Quảng trường của tôi.
Tôi từng gọi người con gái mình yêu như thế. Với một kẻ khó sống, không dễ hòa nhập với xung quanh như tôi, nàng mát lành như một quảng trường thành phố, đột nhiên mở ra ở cuối con hẻm. Chẳng có việc gì nhưng ngày nào tôi cũng đến đó, giống như những người già thừa thời gian vẫn hay làm.
Khi ở trong vòng tay nàng, tôi thấy mình may mắn chứ không hề cô độc.
Tôi sinh ra ở Mỹ, đến năm 18 tuổi vẫn không biết về quê hương của mình, vì vậy những bạn bè đồng trang lứa tuy mang cùng một khuôn mặt nhưng là những người xa lạ với tâm hồn hoàn toàn khác biệt. Cách suy nghĩ khác nhau khiến tôi vô cùng mệt mỏi.
“Đây không phải là Mỹ đâu nhé.” Đã có lần tôi bị phê phán về cách sống như thế.
Khi tìm được một quảng trường để trái tim có thể nghỉ ngơi giữa cuộc sống sinh viên, tôi biết, đây chính là tình yêu đầu đời của mình. Vì thế, tôi đã yêu nàng bằng toàn bộ sức lực, dẫn đến không biết lượng sức mà yêu quá nhiều.
“Đừng vội mà.” Con người lạnh lùng ấy thường nói với tôi như vậy nhưng tôi thèm khát tất cả những gì thuộc về người ấy.
Nắng hè chỉ thoáng qua chứ không vĩnh viễn, nhưng tại sao lại thuần khiết và táo bạo như thế? Mỗi khi hè tới, bị lóa mắt bởi ánh sáng đó, chân tôi lại tìm bóng râm. Đó là cách tôi sống cho đến ngày hôm nay.
Một mùa đã trôi qua kể từ khi Memi bỏ đi. Nhằm lúc tôi không có nhà, nàng đã đến lấy hành lý. Trong lá thư để lại, nàng viết rằng nàng đang ở nhờ nhà bạn cũ nên tôi không phải lo. Những nét chữ thờ ơ hơn tôi nghĩ. Từ đó trở đi, tôi chưa gặp lại nàng.
Từng có người bỏ đi khỏi căn hộ ở Umegaoka này giống như thế. Mà không, nói chính xác thì một người con gái từng bị tôi đuổi đi. Một quảng trường của riêng mình mà tôi nhọc công có được. Một sân chơi, một nơi xoa dịu tâm hồn, một nơi để nghĩ tới tương lai...
“Tại sao chúng ta phải chia tay?”
Người đó đứng lặng trước thềm cửa nói bằng giọng run run. Tôi mất đi sự điềm tĩnh, chỉ biết một mình hứng chịu đau đớn và đổ vỡ mỗi khi nàng nói gì đó. Có những lúc chính vì quá yêu nên không thể làm lại từ đầu.
“Tại sao ư? Cậu thật không thể tin nổi.”
Đầu tôi trống rỗng, chẳng còn nghe được gì nữa.
“Cậu cho rằng mọi chuyện vẫn có thể như cũ được sao? Thật đáng ngạc nhiên. Cậu không biết điều cậu đã làm kinh khủng đến mức nào ư? Cậu ra khỏi đây đi. Đừng bao giờ quay lại đây nữa!”
Đứng đối diện với tôi đang trong trạng thái bị kích động, nàng chỉ lặng thinh nhìn chằm chằm xuống chân tôi. Rồi chẳng buồn nhìn lên, nàng lẳng lặng biến mất sau cánh cửa.
Sau khi đánh mất quảng trường, tôi không còn ra ngoài đi dạo nữa, chỉ ngồi thẫn thờ bên cửa sổ trong căn phòng cô độc nhìn ánh mặt trời và những đám mây trôi như người già chờ đợi cái kết của những năm cuối đời. Tôi khóa trái tim mình lại, cố gắng không gặp ai nữa.
Buổi chiều, tôi ra ngoài đi làm. Khoảng ba tháng đã trôi qua kể từ khi tôi làm việc tại xưởng phục chế ở Sendagaya do ông giới thiệu. Xưởng mới nằm tại một địa điểm mát mẻ bên cạnh rừng Sendagaya, từ chỗ tôi ngồi làm việc có thể nhìn thấy vườn cây của đền Meiji.
Dù cách làm phục chế của Nhật và Ý hơi khác nhau nhưng vì người giới thiệu là ông, cộng với việc hiện người nắm được kỹ thuật phục chế của Ý vẫn còn hiếm nên đây là chỗ làm tốt hơn tôi tưởng, xét về cả lương lẫn thời gian.
Tuy đều có kỹ thuật phục chế nhưng thực tế, tay nghề của mỗi người lại có sự khác biệt. Cũng có những quy tắc mang tính sách vở chỉ ra rằng đâu là phương pháp phục chế đúng nhưng tùy tình trạng từng tác phẩm, thời đại ra đời và thủ pháp đặc trưng của mỗi họa sĩ mà phương pháp phục chế cũng muôn hình vạn trạng. Điều này là bình thường. Thêm vào đó, mỗi nhà phục chế lại nghĩ ra một kỹ thuật khác nhau nên không quá lời khi nói rằng có bao nhiêu nhà phục chế thì có bấy nhiêu phương pháp phục chế.
