Điềm Tĩnh Và Nồng Nhiệt - Lam

Lượt đọc: 191 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
chương 6
Đời người là... CHE VITA È

❊ ❊ ❊

Tôi thích xưởng phục chế vào buổi sáng mùa đông tràn ngập không khí lạnh đến cắt da.

Thật tuyệt khi một mình ở nơi làm việc không có ai, thưởng thức bánh mì kẹp panino mua ở quán bar gần đó cùng với cà phê capuccino. Mùi ethanol, mùi dung dịch amoniac loãng, mùi sáp cứng, mùi véc ni dùng trong phục chế quện với mùi capuccino xộc vào mũi tôi.

Ngắm nhìn những tác phẩm đang trong quá trình phục chế đặt trên bàn tôi càng thấy vui hơn.

Tôi hít hà mùi hương từ thời đại mà những bức tranh được sáng tác...

Tôi ngồi trên chiếc ghế xoay của cô giáo, hạnh phúc tận hưởng khoảng thời gian trước khi có ai đó đến. Đó cũng là thời gian bình yên duy nhất của tôi từ khi làm việc ở xưởng này.

Những lúc như thế, tôi lại nhớ tới quãng thời gian trong sáng ở bên Aoi. Có thời, Aoi từng làm thơ. Hồi chúng tôi chia tay, nàng đã không còn viết nữa nhưng ở góc sổ tay hay sách giáo khoa, thay vì vẽ linh tinh thì nàng viết mấy dòng thơ bằng chữ mờ. Chỉ là những vần thơ vui nhưng nhiều bài rất ấn tượng nên tôi đã bí mật chép lại vào sổ tay của mình.

Tiếng đá thạch anh kêu lách cách

Trên con hẻm Milano mùa đông

Ám hiệu gì chăng?

Tôi được tìm thấy

Có tiếng cậu bé

Tôi ngoảnh lại và được khích lệ

Hãy tiếp tục sống.

Những bài thơ ấy vẫn được cất trong ví của tôi. Tôi thường lấy ra ngắm khi ở một mình.

Anh đã nói sẽ chẳng đi đâu

Vậy mà giờ anh không ở đây

Một ngày nào đó,

Không có một ngày nào đó

Anh luôn đi quá xa

Em ở nơi đây, một lần nữa

Lại sống quá lâu mất rồi

Lẫn trong tập thơ được ghim lại bằng kẹp có một tấm ảnh thẻ của Aoi. Đó là tấm ảnh thừa hồi nàng thi lấy bằng lái xe, lần duy nhất nàng để tóc dài trước khi cắt ngắn. Mái tóc thẳng không chỗ nào bị xoăn. Một buổi tối vì cảm thấy khó chịu với mái tóc, nàng tự cầm kéo cắt phăng đi. Mặc dù đang nhìn thẳng vào máy ảnh nhưng đôi đồng tử của nàng run rẩy đầy bất an. Ánh đèn chiếu vào khiến mắt nàng đỏ ngầu trông như dị nhân đột biến.

Tôi uống cạn tách capuccino đã nguội, uống cạn luôn cả những ký ức.

Từ khi đi Milano về, lâu lắm tôi mới lại có cảm giác tuyệt vời khi được đắm chìm vào những thói quen, nhưng sang năm mới, vào một ngày tháng Một năm 1998, cô giáo đột nhiên nói muốn đóng cửa xưởng.

Đương nhiên, lý do rõ ràng là vì sự việc xảy ra năm trước.

“Junsei, tôi xin lỗi. Nghĩ tới tương lai của cậu, tôi cũng muốn bằng cách nào đó duy trì xưởng này, nhưng cũng như bức tranh của Cozza, trái tim tôi đã có một vết rách lớn theo suốt cuộc đời...”

Thủ phạm khiến cô muộn phiền vẫn chưa bị tìm ra. Takanashi và Angelo vẫn làm việc như bình thường.

Cô lẩm bẩm độc thoại: “Nếu phải nghi ngờ những người ra vào cái xưởng này thì thà đóng cửa còn thấy nhẹ nhõm hơn.”

“Cô đừng lo cho em. Người đáng lo hơn là cô kìa. Từ nay cô định sẽ thế nào ạ?”

Cô uể oải lắc đầu.

