị Sống Nào Thành Bụi Chỉ Trong Chớp Mắt.

Vượt Qua Rào Cản Này Là

XỨ SỞ THẦN TIÊN OZ

Nhưng Không Ai Có Thể Đến Được Vùng Đất Xinh Đẹp Ấy Bởi Vì Lớp Cát Hủy Diệt Này

"Ôi," Dorothy nói khi người đàn ông bờm xờm đọc to tấm biển này lên; "tớ từng thấy sa mạc này rồi, và đúng là chẳng ai sống sót nổi nếu liều mình bước chân lên lớp cát đó cả."

"Thế thì chúng ta không được thử rồi," người đàn ông bờm xờm trầm ngâm đáp. "Nhưng vì chúng ta không thể đi tiếp mà quay lại thì cũng chẳng ích gì, vậy tiếp theo chúng ta phải làm gì đây?"

"Không biết," Button-Bright đáp.

"Tớ chắc chắn tớ cũng chịu," Dorothy chán nản bồi thêm.

"Tớ ước gì cha đến đón tớ," Con Gái Cầu Vồng xinh đẹp thở dài, "tớ sẽ đưa tất cả các bạn lên sống trên cầu vồng, nơi các bạn có thể nhảy múa dọc theo các tia sáng từ sáng đến tối mịt, chẳng phải bận tâm hay lo lắng bất cứ điều gì. Nhưng tớ đoán dạo này cha bận quá nên chưa thể đi khắp thế giới tìm tớ được."

"Không muốn nhảy múa đâu," Button-Bright vừa nói vừa mệt mỏi ngồi thụp xuống thảm cỏ mềm.

"Cậu tốt thật đấy Polly," Dorothy nói; "nhưng có những thứ khác hợp với tớ hơn là nhảy múa trên cầu vồng. Tớ e là chúng sẽ có cảm giác mềm oặt và xốp xộp dưới chân ấy chứ, dẫu cho trông chúng có đẹp đẽ đến đâu đi nữa."

Điều này chẳng giúp giải quyết vấn đề gì, và tất cả lại chìm vào im lặng, bối rối nhìn nhau.

"Thật tình là tớ chẳng biết phải làm gì nữa," người đàn ông bờm xờm lầm bầm, đăm đăm nhìn Toto; và chú chó nhỏ ngoe nguẩy đuôi rồi sủa "Gâu gâu!" y hệt như nó cũng chịu chết chẳng biết phải làm sao. Button-Bright kiếm một khúc cây bắt đầu đào bới đất đai, và những người khác trầm ngâm đứng nhìn cậu một lúc. Cuối cùng người đàn ông bờm xờm lên tiếng:

"Trời sắp tối rồi; thế nên chúng ta cứ ngủ lại chốn xinh đẹp này để lấy lại sức; biết đâu sáng mai chúng ta sẽ quyết định được nên làm gì là tốt nhất."

Chẳng có cơ hội nào để làm giường cho bọn trẻ, nhưng những tán lá cây mọc dày đặc sẽ che bớt sương đêm, thế nên người đàn ông bờm xờm chất những thảm cỏ mềm dưới góc cây rậm rạp nhất và khi trời tối họ nằm xuống ngủ một giấc yên bình cho đến sáng.

Tuy nhiên, tận lâu sau khi mọi người đã chìm vào giấc ngủ, người đàn ông bờm xờm vẫn ngồi dưới ánh sao bên bờ suối, đăm đăm nhìn vào làn nước đang sủi bọt. Bỗng ông mỉm cười và gật đầu với chính mình như vừa tìm ra một ý hay, rồi sau đó ông cũng nằm xuống dưới gốc cây và chìm vào giấc ngủ sâu.

Dưới ánh nắng mặt trời rực rỡ buổi sáng, trong lúc ăn dâu tây cùng những quả lê ngọt mọng nước, Dorothy cất tiếng hỏi:

"Polly, cậu có biết làm phép thuật nào không?"

"Không cậu ạ," Polychrome lắc chiếc đầu xinh xắn đáp.

"Cậu phải biết chút phép thuật chứ, là Con Gái Cầu Vồng cơ mà," Dorothy nghiêm túc tiếp lời.

"Nhưng chúng tớ sống trên cầu vồng giữa những đám mây bông xốp đâu có cần đến phép thuật," Polychrome đáp.

"Điều tớ thích lúc này," Dorothy nói, "là tìm ra cách vượt qua sa mạc để đến Xứ Sở Oz cùng Thành Phố Ngọc Lục Bảo của nó. Tớ từng vượt qua nó rồi, cậu biết đấy, không chỉ một lần. Đầu tiên là một cơn lốc xoáy mang nhà tớ bay qua, và vài chiếc Giày Bạc đưa tớ trở về — trong chưa đầy nửa giây. Sau đó Ozma đưa tớ qua trên Chiếc Thảm Ma Thuật của ngài ấy, và Thắt Lưng Ma Thuật của Vua Nome đã đưa tớ về nhà chuyến đó. Cậu thấy đấy, lần nào cũng là phép thuật làm được chuyện đó ngoại trừ lần đầu tiên, và chúng ta không thể trông mong một cơn lốc xoáy bất ngờ thổi qua rồi mang tụi mình đến Thành Phố Ngọc Lục Bảo lúc này được."

"Ừ, đúng thế," Polly rùng mình đáp; "tớ ghét lốc xoáy lắm."

"Đó là lý do tớ muốn xem cậu có biết làm phép thuật nào không," cô bé Kansas nói. "Tớ chắc chắn tớ không biết; và tớ chắc chắn Button-Bright cũng chịu; còn phép thuật duy nhất mà Người Bờm Xờm có là Nam Châm Tình Yêu, nó chẳng giúp ích gì nhiều cho chúng ta đâu."

"Đừng quá chắc chắn về điều đó chứ cô bé," người đàn ông bờm xờm nở nụ cười trên khuôn mặt lừa lên tiếng. "Tôi có thể không tự làm phép thuật được, nhưng tôi có thể gọi đến một người bạn quyền năng — kẻ yêu mến tôi vì tôi sở hữu Nam Châm Tình Yêu, và người bạn này chắc chắn sẽ giúp được chúng ta."

"Bạn của ông là ai thế?" Dorothy hỏi.

"Johnny Dooit."

"Johnny Dooit làm được gì?"

"Thứ gì cũng làm được," người đàn ông bờm xờm tự tin đáp.

"Gọi anh ấy tới đi," cô háo hức kêu lên.

Người đàn ông bờm xờm lấy Nam Châm Tình Yêu ra khỏi túi và tháo lớp giấy bọc xung quanh. Giữ món bùa trong lòng bàn tay, ông đăm đăm nhìn nó và cất tiếng đọc:

"Johnny Dooit thân mến, hãy đến với tôi,

Tôi đang rất cần anh, cần lắm người ơi."

"Này, tôi đây rồi," một giọng nói vui vẻ cất lên; "nhưng anh không nên bảo cần tôi lắm đâu, vì tôi lúc nào, lúc nào cũng tốt mà."

Nghe thế họ vội quay ngoắt người lại và thấy một gã lùn ngộ nghĩnh đang ngồi trên một chiếc rương đồng lớn, đang nhả khói từ một chiếc tẩu dài. Tóc gã bạc trắng, râu cũng bạc trắng; và bộ râu này dài đến mức gã quấn vòng quanh eo và thắt thành một nút thắt chắc chắn phía dưới chiếc tạp dề bằng da vắt từ cằm suýt chạm đến chân, trông bám đầy vết bẩn và trầy xước hệt như đã được dùng từ rất lâu rồi. Mũi gã rộng, hơi hếch lên; nhưng đôi mắt lại lấp lánh và vui vẻ. Đôi tay và cánh tay của gã cứng cáp và chai sần hệt như miếng da trên chiếc tạp dề, và Dorothy nghĩ trông Johnny Dooit hệt như một kẻ đã làm việc vất vả suốt cả cuộc đời.

"Chào buổi sáng, Johnny," người đàn ông bờm xờm nói. "Cảm ơn vì đã đến với tôi nhanh thế nhé."

"Tôi chẳng bao giờ phí hoài thời gian cả," gã nhanh nhảu đáp. "Nhưng có chuyện gì xảy ra với anh thế? Sao lại mọc cái đầu lừa thế kia? Thật tình, nếu không nhìn vào đôi chân của anh, chắc tôi chẳng thể nhận ra nổi anh đâu, Người Bờm Xờm ạ."

Người đàn ông bờm xờm giới thiệu Johnny Dooit với Dorothy, Toto, Button-Bright và Con Gái Cầu Vồng, rồi kể cho gã nghe câu chuyện về những cuộc phiêu lưu của họ, đồng thời bồi thêm rằng bây giờ họ đang rất muốn đến Thành Phố Ngọc Lục Bảo ở Xứ Sở Thần Tiên Oz, nơi Dorothy có những người bạn sẽ chăm sóc và đưa họ về nhà an toàn.

"Nhưng," ông nói, "chúng tôi nhận ra mình không thể vượt qua sa mạc này, vì nó biến mọi xác thịt sống chạm vào thành bụi trong chớp mắt; thế nên tôi đã gọi anh đến để giúp đỡ."

Johnny Dooit nhả khói tẩu và chăm chú nhìn vùng sa mạc đáng sợ trước mặt — trải dài ngút ngàn đến mức họ chẳng thấy được điểm tận cùng của nó.

"Các vị phải đi bằng xe trượt," gã dứt khoát nói.

"Đi bằng xe gì cơ?" người đàn ông bờm xờm hỏi.

"Xe trượt cát, có hai thanh trượt giống như xe trượt tuyết và buồm giống như thuyền. Gió sẽ thổi các vị lướt nhanh qua sa mạc và cát không thể chạm vào da thịt để biến các vị thành bụi được."

"Tuyệt!" Dorothy reo lên, vỗ tay thích thú. "Đó chính là cách Chiếc Thảm Ma Thuật đã đưa chúng ta vượt qua đấy. Tụi mình chẳng hề phải chạm chân vào lớp cát kinh khủng đó chút nào."

"Nhưng xe trượt cát đâu?" người đàn ông bờm xờm hỏi, ngó nghiêng khắp nơi.

"Tôi sẽ làm cho các vị một chiếc," Johnny Dooit nói.

Vừa nói gã vừa gạt tàn thuốc ra khỏi tẩu rồi đút vào túi. Sau đó gã mở khóa chiếc rương đồng và nhấc nắp lên, và Dorothy thấy bên trong chứa đầy những dụng cụ sáng loáng đủ mọi hình thù.

Johnny Dooit thao tác cực kỳ nhanh chóng — nhanh đến mức họ phải kinh ngạc trước khối lượng công việc mà gã có thể hoàn thành. Gã có trong rương mọi dụng cụ cho bất cứ việc gì gã muốn làm, và chắc chắn đó là những dụng cụ ma thuật vì chúng làm việc quá nhanh và hiệu quả.

Gã vừa làm việc vừa hừ hừ hát một bài ca nhỏ, và Dorothy cố lắng nghe. Cô nghĩ lời bài hát đại loại thế này:

Cách duy nhất để làm việc gì,

Là làm ngay khi có thể đi,

Và làm vui vẻ, rồi ca hát,

Làm việc, suy tư và tính toan.

Kẻ duy nhất sống đời bất hạnh,

Là kẻ lười biếng trốn việc ngay;

Kẻ duy nhất sống đời hạnh phúc,

Là người yêu thích chuyện làm ngay.

Dù Johnny Dooit có hát gì đi nữa thì gã cũng đang làm việc thực sự, và tất cả đứng nhìn sững sờ trong ngạc nhiên.

Gã chộp lấy một chiếc rìu và chỉ sau hai nhát chặt đã đốn ngã một cái cây. Tiếp theo gã lấy cưa và chỉ vài phút sau đã cưa thân cây thành những tấm ván dài và rộng. Sau đó gã dùng đinh đóng các tấm ván lại thành hình dáng một chiếc thuyền, dài khoảng mười hai feet và rộng bốn feet. Gã cắt từ một cây khác một thân cây dài và mảnh, sau khi tỉa bỏ cành lá và dựng thẳng đứng ở giữa thuyền, nó đóng vai trò là một cột buồm. Từ trong rương gã lôi ra một cuộn dây thừng và một bó vải bạt lớn, và với những thứ đó — vừa ngân nga bài hát — gã dựng lên một cánh buồm, bố trí sao cho có thể kéo lên hoặc hạ xuống trên cột buồm.

Dorothy há hốc mồm ngạc nhiên khi thấy mọi thứ lớn lên vù vù trước mắt, và cả Button-Bright lẫn Polly đều theo dõi với sự tập trung tuyệt đối.

"Lẽ ra nên sơn nó lên," Johnny Dooit nói, ném mấy dụng cụ trở lại rương, "vì như thế trông sẽ đẹp hơn. Nhưng mặc dù tôi có thể sơn cho các vị trong ba giây, nó sẽ mất cả tiếng để khô, và như thế là lãng phí thời gian."

"Bọn tôi chẳng quan trọng nó trông ra sao đâu," người đàn ông bờm xờm nói, "miễn là nó đưa được chúng tôi qua sa mạc."

"Nó làm được chuyện đó," Johnny Dooit tuyên bố. "Điều duy nhất các vị phải lo lắng là bị lật thuyền thôi. Các vị từng chèo thuyền bao giờ chưa?"

"Tôi từng thấy người ta chèo rồi," người đàn ông bờm xờm nói.

"Tốt. Hãy lái chiếc thuyền này theo cách các vị từng thấy người ta chèo thuyền, và các vị sẽ vượt qua sa mạc trước khi kịp nhận ra đấy."

Nói xong gã sập mạnh nắp rương lại, và tiếng động mạnh làm tất cả phải chớp mắt. Trong lúc họ chớp mắt thì người thợ biến mất, cả rương lẫn dụng cụ.

"Ôi, tệ thật đấy!" Dorothy kêu lên; "tớ muốn cảm ơn Johnny Dooit vì sự tốt bụng của anh ấy với chúng ta mà."

"Anh ấy không có thời gian để nghe lời cảm ơn đâu," người đàn ông bờm xờm đáp; "nhưng tôi chắc chắn anh ấy biết chúng ta rất biết ơn. Tôi đoán anh ấy lại đang làm việc ở đâu đó trên thế giới này rồi."

Lúc này họ quan sát chiếc xe trượt cát kỹ hơn, và thấy phần đáy được thiết kế với hai thanh trượt sắc bén sẽ lướt đi trên cát. Phần mũi xe trượt được vót nhọn như mũi tàu, và có một chiếc bánh lái ở đuôi để điều hướng.

Nó được đóng ngay sát rìa sa mạc, sao cho toàn bộ chiều dài nằm trên lớp cát xám ngoại trừ phần đuôi vẫn nằm trên thảm cỏ.

"Lên đi các cháu," người đàn ông bờm xờm nói; "tôi chắc chắn mình lái chiếc thuyền này cừ chẳng kém thủy thủ nào đâu. Tất cả những gì các cháu cần làm là ngồi yên chỗ của mình thôi."

Dorothy bước lên, ôm Toto trong tay, ngồi xuống sàn thuyền ngay trước cột buồm. Button-Bright ngồi trước Dorothy, còn Polly thì cúi người ở mũi tàu. Người đàn ông bờm xờm quỳ phía sau cột buồm. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, ông kéo buồm lên một nửa. Gió thổi vào buồm. Ngay lập tức chiếc xe trượt cát chuyển động — thoạt đầu chậm rãi, sau đó tăng tốc.

Người đàn ông bờm xờm kéo buồm lên cao, và họ bay vút qua Sa Mạc Chết nhanh đến mức ai nấy đều bám chặt lấy mạn thuyền và chẳng dám thở mạnh.