Có lẽ chuyện tôi được xưởng phục chế ở Nhật thu nhận dễ dàng cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Nếu không muốn nói tôi còn được trọng dụng vì có nhiều kinh nghiệm và thành tích thực tế.
Được ngửi mùi xưởng làm việc sau bao ngày, kỳ lạ thay, tôi thấy trái tim được xoa dịu. Mùi véc ni và mùi đặc trưng của dụng cụ vẽ vượt qua trung khu thần kinh khứu giác, kích thích vùng điều khiển ký ức của não bộ khiến tôi nhớ về quãng thời gian làm việc vui vẻ nhất thời còn ở xưởng của cô Giovanna.
Xưởng làm việc mới dành cho mỗi thợ phục chế một khoảng không gian hào phóng. Không gian của tôi rộng gấp ba lần chỗ làm việc ở xưởng của cô Giovanna, có vách ngăn với người bên cạnh nên giữ được sự riêng tư.
Tiếng nhạc cổ điển nhẹ nhàng phát ra từ loa, âm lượng nhỏ, đủ để không gây phiền. Trần nhà cao, có cả những thiết bị hiện đại như giá đỡ, thiết bị chiếu sáng, cần trục.
Ngay từ đầu, tôi đã được giao một việc ngoài sức tưởng tượng.
Chuyện là ngẫu nhiên có một nhà sưu tầm mỹ thuật nổi tiếng qua đời, một bảo tàng có kế hoạch triển lãm toàn bộ tác phẩm mà người đó sở hữu. Trong số đó có một bức tranh bị hư hại khá nặng. Đó là một bức sơn dầu của Francesco Cozza được vẽ những năm cuối đời.
Cuộc tái ngộ đầy duyên nợ với Cozza khiến tôi vô cùng ngạc nhiên.
Francesco Cozza sinh năm 1605 tại thành phố Stilo, tỉnh Calabria, Ý, mất năm 1682 tại Roma, hầu như không được biết đến ở Nhật. Tuy vậy, tên ông thường xuyên xuất hiện trong lịch sử mỹ thuật. Có nhà phê bình đã đánh giá Cozza là họa sĩ quan trọng nhất thế kỷ 17. Tại Ý, công trình nghiên cứu về ông vẫn còn được xuất bản.
Hiện nay, tranh của ông được trưng bày tại Bảo tàng mỹ thuật quốc gia Amsterdam, Bảo tàng mỹ thuật quốc gia Copenhagen, Bảo tàng mỹ thuật quốc gia Roma... Tuy nhiên, vốn là một họa sĩ không sáng tác nhiều nên số lượng tác phẩm của ông cực kỳ ít ỏi, thêm nữa, một số tranh còn thuộc sở hữu cá nhân hoặc thuộc nhà thờ.
Cơ hội được phục chế tranh của Cozza như thế này phải nói là vô cùng hiếm, tôi không khỏi cảm thấy hình như có một mối duyên. Sau khi vụ việc kia xảy ra, đúng lúc tôi quay về Nhật và đang hoang mang với con đường mà mình lựa chọn thì tác phẩm của Cozza đột nhiên xuất hiện, khiến tôi buộc phải tin rằng đó là ý trời.
Do bị bảo quản sai cách trong một thời gian dài, có lẽ vì bị treo ở nơi ẩm thấp nên khắp bề mặt bức tranh đầy vết phồng rộp và bong tróc. Vấn đề là các vết bong tróc lại tập trung ở chính giữa bức tranh với diện tích khoảng mười xen ti mét vuông.
Có thể nói, tình trạng bảo quản của bức tranh cho phép tôi nghi ngờ hiểu biết của người sở hữu tác phẩm. Dù không nổi tiếng ở Nhật nhưng đây là một họa sĩ thiên tài tiêu biểu của Firenze thế kỷ 17. Giám đốc bảo tàng mỹ thuật nơi có kế hoạch triển lãm nghe đồn về tôi nên tìm đến, nói rằng dù thế nào cũng muốn làm sống lại bức tranh này. Ông còn bảo muốn tôi bí mật phục chế sao cho người thường không thể biết nó đã bị bảo quản tồi tệ đến như vậy. Do liên quan đến nhà sưu tầm nên chuyện như thế không phải là hiếm, kể cả ở Ý.
Trong xưởng cũng có nhiều nhà phục chế xuất sắc nhưng họ đang bận với vài dự án lớn khác, không có thời gian để làm công việc đến bất ngờ thế này. Tôi xuất hiện ở đó vừa đúng lúc. Và cũng để thẳng thắn đối mặt với tuổi thanh xuân đơn sơ và vụng về của mình một lần nữa, tôi quyết định làm mới tâm trạng và vùi đầu vào công việc phục chế bức tranh của Cozza.
* * *
Bức tranh có dấu vết đã từng được phục chế tuy không xác định được là vào thời gian nào. Đây là tác phẩm cách đây khoảng ba trăm năm nên trong thời gian đó, có lẽ nhà sưu tập đã từng nhờ phục chế lại. Theo lời giám đốc bảo tàng mỹ thuật, từ khi nhà sưu tập hiện nay mua lại, bảo tàng chưa từng sở hữu bức tranh này. Vì thế, có lẽ nó đã qua tay một nhà phục chế ở Ý.