“Tạm thời tôi sẽ không làm gì cả. Khi nào khỏe hơn, tôi sẽ dạy phục chế ở một trường mỹ thuật nào đó.”

Với tôi, nỗi đau mất đi cô giáo và xưởng phục chế này lớn hơn nhiều so với mất việc. Tôi cố gắng không để lộ sự thất vọng ra ngoài mặt nhưng giống như nhà leo núi không còn núi để leo, tôi mất đi lẽ sống, hoàn toàn không còn chút sinh lực nào.

“Giá mà bắt được thủ phạm thì cũng thấy dễ chịu hơn phần nào...”

Tôi tức giận nói nhưng cô lắc đầu không đồng tình:

“Không, không cần nữa. Cứ để yên thế này, không biết thủ phạm là ai thì tốt hơn. Không biết thì tốt hơn.”

Thật đau đớn khi nhìn cô héo hon hẳn đi. Mới có mấy tháng mà mái tóc đen tuyệt đẹp của cô đã đầy sợi bạc.

Sau vụ việc đó, tôi không còn được cô nhờ làm mẫu nữa. Tôi biết giờ không phải lúc cô có cảm hứng vẽ tranh, nhưng mặt khác, tôi cũng không tránh khỏi cảm giác giày vò rằng liệu có phải mình đã bị ghét không. Thật khó mà không nghĩ vì mình mà bức tranh của Cozza bị rạch hỏng.

Một hôm, tôi lấy hết dũng khí hỏi cô không còn vẽ tranh nữa ư. Cô Giovanna mỉm cười nói rằng sẽ sớm nhờ tôi làm mẫu lại. Dẫu vậy, tôi có cảm giác cái “sớm” ấy sẽ không bao giờ đến.

* * *

Khi xưởng được quyết định sẽ chính thức đóng cửa vào mùa xuân, Angelo lập tức chuyển sang làm việc ở xưởng của đối thủ cạnh tranh, còn Takanashi thì về Nhật sớm hơn dự kiến một tháng. Mùa đông khắc nghiệt dần trôi qua, những nhân viên và thực tập sinh khác mỗi người đều chọn được con đường mới cho mình, chỉ mình tôi là không có hứng thú tìm việc, cứ vật vờ ngày này qua ngày khác.

“Anh định thế nào? Lười biếng thế này liệu có ổn không?”

Thấy tôi cứ ở lì trong nhà, Memi công kích. Từ khi trở về từ Milano, Memi chăm đến trường tiếng hơn hẳn. Việc không nói chuyện được với bố đã khiến nàng thay đổi.

“Anh không biết. Bản thân anh cũng không quyết định được nên làm gì.”

“Chẳng giống anh tí nào nhỉ.”

Nói rồi Memi ôm chặt lấy tôi. Tôi thật sự không biết mình nên làm thế nào. Bao lâu nay tôi chỉ làm công việc phục chế ở xưởng của cô giáo. Tôi nhận được vài đề nghị đến làm việc ở những xưởng khác. Tôi cũng bị một xưởng đối thủ mời mọc như Angelo. Đãi ngộ khá tốt. Tôi hầu như đã thành thạo hết những công việc quan trọng tại xưởng của cô Giovanna. Có cả những lời đề nghị trực tiếp với tôi, không thông qua cô giáo. Trong số đó có cả lời mời phục chế tranh Francesco Cozza.

Nhưng đến tận giờ phút này, tôi vẫn chẳng hề muốn làm việc ở xưởng khác. Tôi không thể dễ dàng chuyển sang xưởng của đối thủ cạnh tranh như Angelo. Tôi yêu xưởng của cô Giovanna. Vì tôi đã nghĩ mình có vùi xương ở đây cũng được...

“Anh có thể vật vờ thêm một thời gian nữa. Hoặc anh sẽ hồi tưởng lại ngày xưa và vẽ tranh.”

Tôi ôm Memi. Tôi có cảm giác lưng nàng gầy hơn so với trước khi đi Milano.

“Được không anh?”

“Anh có chút tiền tiết kiệm. Khi nào hết anh sẽ đi làm thêm ở xưởng nào đó.”

“Anh chắc chứ? Anh thấy công việc phục chế có ý nghĩa lớn vậy cơ mà.”