Cát tạo thành những đụn sóng, và có chỗ rất gồ ghề, khiến chiếc thuyền tròng trành nguy hiểm từ bên này sang bên khác; nhưng nó không hề bị lật, và tốc độ lớn đến mức chính người đàn ông bờm xờm cũng hoảng sợ và bắt đầu tự hỏi làm sao để làm chiếc thuyền đi chậm lại.

"Nếu chúng ta bị hất văng xuống lớp cát này, giữa lòng sa mạc," Dorothy tự nhủ, "chúng ta sẽ thành bụi trong vài phút, và đó là chấm hết cho tất cả."

Nhưng họ không bị hất văng, và chẳng mấy chốc Polychrome — kẻ đang bám lấy mũi tàu và nhìn chăm chú phía trước — nhìn thấy một đường sẫm màu phía trước và tự hỏi đó là gì.

Nó ngày càng rõ hơn sau mỗi giây, cho đến khi cô phát hiện ra đó là một hàng đá lởm chởm ở tận cùng sa mạc, trong khi cao phía trên những hòn đá này cô có thể nhìn thấy một cao nguyên phủ cỏ xanh và những rặng cây đẹp tuyệt.

"Cẩn thận!" cô hét lên với người đàn ông bờm xờm. "Đi chậm lại, kẻo chúng ta đâm sầm vào đá đấy."

Ông nghe thấy, và cố kéo buồm xuống; nhưng gió không chịu buông cánh buồm rộng và dây thừng đã bị rối tung lên.

"CẨN THẬN!" POLYCHROME HÉP LÊN

Càng lúc họ càng tiến sát những tảng đá lớn, và người đàn ông bờm xờm tuyệt vọng vì chẳng thể làm gì để ngăn cú lao điên cuồng của chiếc xe trượt cát.

Họ chạm tới rìa sa mạc và đâm thẳng vào những tảng đá. Một tiếng rầm vang lên khi Dorothy, Button-Bright, Toto và Polly bay vút lên không trung theo hình vòng cung như một quả pháo hoa, lần lượt hạ cánh trên bãi cỏ, nơi họ lăn lộn một hồi lâu trước khi kịp dừng lại.

Người đàn ông bờm xờm bay theo sau, cắm đầu xuống trước, và lăn cù lao xuống bên cạnh Toto — con chó lúc này đang rất phấn khích, chộp lấy một bên tai lừa của ông giữa hai hàm răng rồi lắc và cắn xé hết sức có thể, gừ gừ giận dữ. Người đàn ông bờm xờm bắt con chó buông ra và ngồi dậy ngó nghiêng xung quanh.

Dorothy đang sờ một chiếc răng cửa bị lung lay do đập vào đầu gối khi ngã. Polly đang buồn bã nhìn vết rách trên chiếc váy voan xinh đẹp, còn cái đầu cáo của Button-Bright thì kẹt cứng trong một cái hang chuột túi và cậu đang đạp đôi chân mập mạp điên cuồng để thoát thân.

Ngoài ra họ không bị thương tích gì trong cuộc phiêu lưu; thế nên người đàn ông bờm xờm đứng dậy kéo Button-Bright ra khỏi hang và đi ra rìa sa mạc để ngắm chiếc xe trượt cát. Nó giờ chỉ là một đống vụn gỗ, vỡ nát biến dạng vào những tảng đá. Gió đã xé toạc cánh buồm và mang nó lên ngọn một cái cây cao, nơi các mảnh vải phần phật bay như một lá cờ trắng.

"Chà," ông vui vẻ nói, "chúng ta đến nơi rồi; nhưng 'nơi' này là đâu thì tôi chịu."

"Chắc là một phần nào đó của Xứ Sở Oz rồi," Dorothy tiến lại gần phía ông nhận xét.

"Phải thế không?"

"Chứ sao nữa. Chúng ta vượt qua sa mạc rồi mà, đúng không? Và nằm đâu đó giữa xứ Oz chính là Thành Phố Ngọc Lục Bảo."

"Đúng thế," người đàn ông bờm xờm gật đầu. "Đi đến đó thôi."

"Nhưng tớ chẳng thấy bóng dáng ai để chỉ đường cả," cô tiếp lời.

"Đi tìm xem sao," ông gợi ý. "Thế nào chẳng có người ở đâu đây; có điều có lẽ họ không ngờ chúng ta đến, nên không có mặt để chào đón."

Họ bắt đầu kiểm tra kỹ hơn vùng đất xung quanh. Mọi thứ đều tươi mới và đẹp đẽ sau cái oi ả của sa mạc, và ánh nắng cùng bầu không khí ngọt ngào, trong lành khiến những lữ khách vô cùng thích thú. Những ụ đất xanh ngả vàng nằm ở bên phía tay phải, trong khi bên trái là một nhóm cây cao lá rủ mang những bông hoa vàng trông như tua rua và bốc mùi thơm ngát. Lẫn trong thảm cỏ trải dài là những bông hoa cúc vàng và hoa cúc vạn thọ xinh xắn. Sau khi ngắm nhìn một lát, Dorothy trầm ngâm nói:

"Chắc chúng ta đang ở Xứ Sở Winkies rồi, vì màu sắc của vùng đất đó là màu vàng, và các cậu sẽ nhận thấy rằng 'hầu như mọi thứ ở đây đều có màu vàng nếu nó có màu'."

"Nhưng tôi cứ nghĩ đây là Xứ Sở Oz chứ," người đàn ông bờm xờm thất vọng đáp.

"Đúng thế mà," cô khẳng định; "nhưng xứ Oz chia thành bốn phần. Xứ Miền Bắc có màu tím, và đó là Xứ Sở Gillikin. Xứ Miền Đông có màu xanh dương, đó là Xứ Sở Munchkin. Xuống phía Nam là Xứ Sở Quadling màu đỏ, còn ở đây, phía Tây, là Xứ Sở Winkies màu vàng. Đây là phần được cai trị bởi Người Thiếc, các cậu biết đấy."

"Hắn là ai thế?" Button-Bright hỏi.

"Sao cơ, đó là người bằng thiếc mà tớ kể cho các em nghe đấy. Tên bác ấy là Nick Chopper, và bác ấy được Phù Sỹ vĩ đại ban cho một trái tim tuyệt vời."

"Bác ấy sống ở đâu?" cậu bé hỏi.

"Phù Sỹ á? Ồ, bác ấy sống ở Thành Phố Ngọc Lục Bảo, ngay chính giữa xứ Oz, nơi giao nhau của bốn vùng đất."

"À," Button-Bright bối rối vì lời giải thích này.

"Chắc chúng ta đang cách khá xa Thành Phố Ngọc Lục Bảo đấy," người đàn ông bờm xờm nhận xét.

"Đúng thế," cô đáp; "thế nên chúng ta mau lên đường xem có gặp ai người Winkies nào không. Họ là những người tốt bụng," cô tiếp tục nói khi nhóm nhỏ bắt đầu đi về phía rặng cây, "và tớ từng đến đây một lần cùng những người bạn Bù Nhìn, Người Thiếc và Sư Tử Hèn Nhát để đánh bại một mụ phù thủy độc ác bắt toàn bộ người Winkies làm nô lệ."

"Các cậu hạ gục mụ ta chứ?" Polly hỏi.

"Tớ đã làm tan chảy mụ bằng một gáo nước, và đó là hồi kết của mụ," Dorothy đáp. "Sau đó người dân được tự do, các cậu biết đấy, và họ tôn Nick Chopper — tức Người Thiếc — làm Hoàng đế của họ."

"Cái đó là gì thế?" Button-Bright hỏi.

"Hoàng đế á? Ồ, nó hơi giống một ủy viên hội đồng thành phố thì phải."

"À," cậu bé nói.

"Nhưng tớ cứ nghĩ Công chúa Ozma cai trị xứ Oz cơ mà," người đàn ông bờm xờm nói.

"Đúng thế; ngài ấy cai trị Thành Phố Ngọc Lục Bảo và cả bốn vùng đất của xứ Oz; nhưng mỗi vùng đất lại có một vị tiểu vương khác, không to lớn bằng Ozma. Nó giống như các sĩ quan trong quân đội vậy, các cậu thấy đấy; các tiểu vương đều là đại úy, còn Ozma là đại tướng."

Đến lúc này họ đã tới rặng cây — mọc thành một vòng tròn hoàn hảo và cách nhau vừa đủ để những cành dày chạm vào nhau — hay "bắt tay nhau", như Button-Bright nhận xét. Dưới bóng râm của rặng cây, ngay chính giữa vòng tròn, họ tìm thấy một hồ nước trong vắt, mặt nước phẳng lặng như gương. Chắc là sâu lắm, bởi khi Polychrome cúi người soi xuống, cô khẽ thở dài thích thú.

"Ơ, đây là một chiếc gương!" cô kêu lên; vì cô có thể nhìn thấy rõ khuôn mặt xinh xắn cùng bộ xiêm y mồng mơi ánh màu cầu vồng phản chiếu dưới hồ nước y như người thật.

Dorothy cũng cúi xuống, bắt đầu chỉnh sửa lại mái tóc bị gió sa mạc thổi bù xù rối tung. Button-Bright ghé sát bờ hồ tiếp theo, rồi bật khóc vì hình ảnh cái đầu cáo phản chiếu làm cậu bé tội nghiệp sợ hãi.

"Chắc tớ không thèm nhìn nữa đâu," người đàn ông bờm xờm buồn bã nhận xét, vì ông cũng chẳng thích cái đầu lừa của mình tẹo nào. Trong lúc Polly và Dorothy cố gắng dỗ dành Button-Bright, người đàn ông bờm xờm ngồi xuống gần mép hồ — nơi hình ảnh của ông không bị phản chiếu — và đăm đăm nhìn mặt nước trầm ngâm. Vừa làm thế, ông nhận thấy một tấm bảng bạc được gắn vào một mỏm đá ngay dưới mặt nước, trên tấm bảng bạc có khắc những dòng chữ sau:

HỒ SỰ THẬT

"Á!" người đàn ông bờm xờm mừng rỡ nhảy chồm lên kêu lên; "cuối cùng chúng ta cũng tìm thấy rồi."

"Tìm thấy gì cơ?" Dorothy chạy vụt đến hỏi.

"Hồ Sự Thật. Giờ thì cuối cùng tôi cũng có thể vứt bỏ cái đầu kinh khủng này rồi; vì các cậu nhớ không, người ta bảo chỉ có Hồ Sự Thật mới khôi phục lại được khuôn mặt thực sự của tôi thôi."

"Tớ nữa!" Button-Bright hét lên, lật đật chạy đến bên họ.

"Tất nhiên rồi," Dorothy nói. "Nó sẽ chữa khỏi cái đầu quái gở cho cả hai người tớ đoán thế. May mắn làm sao khi chúng ta tìm thấy nó nhỉ?"

"Thực sự rất may," người đàn ông bờm xờm đáp. "Tôi ghét khủng khiếp cảnh đến yết kiến Công chúa Ozma với bộ dạng thế này; mà ngài ấy lại sắp sửa tổ chức tiệc sinh nhật nữa chứ."

Đúng lúc đó một tiếng tõm làm họ giật mình, bởi Button-Bright vì quá nôn nóng muốn nhìn hồ nước sẽ "chữa lành" cho mình, đã bước quá sát mép và ngã cắm đầu xuống nước. Cậu chìm nghỉm mất hút, đến mức chỉ còn mỗi cái mũ thủy thủ nổi lềnh bềnh trên mặt Hồ Sự Thật.

Chẳng mấy chốc cậu ngoi lên, và người đàn ông bờm xờm tóm ngay cổ áo thủy thủ kéo cậu lên bờ, ướt sũng và thở hổn hển. Tất cả kinh ngạc nhìn cậu bé, bởi chiếc đầu cáo với cái mũi nhọn và đôi tai vểnh đã biến mất, thay vào đó là gương mặt tròn trịa bầu bĩnh, đôi mắt xanh cùng mái tóc xoăn xinh xắn từng thuộc về Button-Bright trước khi Vua Dox xứ Foxville biến hình cậu.

"Ôi, cưng quá đi mất!" Polly thốt lên, suýt nữa thì ôm chầm lấy cậu bé nếu cậu không ướt như chuột lột như thế.

Những tiếng kêu vui sướng khiến đứa trẻ dụi nước khỏi mắt và ngước nhìn mấy người bạn với vẻ dò hỏi.

"Em ổn cả rồi cưng," Dorothy nói. "Lại đây nhìn xem." Cô dẫn cậu đến bên hồ, và dẫu mặt nước vẫn còn vài gợn sóng lăn tăn, cậu có thể nhìn rõ hình phản chiếu của mình.

"Là mình!" cậu thì thầm với vẻ vừa thích thú vừa kính sợ.

CHIẾC ĐẦU THẬT CỦA NGƯỜI ĐÀN ÔNG BỜM XỜM ĐÃ ĐƯỢC KHÔI PHỤC

"Chứ sao nữa," cô bé đáp; "và tất cả bọn mình đều mừng cho em đấy, Button-Bright."

"Chà," người đàn ông bờm xờm tuyên bố, "đến lượt tôi rồi đây." Ông cởi chiếc áo khoác bờm xờm vắt lên bãi cỏ và cắm đầu lao tõm xuống Hồ Sự Thật.

Lúc ngoi lên, chiếc đầu lừa đã biến mất, và cái đầu bờm xờm chính gốc của người đàn ông bờm xờm đã trở lại vị trí cũ, nước nhỏ giọt thành từng dòng nhỏ từ bộ râu bờm xờm. Ông lồm cồm bò lên bờ, rũ người cho vơi bớt nước rồi ghé sát mặt hồ ngắm nghía đầy ngưỡng mộ khuôn mặt phản chiếu của mình.

"Bây giờ thì có lẽ tôi vẫn chưa đẹp trai xuất sắc đâu," ông nói với những người bạn đang mỉm cười nhìn mình; "nhưng tôi trông còn đẹp hơn khối lần so với một con lừa, thế nên tôi cảm thấy tự hào hết chỗ nói."

"Anh ổn rồi đấy, Người Bờm Xờm," Dorothy tuyên bố. "Và Button-Bright cũng ổn. Thế nên chúng ta hãy cảm ơn Hồ Sự Thật vì sự tốt bụng của nó, rồi tiếp tục lên đường tới Thành Phố Ngọc Lục Bảo nào."

"Tôi tiếc chẳng muốn rời khỏi đây chút nào," người đàn ông bờm xờm thở dài nói. "Mang theo một cái hồ sự thật bên mình chắc cũng không tệ đâu." Nhưng ông mặc áo khoác vào và cùng những người khác lên đường tìm kiếm người chỉ đường.

HỌ đi chưa được bao lâu qua những đồng cỏ rải đầy hoa thì bắt gặp một con đường đẹp dẫn về hướng tây bắc, uốn lượn duy dáng giữa những ngọn đồi vàng xinh xắn.

"Đường đó," Dorothy nói, "chắc chắn là hướng về Thành Phố Ngọc Lục Bảo rồi. Tốt nhất chúng ta cứ đi theo con đường này cho đến khi gặp ai đó hoặc tới một ngôi nhà."

Ánh nắng chẳng mấy chốc đã làm khô bộ đồ thủy thủ của Button-Bright cùng trang phục bờm xờm của người đàn ông bờm xờm, và vì quá vui mừng khi lấy lại được cái đầu cũ nên họ chẳng bận tâm mấy đến sự bất tiện ngắn ngủi lúc bị ướt.

"Thật tuyệt khi lại được huýt sáo," người đàn ông bờm xờm nhận xét, "vì đôi môi lừa dày cộp khiến tôi chẳng thể huýt nổi một nốt nào." Ông ngâm nga giai điệu vui tươi hệt như một chú chim.