Tôi quyết định bắt đầu bằng việc đối diện với Cozza. Tôi muốn hỏi chính tác phẩm rằng ngài muốn được thế nào. Nhà phục chế không phải cứ ngạo mạn về kỹ thuật của mình rồi tùy tiện phục chế mà phải lắng nghe tiếng nói của linh hồn trú ngụ trong bức tranh, hòa cùng tiếng nói đó để thực hiện. Đó là phương pháp tốt nhất mà tôi tin tưởng.
Ấn tượng đầu tiên khi nhìn tổng thể bức tranh là màu sắc quá nặng nề so với một tác phẩm của Cozza. Cảm giác như tinh thần vốn có của bức tranh đã bị giết chết bởi lần phục chế trước.
Cozza tuy là người theo chủ nghĩa cổ điển nhưng ông hoàn toàn xa rời trường phái hàn lâm. Tôi cảm nhận được sức mạnh tâm linh đâu đó trong tác phẩm của ông. Cảm giác như người phục chế trước đã coi nhẹ phần linh hồn ấy của Cozza, ưu tiên ấn tượng của mình để đi màu.
Qua bước kiểm tra sơ bộ trước khi phục chế bằng ảnh chụp X quang và chụp tử ngoại, tôi phát hiện ra do chỉnh màu quá tay mà bề mặt bức tranh bị bao phủ bởi một lớp màu tương đối dày. Ngoài ra, các chỗ sáng được tô rất dày, ngược lại, chỗ tối lại tô mỏng.
Tôi quyết định loại bỏ càng nhiều càng tốt lớp véc ni dày trên bề mặt bức tranh và những chỗ chỉnh màu có gọi là mổ xẻ cũng không sai. Để rửa trôi véc ni, lớp trên tôi dùng xăng trắng, lớp dưới tôi dùng ethanol. Mùi ethanol thân thuộc xộc vào mũi khiến tôi xích lại gần hơn linh hồn của thiên tài thế kỷ 17.
Tôi cũng dùng ethanol để loại bỏ lớp chỉnh màu cũ. Khi đã loại bỏ được kha khá, tôi mới biết dưới lớp màu có dính một vết bẩn khác màu nâu đậm. Vết bẩn ấy tôi rửa bằng nước amoniac loãng.
Việc làm sạch bức tranh mang lại cho người phục chế một cảm giác phấn chấn. Tuy chỉ là một phần nhỏ trong công tác phục chế nhưng những lúc thế này, tôi thường có cảm giác như tâm trạng mình cũng được gột rửa. Bằng việc rửa trôi một phần vết bẩn của thời gian, của chính trị và cả tôn giáo phủ lên bức tranh theo năm tháng, tôi đã đưa nó trở về với tình trạng thuần khiết thuở mới được vẽ nên.
Trong lúc xua đi những tà niệm của nhà phục chế trước bằng ethanol, có giây phút tôi thấy như mình đang tự gột rửa tâm hồn. Cảm giác thanh khiết như thể tôi đang gột đi cái nghiệp của con người. Một sự rung động nhẹ nhàng tựa như đang cầm một cây chổi quét sân ngôi chùa tĩnh lặng.
Khi đó, bức tranh là vị khách đang được chủ tiệm cắt tóc cạo râu cho. Một vị khách chất phác đang nằm dài trên ghế. Bên dưới lớp râu đang được cạo đi soàn soạt là làn da nhẵn nhụi đợi chờ.
Sau khi các công đoạn rửa sạch hoàn tất, phía sau lớp mây đen hiện lên khoảng trời xanh tươi đẹp của bức tranh gốc. Trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy như cuộc đời mình trước kia đã được linh hồn của Cozza tha thứ.
Màu vẽ nguyên bản của bức tranh đẹp hơn nhiều so với dự đoán.
Ấn tượng về màu xanh mát rượi của bầu trời Ý vẫn còn đây. Bầu trời xanh trong vắt tương phản với những bóng cây tối.
Đỉnh ngọn núi phía xa cùng với bầu trời tạo thành một đường thành mong manh, những đám mây trôi lững lờ bên trên nhạt dần vào bầu trời, cảnh tượng chúng hòa tan với màu trời trông tuyệt đẹp.
Sau khi xử lý khung tranh bị mọt và căng lại mặt nền, tôi bước vào công đoạn đưa hồn mình đến gần với linh hồn Cozza. Đó là khoảnh khắc tuyệt diệu, vượt qua thời gian để hợp nhất với họa sĩ.
Tôi quét chất bảo quản lên bề mặt bức tranh và sử dụng màu acrylic dạng hòa tan. Chỉnh màu chính là đỉnh cao của công việc phục chế, nhưng thật ra kết quả của quá trình xử lý nghiêm ngặt trước đó mới khiến đại sự kiện “chỉnh màu” kết thúc rực rỡ.
Tôi nắm chặt cây bút lông, bắt đầu công đoạn chỉnh màu, cổ tay lúc thả lỏng lúc nhấn thật mạnh. Tôi vừa điểm màu, vừa tưởng tượng cảm giác của họa sĩ Cozza cô độc đang lặng lẽ ngồi trước tấm vải. Niềm hạnh phúc dồn nén suốt cả quá trình phục chế lâu ngày nhất loạt trào dâng. Đây cũng là giây phút tôi thích nhất, bởi tôi đang cưỡi cỗ máy thời gian trở về thế kỷ 17. Cozza mà tôi chưa từng gặp sẽ hợp nhất với tôi. Tôi gặp được hơi thở thời đại mà ông nhìn, cảm nhận, hưng phấn và suy tưởng. Tôi hóa thành pháp sư.