Đây vừa đúng là quãng nghỉ phù hợp để tôi xem xét lại cuộc đời phía trước. Có lẽ tôi đã chạy hơi nhanh.

Công việc phục chế cần sự chậm rãi và thư thái về mặt tinh thần. Dù không nói thành lời nhưng trong lúc ôm Memi, tôi đã tự động viên mình như vậy. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, thầm ước giá như mùa xuân không bao giờ đến...

Vào một ngày tháng Ba, tôi đang làm mấy công việc dọn dẹp cuối cùng để chuẩn bị đóng cửa xưởng thì ông nội đột nhiên đến thăm khiến tôi vô cùng bất ngờ. Nghe có khách tới, tôi đi ra sảnh thì nhìn thấy ông đang khoanh tay đứng nhìn bức tranh màu keo trên tường. Nhìn điệu bộ ông hết tiến lại lùi để ngắm bức tranh trên tường đầy thích thú, cái miệng cứng ngắc của tôi lâu lắm mới nở nụ cười trở lại:

“Ông ơi!”

Nghe tôi gọi, ông ngoảnh lại và hỏi luôn:

“Cái này là chép lại hả?”

“Dạ?”

Lúc đầu, tôi không hiểu ngay được ông đang nói gì. Bởi chưa kịp hết bồi hồi, tôi đã bị ông hỏi về bức tranh treo tường. Thật không tưởng tượng nổi.

“Bức tranh màu keo này là của Fra Angelico nhỉ. Nếu vậy thì không thể có chuyện nó bị để bụi bặm ở một nơi như thế này. Nhưng vì đây là xưởng phục chế ở Firenze nên biết đâu lại là đồ thật. Nãy giờ ông cứ thắc mắc chuyện đó mãi.”

Cuối cùng thì tôi cũng hiểu.

“À, cái đó hả ông. Đấy là tranh chép đấy ạ.”

“Quả nhiên là vậy. Nhưng mà vẽ giỏi đấy. Khoảng mười lăm năm trước ông đã nhìn thấy bức tranh thật ở tu viện San Marco. Nhưng bức này vẽ đẹp thật đấy. Ai vẽ vậy nhỉ?”

“Cháu nghĩ là cô giáo, nó có từ lâu rồi, cháu cũng không rõ lắm.”

Ông tiến đến cạnh tôi rồi bất ngờ đấm vào bụng tôi. Cú đấm tuy không mạnh nhưng lại trúng vùng thượng vị khiến tôi lảo đảo suýt ngã ngửa ra sau.

“Sơ hở này!”

Đột nhiên bị ông hét vào mặt như vậy, tôi chỉ biết chớp mắt kinh ngạc chứ chẳng thể cãi hay chống cự. Ông cười. Dù miệng nói “cháu chẳng lên cơ bụng gì cả” nhưng tay phải ông vẫn đưa ra cho tôi nắm. Khi tôi nắm tay ông, ông liền siết lại rất mạnh.

“Dù là người cháu tin tưởng đến mấy thì cũng không được cho họ thấy sơ hở. Đàn ông, một khi đã bước ra ngoài là có bảy kẻ địch rồi.”

“Ông cứ nói quá.”

“Cháu nói gì thế. Vì cháu đang sống ở nước ngoài đấy. Chúng ta không thể biết được chuyện gì sẽ xảy ra đâu.”

“Chỉ mình ông thôi ạ?”

“Gì cơ?”

“Một mình ông đến đây thôi ạ?”

“À, đương nhiên.”

“Sao ông không báo trước với cháu?”

“Tại sao à? Tại ông không muốn gây phiền hà chứ sao?”

“Phiền hà gì chứ ạ, nếu biết cháu đã ra sân bay đón ông rồi.”

“Đừng đối xử với ông như trẻ con thế.”

Từ xưa ông đã là người chẳng chịu hiểu lý lẽ. Đó cũng là điểm “đúng kiểu ông” nhất ở ông. Nếu là ông thì một mình đến Ý dù đã bảy mươi lăm tuổi là chuyện bình thường. Sắc mặt ông nhìn rất tốt, đôi lông mày dựng ngược, vẫn là một ông già cứng đầu như ngày nào.

Tôi bật cười thành tiếng. Ông lại nhìn bức tranh lần nữa và lặp lại đầy cảm động: “Rất đẹp.”