"Trông anh sẽ tự nhiên hơn trong buổi tiệc sinh nhật đấy," Dorothy nói, hạnh phúc vì thấy mấy người bạn của mình hạnh phúc.

Polychrome đang nhí nhảnh nhảy múa phía trước theo kiểu sôi nổi quen thuộc, xoay tròn vui vẻ dọc con đường bằng phẳng, cho đến khi cô khuất bóng sau khúc cua của một gò đất. Bỗng họ nghe thấy cô thốt lên "Ôi!" và cô lại xuất hiện, chạy thục mạng về phía họ.

"Có chuyện gì thế Polly?" Dorothy bối rối hỏi.

Con Gái Cầu Vồng chẳng cần phải trả lời, bởi khi rẽ qua khúc cua trên đường, có hai con thú to lớn bằng đồng được đánh bóng đang từ từ tiến đến, lấp lánh rực rỡ dưới ánh mặt trời. Ngồi trên vai con thú bằng đồng là một con gà mái vàng, với lớp lông tơ bồng bềnh và một chiếc vòng cổ bằng ngọc trai quanh cổ.

"Ôi, Tik-tok!" Dorothy vừa hét lên vừa chạy vụt tới. Khi cô đến nơi, gã người đồng bế bổng cô bé lên bằng đôi tay đồng và hôn lên má cô bằng đôi môi đồng.

"Ôi, Billina!" Dorothy vui mừng thốt lên, và con gà mái vàng bay xà vào lòng cô, để được ôm ấp và vuốt ve lần lượt.

Những người khác tò mò xúm lại xung quanh, và cô bé nói với họ:

"Đó là Tik-tok và Billina; và ôi! Tớ mừng quá khi được gặp lại họ."

"Chào-mừng đến-với xứ Oz," gã người đồng cất giọng đều đều nói.

Dorothy ngồi phịch xuống đường, ôm con gà mái vàng trong lòng và bắt đầu vuốt ve lưng Billina. Con gà mái nói:

"Dorothy cưng, tớ có vài tin tức tuyệt vời muốn kể cho cậu nghe đây."

"Kể mau đi Billina!" cô bé giục.

Đúng lúc đó Toto — nãy giờ cứ gừ gừ khó chịu trong họng — bất ngờ sủa chói tai và lao vào con gà mái vàng, khiến nó xù lông lên và rít lên một tiếng giận dữ làm Dorothy giật nảy mình.

"Dừng lại, Toto! Dừng lại ngay lập tức!" cô ra lệnh. "Mày không thấy Billina là bạn của chị à?" Mặc cho lời cảnh báo đó, nếu cô không nhanh tay túm lấy cổ Toto thì con chó nhỏ đã gây tổn hại cho con gà mái vàng rồi, và thậm chí lúc ấy nó vẫn điên cuồng giãy giụa để thoát khỏi tay Dorothy. Cô đánh vào tai nó một hai lần và bảo nó phải biết điều, còn con gà mái vàng thì bay vút lên vai Tik-tok để được an toàn.

"Đúng là một con thú vô lại!" Billina càu nhàu, lườm xuống con chó nhỏ.

"Toto không phải là thú vô lại," Dorothy đáp; "nhưng ở nhà Bác Henry đôi khi phải quất nó vì tội rượt đuổi gà. Này nhé, Toto," cô vừa giơ ngón tay vừa nghiêm giọng bảo nó, "mày phải hiểu rằng Billina là một trong những người bạn thân nhất của chị, và không được phép làm hại nó — lúc này hay bất cứ lúc nào."

Toto ngoe nguẩy đuôi như đã hiểu.

"Thứ khốn kiếp đó có biết nói đâu," Billina nhếch mép bảo.

"Có chứ," Dorothy đáp; "nó nói chuyện bằng đuôi, và tớ hiểu mọi điều nó nói. Nếu cậu cũng ngoe nguẩy đuôi được thì cậu cũng chẳng cần dùng từ ngữ để nói đâu, Billina ạ."

"Nhảm nhí!" Billina nói.

"Chẳng nhảm nhí tẹo nào cả. Vừa rồi Toto bảo nó xin lỗi, và nó sẽ cố yêu quý cậu vì tớ đấy. Có phải thế không, Toto?"

"Gâu gâu!" Toto nói, lại ngoe nguẩy đuôi.

"Nhưng tớ có tin tức tuyệt vời thế này cho cậu đây, Dorothy," con gà mái vàng kêu lên; "tớ đã——"

"Khoan đã cậu ơi," cô bé ngắt lời; "tớ phải giới thiệu mọi người trước đã. Đó mới là phép lịch sự chứ, Billina. Đây," cô quay sang những người bạn đồng hành, "là anh Tik-tok, hoạt động bằng bộ máy cơ khí, vì suy nghĩ của anh ấy phải lên dây cót, lời nói lên dây cót và hành động cũng lên dây cót — hệt như một chiếc đồng hồ."

"Tất cả những thứ đó lên dây cót cùng lúc à?" người đàn ông bờm xờm hỏi.

"Không; mỗi cái lên dây riêng. Nhưng anh ấy hoạt động cực kỳ mượt mà, và Tik-tok từng là một người bạn tốt cứu mạng tớ — và cứu cả mạng Billina nữa."

"Cậu ấy sống chứ?" Button-Bright trân trân nhìn gã người đồng hỏi.

"Ồ không, nhưng cơ chế máy móc của cậu ấy giúp cậu ấy hoạt động chẳng khác gì người sống cả." Cô quay sang gã người đồng lịch sự nói: "Anh Tik-tok, đây là những người bạn mới của em: Người Bờm Xờm, và Polly Con Gái Cầu Vồng, và Button-Bright, và Toto. Chỉ là Toto không phải bạn mới, vì nó từng đến xứ Oz rồi."

Gã người đồng cúi chào thật thấp, đồng thời cởi chiếc mũ đồng ra.

"Rất-vui được-gặp những-người-bạn-của-Dor-o-thy——"

Đến đây hắn khựng lại.

"Ôi, chắc bộ máy nói của anh ấy hết dây cót rồi!" cô bé kêu lên, vội chạy đằng sau gã người đồng để lấy chiếc chìa khóa treo trên móc sau lưng. Cô lên dây cót cho gã ở một vị trí dưới nách phải và gã tiếp tục nói:

"Thứ-lỗi cho-việc-bị-hết-dây. Tôi-định-nói-là-rất-vui-được-gặp-những-người-bạn-của-Dor-o-thy, họ-chắc-chắn-cũng-là-bạn-của-tôi." Những từ ngữ có phần giật cục, nhưng rất dễ hiểu.

"Và đây là Billina," Dorothy tiếp tục giới thiệu con gà mái vàng, và mọi người lần lượt cúi chào nó.

"Tớ có tin tức tuyệt vời thế này," con gà mái nói, quay đầu để một bên mắt sáng rực nhìn chằm chằm Dorothy.

"Gì thế cưng?" cô hỏi.

"Tớ đã ấp nở được mười đứa con cưng đáng yêu nhất mà cậu từng thấy."

"Ôi, tuyệt quá! Thế chúng đâu rồi, Billina?"

"Tớ để chúng ở nhà. Nhưng tớ đảm bảo chúng cực kỳ xinh đẹp, và đứa nào cũng thông minh xuất chúng. Tớ đặt tên chúng đều là Dorothy cả."

"Đứa nào thế?" cô hỏi.

"Tất cả chúng," Billina đáp.

"Buồn cười thật đấy. Sao cậu lại đặt tất cả chúng chung một cái tên thế?"

"Vì rất khó phân biệt chúng với nhau," con gà mái giải thích. "Bây giờ, khi tớ gọi 'Dorothy', tất cả chúng sẽ chạy túa ra chụm lại một cục; tiện hơn nhiều so với việc đặt cho mỗi đứa một cái tên riêng."

"Tớ đang há hức muốn gặp chúng quá cơ, Billina," Dorothy hào hứng nói. "Nhưng nói cho tớ hay, các cậu làm thế nào mà có mặt ở đây, tại Xứ Sở Winkies, để trở thành những người đầu tiên đón tụi tớ thế?"

"Để tớ kể cho," Tik-tok với giọng đều đều trả lời — mọi âm thanh đều ngang phè phè — "Công-chúa-Oz-ma đã-thấy-cô-trong-bức-tranh-ma-thuật, và-biết-cô-sắp-đến-đây; thế-nên-ngài-đã-gửi-Bill-i-na-và-tôi-đến-đón-cô, vì-ngài-không-thể-tự-mình-đến-được; thế-nên-cái-đó-phát-ra-tiếng-fiz-i-dig-le-cum-so-lut-ing-hy-ber-gobble-in-tu-zib-ick——"

"Trời đất quỷ thần ơi! Lại cái quái gì nữa thế này?" Dorothy kêu lên, khi gã người đồng tiếp tục babla những từ vô nghĩa không ai hiểu nổi vì chúng chẳng có chút logic nào.

"Không biết," Button-Bright sợ hãi nói. Polly phóng vụt ra xa và quay lại nhìn gã người đồng với vẻ hoảng hốt.

"Lần này suy nghĩ của anh ấy hết dây cót rồi," Billina điềm tĩnh nhận xét khi đậu trên vai Tik-tok chải chuốt bộ lông mượt. "Khi không suy nghĩ được thì anh ấy cũng chẳng nói năng tử tế gì được nữa, hệt như cậu vậy. Cậu phải lên dây cót cho suy nghĩ của Tik-tok thôi Dorothy, không thì tớ phải tự kể nốt câu chuyện hộ anh ấy đấy."

Dorothy chạy vòng ra lấy chìa khóa và lên dây cót cho Tik-tok dưới nách trái, sau đó gã có thể nói rõ ràng trở lại.

"Xin-lỗi," gã nói, "nhưng khi suy nghĩ của tôi hết dây thì lời nói của tôi sẽ chẳng có ý nghĩa gì cả, vì từ ngữ chỉ được hình thành từ suy nghĩ mà thôi. Tôi định nói là Oz-ma đã cử chúng tôi đến đón các vị và mời các vị đi thẳng đến Thành Phố Ngọc Lục Bảo. Ngài ấy quá bận nên không thể tự đến được, vì ngài đang chuẩn bị cho lễ kỷ niệm sinh nhật — đó sẽ là một sự kiện vô cùng hoành tráng."

"Tớ nghe nói rồi," Dorothy nói, "và tớ mừng vì chúng ta đến kịp lúc để tham dự. Từ đây đến Thành Phố Ngọc Lục Bảo có xa không hả Tik-tok?"

"Không-xa-lắm," Tik-tok đáp, "và chúng ta có thừa thời gian. Tối nay chúng ta sẽ dừng chân tại lâu đài của Người Thiếc, và tối mai chúng ta sẽ đến Thành Phố Ngọc Lục Bảo."

"Tuyệt cú mèo!" Dorothy reo lên. "Tớ rất muốn gặp lại bác Nick Chopper thân yêu. Trái tim của bác ấy thế nào rồi?"

"Vẫn tuyệt lắm," Billina nói; "Người Thiếc bảo trái tim ngày càng trở nên mềm mại và nhân hậu hơn mỗi ngày. Bác ấy đang chờ đón cậu ở lâu đài kìa Dorothy; nhưng bác ấy không thể đi cùng bọn tớ vì bác ấy đang bận được đánh bóng sáng choang nhất có thể để chuẩn bị cho tiệc của Ozma."

"Thế thì," Dorothy nói, "lên đường thôi, chúng ta vừa đi vừa nói chuyện tiếp."

Họ tiếp tục cuộc hành trình thành một nhóm thân thiện, bởi Polychrome đã phát hiện ra gã người đồng hoàn toàn vô hại và không còn sợ hắn nữa. Button-Bright cũng được trấn an, và khá có thiện cảm với Tik-tok. Cậu muốn gã người đồng tự mở người ra để cậu xem các bánh răng quay thế nào; nhưng đó là điều Tik-tok không thể làm được. Button-Bright sau đó muốn tự tay lên dây cót cho gã người đồng, và Dorothy hứa sẽ cho cậu làm việc đó ngay khi bộ phận cơ khí nào chạy chậm lại. Điều này làm Button-Bright vô cùng thích thú, cậu nắm chặt một bàn tay bằng đồng của Tik-tok vừa lê bước dọc con đường, trong khi Dorothy đi bên kia người bạn cũ còn Billina thì luân phiên đậu trên vai hoặc trên chiếc mũ đồng của Tik-tok. Polly lại nhí nhảnh nhảy múa phía trước và Toto chạy theo sau, sủa vang vui sướng. Người đàn ông bờm xờm bị bỏ lại đi sau cùng; nhưng ông chẳng bận tâm tí nào, vừa huýt sáo vui vẻ vừa tò mò ngắm nhìn những cảnh tượng xinh đẹp họ đi qua.

Cuối cùng họ cũng đến một ngọn đồi, từ đó có thể nhìn thấy rõ lâu đài thiếc của Nick Chopper, những tòa tháp lấp lánh nguy nga dưới những tia nắng cuối ngày.

"Đẹp quá!" Dorothy thốt lên. "Tớ chưa từng thấy ngôi nhà mới của Hoàng đế bao giờ cả."

"Bác ấy xây nó vì lâu đài cũ ẩm ấp, có thể làm rỉ sét cơ thể bằng thiếc của bác ấy," Billina nói. "Tất cả mấy tòa tháp, chóp nhọn, mái vòm và đầu hồi đó tốn khối thiếc đấy, cậu thấy đấy."

"Nó là đồ chơi à?" Button-Bright khẽ hỏi.

"Không em," Dorothy đáp; "nó còn tuyệt hơn thế. Đó là dinh thự thần tiên của một vị hoàng tử thần tiên."

KHUÔN viên xung quanh ngôi nhà mới của Nick Chopper được bài trí những bồn hoa xinh xắn, những đài phun nước trong vắt và những bức tượng bằng thiếc mô tả những người bạn thân thiết của Hoàng đế. Dorothy vô cùng ngạc nhiên và thích thú khi tìm thấy một bức tượng bằng thiếc của chính mình đang đứng trên một bệ thiếc tại khúc cua của đại lộ dẫn đến lối vào. Nó làm theo kích thước người thật và tạc hình cô đang đội chiếc mũ che nắng với chiếc giỏ trên tay, y hệt như khi cô mới xuất hiện ở Xứ Sở Oz.

"Ôi, Toto — mày cũng có ở đây này!" cô kêu lên, và đúng là có bức tượng thiếc của Toto đang nằm dưới chân bức tượng Dorothy bằng thiếc.

Ngoài ra Dorothy còn thấy tượng của Bù Nhìn, Phù Sỹ, Ozma, và rất nhiều người khác, trong đó có cả Tik-tok. Họ đến cổng vào bằng thiếc nguy nga của lâu đài thiếc, và chính Người Thiếc chạy vụt ra khỏi cửa để ôm chầm lấy Dorothy bé bỏng và chào đón cô nồng nhiệt. Bác ấy cũng chào đón những người bạn của cô, và với Con Gái Cầu Vồng, bác tuyên bố đó là khung cảnh đáng yêu nhất mà đôi mắt bằng thiếc của bác từng thấy. Bác ân cần vỗ mái tóc xoăn của Button-Bright, vì bác rất quý trẻ con, rồi quay sang người đàn ông bờm xờm và bắt tay ông bằng cả hai tay cùng một lúc.