Cây bút cứ chuyển động một cách tự nhiên. Vượt qua cả năng lực của bản thân, tôi cảm thấy sự hợp nhất như thể đã kết nối được với linh hồn Cozza trên thiên đường. Thời khắc đỉnh cao đó chỉ dành cho riêng nhà phục chế.
Tôi nhớ lại bức tranh bị rạch của Cozza, bức tranh mà tôi đã thấy không biết bao nhiêu lần trong những cơn ác mộng. Nhưng với việc phục chế lần này, cuối cùng tôi đã có thể gượng dậy từ nỗi đau ấy và hòa giải với Cozza.
Tôi nghĩ mình chỉ có thể tiến lên phía trước khi làm một nhà phục chế. Vì chỉ còn cách dần hòa giải với quá khứ để tiến tới tương lai mà thôi.
Trong lúc lặng lẽ làm công việc đơn điệu nhưng tinh tế ấy, nỗi đau cơ thể tôi cũng dần dần dịu bớt. Tôi nhanh chóng quen được với nơi làm việc mới cũng là nhờ công việc ấm áp, sâu nặng này.
* * *
Các nhà phục chế người Nhật đều rất lặng lẽ và điềm đạm. Xong việc, thỉnh thoảng mọi người cũng đi nhậu ở quán rượu trước ga nhưng không ai mở miệng nói những điều không thật sự cần thiết về cuộc sống riêng tư của tôi cũng như về ông nội, người khá có tiếng trong giới mỹ thuật.
Dáng những người thợ phục chế trong bộ áo bảo hộ đứng ở mỗi gian làm việc trong xưởng phục chế rộng lớn trông giống hệt những tác phẩm điêu khắc quý đang được trưng bày. Có thể nói đó là những bức tượng mang không khí tôn nghiêm chỉ thấy được ở xưởng phục chế.
Một tối giữa mùa hè, tôi có một buổi đi nhậu tới khuya hiếm hoi với những đồng nghiệp ở xưởng. Chủ đề của cả buổi là Raffaello. Có ai đó nói trông tôi giống Raffaello, thế là câu chuyện lan sang cả mỹ thuật Firenze thời Phục hưng. Nhớ lại mình cũng từng được nhận xét như vậy tại phòng trưng bày mỹ thuật ở Ý, tôi tủm tỉm cười. Khi tôi bảo chắc giống ở vẻ ngẩn ngơ, xung quanh rộ lên một tràng cười nhẹ.
Tôi thích hình tượng Đức Mẹ của Raffaello. Hình tượng ấy mang vẻ đẹp lý tưởng, dịu dàng, phúc hậu hơn hình tượng Đức Mẹ của bất kỳ họa sĩ nào khác.
Nhắc tới hình tượng Đức Mẹ của Raffaello, tôi nhớ tới Aoi. Nàng đã từng là Đức Mẹ của tôi. Từ lúc gặp gỡ cho đến lúc chia tay, mà không, có lẽ giờ vẫn vậy. Kể từ khi chia tay, đã bảy năm trời trôi qua nhưng hình bóng nàng không những không rời khỏi trái tim tôi mà càng ngày càng sâu đậm hơn.
Cú điện thoại hôm đấy có thật là của Aoi không? Dù đầu dây bên kia chỉ nói là gọi nhầm rồi dập máy nhưng giọng nói đó giống giọng Aoi vô cùng. Bảy năm đã trôi qua nhưng tôi chắc chắn không thể nghe nhầm giọng Aoi được.
Nhưng tại sao tôi không đến ngay Milano để xác nhận điều đó? Nếu cú điện thoại đúng là của Aoi thì hẳn đó là tín hiệu níu kéo quá khứ trở lại. Có thể nàng cũng không quên tôi như tôi không quên được nàng. Có thể nàng vẫn nhớ lời ước hẹn gặp nhau trên nóc nhà thờ lớn ở Firenze. Bởi sang năm là đến ngày đó rồi.
Tôi không đủ tự tin một trăm phần trăm. Con người điềm tĩnh của tôi đang cố kìm lại tâm trạng sốt ruột. Tôi nghĩ mình không có quyền thản nhiên đi tới nơi mà nàng và bạn trai người Mỹ đang sống hạnh phúc để làm khổ nàng nữa. Tôi chính là kẻ đã đuổi Aoi đi. Ý nghĩ mình không bị căm hận mà còn được yêu đến tận bây giờ chỉ là ảo ảnh của một kẻ ngốc tự vẽ ra. Trường hợp người gọi cú điện thoại đó không phải là Aoi thì tôi trở thành kẻ vấy bẩn lên cuộc sống của Aoi lúc này.
Tôi không đủ dũng khí. Tôi muốn gặp nàng. Tôi muốn được nhìn thấy nàng của hiện tại, dù chỉ trong chớp mắt. Đêm nào tôi cũng nhớ nàng. Nhưng dù có nhớ thì dường như nỗi nhớ đó cũng không thể đảo ngược được quá khứ nên tôi thấy sợ. Tôi vẽ Aoi. Trong đêm tối cô đơn, tôi vạch vô số những nét ký ức về nàng trên mặt giấy trắng tinh.