Tôi vừa giới thiệu ông với cô giáo xong, ông liền hỏi về bức tranh màu keo hết câu này đến câu khác bằng tiếng Nhật làm cô giáo bối rối.

“Junsei, nói với cô giáo hộ ông thế này. Ông ấy, ông thích nhất tranh màu keo theo trường phái Siena thế kỷ 14. Nghe rõ chứ, thế kỷ 14 nhé, đừng có nhầm, dịch cho cẩn thận vào.”

Tôi dịch xong, cô giáo liền nắm chặt tay ông. Nhờ thế, ông hào hứng hẳn, khoe tiếp rằng để trực tiếp tiếp xúc với các tác phẩm của Fra Angelico, hồi trẻ ông đã đến Firenze không biết bao nhiêu lần.

“Cậu có người ông thú vị quá.”

Cô Giovanna nói. Khi biết ông một mình từ Nhật sang dù đã bảy mươi lăm tuổi, cô tròn mắt, không giấu nổi vẻ ngạc nhiên.

Vì chuyến thăm đột xuất của ông, tôi được cô cho nghỉ. Cô bảo tôi đừng lo, cứ báo hiếu ông nội đi nhưng trong lòng lại không muốn tôi rời khỏi xưởng vì sắp đến ngày xưởng đóng cửa.

Dù vậy, tôi cũng không thể để ông ngoài đường phố Firenze một mình. Người thay mẹ nuôi nấng tôi không phải là bố, cũng chẳng phải mẹ kế, mà là ông. Tôi muốn báo hiếu ông nhiều nhất có thể khi ông vẫn còn khỏe.

* * *

Ngày hôm sau, tôi và Memi quyết định dẫn ông đi một vòng các bảo tàng mỹ thuật. Ông và Memi tuy mới lần đầu gặp mặt nhưng đã lập tức tâm đầu ý hợp, chẳng mấy chốc, Memi đã khoác tay ông bước đi.

Nơi đầu tiên chúng tôi tới là tu viện San Marco. Tu viện San Marco sở hữu nhiều tranh của Fra Angelico đến nỗi có thể gọi đây là bảo tàng Fra Angelico, khiến ông càng thêm phấn khích. Ông kéo tay Memi, dẫn chúng tôi đi vòng quanh khiến chẳng còn biết ai mới là du khách ở đây nữa.

“Xem này, đây là bức Thiên sứ truyền tin, tác phẩm tiêu biểu của Angelico đấy. Bố cục không chê vào đâu được. Tư thế thanh tao. Tâm hồn được gột rửa chính là cảm giác khi được tiếp xúc với thứ này. Chỉ nhìn thôi là thấy lòng dịu lại. Bức tranh có sức mạnh thanh tẩy cái thế giới lắm muộn phiền này.”

Memi mỉm cười không ngớt trước ý kiến rành mạch của ông.

Tiếp theo bức Thiên sứ truyền tin, chúng tôi được thưởng thức các tác phẩm khác của Angelico kèm theo lời thuyết minh của ông như Jesus biến hình, Vương miện gai, Lễ đăng quang Đức Mẹ Đồng Trinh, Đừng chạm vào ta. Khi đến trước bức Nhà tạm của Hiệp hội thương nhân vải gai, nguyên bản của bức tranh chép treo ở xưởng, quả nhiên ông thở gấp gáp và ít nói đi hẳn.

“Có lẽ mình nên để cho ông nghỉ một lát.”

Memi nói nhỏ vào tai tôi. Tôi đỡ ông, đưa ông ra đến hành lang Thánh Antonio ở tầng một của tu viện. Ba chúng tôi ngồi ở dãy hành lang lạnh, hít thở khí trời và chờ ông hồi sức. Ngồi cạnh nhau lặng yên trong tu viện San Marco thế này, tôi thấy như mình đang sống ở thế kỷ 14.

Tôi nhìn lại quãng thời gian trước đây. Ngày tôi đến Firenze. Ngày tôi đến xưởng của cô. Những ngày học việc ở xưởng. Rồi vụ việc kia. Xa hơn nữa, tôi nghĩ đến tương lai. Những ngày sắp tới. Ngày tôi rời bỏ xưởng. Sau khi rời bỏ xưởng. Năm sau. Ngày 25 tháng Năm năm 2000...