Nick Chopper — Hoàng đế xứ Winkies, người cũng được biết đến rộng rãi khắp Xứ Sở Oz với cái tên Người Thiếc — quả thực là một nhân vật vô cùng đặc biệt. Bác được làm gọn gàng hoàn toàn bằng thiếc, các mối nối hàn khéo léo, và các chi tiết chân tay được gắn bản lề thông minh vào cơ thể sao cho bác cử dụng chúng mượt mà chẳng khác gì thịt xương bình thường. Có lần, bác kể với người đàn ông bờm xờm, bác từng được cấu tạo hoàn toàn bằng da thịt và xương cốt giống như bao người khác, và khi ấy bác làm nghề đốn củi trong rừng để kiếm sống. Nhưng chiếc rìu cứ trượt liên tục và chặt đứt các phần cơ thể bác — thứ mà bác đã thay thế bằng thiếc — cho đến cuối cùng chẳng còn chút da thịt nào sót lại, chỉ toàn là thiếc; thế nên bác đã trở thành một người thiếc thực thụ. Phù Sỹ vĩ đại xứ Oz đã ban cho bác một trái tim xuất sắc để thay thế trái tim cũ, và bác hoàn toàn không bận tâm gì đến việc mình là người thiếc. Ai nấy đều yêu mến bác, và bác yêu mến tất cả mọi người; thế nên bác hạnh phúc rạng ngời suốt cả ngày dài.

Hoàng đế rất tự hào về lâu đài thiếc mới của mình, và dẫn các vị khách tham quan qua tất cả các căn phòng. Từng món đồ nội thất đều được làm bằng thiếc đánh bóng sáng loang — bàn, ghế, giường, và mọi thứ — thậm chí cả sàn nhà và tường nhà cũng bằng thiếc.

"Tôi đoán rằng," bác nói, "chẳng có người thợ thiếc nào thông minh hơn ở bất cứ đâu trên thế giới này ngoài người Winkies đâu. Sẽ thật khó để tìm được lâu đài nào sánh ngang thế này ở Kansas; phải vậy không, Dorothy bé bỏng?"

"Khó lắm ạ," cô bé nghiêm túc đáp.

"Chắc nó tốn khối tiền đấy nhỉ," người đàn ông bờm xờm nhận xét.

"Tiền! Tiền ở xứ Oz á!" Người Thiếc kêu lên. "Thật là một ý nghĩ kỳ quặc! Các anh cứ nghĩ chúng tôi thô thiển đến mức dùng tiền ở đây sao?"

"Sao lại không?" người đàn ông bờm xờm hỏi.

"Nếu chúng ta dùng tiền để mua đồ vật, thay vì dùng tình yêu, lòng tốt và khao khát làm vui lòng nhau, thì chúng ta chẳng khá hơn phần còn lại của thế giới là bao," Người Thiếc tuyên bố. "May thay tiền bạc hoàn toàn không hề tồn tại ở Xứ Sở Oz. Chúng ta chẳng có kẻ giàu, cũng chẳng có người nghèo; bởi vì bất cứ thứ gì một người muốn thì những người khác đều cố gắng dâng tặng cho anh ta, nhằm mang lại hạnh phúc cho anh ta, và chẳng có ai ở xứ Oz muốn sở hữu nhiều hơn mức mình có thể dùng."

"Tuyệt!" người đàn ông bờm xờm vui mừng khôn xiết khi nghe điều này, lên tiếng. "Tôi cũng căm ghét tiền bạc — một lão ở Butterfield đang nợ tôi mười lăm xu, và tôi nhất quyết không lấy tiền của lão. Xứ Sở Oz quả thực là vùng đất được ưu ái nhất trên đời, và con người nơi đây hạnh phúc nhất. Tôi muốn được sống ở đây mãi mãi."

Người Thiếc chăm chú lắng nghe với sự tôn trọng. Bác đã yêu mến người đàn ông bờm xờm từ trước, dẫu cho bác chưa biết gì về Nam Châm Tình Yêu. Thế nên bác bảo:

"Nếu anh chứng minh được với Công chúa Ozma rằng anh là người chân thành, trung thực và xứng đáng với tình bạn của chúng tôi, anh thực sự có thể sống ở đây suốt đời, và hạnh phúc hệt như chúng tôi."

"Tôi sẽ cố gắng chứng minh điều đó," người đàn ông bờm xờm kiên quyết nói.

"Và bây giờ," Hoàng đế tiếp tục, "tất cả các vị phải về phòng chuẩn bị cho bữa tối, sẽ được dọn lên trong phòng ăn lớn bằng thiếc chẳng chốc nữa đâu. Tôi lấy làm tiếc, Người Bờm Xờm, vì tôi không thể cung cấp cho anh bộ quần áo thay thế nào; bản thân tôi chỉ mặc toàn bằng thiếc, và tôi đoán điều đó không hợp với anh."

"Tôi chẳng bận tâm mấy đến chuyện quần áo," người đàn ông bờm xờm dửng dưng nói.

"Tôi thừa đoán được thế," Người Thiếc với phép lịch sự chân thành đáp.

Họ được dẫn đến phòng của mình và tự trang điểm tươm tất nhất có thể, rồi chẳng mấy chốc lại tụ tập đông đủ tại phòng ăn lớn bằng thiếc, kể cả Toto cũng có mặt. Bởi vì Hoàng đế rất quý chú chó nhỏ của Dorothy, và cô bé đã giải thích cho mấy người bạn rằng ở xứ Oz mọi loài động vật đều được đối xử trân trọng ngang ngửa con người — "nếu chúng biết điều," cô bồi thêm.

Toto rất biết điều, nó ngồi trên một chiếc ghế cao bằng thiếc cạnh Dorothy và ăn bữa tối từ một cái đĩa thiếc.

Quả thực tất cả đều ăn bằng đĩa thiếc, nhưng chúng mang hình dáng xinh xắn và được đánh bóng sáng loang; Dorothy nghĩ chúng chẳng thua kém gì bạc thật cả.

Button-Bright tò mò nhìn người đàn ông "chẳng có cảm giác thèm ăn nào trong người," bởi Người Thiếc, mặc dù chuẩn bị một bữa tiệc tuyệt hảo cho khách, lại chẳng mổ miếng nào vào miệng, cứ kiên nhẫn ngồi đúng vị trí để đảm bảo rằng những ai có thể ăn đều được phục vụ đầy đủ và no nê.

POLYCHROME UYỂN CHUYỂN NHÂY MÚA THEO ÂM NHẠC

Điều làm Button-Bright thích thú nhất trong bữa tối là ban nhạc thiếc tấu lên những khúc nhạc ngọt ngào trong lúc mọi người ăn uống. Các thành viên không phải là người thiếc, chỉ là những người Winkies bình thường; nhưng các loại nhạc cụ họ chơi đều bằng thiếc — kèn thiếc, đàn vi-ô-lông thiếc, trống thiếc, chũm chọe, sáo và kèn sừng bằng thiếc. Họ chơi bài "Điệu Valse Hoàng Đế Sáng Lóng Lánh" vô cùng hay — được sáng tác riêng để vinh danh Người Thiếc bởi giáo sư H. M. Wogglebug, T. E. — đến nỗi Polly không kìm được mà nhảy múa theo. Sau khi nhấm nháp vài giọt sương tươi được hái riêng cho cô, cô uyển chuyển nhảy múa theo giai điệu trong lúc những người khác hoàn tất bữa ăn; và khi cô xoay tròn đến mức tà áo mỏng manh mang màu sắc cầu vồng bao bọc cô hệt như một đám mây, Người Thiếc phấn khích đến nỗi vỗ đôi tay thiếc râm ran át cả tiếng chũm chọe.

Nói chung đây là một bữa ăn vô cùng vui vẻ, dẫu cho Polychrome ăn rất ít còn chủ nhà thì không miếng nào.

"Tôi tiếc vì Con Gái Cầu Vồng đã bỏ lỡ món bánh sương mù," Người Thiếc nói với Dorothy; "nhưng do sơ suất, bánh sương mù của tiểu thư Polly đã bị cất nhầm và giờ mới tìm thấy. Tôi sẽ cố chuẩn bị vài cái cho bữa sáng của cô ấy."

Họ dành buổi tối để kể chuyện, và sáng hôm sau rời khỏi lâu đài thiếc lộng lẫy để tiếp tục lên đường đến Thành Phố Ngọc Lục Bảo. Người Thiếc đi cùng họ, dĩ nhiên rồi, lúc này đã được đánh bóng sáng choang đến mức lấp lánh như bạc. Chiếc rìu của bác — luôn mang theo bên mình — có lưỡi bằng thép mạ thiếc và phần cán được bọc một lớp thiếc chạm trổ tinh xảo nạm kim cương.

Người Winkies tụ tập trước cổng lâu đài tung hô Hoàng đế khi bác cất bước lên đường, và dễ dàng nhận ra tất cả bọn họ đều yêu mến bác vô cùng.

Dorothy để Button-Bright lên dây cót bộ máy cơ khí cho gã người đồng vào sáng nay — bộ máy suy nghĩ trước, rồi đến lời nói, và cuối cùng là hành động; thế nên gã chắc chắn sẽ hoạt động cực kỳ mượt mà cho đến khi họ đến được Thành Phố Ngọc Lục Bảo. Gã người đồng và người thiếc là những người bạn tốt và không hề giống nhau như các bạn tưởng. Một người là người sống còn người kia di chuyển bằng cơ chế máy móc; một người cao góc cạnh còn một người thấp và tròn trịa. Các bạn có thể yêu quý Người Thiếc bởi bác có một bản tính tuyệt vời, nhân hậu và giản dị; nhưng với gã người máy thì các bạn chỉ có thể ngưỡng mộ mà không thể yêu nổi, vì yêu một thứ như thế cũng bất khả thi hệt như yêu một chiếc máy khâu hay ô tô vậy. Tuy nhiên Tik-tok vẫn rất được lòng người dân xứ Oz bởi gã vô cùng đáng tin cậy, chắc chắn và trung thành; gã chắc chắn sẽ làm chính xác những gì gã được lên dây cót để làm, vào mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh. Có lẽ việc trở thành một cỗ máy làm tròn bổn phận còn tốt hơn là một con người bằng da bằng thịt nhưng lại vô lại, bởi vì một sự thật chết vẫn tốt hơn một lời nói dối đang sống.

Khoảng trưa, các lữ khách đến một cánh đồng bí ngô lớn — một loại rau củ vô cùng phù hợp với xứ sở màu vàng của người Winkies — và một vài quả bí ngô mọc ở đó có kích thước đáng kinh ngạc. Ngay trước khi bước vào cánh đồng này, họ thấy ba ngôi mộ nhỏ trông giống như ba ngôi mộ có gắn một tấm bia mộ xinh xắn cho mỗi ngôi.

"Cái gì thế này?" Dorothy ngạc nhiên hỏi.

"Khu nghĩa địa riêng của Jack Pumpkinhead," Người Thiếc đáp.

"Nhưng em cứ nghĩ ở xứ Oz chẳng ai chết bao giờ cơ mà," cô nói.

"Đúng thế; dẫu cho nếu ai đó tồi tệ, hắn có thể bị kết án và xử tử bởi những công dân tốt bụng," bác đáp.

Dorothy chạy đến bên những ngôi mộ nhỏ và đọc những dòng chữ khắc trên bia mộ. Bia mộ đầu tiên ghi:

Nơi Nằm Của Phần Xác Thị

JACK PUMPKINHEAD

Hỏng Ngày 9 Tháng 4.

Cô tiếp tục sang tấm bia kế tiếp, ghi:

Nơi Nằm Của Phần Xác Thị

JACK PUMPKINHEAD

Hỏng Ngày 2 Tháng 10.

Trên bia mộ thứ ba khắc những dòng chữ sau:

Nơi Nằm Của Phần Xác Thị

JACK PUMPKINHEAD

Hỏng Ngày 24 Tháng 1.

"Jack tội nghiệp!" Dorothy thở dài. "Tớ rất tiếc vì bác ấy phải chết thành ba phần, vì tớ rất hy vọng được gặp lại bác ấy."

"Cháu sẽ gặp thôi," Người Thiếc tuyên bố, "vì bác ấy vẫn còn sống. Hãy đến nhà bác ấy với anh, vì Jack bây giờ là một nông dân và sống ngay trong cánh đồng bí ngô này."

Họ đi đến một quả bí ngô rỗng khổng lồ được trổ cửa ra vào và cửa sổ xuyên qua lớp vỏ cứng. Có một ống khói xuyên qua phần cuống, và sáu bậc thang được xây dẫn lên cửa trước.

Họ bước tới cánh cửa này và ngó vào trong. Ngồi trên chiếc ghế băng là một gã mặc chiếc áo sơ mi đốm, áo lê-gít đỏ và quần dài xanh phai màu, cơ thể chỉ toàn là những khúc gỗ được khớp nối vụng về với nhau. Trên cổ gã gắn một quả bí ngô tròn màu vàng, với gương mặt được khắc lên hệt như mấy đứa trẻ hay khắc trên lồng đèn bí ngô.

Gã kỳ quặc này đang bận rộn búng những hạt bí ngô trơn tuột bằng mấy ngón tay bằng gỗ, cố bắn trúng một cái mục ở đầu bên kia căn phòng. Gã không hề biết có khách ghé thăm cho đến khi Dorothy thốt lên:

"Ơ kìa, chính là Jack Pumpkinhead đây mà!"

Gã quay lại nhìn họ, và lập tức tiến đến chào mừng cô bé Kansas cùng Nick Chopper, đồng thời được giới thiệu với những người bạn mới.

Button-Bright thoạt đầu hơi rụt rè trước gã Pumpkinhead kỳ lạ này, nhưng khuôn mặt của Jack lúc nào cũng vui vẻ và mỉm cười — do được khắc như thế — nên cậu bé chẳng mấy chốc đã quý mến gã.

"Tớ cứ nghĩ lúc nãy cậu bị chôn thành ba mảnh chứ," Dorothy nói; "nhưng bây giờ tớ thấy cậu vẫn y hệt như xưa."

"Không hẳn y hệt đâu cưng, vì cái miệng của tớ lệch hơn trước một chút rồi; nhưng nhìn chung thì gần như thế. Tớ có cái đầu mới, và đây là cái đầu thứ tư tớ sở hữu kể từ khi Ozma tạo ra tớ và đem tớ đến với sự sống bằng cách rắc Bột Sự Thật lên người."

"Những cái đầu trước đi đâu rồi, Jack?"

"Chúng hỏng và tớ đem chôn, vì chúng chẳng dùng làm bánh nướng nổi. Mỗi lần như thế Ozma lại tạc cho tớ một cái đầu mới y hệt cái cũ, và vì cơ thể tớ chiếm phần lớn nhất nên tớ vẫn là Jack Pumpkinhead, dù tớ có thay đổi phần phía trên bao nhiêu lần đi nữa. Có lần chúng ta trải qua một phen khốn đốn khi phải tìm một quả bí ngô khác, vì lúc đó không phải mùa vụ, thế nên tớ buộc phải mang cái đầu cũ lâu hơn bình thường một chút. Nhưng sau trải nghiệm buồn nôn đó tớ quyết định tự trồng bí ngô luôn, để không bao giờ bị rơi vào cảnh túng thiếu không có quả nào sẵn sàng; và bây giờ tớ có cánh đồng tuyệt vời này mà các cậu đang thấy đây. Vài quả mọc khá to — to đến mức không dùng làm đầu được — thế nên tớ khoét rỗng quả này để làm nhà."

"Nó có ẩm không?" Dorothy hỏi.

"Không ẩm lắm. Cậu thấy đấy, chẳng còn lại gì nhiều ngoài lớp vỏ, và nó sẽ dùng được lâu dài lắm đấy."

"Tớ nghĩ cậu thông minh hơn trước rồi đấy, Jack," Người Thiếc nói. "Cái đầu trước của cậu ngốc lắm."

"Những hạt giống trong cái này tốt hơn," câu trả lời là vậy.

"Cậu có đi dự tiệc của Ozma không?" Dorothy hỏi.