Chia tay đồng nghiệp xưởng phục chế ở ga Shinjuku, tôi đổi tàu sang tuyến Odakyu và xuống ở ga Umegaoka. Nhà ga vẫn vẹn nguyên như thời sinh viên, đến mức tôi như rơi vào ảo giác rằng mình đã quay ngược lại thời gian. Dường như đang có hai cô cậu đứng ở sân ga phía bên kia chờ tàu đi Seijo.
Ra khỏi cổng soát vé, tôi đi đến bùng binh ở phía Bắc. Đèn đường chiếu sáng khu vực trước ga. Đám thanh niên hình như là sinh viên đại học say rượu, đang la lối om sòm chỗ bốt điện thoại. Chỉ có tiếng la hét của chúng vang vọng trong đêm hè. Tôi không thể nhớ nổi bảy năm qua mình đã sống như thế nào.
Về đến nhà, tôi thấy có bóng người trước cửa. Là Memi đang ngồi ôm gối. Nghe tiếng bước chân, nàng ngẩng lên, nhìn tôi không nói gì.
Không ai nói lời nào, cảm xúc cứ từ từ thiêu đốt cổ họng hai đứa đến mức sốt ruột. Mái tóc dài của Memi đã bị cắt cụt cao quá tai. Mái tóc đó giờ ngắn một cách đau đớn như thể đang thầm nhiếc móc tôi vậy.
“Em ở đâu mà không liên lạc với anh thế?”
Tôi hỏi nhưng Memi không trả lời. Đã vậy, nàng còn bĩu môi, ánh mắt sắc lẹm như thể đã quyết tâm.
“Em đến đây vì muốn làm rõ mọi chuyện.”
Nàng đứng dậy. Tôi mở khóa, kéo cửa. Memi im lặng bước vào. Vẫn còn vài bức vẽ chân dung Aoi để trên ghế xô pha. Ánh mắt chúng tôi cùng dừng lại ở đó. Memi nhìn những bức vẽ ấy một lúc. Tôi thu lại từng bức tranh, chẳng hề tỏ ra vội vàng.
Memi khẽ thở dài rồi ngồi xuống chiếc ghế cạnh cửa sổ. Tôi ngồi xuống ghế xô pha, đợi nàng nói.
“Vậy là chúng ta phải chia tay nhỉ.”
Câu nói yếu ớt vừa bất ngờ thốt ra thì đến lượt tiếng sụt sịt khẽ vang khắp phòng. Tôi nhìn Memi thì thấy ánh mắt nàng hướng thẳng về bức tranh Mối liên kết.
Pha trộn hai dòng máu Ý và Nhật nên nàng có khung xương hơi khác so với tôi. Chiếc mũi thanh tú phía trên đôi môi nhỏ xinh xắn. Đôi mắt to, sắc nét phản chiếu ánh sáng đèn đang lấp lánh từ trong đáy mắt. Nàng kế thừa trọn vẹn những nét đẹp của người Á và người Âu, rực rỡ như một tác phẩm nghệ thuật. Vậy mà nàng chưa bao giờ thấy vui với ngoại hình lai ấy. Có lẽ phải nói rằng nàng căm thù nó.
“Đã kết thúc rồi nhỉ.”
Tôi nhớ lại những ngày phiền phức khi bị Memi đeo đuổi tại Firenze. Nhưng cái tính vô tư thiếu nữ đó lại là khí vị riêng của nàng. Dù khó chịu vì nàng lúc nào cũng đi theo mình như kẻ bám đuôi nhưng đồng thời tôi cũng thấy nàng đáng yêu như cô em gái độc nhất trên đời.
“Anh đâu có nói kết thúc hay chia tay.”
Memi bật khóc. Rồi bất chợt nàng nín khóc, miễn cưỡng nở nụ cười. Nàng vừa sụt sịt vừa cố kìm nén bản thân.
“Em không muốn được dỗ dành. Nếu anh vứt bỏ em thì phải nói cho rõ. Không thì em sẽ luôn nhớ đến anh. Bởi vì với em, Junsei là người duy nhất, người duy nhất trên đời mà em thật sự yêu.”
Tôi không thể tha thứ cho bản thân đã nghĩ rằng nàng rắc rối. Bởi hơn ai hết, tôi biết Memi thật lòng yêu tôi. Vậy mà tôi lại sắp nhẫn tâm kết thúc mối quan hệ đó không chút khoan nhượng.
“Anh có còn nhớ không? Chúng mình đã cùng đi bộ dọc sông Arno. Chúng mình nắm tay nhau đi mua sắm, đi ăn tối, uống rượu và hôn nhau. Chúng mình đã làm tình không biết bao nhiêu lần. Em biết rõ từng ngóc ngách trên cơ thể Junsei. Em biết rõ hơn bất cứ ai, bất cứ ai hết. Em yêu anh đến thế mà vẫn phải chia tay sao?”