Liệu tôi có muốn tiếp tục công việc phục chế mãi mãi không? Liệu tôi có coi công việc này là nghiệp để cống hiến cả đời không? Tôi không biết. Có lẽ đây là một cơ hội tốt để nghĩ về điều đó.

“Công việc của cháu có vui không?”

Ông nội thì thầm như thể nhìn thấu được tâm trạng rối bời của tôi. Memi nhìn tôi với biểu cảm đầy thích thú.

“Khi làm việc, cháu có thể quên cả bản thân.”

“Tức là cháu nghĩ mình hợp với công việc phục chế?”

Tôi không thể trả lời được câu hỏi đó. Tôi chưa từng nghĩ xem mình có hợp với công việc đó hay không. Nhưng tôi đã có lần cảm thấy nó như một sứ mệnh. Cứ nghĩ mình đang làm nhiệm vụ truyền quá khứ tới tương lai, sức lực từ đâu đó trong người tôi lại trỗi dậy. Chỉ cần nghĩ không biết bức tranh mình phục chế một nghìn năm nữa có được ai đó phục chế không, tôi thấy mình như có thể vượt qua mọi giới hạn của con người. Nhưng phục chế lại là một công việc rất dài hơi. Đó cũng là công việc người ta không thể kiểm tra được khi còn sống. Tôi không thể biết công việc của mình cống hiến được bao nhiêu cho tương lai nhân loại.

“Nói sao nhỉ? Cháu không biết nữa nhưng có lẽ là không hợp.”

Cuối cùng tôi cũng bật được ra. Ông nội chậm rãi ngoảnh lại nhìn tôi.

“Không, cháu vẫn chưa biết. Nhiều thứ xảy ra với cháu cùng một lúc, cháu cảm giác như không thể tự quyết định được dù đó là cuộc đời mình...”

Tôi nhớ lại bức tranh bị rạch của Francesco Cozza. Nếu kẻ rạch bức tranh ấy là đồng nghiệp của tôi, suốt đời tôi sẽ không thể tha thứ cho hắn. Với niềm tự hào của một nhà phục chế được gửi gắm cả một di sản của nhân loại...

“Có lẽ cái tôi của cháu lớn quá. Trông cháu vậy thôi nhưng từ xưa đã toàn vì cái tôi mà. Kẻ không giết được mình cũng có lúc thấy đau đớn với công việc phục chế.”

“Vậy là cháu đang phân vân.”

Ông nói. Memi nhìn ra xa, giả vờ như không nghe chuyện. Tôi nhắm mắt lại, cảm nhận gió lạnh lùa vào hành lang. Tôi thấy như mùa xuân vẫn còn xa lắm.

“Hay cháu thử vẽ tranh màu keo?”

Tôi mỉm cười với lời khuyên bất ngờ của ông. Vẽ tranh màu keo ư? Nhưng ông đang cực kỳ nghiêm túc.

“Trước mắt là học chép tranh. Chuyển từ công việc sửa chữa quá khứ sang công việc đi theo sự nghiệp vĩ đại của các họa sĩ trong quá khứ. Làm thế, cháu sẽ nhìn thấy thứ mà trước đây không nhìn thấy.”

“Tức là trở thành họa sĩ tranh màu keo ạ?”

“Đó cũng là một hướng.”

“Ông đột ngột bảo cháu như vậy thì...”

Ông đứng dậy.

“Ông nói thử vậy thôi. Chỉ là ông nghĩ như thế. Giờ tự cháu suy nghĩ đi.”

Ông cười. Memi cũng cười. Tôi cũng chỉ biết cười theo. Hơi thở trắng xóa phả ra từ miệng ba người bay lơ lửng trong không gian hành lang. Có lẽ tôi không cần phải trở thành họa sĩ tranh màu keo. Nhưng lời khuyên của ông chứa đựng cả sự thật. Tôi đã giới hạn tương lai của mình quá. Ý của ông là tôi cần đối mặt với thế giới một cách linh động hơn.