"Có," Jack nói; "tớ không đời nào bỏ lỡ nó đâu. Ozma là mẹ của tớ mà, các cậu biết đấy, vì ngài ấy đã tạo ra cơ thể tớ và tạc cái đầu bí ngô này. Tớ sẽ đuổi theo các cậu đến Thành Phố Ngọc Lục Bảo vào ngày mai, ở đó chúng ta sẽ gặp lại nhau. Tớ không đi hôm nay được, vì tớ phải gieo hạt bí ngô tươi và tưới nước cho mấy giàn dây leo non. Nhưng gửi lời yêu thương của tớ đến Ozma, và bảo ngài ấy tớ sẽ đến kịp lúc để tham dự lễ hội nhé."

"Tớ sẽ chuyển lời," cô hứa; và rồi tất cả rời khỏi gã để tiếp tục cuộc hành trình.

NHỮNG ngôi nhà màu vàng ngăn nắp của người Winkies lúc này đã xuất hiện rải rác dọc theo đường đi, mang lại cho vùng quê một vẻ ngoài tươi vui và văn minh hơn. Tuy nhiên đó là những ngôi nhà trang trại và nằm cách xa nhau; bởi vì ở Xứ Sở Thần Tiên Oz chẳng có thị trấn hay ngôi làng nào ngoại trừ Thành Phố Ngọc Lục Bảo tráng lệ nằm ở chính giữa.

Những hàng rào cây xanh hoặc hoa hồng vàng viền quanh con đường lớn và các trang trại thể hiện sự chăm chút của cư dân cần cù nơi đây. Càng tiến lại gần thành phố lớn, vùng quê càng trở nên trù phú hơn, họ băng qua rất nhiều cây cầu bắc qua những con suối và khe rạch lấp lánh tưới mát cho các vùng đất.

Trong lúc thong thả bước đi, người đàn ông bờm xờm nói với Người Thiếc:

"Đó là loại Bột Ma Thuật gì thế, thứ đã làm cho người bạn Pumpkinhead của anh sống dậy?"

"Nó được gọi là Bột Sự Thật," câu trả lời là vậy; "và nó được phát minh bởi một Phù Sỹ xảo quyệt sống ở những ngọn núi phía Bắc. Một mụ Phù Thủy tên là Mombi lấy được chút bột này từ Phù Sỹ xảo quyệt và mang về nhà. Ozma sống với mụ Phù Thủy khi đó, vì lúc đó ngài chưa trở thành Công chúa của chúng ta, còn Mombi đã biến ngài thành hình hài một cậu bé. Số là, trong lúc Mombi đi vắng đến nhà Phù Sỹ xảo quyệt, cậu bé đã làm ra gã người đầu bí ngô này để giải trí, và cũng với hy vọng hù dọa mụ Phù Thủy khi mụ trở về. Nhưng Mombi chẳng sợ tẹo nào, và mụ rắc Bột Sự Thật Ma Thuật lên người Pumpkinhead để xem bột có tác dụng không. Ozma chứng kiến và thấy Pumpkinhead sống dậy; thế nên đêm đó ngài chôm hộp đựng bột và chạy trốn cùng nó và Jack để tìm kiếm những cuộc phiêu lưu."

"Ngày hôm sau họ tìm thấy một con Ngựa Gỗ Đứng dọc vệ đường, và rắc Bột lên nó. Nó sống dậy ngay lập tức, và Jack Pumpkinhead cưỡi Ngựa Gỗ đến Thành Phố Ngọc Lục Bảo."

"Sau đó con Ngựa Gỗ ra sao rồi?" người đàn ông bờm xờm tò mò hỏi về câu chuyện này.

"À, nó vẫn còn sống, và anh có lẽ sẽ gặp lại nó chốc nữa trong Thành Phố Ngọc Lục Bảo thôi. Sau đó Ozma dùng phần Bột Sự Thật cuối cùng để đem Con Gù Bay đến với sự sống; nhưng ngay khi nó đưa ngài trốn thoát khỏi kẻ thù, con Gù đã bị tháo rời các bộ phận, thế nên nó không còn tồn tại nữa."

"Tiếc thật vì Bột Sự Thật đã bị dùng hết sạch," người đàn ông bờm xờm nhận xét; "nó sẽ là một thứ cực kỳ tiện lợi để mang theo bên mình đấy."

"Tôi không chắc về điều đó đâu thưa anh," Người Thiếc đáp. "Hồi trước cái lão Phù Sỹ xảo quyệt phát minh ra Bột Ma Thuật đã ngã vực tử nạn. Tất cả tài sản của lão thuộc về một người họ hàng — một bà già tên là Dyna, sống ở Thành Phố Ngọc Lục Bảo. Bà ta đến những ngọn núi nơi lão Phù Sỹ từng sống và mang đi mọi thứ bà ta cho là có giá trị. Trong số đó có một lọ nhỏ Bột Sự Thật; nhưng đương nhiên Dyna đâu biết đó là Bột Ma Thuật. Số là bà ta từng nuôi một con gấu xanh lớn làm vật cưng; nhưng con gấu bị hóc xương cá chết ngóm một hôm, và vì quá yêu nó nên Dyna đã làm một chiếc thảm từ bộ da của nó, chừa lại cái đầu và bốn chân trên tấm da. Bà đặt tấm thảm đó trên sàn phòng khách nhà mình."

"Tôi từng thấy những tấm thảm kiểu đó rồi," người đàn ông bờm xờm gật đầu, "nhưng chưa bao giờ thấy cái nào làm từ gấu xanh cả."

"Thế đấy," Người Thiếc tiếp tục, "bà già có ý nghĩ rằng loại bột trong chiếc lọ chắc chắn là thuốc diệt bướm, vì nó có mùi khai khai giống thuốc diệt bướm; thế nên một hôm bà rắc nó lên tấm thảm gấu để chống mọt. Bà vừa trìu mến nhìn bộ da vừa nói: 'Ước gì con gấu cưng của tao sống lại!' Đến sự kinh hoàng của bà, tấm thảm gấu ngay lập tức sống dậy do được rắc Bột Ma Thuật; và bây giờ tấm thảm gấu sống này trở thành một nỗi thống khổ lớn với bà, gây cho bà vô số rắc rối."

"Sao lại thế?" người đàn ông bờm xờm hỏi.

"Thì đấy, nó đứng trên bốn chân và đi lung tung khắp nơi, ngáng đường ngáng lối; thế là hỏng luôn chức năng làm thảm. Nó không nói được, dẫu cho nó còn sống; vì dẫu cái đầu có thể thốt ra từ ngữ, nó lại chẳng có hơi thở trong một cơ thể rỗng để đẩy từ ngữ ra khỏi miệng. Tấm thảm gấu đó chỉ là một thứ dở ông dở thằng, và bà già rất hối hận vì nó đã sống lại. Ngày nào bà cũng phải mắng mỏi mồm, bắt nó nằm bẹp dí trên sàn phòng khách để người ta giẫm lên; nhưng thỉnh thoảng khi bà đi chợ thì tấm thảm lại cong lưng lên, đứng trên bốn chân và lộc cộc chạy theo sau."

"Tôi nghĩ Dyna sẽ thích điều đó chứ," Dorothy nói.

"Chà, không đâu; vì ai cũng biết đó không phải con gấu thật, mà chỉ là một bộ da rỗng, nên chẳng có tác dụng thực tế nào trên đời ngoài làm thảm," Người Thiếc đáp. "Do đó tôi tin rằng việc tất cả Bột Sự Thật Ma Thuật bị dùng cạn sạch là một điều hay, vì nó sẽ không gây ra thêm rắc rối nào nữa."

"Có lẽ anh nói đúng," người đàn ông bờm xờm trầm ngâm đáp.

ĐẾN trưa, họ ghé vào một trang trại, nơi người nông dân và vợ ông rất vui mừng vì có thể thết đãi họ một bữa trưa ngon miệng. Người nhà nông biết Dorothy, từng gặp cô khi cô đến đất nước này trước đây, và họ đối xử với cô bé đầy tôn trọng hệt như đối với Hoàng đế, bởi cô là bạn của Công chúa Ozma quyền năng.

Họ đi chưa được bao lâu sau khi rời khỏi trang trại thì tới một cây cầu cao bắc qua một con sông rộng. Con sông này, theo lời Người Thiếc, chính là ranh giới giữa Xứ Sở Winkies và lãnh địa của Thành Phố Ngọc Lục Bảo. Bản thân thành phố vẫn còn cách khá xa, nhưng xung quanh nó là một đồng cỏ xanh mướt, đẹp đẽ hệt như một bãi cỏ được cắt tỉa cẩn thận, và ở đó hoàn toàn không có nhà cửa hay trang trại nào làm hỏng vẻ đẹp của khung cảnh.

Từ trên đỉnh cây cầu cao, họ có thể phóng tầm mắt nhìn xa xa những ngọn tháp tráng lệ và mái vòm lộng lẫy của thành phố tuyệt vời, lấp lánh như những viên ngọc quý khi chúng vươn cao vượt qua những bức tường ngọc lục bảo. Người đàn ông bờm xờm thở dài kinh ngạc và thán phục, vì chưa từng bao giờ ông dám mơ rằng một nơi hoành tráng và đẹp đẽ như thế lại có thể tồn tại — ngay cả trong xứ sở thần tiên Oz.

Polly thích thú đến mức đôi mắt màu hoa cà lấp lánh như thạch anh tím, cô nhảy múa rời khỏi nhóm bạn băng qua cầu và rẽ vào một lùm cây rặng tiêu mọc dọc hai bên đường. Cô dừng lại ngắm nghỉa những cái cây này với sự thích thú và ngạc nhiên, bởi lá của chúng có hình dáng hệt như lông đà điểu, phần rìa lông uốn cong đẹp đẽ; và tất cả những chiếc lông đều được nhuộm cùng một sắc thái cầu vồng tinh tế xuất hiện trên chính chiếc xiêm y voan xinh đẹp của Polychrome.

"Cha mà thấy mấy cái cây này thì thế nào cũng thích," cô thì thầm; "chúng suýt soát đẹp chẳng kém gì cầu vồng của người."

Rồi cô giật mình hoảng hốt, bởi từ dưới tán cây bất ngờ xuất hiện hai con dã thú khổng lồ, con nào cũng đủ sức nghiền nát Con Gái Cầu Vồng bé nhỏ chỉ bằng một cú tát từ móng vuốt hoặc nuốt chửng cô bằng một cú táp từ cái hàm khổng lồ. Một con là sư tử hung dữ, cao gần bằng ngựa; con kia là hổ vằn gần như cùng kích thước.

Polly quá hoảng sợ đến mức chẳng thể thét lên hay nhúc nhích; cô đứng chôn chân với trái tim đập loạn nhịp cho đến khi Dorothy lao vút qua cô và với một tiếng kêu vui sướng vòng tay ôm chầm lấy cổ con sư tử khổng lồ, ôm ấp và hôn hít con dã thú với niềm vui rạng rỡ.

"Ôi, tớ mừng quá khi gặp lại cậu!" cô bé người Kansas kêu lên. "Cả Hổ Đói nữa chứ! Trông hai cậu oai ghê. Cả hai vẫn khỏe và vui vẻ chứ?"

DOROTHY ÔM CHẦM LẤY CỔ CON SƯ TỬ

"Tụi tớ khỏe lắm chứ, Dorothy," con Sư Tử đáp bằng một giọng trầm vang nghe rất dễ mến và hiền lành; "và tụi tớ vô cùng vui mừng vì cậu đã đến dự tiệc của Ozma. Sẽ là một sự kiện hoành tráng lắm đấy, tớ hứa với cậu."

"Tớ nghe nói trong lễ hội sẽ có rất nhiều trẻ em mập mạp," Hổ Đói vừa ngáp vừa cất lời, cái miệng há rộng ngoác đến mức đáng sợ để lộ toàn bộ hàm răng to và sắc nhọn; "nhưng tất nhiên tớ chẳng ăn thịt đứa nào được rồi."

"Lương tâm của cậu vẫn hoạt động tốt chứ?" Dorothy lo lắng hỏi.

"Ừ; nó cai trị tớ hệt như một bạo chúa," Hổ Đói buồn rầu đáp. "Tớ chẳng thể tưởng tượng nổi có điều gì khó chịu hơn việc sở hữu một Lương Tâm cả," rồi nó nháy mắt tinh ranh với người bạn Sư Tử.

"Cậu đang xỏ xiên tớ đấy à!" Dorothy bật cười nói. "Tớ không tin cậu sẽ ăn thịt một đứa trẻ ngay cả khi cậu mất Lương Tâm đâu. Lại đây nào Polly," cô gọi lớn, "làm quen với bạn của tớ nhé."

Polly rụt rè bước tới.

"Cậu có những người bạn kỳ lạ thật đấy, Dorothy," cô nói.

"Kỳ lạ thế nào cũng được, miễn là họ tốt," câu trả lời là vậy. "Đây là Sư Tử Hèn Nhát, thực ra chẳng hèn nhát tẹo nào mà chỉ tự nghĩ thế thôi. Phù Sỹ từng ban cho nó chút dũng khí, và nó vẫn giữ lại một ít."

Sư Tử cúi đầu vô cùng cung kính trước Polly.

"Em thật đáng yêu, cưng ạ," nó nói. "Anh hy vọng chúng ta sẽ thành bạn khi quen nhau hơn."

"Và đây là Hổ Đói," Dorothy tiếp tục. "Nó bảo nó khao khát được ăn thịt trẻ em mập mạp; nhưng sự thật là nó chẳng bao giờ đói cả, vì nó được ăn uống đầy đủ; và tớ đoán nó sẽ chẳng làm hại ai ngay cả khi nó đói."

"Thôi nào Dorothy," Hổ Đói thì thầm; "cậu sẽ làm tiêu tan danh tiếng của tớ đấy nếu cậu không kín miệng hơn. Đâu phải lúc nào con người ta cũng là chính mình, mà quan trọng là người đời nghĩ gì về ta. Mà nghĩ lại thì tiểu thư Polly sẽ là một bữa sáng nhuộm màu tuyệt cú mèo đấy, tớ cá là thế."

Những người khác lúc này đã tới nơi, và Người Thiếc chào hỏi Sư Tử cùng Hổ Đói rất nồng nhiệt. Button-Bright hét lên vì sợ hãi khi Dorothy lần đầu nắm tay cậu kéo đến gần hai con dã thú khủng lồ; nhưng cô bé khăng khăng bảo chúng rất hiền lành và tốt bụng, thế nên cậu bé đã lấy hết can đảm để vỗ đầu chúng; sau khi chúng nói năng dịu dàng với cậu và cậu nhìn vào đôi mắt thông minh của chúng, nỗi sợ hãi hoàn toàn biến mất và cậu vô cùng thích thú với đám thú đến mức cứ muốn bám sát sạt bên cạnh chúng và vuốt ve bộ lông mềm mại của chúng suốt.

Về phần người đàn ông bờm xờm, ông có lẽ đã sợ hãi nếu gặp mấy con thú một mình, hoặc ở bất kỳ xứ sở nào khác; nhưng xứ Oz có quá nhiều điều kỳ diệu đến mức ông chẳng còn dễ ngạc nhiên nữa, và tình bạn của Dorothy với Sư Tử và Hổ là đủ để đảm bảo rằng họ là những bạn đồng hành an toàn. Toto sủa Sư Tử Hèn Nhát với niềm vui sướng mừng rỡ, vì nó quen biết con thú này từ lâu và rất quý nó, thật buồn cười khi thấy Sư Tử dịu dàng giơ móng vuốt khổng lồ vỗ đầu Toto thế nào. Con chó nhỏ ngửi mũi Hổ Đói và Hổ lịch sự bắt tay với nó; thế nên họ rất có thể trở thành những người bạn chí cốt.

Tik-tok và Billina quen thuộc với mấy con thú này từ trước, nên chỉ chào hỏi xã giao, hỏi thăm sức khỏe và hỏi về Công chúa Ozma.