Lúc nào tôi cũng nghĩ Memi thật trẻ con. Tôi chẳng biết làm gì với một người đụng đâu hỏng đấy như Memi. Nhưng dù nghĩ rằng nàng rắc rối thì tôi cũng thấy nàng thu hút vì chính những điều vụng về ấy. Thành thực mà nói, chia tay Memi rồi, sau mười năm nữa chưa chắc tôi đã không nhớ nàng như nhớ Aoi. Đúng như Memi nói, đã quá nhiều lần tôi được nàng cứu rỗi. Tôi từng cảm thấy bình yên bởi chính tính cách trẻ con của nàng.
Đồ đạo đức giả! Tôi tự lên án mình.
“Memi, anh thích em nhưng anh không thể làm gì được. Con người không thể yêu hai người cùng một lúc. Nếu anh nói anh thấy dễ chịu khi ở cùng em thì đó là anh lừa dối mình, lừa dối em, anh không thể đẩy tương lai quý giá của hai đứa đến chỗ tồi tệ đó được.”
Memi ngoảnh lại nhìn tôi. Khuôn mặt ấy thật xinh đẹp. Con người xinh đẹp nhất khi buồn khổ.
“Dù tương lai đó có tồi tệ đến mức nào, chỉ cần có Junsei là được. Em sẽ không thua ai đâu. Em tự tin rằng mình có thể yêu Junsei hơn bất kỳ ai. Vì em sẽ trưởng thành. Em sẽ cố gắng hơn nữa, xinh đẹp hơn nữa, và em sẽ trở thành một cô gái tốt hơn nữa cho anh thấy.”
“Không cần phải thế. Em cứ như bây giờ thôi.”
“Không, em có thể thay đổi. Để được Junsei yêu, em có thể làm tất cả.”
Khoảng lặng lại tiếp diễn. Một khoảng trống dài. Memi nhắm mắt suốt khoảng thời gian ấy. Thỉnh thoảng nàng cắn chặt môi làm cho phần cơ cằm khẽ rung.
“Khi em buồn vì không hiểu được lời bố, nhờ có Junsei ở bên mà em cảm thấy mình làm được và có thể sống tiếp. Em hiểu ra thế giới không có anh chẳng có ý nghĩa gì hết. Mấy tháng nay em đã suy nghĩ rất nhiều. Nếu có thể làm lại từ đầu nữa, em sẽ cố gắng. Vậy mà…”
Ngực tôi đau nhói. Memi cũng đau đớn như tôi đang đau đớn. Cùng đau đớn cũng là một kết cục của tình yêu.
“Chắc em sẽ chết.”
“Vớ vẩn. Em không thể làm thế được. Em là con người yếu đuối đến vậy sao?”
Memi bật khóc thành tiếng. Lần này tiếng khóc kéo dài mãi không ngừng.
Sao ngày ấy Aoi không khóc? Nàng đã bao giờ khóc trước mặt tôi chưa? Chắc chắn là có rồi. Thậm chí là khóc nức nở. Vậy mà trong ấn tượng của tôi, nàng là người lúc nào cũng lạnh lùng và mạnh mẽ như Jeanne d’Arc[1] trong bộ áo giáp.
Nín khóc, Memi cắn chặt răng và lườm tôi:
“Vậy thì em có thể hẹn hò với người đàn ông khác nhỉ? Một người khác không phải Junsei có thể chiều chuộng em được đúng không?”
Hình ảnh người đàn ông xa lạ ôm chặt Memi lướt qua đầu bất giác khiến ngực tôi thắt lại. Tôi nhớ tới khuôn mặt ngây thơ như con trẻ của Memi khi ngủ trong vòng tay tôi.
Tôi chưa bao giờ nhìn gương mặt Aoi trong ánh nắng. Tôi chỉ có ấn tượng về ánh trăng trên gương mặt say ngủ của Aoi. Ấn tượng nhẹ nhàng về cái bóng xanh bao trùm gương mặt ấy.
“Được phải không?”
Sau một thoáng lưỡng lự, tôi gật đầu. Những sợi thần kinh trên gương mặt Memi dựng đứng.
“Được sao? Được sao? Em có thể hẹn hò với một người đàn ông xa lạ à? Dù anh có muốn quay lại thì em cũng sẽ không còn nữa đâu. Em sẽ đi mất đấy.”
“Đành vậy thôi.”
“Tại sao?”
“Chuyện đó thì…”
Memi đứng bật dậy, đặt tay vào áo phông rồi bất ngờ cởi phăng chiếc áo ra. Sau đó là tới quần.
“Kìa, em làm gì vậy. Mặc đồ vào đi.”
“Em không muốn!”
“Không muốn cái gì. Mặc đồ vào. Em có cởi hết ra cũng không thay đổi được gì cả.”
Tay Memi dừng lại, nàng lại òa khóc, vừa khóc vừa tiếp tục cởi đồ. Nàng cởi áo lót, bầu ngực lộ ra. Mái tóc ngắn khiến đầu nàng trông nhỏ hơn hẳn.
Khi trên người không còn một mảnh vải, nàng đứng chắn trước mặt tôi và nhìn thẳng xuống chỗ đó. Tim tôi rung lên vì biết cô gái này đang thật lòng đến mức nào. Tôi đã từng được ai yêu đến mức này chưa? Aoi không?
Tình cảm nghiêm túc của Memi cực kỳ đáng yêu nhưng cũng là phiền phức lớn.