Ông ở lại Firenze một tuần, sau khi đi bộ khắp các bảo tàng mỹ thuật với một năng lượng không ai nghĩ có ở tuổi bảy mươi lăm, ông lên đường sang Paris. Ông bảo ông đi gặp lại người yêu thời du học. Lần đầu tôi nghe chuyện ông từng đi du học, và cũng không thể tưởng tượng nổi người yêu thời bấy giờ của ông vẫn khỏe mạnh và chịu gặp ông. Nhưng tôi cũng không dò hỏi. Ông ghét nhất việc khiến người khác lo lắng. Ông là người nếu đã nói sẽ đi Paris một mình thì dù có chết cũng phải đi. Khi tôi và Memi tiễn ông ra đến sân bay, ông cười bảo: “Lần tới ông cháu mình gặp nhau ở Tokyo nhé.”

“Tokyo ạ...”

Ở giây tiếp theo, ông lại đấm vào bụng tôi. Lần này cú đấm nhằm trúng vào vùng thượng vị hơn lần trước. Tôi lảo đảo và được Memi đỡ trong tư thế đáng xấu hổ.

“Có sơ hở.” Ông cười.

Memi ngạc nhiên phản ứng lại: “Ông làm gì thế ạ?”

“Không được quên cái đau đó đâu đấy. Cũng nên biết thêm về sự khắc nghiệt của cuộc đời.”

Memi há hốc miệng vì ngạc nhiên. Còn tôi, vì mải nghĩ đến câu nói hẹn gặp ở Tokyo của ông nên đã không đỡ được.

“Tokyo ấy ạ.”

Tôi lẩm bẩm thì ông liền ghé tai hỏi lại: “Gì thế, ông không nghe rõ.”

“Hay là cháu về Nhật nhỉ?”

Tôi nói thật rõ ràng. Ông gật đầu.

“Hả? Anh sẽ về Nhật á?”

Memi nhìn tôi hỏi lại.

“Anh cũng chưa quyết định.”

Nhưng tôi nghĩ đó cũng là một lựa chọn. Quay lại Nhật để xốc lại tinh thần rồi bắt đầu lại có khi cũng tốt.

“Con người, khi do dự thì nên mạnh dạn đổi hướng. Gương mặt cháu đầy những do dự. Ông không nghĩ cháu có thể làm việc tốt với gương mặt đó. Phòng của cháu vẫn còn nguyên như ngày xưa đấy. Cháu có thể về bất cứ khi nào.”

Ông nói mấy lời ấy xong rồi đi. Dáng ông cụ bảy mươi lăm tuổi một mình đi qua cửa phòng cách ly trông thật vững chãi. Nghĩ vậy, kỳ lạ thay, một niềm vui đâu đó dâng lên trong lòng tôi. Chắc chắn ông muốn nói với tôi rằng cuối cùng người tôi có thể trông cậy chỉ có bản thân tôi mà thôi.

Tôi nắm tay Memi. Nàng lập tức nắm lại.

“Anh sẽ về sao? Em buồn đấy.”

Tôi lắc đầu. Tôi nói “Anh không biết...” rồi nuốt vế sau vào trong bụng.

Nếu quay về Tokyo, có thể tôi sẽ tình cờ gặp lại Aoi.

Tôi muốn gặp lại Aoi, một lần thôi cũng được.

Một hôm, khi chỉ còn vài ngày nữa là xưởng đóng cửa, Angelo hẹn gặp tôi ở một quán bar trong khu trung tâm. Cậu ta bảo có chuyện dù thế nào cũng phải nói lại với tôi. Tôi giữ khoảng cách với Angelo hơn kể từ khi biết cậu ta chuyển sang xưởng đối thủ, nhưng vì cậu ta bảo có thông tin về kẻ đã rạch bức tranh của Cozza nên tôi không thể không gặp.

Angelo chờ tôi ở bàn trong cùng quán bar tối tăm. Cậu ta mang vẻ mặt nghiêm nghị của người đã hạ quyết tâm. Quán bar đang bật những bản nhạc thịnh hành tại Ý này đầy ắp những cặp đôi. Có những vị khách nhún nhảy trên sàn. Ngay cả ở thành phố lịch sử luôn giữ gìn truyền thống này, người trẻ vẫn sống. Phần lớn những người năng động đã tới Milano và Roma, những người ở lại thì tập trung ở chốn giải trí thế này để trút ra thứ năng lượng mà họ không có nơi phát tiết.

Vì tiếng nhạc lớn nên chúng tôi không thể nghe bên kia nói gì nếu không ghé sát mặt vào nhau. Tôi cố bắt được lời của Angelo.