Lúc này người ta thấy Sư Tử Hèn Nhát và Hổ Đói đang kéo theo một cỗ xe hoàng gia bằng vàng rực rỡ, được cột vào nhau bằng những dây cáp vàng. Thân xe được trang trí bên ngoài bằng những họa tiết kết từ các cụm ngọc lục bảo lấp lánh, trong khi bên trong được lót lụa vàng xanh, còn đệm ghế bọc nhung xanh thêu vàng hình vương miện, phía dưới là chữ lồng.

"Ơ kìa, cỗ xe hoàng gia của chính Ozma đây mà!" Dorothy thốt lên.

"Đúng thế," Sư Tử Hèn Nhát nói; "Ozma cử chúng tôi ra đây đón các cậu, vì ngài sợ các cậu mệt mỏi với quãng đường dài và ngài muốn các cậu bước vào Thành Phố với một phong thái xứng đáng với địa vị cao quý của mình."

"Cái gì!" Polly tò mò nhìn Dorothy. "Cậu thuộc giới quý tộc à?"

"Chỉ ở xứ Oz thôi," cô bé nói. "Nhưng khi về nhà ở Kansas tớ chỉ là một cô bé nhà quê, phải giúp bơ và rửa bát trong lúc Dì Em rửa cùng. Cậu có phải rửa bát trên cầu vồng không Polly?"

"Không cậu ạ," Polychrome mỉm cười đáp.

"Thế thì tớ cũng chẳng phải làm việc gì ở xứ Oz cả," Dorothy nói. "Làm công chúa đôi khi cũng vui phết chứ bộ; cậu có nghĩ thế không?"

"Dorothy, Polychrome và Button-Bright đều sẽ ngồi trên xe," Sư Tử nói. "Nên lên xe đi các cưng, và cẩn thận đừng làm xước vàng hay để đôi chân bụi bặm dính lên đồ thêu đấy nhé."

Button-Bright vô cùng thích thú khi được ngồi sau cỗ đội tuyệt hảo này, và cậu bảo Dorothy nó làm cậu cảm thấy mình giống như một diễn viên xiếc. Khi những sải bước của bầy thú đưa họ đến gần Thành Phố Ngọc Lục Bảo hơn, mọi người đều cúi đầu tôn kính trước bọn trẻ, cũng như trước Người Thiếc, Tik-tok và người đàn ông bờm xờm đi theo sau.

Con Gái Cầu Vồng đậu trên lưng xe, nơi cô có thể kể cho Dorothy nghe thêm về những chú gà con tuyệt vời của mình trong lúc ngồi xe. Và thế là cỗ xe hoàng gia cuối cùng cũng đến được bức tường cao bao quanh Thành Phố, dừng lại trước những cánh cổng khổng lồ nạm ngọc.

Cánh cổng được mở bởi một người đàn ông lùn vui tính đeo kính xanh trên mắt. Dorothy giới thiệu ông với những bạn bè là Người Gác Cổng, và họ nhận thấy một chùm chìa khóa lớn được cột trên sợi dây vàng đeo quanh cổ ông. Cỗ xe đi qua cổng ngoài vào một khoảnh sân vòm rộng được xây trong bức tường dày, và qua cổng trong vào các con đường của Thành Phố Ngọc Lục Bảo.

Polychrome thốt lên đầy say đắm trước vẻ đẹp kỳ diệu đập vào mắt từ mọi phía khi họ đi qua Thành Phố uy nghi và trang nghiêm này, thứ mà chưa từng có nơi nào sánh kịp, ngay cả trong Xứ Sở Thần Tiên. Button-Bright chỉ có thể thốt lên "Trời!" trước khung cảnh ngoạn mục; nhưng đôi mắt cậu mở trố to và cậu cố nhìn về mọi hướng cùng lúc, để không bỏ lỡ bất cứ thứ gì.

Người đàn ông bờm xờm vô cùng sửng sốt trước những gì ông thấy, vì những tòa nhà uy nghi và đẹp đẽ đều được ốp các tấm vàng và nạm những viên ngọc lục bảo lấp lánh và có giá trị đến mức ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới, bất kỳ viên nào cũng đáng giá cả một gia tài cho chủ nhân của nó. Vỉa hè là những phiến đá cẩm thạch tuyệt đẹp được đánh bóng nhẵn như gương, và lề đường ngăn cách vỉa hè với con đường rộng cũng được nạm dày đặc ngọc lục bảo kết chùm. Có rất nhiều người trên vỉa hè — đàn ông, phụ nữ và trẻ em — tất cả đều ăn mặc sang trọng bằng lụa, sa-tanh hoặc nhung, đeo những món trang sức đẹp đẽ. Thậm chí tuyệt vời hơn thế: tất cả đều trông hạnh phúc và mãn nguyện, vì khuôn mặt họ rạng rỡ nụ cười và không bận tâm lo lắng, tiếng nhạc cùng tiếng cười vang lên từ mọi phía.

"Họ không phải làm việc gì à?" người đàn ông bờm xờm hỏi.

"Đương nhiên là phải làm chứ," Người Thiếc đáp; "thành phố tuyệt diệu này không thể được xây dựng hay chăm sóc nếu không có sức lao động, cũng như rau củ và thức ăn không tự nhiên sinh ra để cư dân ăn. Nhưng chẳng ai phải làm việc quá nửa thời gian của mình, và người dân xứ Oz tận hưởng thành quả lao động của họ hệt như lúc chơi đùa."

"Thật tuyệt diệu!" người đàn ông bờm xờm tuyên bố. "Tôi rất hy vọng Ozma sẽ cho phép tôi sống ở đây."

Cỗ xe, lượn lờ qua rất nhiều con đường quyến rũ, dừng lại trước một tòa nhà to lớn, cao quý và thanh lịch đến mức ngay cả Button-Bright cũng đoán ngay ra đó là Cung Điện Hoàng Gia. Vườn hoa và khuôn viên rộng rãi của nó được bao quanh bởi một bức tường riêng, không cao hay dày như bức tường quanh Thành Phố, nhưng được thiết kế tinh tế hơn và xây hoàn toàn bằng cẩm thạch xanh. Cánh cổng bật mở khi cỗ xe xuất hiện trước mặt, và Sư Tử Hèn Nhát cùng Hổ Đói phi nước kiệu lên lối đi nạm ngọc dẫn đến cửa chính cung điện rồi khựng lại.

"Đến nơi rồi!" Dorothy rạng rỡ nói và giúp Button-Bright xuống xe. Polychrome lanh lẹ nhảy theo sau, và họ được chào đón bởi một đám đông người hầu ăn mặc lộng lẫy, cúi đầu chào sâu khi các vị khách bước lên bậc thềm cẩm thạch. Dẫn đầu là một cô hầu gái nhỏ nhắn với mái tóc và đôi mắt sẫm màu, mặc bộ đồ xanh lá cây thêu bạc. Dorothy chạy vụt đến với niềm vui rạng rỡ, và thốt lên:

"Ôi Jellia Jamb! Tớ mừng quá khi gặp lại cậu. Ozma đâu rồi?"

"Trong phòng của ngài ấy thưa Điện Hạ," cô hầu gái điềm đạm đáp, vì đây là người hầu cận cưng của Ozma. "Ngài ấy muốn gặp ngài ngay khi các ngài nghỉ ngơi và thay trang phục xong xuôi, Công chúa Dorothy ạ. Và ngài cùng các bạn sẽ ăn tối với ngài ấy tối nay."

"Sinh nhật Ozma khi nào thế Jellia?" cô bé hỏi.

"Ngày mai thưa Điện Hạ."

"Và Bù Nhìn đâu rồi?"

"Bác ấy vào Xứ Sở Munchkin để lấy rơm tươi nhồi người cho dịp lễ kỷ niệm của Ozma," cô hầu gái đáp. "Bác ấy sẽ quay lại Thành Phố Ngọc Lục Bảo vào ngày mai, bác ấy bảo thế."

Đến lúc này Tik-tok, Người Thiếc và người đàn ông bờm xờm đã tới nơi và cỗ xe chạy vòng ra phía sau cung điện, Billina đi cùng Sư Tử và Hổ để thăm mấy chú gà con sau chuyến đi xa. Nhưng Toto ở sát rịt bên Dorothy.

"Ô, JELLIA JAMB! TỚ MỪNG QUÁ KHI GẶP LẠI CẬU"

"Xin mời vào," Jellia Jamb nói; "đó sẽ là vinh hạnh của chúng tôi khi hộ tống tất cả các vị đến những căn phòng đã được chuẩn bị sẵn."

Người đàn ông bờm xờm chần chừ. Dorothy chưa bao giờ thấy ông tự ti về vẻ ngoài bờm xờm của mình trước đây, nhưng giờ khi bị bao quanh bởi quá nhiều sự tráng lệ và huy hoàng, ông cảm thấy mình thật lạc lõng.

Dorothy trấn an rằng tất cả bạn bè của cô đều được chào đón ở cung điện của Ozma, thế nên ông cẩn thận phủi sạch giày bờm xờm bằng chiếc khăn tay bờm xờm rồi bước vào sảnh lớn sau những người khác.

Tik-tok sống ở Cung Điện Hoàng Gia và Người Thiếc luôn có sẵn căn phòng y hệt mỗi khi ghé thăm Ozma, thế nên hai người này đi thẳng đến để phủi sạch bụi đường bám trên cơ thể sáng lấp lánh. Dorothy cũng có một dãy phòng xinh xắn luôn thuộc về cô mỗi khi ở Thành Phố Ngọc Lục Bảo; nhưng vài người hầu lịch sự đi trước dẫn đường, dẫu cô chắc chắn mình tìm được phòng. Cô đưa Button-Bright đi cùng, vì cậu bé trông quá nhỏ để ở một mình trong cung điện lớn; nhưng chính Jellia Jamb hộ tống Con Gái Cầu Vồng kiều diễm đến căn hộ của cô, vì dễ thấy Polychrome quen thuộc với những cung điện lộng lẫy và xứng đáng được quan tâm đặc biệt.

NGƯỜI đàn ông bờm xờm đứng trong sảnh lớn, tay cầm chiếc mũ bờm xờm, tự hỏi không biết điều gì sẽ đợi mình tiếp theo. Ông chưa bao giờ làm khách ở một cung điện sang trọng trước đây; có lẽ ông chưa từng làm khách ở bất cứ đâu. Ngoài thế giới lạnh lẽo, rộng lớn kia, người ta không mời những gã bờm xờm vào nhà, và người đàn ông bờm xờm này từng ngủ trong kho thóc và chuồng ngựa nhiều hơn là những căn phòng thoải mái. Khi những người khác rời khỏi sảnh lớn, ông nhìn đám người hầu ăn mặc sang trọng của Công chúa Ozma hệt như thể ông chuẩn bị bị đuổi cổ; nhưng một trong số họ cúi đầu trước ông tôn kính hệt như thể ông là một vị hoàng tử, và nói:

"Xin mời ngài, thưa ngài, để tôi hộ tống ngài về phòng."

Người đàn ông bờm xờm thở dài và lấy lại can đảm.

"Được thôi," ông đáp; "tôi sẵn sàng rồi."

Họ đi qua sảnh lớn, lên chiếc cầu thang lớn trải thảm nhung dày, rồi đi dọc hành lang rộng đến một cánh cửa chạm trổ. Ở đây người hầu dừng lại, mở cửa và nói bằng giọng đầy cung kính:

"Xin mời ngài bước vào, và tự nhiên như ở nhà trong những căn phòng mà Ozma Hoàng Gia của chúng tôi đã chuẩn bị sẵn cho ngài nhé. Bất cứ thứ gì ngài thấy đều để dùng và tận hưởng, như thể của riêng ngài vậy. Công chúa sẽ dùng bữa tối lúc bảy giờ, và tôi sẽ quay lại đây đúng giờ để dẫn ngài đến phòng khách, nơi ngài sẽ có vinh dự diện kiến Nữ Rồng xứ Oz kiều diễm. Trong lúc này ngài có cần sai bảo điều gì không?"

"Không," người đàn ông bờm xờm đáp; "nhưng tôi cảm ơn nhiều nhé."

Ông bước vào phòng và đóng cửa lại, ngẩn ngơ đứng một lúc ngắm nghía sự tráng lệ trước mắt.

Ông được xếp ở một trong những căn hộ sang trọng nhất của cung điện lộng lẫy nhất thế giới, và các bạn không lạ gì khi sự may mắn đó làm ông ngạc nhiên và kính sợ cho đến khi ông quen dần với khung cảnh xung quanh.

Nội thất bọc lụa vàng, thêu hình vương miện hoàng gia bằng chỉ đỏ. Tấm thảm trên sàn cẩm thạch dày và mềm đến mức ông không nghe thấy tiếng bước chân của chính mình, trên tường treo những bức thảm dệt lộng lẫy mô tả cảnh sắc Xứ Sở Oz. Sách vở và đồ trang trí bày la liệt, và người đàn ông bờm xờm nghĩ chưa từng thấy nhiều thứ xinh xắn thế ở cùng một nơi bao giờ. Ở một góc là đài phun nước hoa thơm róc rách, ở góc khác là chiếc bàn đặt khay vàng chất đầy trái cây tươi, trong đó có cả mấy quả táo đỏ hồng mà người đàn ông bờm xờm yêu thích.

Ở cuối căn phòng quyến rũ này là một lối mở, ông bước qua đó và thấy mình đang ở trong phòng ngủ chứa nhiều tiện nghi hơn những gì ông từng tưởng tượng trước đây. Giường ngủ bằng vàng đính vô số kim cương lấp lánh, khăn trải giường thêu ngọc trai và hồng ngọc. Bên cạnh phòng ngủ là phòng thay đồ tinh xảo, với những tủ quần áo chứa một lượng lớn trang phục mới; và xa hơn là phòng tắm — một căn phòng rộng có hồ bơi bằng cẩm thạch đủ lớn để bơi, với những bậc thềm cẩm thạch trắng dẫn xuống nước. Xung quanh bờ hồ là những hàng ngọc lục bảo tinh tế to bằng nắm đấm cửa, trong khi nước hồ trong vắt như pha lê.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG BỜM XỜM NGẮM NGHÍA BỘ ĐỒ MỚI

Trong chốc lát người đàn ông bờm xờm ngẩn ngơ ngắm nghía sự xa hoa đó trong im lặng. Sau đó ông quyết định, khôn ngoan theo cách của mình, tận dụng sự may mắn này. Ông cởi bỏ đôi bốt bờm xờm và quần áo bờm xờm, tắm trong hồ bơi với niềm vui sướng hiếm có. Sau khi lau khô bằng khăn mềm, ông vào phòng thay đồ lấy quần áo mới mặc vào, thấy mọi thứ đều vừa in. Ông kiểm tra tủ quần áo và chọn một bộ đồ lịch lãm. Kì lạ là mọi thứ đều bờm xờm, dù mới tinh và đẹp đẽ, ông thở phào nhẹ nhõm nhận ra mình vẫn có thể ăn mặc lịch lãm mà vẫn giữ được chất Bờm Xờm. Áo khoác của ông làm bằng nhung hồng, viền tua rua tua rua, cúc áo bằng hồng ngọc đỏ chót và tua rua vàng xung quanh viền. Áo lê-gít là sa-tanh bờm xờm màu kem tinh tế, quần chẽn ngang gối nhung hồng viền giống áo khoác. Tất lụa kem bờm xờm và giày da hồng đính khóa hồng ngọc hoàn thiện bộ trang phục, và khi mặc lên mình, người đàn ông bờm xờm ngắm nghía bản thân trong chiếc gương dài với sự ngưỡng mộ lớn. Trên bàn ông tìm thấy một chiếc rương xà cừ trang trí dây leo bạc tinh tế và hoa kết hồng ngọc, trên nắp là tấm bạc khắc:

NGƯỜI ĐÀN ÔNG BỜM XỜM:

HỘP ĐỒ TRANG SỨC CỦA ÔNG

Chiếc rương không khóa, ông mở ra và lóa mắt bởi sự rực rỡ của những món trang sức đắt giá bên trong. Sau khi ngắm nghía những thứ xinh xắn, ông lấy một chiếc đồng hồ vàng tinh xảo kèm dây chuyền lớn, vài chiếc nhẫn đẹp và một món trang sức bằng hồng ngọc ghim lên ngực áo sơ mi bờm xờm. Sau khi chải cẩn thận tóc và râu ngược chiều để trông thật bờm xờm, người đàn ông bờm xờm thở dài vui sướng và quyết định đã sẵn sàng diện kiến Nữ Hoàng khi có lệnh.