Tôi khẽ ôm lấy nàng, cảm nhận hơi ấm và nhịp đập trái tim nàng. Nàng quằn quại, đòi hỏi dữ dội nhưng tôi đã kìm hãm lại. Tôi bẻ quặt hai tay nàng ra sau để ngăn nàng ôm tôi. Nàng gầm lên như một con thú. Hình như nàng muốn nói gì đó nhưng không bật được thành lời. Một Memi đang phấn khích đến hung bạo. Một Memi đang vùng vẫy như con thú hoang. Một Memi mặt méo xệch thét lên những lời không rõ nghĩa.
Tôi khóa cứng hai tay nàng, đứng im để chờ nàng hạ nhiệt. Tôi càng bình tĩnh bao nhiêu thì nàng lại càng phấn khích dữ dội bấy nhiêu. Nàng vật vã trong vòng tay tôi như thể bị co giật.
Khoảng năm phút sau, Memi mới dần hạ nhiệt và rũ ra trong vòng tay tôi. Tôi chờ đến khi nàng không còn cử động rồi dìu nàng đến giường, đặt nằm xuống. Tiếng khóc thút thít của Memi vẫn bám riết lấy tai tôi. Tôi ra khỏi phòng để rũ đi âm thanh ấy. Tôi đóng cửa và khẽ thở dài.
Chính tôi cũng không biết làm vậy có tốt hay không. Tôi thấy như mình vừa đánh mất tất cả. Không còn cách nào khác bởi đây là cách duy nhất để tôi sống thật với lòng mình.
Ngủ trên ghế xô pha, ánh nắng sớm khiến tôi bừng tỉnh. Tôi quyết định ra khỏi nhà trước khi Memi thức dậy. Tôi muốn tránh mặt nàng. Tôi mở cửa như một tên trộm rồi ra ngoài. Trời mát. Tôi nhìn lên bầu trời xanh một lúc lâu, chờ đợi điều gì đó xảy ra. Nhưng khi hiểu ra sẽ chẳng có gì xảy ra cả, tôi đi đến Sendagaya, nơi có xưởng phục chế.
Chỉ có thời gian là luôn lặng lẽ kết nối tôi với thế giới. Tôi từng bước hoàn thành công việc, cốt để giữ vững tinh thần trong không gian làm việc của mình tại xưởng phục chế. Tôi không ngờ công việc đơn điệu này lại xoa dịu tâm hồn mình đến thế. Vừa sửa lại những chỗ bị hỏng, bị bong tróc, tôi vừa thấy phấn chấn như thể mình sẽ trở lại cuộc sống bình thường nhờ công việc này.
Buổi chiều, tôi nghỉ sớm để tới thăm ông nội. Xuống ga Shinjuku, tôi đổi tàu sang tuyến Seibu Shinjuku. Tôi biết mùa hè đã kết thúc, tiết trời nóng bức đã chuyển sang hanh khô nhờ vào những cử động, những đoạn đối thoại của con người và không khí trên đường phố. Trong khí trời quang đãng và dễ chịu, tôi biết mùa thu đang đến rất nhanh.
Ông đang ngủ trên chiếc giường gỗ cũ. Ra vào viện liên tục khiến mới mấy tháng mà sức khỏe của ông giảm sút thấy rõ. Ông đã phần nào nói chuyện được nhưng dây thần kinh ở miệng phản xạ kém nên nụ cười bị cứng đơ, ông cũng ít cười hơn hẳn mọi khi. Nhưng còn có lý do khác. Hình như ông biết Memi mà ông vẫn yêu quý đã chia tay với tôi. Có lẽ Memi đã qua đây thăm ông.
“Công việc của cháu có thuận lợi không?”
Giọng ông trầm và yếu.
“Có ạ, cách phục chế của Nhật cũng đáng học lắm ạ. Thợ phục chế ở đây cũng toàn là người tốt, cháu đang làm tốt hơn mình tưởng.”
Ông gật đầu. Nhìn ông tiều tụy đến đau lòng. Tôi thấy dường như ông không còn thời gian nữa. Tôi ngồi nói chuyện linh tinh một lúc với ông nhưng câu chuyện không còn sôi nổi như trước kia.
“Thằng con ngu ngốc của ông sau đó có liên lạc gì không?”
“Bố cháu ấy ạ?”
Ông cố nở nụ cười nhưng mỗi lần như thế, cơ má lại co rút, sau đó là ho và khuôn mặt ông cứng lại.
“Không, không có ông ạ.”
“Nó cứ nhơn nhơn nhỉ.”
“Cháu cũng không tin nổi là mình có bố. Cháu chưa bao giờ nói chuyện tử tế với người đó, hơn nữa, chẳng phải ông ta chính là nguyên nhân khiến mẹ cháu tự tử hay sao. Cháu thấy như thể chính người đó đã giết mẹ.”
Tôi nghĩ mình hơi quá lời nhưng ông cụp mắt xuống rồi gật đầu như thể chấp nhận.
“Ông nghe nói cái chết đó giống tai nạn nhưng có thể chính thằng đó đã đẩy mẹ cháu đến chỗ chết.”
“Giống tai nạn ấy ạ?”
“Mẹ cháu rơi từ nóc nhà xuống. Con bé say bí tỉ. Theo lời nhân chứng thì con bé đã đi trên gờ tường tòa nhà trong một ngày tuyết rơi lất phất. Con bé cứ đi đi lại lại như thế một lúc và...”