“Cậu nói gì cơ?”

Tiếng Angelo lẫn trong tiếng ồn.

“Cậu nói lại lần nữa được không? Nói to nữa lên.”

Nhưng những gì cậu ta nói khiến tôi không thể suy nghĩ được gì nữa. Bởi những lời đáng sợ ấy cứ xoay vòng trong đầu khiến tôi run lên.

Sau khi chia tay Angelo, tôi lang thang ở Firenze một mình trong đêm. Tôi chẳng biết nên đi về đâu. Cứ bước đi vô định dọc sông Arno. Có lúc tôi đã đứng dưới căn hộ của Memi nhưng không bấm chuông. Tôi ngước nhìn căn phòng còn sáng đèn của nàng một lúc rồi nhẹ nhàng quay gót bước đi.

Bức tranh đó là cô giáo rạch...

Tiếng Angelo chập chờn trong đầu tôi. Nó cứ phình tướng lên rồi lại xẹp xuống như muốn xé nát đầu tôi.

“Cái gì vậy. Thật vớ vẩn. Ăn nói hồ đồ như vậy là không xong đâu.”

“Không phải hồ đồ đâu. Một điều như thế có thể nói đùa được sao?”

Càng hiểu ánh mắt kia không phải là ánh mắt của kẻ đang nói dối, tôi càng thấy hoang mang. Cô giáo đã rạch bức tranh đó...

“Một sinh viên thực tập đã chứng kiến. Nhưng hắn giữ kín. Vì sự thật đó quá khủng khiếp. Hắn khá là lo lắng và chỉ nói cho mình tôi biết.”

Đồng tử của Angelo run rẩy. Thấp thoáng có nước mắt trên nhãn cầu. Đèn trong quán khẽ chiếu vào khiến đôi mắt ánh lên màu xanh.

“... Vì cô giáo ghen tị với anh đấy.”

“Tại sao?”

“Cái đó thì tôi vừa biết vừa không biết... Cô giáo ghen vì anh có thể làm việc hoàn hảo hơn cô. Được chưa? Đó là sự thật.”

Đoạn điệp khúc của bài hát thịnh hành đang phát ra từ loa cùng với câu nói của Angelo cứ lùng bùng mãi bên tai tôi.

“Che vita é, che vita é...”[1]

“Ngu ngốc!”

Tôi đứng dậy, quay lưng lại với Angelo. Tôi muốn ra khỏi quán. Tôi không thể chịu nổi tiếng ồn vô nghĩa này nữa. Vừa định bước đi thì đôi chân ríu lại. Cơ thể tôi không cử động như ý muốn. Angelo chạy lại, đỡ lấy tôi lúc này đang chống tay vào tường vì mất thăng bằng. Tôi hít vào thứ không khí đêm đông vẫn còn nặng nề và lạnh lẽo của Firenze để nén cơn buồn nôn.

“Junsei!”

Tôi dùng hết sức hất tay Angelo ra.

“Lắm chuyện quá, đừng có lảng vảng quanh tôi nữa!”

Tôi vùng ra khỏi Angelo, lao vào trong đêm.

“Junsei! Tôi nghĩ cho anh mà...”

Tôi xô mạnh vào ngực Angelo khi đó đuổi theo tôi rồi chạy vào màn đêm Firenze hết tốc lực...

Junsei, đừng đi. Tiếng Angelo vẫn vọng lại từ đằng sau. Mọi âm thanh trong đầu lắng dần rồi tan biến, chỉ còn hình ảnh khuôn mặt u uất của Giovanna, người đã rạch bức tranh Cozza, hiện lên trong bóng tối, chập chờn một cách buồn bã.

“Che vita é, che vita é...”

Câu điệp khúc của bài hát cứ mãi lùng bùng trong tai tôi.

[1] Tiếng Ý: Đời người là, đời người là...

việc ngoài sức tưởng tượng. Chuyện là ngẫu nhiên có một nhà sưu tầm mỹ thuật nổi tiếng qua đời, một bảo tàng có kế hoạch triển lãm toàn bộ tác phẩm mà người đó sở hữu. Trong số đó có một bức tranh bị hư hại khá nặng. Đó là một bức sơn dầu c
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.