Trong khi đó Dorothy mặc chiếc váy xinh xắn bằng vải xám mềm thêu bạc, mặc bộ đồ xanh vàng sa-tanh cho Button-Bright — trông cậu bé cưng hệt như một thiên thần nhỏ. Theo sau bởi cậu bé và Toto — con chó thắt dải ruy băng xanh quanh cổ — cô chạy xuống phòng khách lộng lẫy của cung điện, nơi đặt chiếc ngai bằng thạch anh xanh khảm đệm sa-tanh xanh là Công chúa Ozma kiều diễm đang ngồi hồi hộp chờ đợi chào đón bạn.

CÁC sử gia hoàng gia xứ Oz, những người viết văn cừ khôi và biết bất kỳ từ lớn nào, từng nhiều lần cố miêu tả vẻ đẹp hiếm có của Ozma và thất bại vì từ ngữ không đủ hay. Thế nên tôi chắc chắn không thể hy vọng kể cho các bạn nghe sự cuốn hút của vị Công chúa nhỏ này lớn thế nào, hay vẻ đẹp của ngài làm lu mờ mọi trang sức lấp lánh và xa hoa bao quanh trong cung điện ra sao. Bất cứ thứ gì khác đẹp đẽ hay tinh tế đều trở nên mờ nhạt khi đối lập với khuôn mặt quyến rũ của Ozma, và người ta thường nói rằng không một nhà cai trị nào trên thế giới có thể sánh ngang sự duyên dáng trong phong thái của ngài.

Mọi thứ về Ozma đều thu hút, và ngài truyền cảm hứng yêu thương cùng tình cảm ngọt ngào hơn là sự kinh ngạc hay ngưỡng mộ thông thường. Dorothy ôm chầm lấy cô bạn nhỏ và ôm hôn thắm thiết, Toto sủa vui sướng, Button-Bright cười hạnh phúc và đồng ý ngồi lên những chiếc đệm mềm ngay sát bên Công chúa.

"Sao cậu không nhắn tin cho tớ biết là cậu sắp tổ chức tiệc sinh nhật?" cô bé Kansas hỏi, khi những lời chào đầu kết thúc.

"Tớ không nhắn à?" Ozma hỏi, đôi mắt xinh xắn đùa vui.

"Cậu nhắn á?" Dorothy đáp, cố suy nghĩ.

"Cậu đoán xem ai, cưng ạ, đã xáo trộn mấy con đường để đưa cậu đi lang thang về hướng xứ Oz?" Công chúa hỏi.

"Ồ! Tớ chưa bao giờ ngờ là cậu đấy nhé," Dorothy kêu lên.

"Tớ theo dõi cậu trong Bức Tranh Ma Thuật suốt dọc đường," Ozma tuyên bố, "và hai lần tớ tưởng phải dùng Thắt Lưng Ma Thuật để cứu cậu và đưa cậu về Thành Phố Ngọc Lục Bảo. Một lần là khi lũ Scoodlers bắt cậu, và lần nữa khi cậu đến Sa Mạc Chết. Nhưng người đàn ông bờm xờm giúp cậu vượt qua cả hai lần, nên tớ không can thiệp."

"Cậu có biết Button-Bright là ai không?" Dorothy hỏi.

"Không; tớ chưa từng thấy cậu ấy cho đến khi cậu tìm thấy cậu ấy trên đường, và khi đó chỉ thấy qua Bức Tranh Ma Thuật thôi."

"Và cậu có cử Polly đến với chúng ta không?"

"Không cậu ạ; Con Gái Cầu Vồng trượt khỏi vòm cầu xinh đẹp của cha vừa đúng lúc để gặp cậu."

"Thế," Dorothy nói, "tớ đã hứa với Vua Dox xứ Foxville và Vua Kik-a-bray xứ Dunkiton là tớ sẽ xin cậu mời họ đến dự tiệc."

"Tớ mời rồi," Ozma đáp, "vì tớ nghĩ điều đó sẽ làm cậu vui khi giúp họ."

"Cậu có 'mời' Người Âm Nhạc không?" Button-Bright hỏi.

"Không; vì hắn quá ồn ào, có thể làm phiền sự thoải mái của người khác. Khi âm nhạc không hay lắm, và cứ trỗi suốt, tốt hơn là người biểu diễn nên ở một mình," Công chúa nói.

"Tớ thích âm nhạc của Người Âm Nhạc," Button-Bright nghiêm nghị tuyên bố.

"Nhưng tớ thì không," Dorothy nói.

"Dù sao thì sẽ có rất nhiều âm nhạc trong tiệc kỷ niệm của tớ," Ozma hứa; "tớ đoán Button-Bright sẽ không nhớ Người Âm Nhạc chút nào đâu."

Đúng lúc đó Polychrome nhảy múa bước vào, Ozma đứng dậy chào Con Gái Cầu Vồng bằng sự ngọt ngào và chân thành nhất.

Dorothy nghĩ chưa từng thấy hai sinh vật nào xinh đẹp hơn hai thiếu nữ này; nhưng Polly nhận ra vẻ đẹp tinh tế của mình không sánh bằng Ozma, cô chẳng ghen tị gì vì điều đó.

Phù Sỹ xứ Oz được thông báo, và một ông già gầy gò mặc toàn đen bước vào phòng. Gương mặt ông tươi tắn và đôi mắt lấp lánh sự hài hước, thế nên Polly và Button-Bright không hề sợ hãi nhân vật lừng danh với tiếng tăm pháp sư lừa bịp lan rộng khắp thế giới. Sau khi chào Dorothy thân thiết, ông đứng khiêm nhường sau ngai vàng của Ozma và lắng nghe những lời trò chuyện rôm rả của bọn trẻ.

Lúc này người đàn ông bờm xờm xuất hiện, diện mạo mới mẻ đầy trang phục bờm xờm khiến Dorothy kêu "Ồ!" và chắp tay đầy ngạc nhiên săm soi người bạn bằng đôi mắt thích thú.

"Ông ấy vẫn bờm xờm đấy chứ," Button-Bright nhận xét, và Ozma mỉm cười gật đầu vì nàng muốn người đàn ông bờm xờm giữ nguyên vẻ bờm xờm khi cung cấp trang phục mới cho ông.

Dorothy dẫn ông đến gần ngai vàng, vì ông còn rụt rè trước công ty lớn, và trân trọng giới thiệu ông với Công chúa:

"Thưa Điện Hạ, đây là bạn cháu, người đàn ông bờm xờm, chủ nhân của Nam Châm Tình Yêu."

"Chào mừng đến với xứ Oz," Nữ Hoàng trẻ tuổi duyên dáng nói. "Nhưng nói cho tôi hay, anh lấy Nam Châm Tình Yêu đang sở hữu ở đâu thế?"

Người đàn ông bờm xờm đỏ mặt cúi đầu, đáp bằng giọng nhỏ:

"Tôi ăn cắp nó, thưa Điện Hạ."

"Ôi, Người Bờm Xờm!" Dorothy kêu lên. "Ghê quá đi. Và ông nói với cháu là người Eskimo cho ông Nam Châm Tình Yêu cơ mà."

Ông lúng túng đổi chân này sang chân kia, vô cùng ngượng ngùng.

"Tôi nói dối cháu đấy Dorothy," ông nói; "nhưng giờ đây, sau khi tắm ở Hồ Sự Thật, tôi chỉ được phép nói sự thật."

"Tại sao anh lại ăn cắp nó?" Ozma nhẹ nhàng hỏi.

"Vì chẳng ai yêu tôi, hay quan tâm đến tôi," người đàn ông bờm xờm nói, "và tôi muốn được yêu thương nhiều. Nó thuộc về một cô gái ở Butterfield được yêu quá mức, khiến các chàng trai cãi nhau vì cô ấy, làm cô ấy không vui. Sau khi tôi ăn cắp nó từ cô ấy, chỉ còn một chàng trai tiếp tục yêu cô ấy, và cô ấy cưới anh ta, lấy lại hạnh phúc."

"Anh có hối hận vì ăn cắp nó không?" Công chúa hỏi.

"Không, thưa Điện Hạ; tôi vui," ông đáp; "vì nó làm tôi thích được yêu thương, và nếu Dorothy không quan tâm đến tôi thì tôi đã không thể cùng cô ấy đến Xứ Sở Thần Tiên Oz tuyệt đẹp này, hay gặp gỡ Nữ Hoàng nhân hậu. Bây giờ khi ở đây, tôi hy vọng được ở lại, trở thành một trong những thần dân trung thành nhất của Điện Hạ."

TRONG CUNG ĐIỆN HOÀNG GIA OZ

"Nhưng ở xứ Oz chúng ta được yêu vì chính mình, vì sự tử tế với nhau, và vì những việc tốt," ngài nói.

"Tôi sẽ giao lại Nam Châm Tình Yêu," người đàn ông bờm xờm hăng hái nói; "Dorothy cứ lấy nó đi."

"Nhưng mọi người đều yêu Dorothy rồi," Phù Sỹ tuyên bố.

"Thế thì Button-Bright lấy nó nhé."

"Không muốn đâu," Button-Bright nhanh nhảu từ chối.

"Thế tôi đưa nó cho Phù Sỹ, vì tôi chắc chắn Công chúa Ozma kiều diễm không cần nó."

"Tất cả người dân của tôi đều yêu Phù Sỹ," Công chúa mỉm cười thông báo; "thế nên chúng ta sẽ treo Nam Châm Tình Yêu lên cổng Thành Phố Ngọc Lục Bảo, để bất kỳ ai ra vào cổng đều được yêu thương và biết yêu thương."

"Ý kiến hay đấy," người đàn ông bờm xờm nói; "tôi hoàn toàn đồng ý."

Mọi người tập trung bước vào tiệc tối — các bạn tưởng tượng được đó là một sự kiện hoành tráng; và sau đó Ozma yêu cầu Phù Sỹ biểu diễn vài màn ảo thuật.

Phù Sỹ lấy tám chú heo con trắng tinh từ túi áo trong đặt lên bàn. Một chú mặc đồ hề, biểu diễn mấy trò hề ngộ nghĩnh, những chú khác nhảy qua thìa đĩa và chạy vòng quanh bàn như ngựa đua, lộn nhào vô cùng linh hoạt và thú vị khiến mọi người cười rộ lên thích thú. Phù Sỹ huấn luyện mấy chú thú cưng làm nhiều trò kỳ lạ, chúng nhỏ nhắn, đáng yêu và mềm mại đến mức Polychrome thích thú bế lên khi chúng chạy ngang chỗ cô, vuốt ve hệt như mèo con.

Đã muộn khi chương trình kết thúc, họ chia tay về phòng.

"Ngày mai," Ozma nói, "những vị khách được mời sẽ tới, các cậu sẽ thấy trong số họ vài vị khách thú vị và kỳ lạ, tớ hứa đấy. Ngày kia sẽ là sinh nhật tớ, lễ hội sẽ diễn ra trên bãi cỏ rộng ngay bên ngoài cổng Thành Phố, nơi tất cả người dân tụ tập không bị chen lấn."

"Tớ hy vọng Bù Nhìn không đến muộn," Dorothy lo lắng nói.

"Ố, chắc chắn bác ấy về ngày mai," Ozma đáp. "Bác ấy muốn rơm tươi nhồi người, nên về Xứ Sở Munchkin, nơi có rất nhiều rơm."

Nói xong Công chúa chúc mọi người ngủ ngon và về phòng riêng.

SÁNG hôm sau bữa sáng của Dorothy được dọn ở phòng khách xinh xắn, cô mời Polly và người đàn ông bờm xờm ăn cùng cô và Button-Bright. Họ vui vẻ nhận lời, Toto cũng ăn cùng, thế nên nhóm nhỏ từng du hành đến Oz nay đoàn tụ.

Vừa ăn xong, họ nghe tiếng kèn xa vọng lại cùng tiếng ban nhạc đồng thao tấu âm nhạc quân đội; thế nên tất cả ra ban công. Nơi này ở mặt trước cung điện, hướng ra các con đường thành phố, cao hơn bức tường bao quanh khuôn viên cung điện. Họ thấy tiến lại gần là một ban nhạc đang chơi hết sức lực, trong khi người dân Thành Phố Ngọc Lục Bảo chật kín vỉa hè tung hô rộn rã át cả tiếng trống kèn.

Dorothy nhìn xem họ đang tung hô gì, và phát hiện sau ban nhạc là Bù Nhìn nổi tiếng, kiêu hãnh cưỡi trên lưng Ngựa Gỗ đang phi nước kiệu dọc con đường uyển chuyển hệt như được làm bằng da thịt thật. Móng của nó — hay đúng hơn là đầu mấy chiếc chân gỗ — được đóng những tấm vàng đặc, chiếc yên da cột vào thân gỗ được thêu phong phú nạm ngọc lấp lánh.

Khi đến cung điện Bù Nhìn nhìn lên thấy Dorothy, lập tức vẫy chiếc mũ chóp chào. Bác cưỡi ngựa đến cửa chính xuống ngựa, ban nhạc ngừng chơi bỏ đi còn đám đông người dân trở về nhà.

Lúc Dorothy và các bạn bước vào phòng, Bù Nhìn đã có mặt ở đó, ôm chầm lấy cô bé và bắt tay những người khác bằng bàn tay xốp — là găng tay trắng nhồi rơm.

Người đàn ông bờm xờm, Button-Bright và Polychrome trân trân nhìn nhân vật lừng danh này — người được công nhận là người nổi tiếng và được yêu quý nhất Xứ Sở Thần Tiên Oz.

"Ơ kìa, mặt bác được sơn lại mới kìa!" Dorothy thốt lên khi chào hỏi xong.

"Tôi vừa được người nông dân Munchkin làm ra tôi dặm lại chút đấy," Bù Nhìn vui vẻ đáp. "Nước da của tôi hơi xám và phai màu, cậu biết đấy, lớp sơn ở một bên khóe miệng bong ra nên tôi cười không thẳng lắm. Giờ tôi thấy như chính mình, và tôi có thể nói không chút khiêm tốn rằng cơ thể tôi được nhồi bằng thứ rơm yến mạch tuyệt vời nhất xứ Oz." Bác vỗ vào ngực. "Nghe sột soạt không?" bác hỏi.

"Có," Dorothy nói; "bác nghe hay lắm."

Button-Bright vô cùng thu hút bởi người rơm, và Polly cũng thế. Người đàn ông bờm xờm đối xử với bác bằng sự tôn trọng lớn, vì bác được cấu tạo quá kỳ lạ.

Jellia Jamb đến thông báo Ozma muốn Công chúa Dorothy tiếp các vị khách được mời trong Phòng Ngai Vàng khi họ đến. Nữ Hoàng bận rộn ra lệnh chuẩn bị cho lễ hội ngày mai, thế nên nàng muốn bạn mình đóng thay vai trò.