Lần đầu tiên tôi nghe chuyện này. Bố tôi nói rằng bà đã uống thuốc tự vẫn.
“Chắc chắn là trái tim con bé đã tan vỡ. Kẻ khiến nó làm vậy không ai khác chính là Seiga. Chuyện xảy ra vào khoảng thời gian nó quen người đàn bà bây giờ.”
Tôi nhìn thấy cây tùng ngoài sân qua khung cửa kéo đang để mở một nửa. Đó là cái cây ông nâng niu chăm sóc nhất. Ánh mắt ông chậm rãi nhìn ra đó. Có phải ông đang nhớ chuyện hồi ấy không? Tôi dù có muốn nhớ thì cũng chẳng có ký ức nào về mẹ.
“Cuộc sống riêng của cháu thế nào?”
Sau một khoảng lặng, ông đổi đề tài. Tưởng tượng nỗi đau khổ của mẹ vào giây phút bà nhảy khỏi tòa nhà, tôi không thở nổi. Sau khi bình tĩnh lại, tôi nói loanh quanh rằng có nhiều chuyện đã xảy ra. Nhìn nét mặt ông là tôi hiểu ông đang ám chỉ đến Memi.
“Đương nhiên có nhiều chuyện rồi nhưng không được hối hận đâu đấy.”
“Vâng.”
Cuối cùng ông đã không nhắc tới Memi. Ông bảo mệt rồi cứ thế nhắm mắt, chìm vào giấc ngủ.
Ông là gia đình duy nhất của tôi. Nhìn khuôn mặt đang ngủ ấy, tự nhiên tuyến lệ của tôi bị kích thích, nước mắt chực trào ra. Mẹ tôi đã vắng mặt ngay từ đầu, còn bố thì luôn là người dưng. Nếu ông mất, tôi sẽ lại thành cô độc. Memi cũng không còn nữa, nhưng cũng không phải vì vậy mà tôi có thể kỳ vọng tái ngộ với Aoi.
Aoi.
Khi đã mất tất cả, tôi phải làm gì để phục chế đây?
Aoi.
Hiện giờ, tôi đang bị mất phương pháp phục chế. Tôi không biết làm cách nào để lấp khoảng trống trong tim. Chỉ còn cách sửa từng chút một như mọi khi, vậy mà tay tôi vẫn không động đậy. Tôi chẳng hề nhìn thấy bức vẽ hoàn thiện nào mang tên “tương lai” cả.
Đầu thu, có một người đàn ông đến thăm xưởng. “Agata, cậu có khách nhé!”, cô nhân viên văn phòng thông báo. Tôi dừng tay, ngoảnh lại thì thấy một gương mặt quen thuộc đằng sau cô. Ánh mắt tôi tụ lại một điểm, vùng cơ quanh phổi tự nhiên thắt lại. Takanashi Akira có vẻ béo hơn hồi làm cùng tôi ở Firenze, chắc vì thế cái mặt tròn của hắn trông có chút tương xứng hơn trước.
“Anh biết cả chỗ này cơ à.”
“Vì cậu đang là chủ đề bàn tán mà. Thế giới này thật là nhỏ.”
“Chủ đề tốt à?”
“Ừm, kiểu ‘cậu ta lại làm được kìa’. Kết quả phục chế tranh Cozza của cậu được đánh giá tốt đấy.”
Hắn nhếch mép cười. Cái kiểu khiêu khích của hắn vẫn chẳng có gì thay đổi. “Tôi đã đến đây rồi, xong việc đi làm một ly mừng ngày tái ngộ nhé.” Tôi miễn cưỡng gật đầu.
Từ ngã tư Aoyama đi thẳng vào có một nhà hàng Nga mà Takanashi hay đến. Trên sân khấu, nhạc công đang chơi một khúc dân ca Nga bằng đàn balalaika.
“Sau đó cậu với cô giáo thế nào?”
Sau những chủ đề vô thưởng vô phạt, Takanashi thì thầm hỏi.
“Tôi còn chẳng liên lạc.”
“Chẳng phải cô ấy đã chăm sóc cậu chu đáo như con trai mình sao?”
“Tôi không muốn nhắc đến chuyện đó lắm.”
“Vì người rạch bức tranh đó là cô à?”
Miệng vẫn ngậm ly, tôi lườm Takanashi. Rượu sắp tràn ra dập dềnh như sóng bên trong ly.
“Nghe nói cô đã ghen với cậu à.”
“Làm gì có chuyện đó.”
“Nhưng đám ở xưởng nói vậy.”
“Cứ để kẻ nào muốn nói thì nói.”
“Vậy thì tại sao cậu không liên lạc với cô nữa?”
“Cô Giovanna...”
Tôi ngạc nhiên trước từ mà lâu lắm tôi mới nói ra. Cô Giovanna không phải người như vậy. Nói rồi, tôi đứng dậy. Tôi đã không nhận ra cảm xúc là một thứ nặng nề đến thế. Tôi đang đứng dậy thì mắt bỗng tối sầm lại, suýt nữa thì tôi ngã gục ngay tại chỗ.
[1] Jeanne d’Arc (1412-1431): nữ anh hùng Pháp trong cuộc chiến trăm năm giữa Pháp và Anh.