Dorothy vui vẻ đồng ý, vì là Công chúa duy nhất ở Thành Phố Ngọc Lục Bảo; cô đến Phòng Ngai Vàng ngồi vào ghế của Ozma, đặt Polly bên trái và Button-Bright bên phải. Bù Nhìn đứng bên trái ngai vàng, Người Thiếc bên phải, trong khi Phù Sỹ kỳ diệu và người đàn ông bờm xờm đứng phía sau.

Sư Tử Hèn Nhát và Hổ Đói bước vào, cổ và đuôi mang những chiếc nơ ruy băng mới tinh. Sau khi chào Dorothy thân thiết, những con dã thú khổng lồ nằm xuống chân ngai vàng.

Trong lúc chờ đợi, Bù Nhìn đứng gần cậu bé, hỏi:

"Sao cháu lại có tên là Button-Bright?"

"Không biết," câu trả lời là vậy.

"Ơ có chứ cưng," Dorothy nói. "Kể Bù Nhìn nghe cách cháu có tên đi."

"Bố luôn bảo cháu sáng dạ như cái cúc, thế nên mẹ luôn gọi cháu là Button-Bright," cậu bé thông báo.

"Mẹ cháu đâu?" Bù Nhìn hỏi.

"Không biết," Button-Bright đáp.

"Nhà cháu ở đâu?" Bù Nhìn hỏi.

"Không biết," Button-Bright đáp.

"Cháu không muốn tìm lại mẹ sao?" Bù Nhìn hỏi.

"Không biết," Button-Bright bình thản đáp.

Bù Nhìn đăm chiêu.

"Bố cháu có lẽ nói đúng," bác nhận xét; "nhưng có nhiều loại cúc, cậu biết đấy. Có cúc vàng cúc bạc đánh bóng lấp lánh. Có cúc ngọc trai cao su, và loại khác có bề mặt sáng ít nhiều. Nhưng có một loại cúc khác được bọc vải thô, và đó chắc là loại bố cháu nói khi bảo cậu sáng dạ như cái cúc. Cậu có nghĩ thế không?"

"Không biết," Button-Bright đáp.

Jack Pumpkinhead đến, mang găng tay da trắng mới tinh; mang món quà sinh nhật cho Ozma gồm vòng cổ hạt bí ngô. Trong mỗi hạt nạm một viên carolite lấp lánh — loại đá hiếm và đẹp nhất tồn tại. Vòng cổ đặt trong hộp nhung và Jellia Jamb đặt lên bàn cùng các món quà khác của Công chúa Ozma.

Tiếp theo là người phụ nữ cao, xinh đẹp mặc chiếc váy quét đất lộng lẫy viền ren tinh tế mỏng như mạng nhện. Đó là Phù Sỹ quyền năng Glinda the Good, từng giúp ích rất nhiều cho Ozma và Dorothy. Không có phép thuật lừa bịp nào ở đây, các bạn yên tâm, Glinda mạnh mẽ và tốt bụng. Cô chào Dorothy thắm thiết, hôn Button-Bright và Polly, mỉm cười với người đàn ông bờm xờm, rồi Jellia Jamb dẫn Phù Sỹ đến một trong những căn phòng tráng lệ nhất cung điện với năm mươi người hầu phục vụ.

Vị khách tiếp theo là giáo sư H. M. Woggle-Bug, T. E.; "H. M." là Phóng Đại Cao Độ và "T. E." là Giáo Dục Kỹ Lưỡng. Woggle-Bug là trưởng khoa tại Đại học Hoàng gia Oz, sáng tác bài thơ vinh danh sinh nhật Ozma. Ông muốn đọc cho họ nghe; nhưng Bù Nhìn không cho.

Chẳng mấy chốc họ nghe tiếng kêu cục tác cùng dàn đồng ca "chíp! chíp!", người hầu mở cửa cho Billina cùng mười chú gà con lông tơ bước vào Phòng Ngai Vàng. Con gà mái vàng kiêu hãnh dẫn đầu gia đình, Dorothy kêu "Ôi, mấy cục cưng đáng yêu quá!", chạy xuống ngai vàng vuốt ve những quả cầu lông vàng tơ. Billina đeo vòng cổ ngọc trai, cổ mỗi gà con mang sợi dây chuyền vàng nhỏ giữ chiếc huy hiệu khắc chữ "D" bên ngoài.

CÁC Ryl VUI TƯƠI VÀ KNOOK GẬY GÙ

"Mở huy hiệu ra Dorothy," Billina nói. Cô bé làm theo và thấy ảnh mình trong huy hiệu. "Chúng được đặt tên theo cậu đấy cưng," con gà mái tiếp lời, "nên tớ muốn gà con mang ảnh cậu. Cục tác — cục tác! Lại đây Dorothy — ngay lập tức!" cô gọi, vì gà con tản mát khắp phòng.

Chúng tuân lệnh ngay, chạy nhanh hết mức, vỗ đôi cánh tơ lộn xộn buồn cười.

May là Billina gom các con vào ngực ngay khi Tik-tok bước vào, nện đôi chân bằng đồng lên ngai vàng.

"Tôi được lên dây cót và hoạt động mượt mà," gã đồng nói với Dorothy.

"Tớ nghe tiếng gã tích tắc," Button-Bright tuyên bố.

"Cậu đích thị là một quý ông lịch lãm," Người Thiếc nói. "Đứng đây cạnh người đàn ông bờm xờm Tik-tok, đón tiếp khách."

Dorothy lót đệm góc phòng cho Billina và các con, vừa quay lại ngai vàng thì âm nhạc ban nhạc cung điện báo hiệu khách quý đến.

Và ố kìa, họ trân trân khi Đại Sảnh mở cửa và khách bước vào Phòng Ngai Vàng!

Đầu tiên là người gừng, làm nướng thơm lừng màu nâu đáng yêu. Gã đội mũ lụa cầm gậy kẹo sọc đỏ vàng. Áo sơ mi và cổ tay bằng kem trắng, cúc áo bằng cam thảo.

Sau người gừng là đứa trẻ tóc vàng mắt xanh vui vẻ, mặc đồ ngủ trắng sandal chân trần. Đứa trẻ nhìn xung quanh mỉm cười đút tay túi quần. Ngay sau đó là gấu cao su bước thẳng chân sau. Gấu có đôi mắt đen lấp lánh, cơ thể bơm căng hơi.

Theo sau là hai người đàn ông cao gầy và hai người lùn mập, mặc đồng phục lộng lẫy.

Đại Sảnh Hoàng Gia xướng tên vị khách:

"Bệ Hạ Ngọt Ngào Nhất, Vua John Dough Đệ Nhất, Cai trị Vương quốc Hiland và Loland. Cả Trưởng Booleywag của Ngài — Chick the Cherub, và người bạn trung thành Bruin — gấu cao su."

Những nhân vật lớn cúi chào, Dorothy vội giới thiệu họ với mọi người. Họ là vị khách nước ngoài đầu tiên, bạn bè Ozma lịch sự đón tiếp.

Chick the Cherub bắt tay mọi người, kể cả Billina, vui vẻ thân thiện.

"Đó là bé trai hay gái?" Dorothy thì thầm.

"Không biết," Button-Bright đáp.

"Trời! Quả là đám người kỳ lạ," gấu cao su ngắm nhìn mọi người.

"Cậu cũng thế," Button-Bright nói. "Vua John Dough có ngon không?"

"Cậu ấy quá ngon để ăn," Chick the Cherub cười.

"Hy vọng không ai thích gừng," Vua lo lắng.

"Chúng tôi không ăn khách đâu," Bù Nhìn tuyên bố; "nên cứ yên tâm."

"Sao gọi cậu là Chick?" Gà mái hỏi.

"Vì tớ là em bé Ấp Lò, không có bố mẹ," Booleywag đáp.

"Gà tôi có bố mẹ, tôi là mẹ nó," Billina nói.

"Mừng đấy," Cherub nói, "vì phiền tớ vui hơn nuôi Lò."

Vua John Dough mang vương miện bánh gừng, hàng ngọc trai nhỏ và viên ngọc to. Dorothy nhận món quà cảm ơn đặt trên bàn, họ được Jellia Jamb dẫn về phòng.

Band cung điện chơi nhạc báo khách đến, Đại Sảnh vội đón tiếp.

Đầu tiên là Ryls từ Thung lũng Hạnh phúc, tinh linh. Mười hai Knooks từ Rừng Burzee. Râu dài mũ nhọn ngón chân cong, cao bằng vai Button-Bright. Cùng người quan trọng và được yêu mến khắp thế giới — Santa Claus!

"Chào! Mừng gặp mọi người!" Santa Claus tươi tắn bước lên.

Tròn như táo, mặt hồng hào râu trắng như tuyết. Áo choàng đỏ viền ermine, giỏ đồ chơi cho Ozma.

"Chào Dorothy; vẫn phiêu lưu chứ?" ông hỏi.

"Sao biết tên cháu Santa?" cô hỏi.

"Tớ gặp mỗi Giáng sinh khi ngủ mà," ông véo má.

"Thật á?"

"Và Button-Bright đây!" Santa ôm hôn. "Xa nhà thế!"

"Cậu biết Button-Bright không?" Dorothy hỏi.

"Đương nhiên, tớ đến nhà mỗi Giáng sinh."

"Biết bố cậu ấy không?"

"Chứ, ai mang cà vạt tất chứ."

"Biết nhà đâu, lạc rồi," cô nói.

Santa cười, kể Phù Sỹ.

Thấy Polychrome, Santa tiến lại.

"Con Gái Cầu Vồng xa nhà nhất," ông nói. "Tớ bảo cha đưa về."

"Làm ơn," cô nài nỉ.

"Cùng vui tiệc Ozma nhé," ông nói đặt quà. "Ít rời lâu đài, nhưng được mời nên đến."

"Mừng quá!" Dorothy kêu.

"Ryls của tớ," chỉ tinh linh. "Vẽ màu hoa; mang theo không mang lọ. Knooks chăm cây rừng, gồ ghề nhưng tốt bụng."

"Biết Ryls và Knooks," Dorothy nói.

Santa chào Bù Nhìn, Người Thiếc, Người Bờm Xờm, cưỡi Ngựa Gỗ đi.

"Tuần lộc đâu?" Polly hỏi.

"Ở nhà, ấm áp không hợp," ông nói.

Band chơi nhạc, Đại Sảnh xướng tên:

"Nữ Hoàng Vương quốc Merryland."

Búp bê sáp mặc váy rũ rượi bước vào. To bằng Button-Bright, má miệng lông mày vẽ đẹp. Mắt xanh thủy tinh, biểu cảm dễ mến. Bốn lính gỗ bảo vệ, người găng tay kẹo vương miện đường.

Búp bê sáp chào Dorothy, gửi lời đến Ozma. Mang quà gói ruy băng hồng xanh, lính đặt lên bàn. Kẹo Man ở lại trò chuyện Bù Nhìn, Tik-tok, Phù Sỹ, Người Thiếc. Button-Bright thích Candy Man thơm mùi kẹo bạc hà.

Người Tóc Tết vào, nhận lời mời. Tóc râu dài tết ruy băng.

"Tặng Ozma hộp vẫy," anh nói; "hy vọng thích."

"Chắc chắn," Dorothy nói.

Band đón khách, Nữ Hoàng Ev, Vua Evardo, hoàng gia Ev. Xứ Ev bên kia sa mạc, Ozma từng cứu gia đình. Dorothy quen biết, chào mừng. Tặng vương miện kim cương radium.

Vua Foxville Dox, trang phục lông vũ kính trắng hoa cài ngực. Cảm ơn Dorothy mời mọc, cúi đầu lui.

Tiếng kèn trống báo khách quan trọng:

"Nữ Hoàng Zixi xứ Ix! Vua Bud xứ Noland. Công chúa Fluff."

Ba vị vua hoàng gia làm mọi người trang nghiêm. Zixi trẻ đẹp mười sáu tuổi, Phù Sỹ thầm thì ngàn tuổi. Vua Bud và Công chúa Fluff bạn Zixi. Mang quà đầy bàn.

Dorothy Polly yêu Fluff, Button-Bright thích Bud. Zixi về phòng.

"Tiệc đông vui," Dorothy nói.

"Không biết," Button-Bright nói.

"Candy Man không cần diện đồ," anh nói.

"Tik-tok và tôi mặc đồ cũ," Người Thiếc nói.

"Lông vũ đủ rồi," Billina nói.

"Đón khách mới," Bù Nhìn nói.

"Kika-bray, Johnny Dooit, Phù Sỹ Bắc," Dorothy nói.

"Đón tiếp chu đáo," Bù Nhìn nói.

BỮA tối hoàng gia lộng lẫy. Bàn dài dining-hall ánh sáng trang sức đẹp nhất. Santa Claus đầu bàn, Ozma chủ nhà.

John Dough, Zixi, Bud, Nữ Hoàng Ev, Merryland có ngai vàng. Bàn thú vật: Toto, Billina, Sư Tử, Hổ, Ngựa Gỗ, Gấu, Fox King, Donkey King.

Bàn Ryls, Knooks, lính gỗ, Hilanders. Lịch sự tham dự.

Trang phục rực rỡ ghi nhớ kỷ niệm Ozma.

Ban nhạc tấu nhạc ngọt ngào. Ozma chào khách.

Nâng cốc lacasa, Santa đọc thơ chúc mừng. Mọi người nâng cốc vui vẻ.

Thức ăn ngon lành hộp kim loại quý. Woggle-Bug đọc thơ, Phù Sỹ ảo thuật heo con nhảy múa. Polly múa Rainbow Dance. Johnny Dooit ăn uống, Người Thiếc hát tình ca, lính gỗ diễn tập, Ryls múa vòng tròn, Gấu cao su nhảy. Vui vẻ tràn ngập.

SÁNG đẹp trời, gió nhẹ nắng vàng mừng sinh nhật Ozma. Thành phố rộn ràng người dân mừng sinh nhật.

Khách nước ngoài tham gia xe Magic Belt, diễu hành đường phố.

Nghìn thiếu nữ áo trắng hoa hồng.

Bốn vị vua bốn miền đeo dây chuyền ngọc lục bảo.

Band đồng thao tấu chương. Quân đội sĩ quan.

Công chúa Ozma đi bộ cùng gấu xanh. Sư Tử, Hổ bảo vệ.

Khách diễu hành, Santa cưỡi Ngựa Gỗ ném đồ chơi. Zixi, John Dough, Merryland, Bud, Ev, Braided Man, Fox, Donkey, Johnny Dooit.

Dorothy, Bù Nhìn, Polly, Button-Bright, Người Bờm Xờm, Tik-tok, Phù Sỹ, Glinda, Billina gà con.

Đến green fields, pavilion lụa vàng biểu ngữ.

Phù Sỹ làm chủ trò tung bóng bọt xà phòng, Bù Nhìn nuốt kiếm, Người Thiếc múa rìu, Glinda trồng cây trái tamornas. Gấu cao su nhảy nhót, Phù Sỹ Bắc biến đổi.

Johnny Dooit xây máy bay bay mất.

Trò chơi bong bóng xà phòng lớn của Phù Sỹ bay lơ lửng.

Santa cưỡi bong bóng về nhà,Merryland, Fluff, Bud, Zixi, khách khác bay về.

Button-Bright bay về nhà.

"Muốn về nhà," Button-Bright nói.

"Đi thôi," Santa nói.

Dorothy ôm tạm biệt.

"Buồn không?" Dorothy hỏi.

"Không biết," Button-Bright nói.

Bong bóng bay về tây.

Dorothy dùng Magic Belt về nhà.

Santa bay về, Ryls Knooks bay theo.

Polly múa cầu vồng bay về với cha.

"Tạm biệt Ozma, Dorothy!"

Cầu vồng biến mất.

Diễu hành về thành phố. Bờm Xờm ở lại Oz.

Tối ăn tối vui vẻ.

Dorothy ngủ trong vòng tay Toto, phép thuật đưa về Kansas.

HẾT

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.