"Cái gì thế này?" đứa trẻ vừa hỏi vừa chỉ tay. Detricand đưa chiếc đồng hồ lại gần tai thằng bé. "Để xem giờ đấy. Nghe này. Con có nghe tiếng nó kêu không—tích tắc, tích tắc?"
Đứa trẻ gật đầu thích thú, đôi mắt to chớp chớp đầy vẻ thấu hiểu. "Nó không bao giờ dừng lại à chú?" cậu bé hỏi.
"Đồng hồ này thì không bao giờ dừng," Detricand đáp. "Nhưng có rất nhiều chiếc khác thì có đấy."
"Cháu thích đồng hồ lắm," đứa trẻ ra vẻ ra điều ông cụ non.
"Con có muốn chiếc này không?" Detricand hỏi.
Thằng bé hít một hơi đầy phấn khích. "Cháu thích lắm. Sao mẹ lại không có đồng hồ hả chú?"
Người đàn ông không trả lời câu hỏi sau. "Con thích nó chứ?" ông lặp lại, đoạn cúi đầu nhìn cậu nhóc. "Hừm, nó chạy chuẩn đấy, cực kỳ chuẩn xác," rồi ông đứng thẳng lên để chào người mẹ vừa bước vào phòng, đang đứng lặng nhìn họ. Đó chính là Guida. Nàng đã nghe thấy những lời cuối và tò mò liếc nhìn chiếc đồng hồ. Detricand mỉm cười chào và nói với nàng: "Em còn nhớ nó chứ?" Ông giơ cao chiếc đồng hồ lên.
Nàng bước nhanh tới, vẻ đầy hào hứng. "Có phải—có phải thực sự là chiếc đồng hồ mà người ông kính yêu...?"
Ông gật đầu mỉm cười. "Đúng vậy, nó chưa từng ngừng chạy dù chỉ một giây từ khoảnh khắc ông trao nó cho anh tại Vier-Marchi bảy năm trước. Nó đã trải qua một quãng đời kỳ diệu giữa bao thăng trầm và tai ương. Anh vẫn luôn sợ đánh mất nó, luôn sợ nó gặp tai nạn. Anh vẫn nghĩ rằng nếu mình giữ được nó thì mọi chuyện rồi sẽ suôn sẻ, và cuối cùng mọi thứ sẽ tốt đẹp. Đương nhiên là mê tín rồi, nhưng anh đã sống ở Jersey một thời gian dài. Đôi khi anh thấy mình giống người Jersey hơn là người Pháp."
Dù ánh mắt ông có vẻ như chỉ hờ hững lướt qua gương mặt nàng, nhưng rõ ràng ông rất nóng lòng muốn biết từng lời mình nói tác động thế nào đến nàng, và ông nói thêm: "Khi Sieur de Mauprat trao cho anh chiếc đồng hồ này, ông đã nói rằng: 'Mong sao mọi khoảng thời gian nó ghi lại cho anh đều không trôi qua vô nghĩa.'"
"Có lẽ ông biết mong ước của mình đã thành hiện thực rồi," Guida đáp.
"Vậy em nghĩ rằng anh đã giữ đúng lời hứa của mình chứ?"
"Em chắc chắn ông sẽ nói là có," nàng ấm áp đáp lời.
"Ý anh không phải là lời hứa anh đã hẹn với ông, mà là lời hứa anh đã hứa với em."
Nàng rạng rỡ mỉm cười. "Anh biết em nghĩ gì về điều đó mà. Em đã nói với anh từ lâu rồi." Nàng quay mặt đi, bởi hai má đã bỗng chốc đỏ bừng. "Anh đã làm được những điều vĩ đại, thưa Hoàng tử," nàng nói thêm bằng giọng trầm thấp.
Ông thoáng nhìn nàng đầy dò hỏi. Trong tai ông, giọng nói ấy mang theo một chút gì đó—không phải sự cay đắng, mà giống như sự kìm nén hoặc dè dặt. Phải chăng nàng đang nghĩ đến việc ông đã cướp đi cơ hội thừa kế ở Bercy của con trai nàng? Ông không đáp, chỉ cúi xuống đưa chiếc đồng hồ áp vào tai đứa trẻ lần nữa. "Đến lượt con đấy, thưa ngài tiểu vương!"
"Sao anh lại gọi nó là tiểu vương?" nàng hỏi. "Guilbert nào có tước vị gì để nhận lời khen của anh."
Vẻ mặt Detricand thoáng hiện lên nét nửa buồn cười, nửa bối rối. "Em nghĩ vậy sao?" ông trầm ngâm đáp. Đoạn cúi người xuống lần nữa, ông nói với đứa bé: "Con có thích chiếc đồng hồ này không?" rồi nói thêm thật nhanh, "sau này lớn lên con sẽ được sở hữu nó."
Guida vui mừng hỏi: "Anh nói thật đấy chứ? Anh thực sự định tặng con chiếc đồng hồ của ông ngoại ư?"
"Ồ có chứ, ít nhất là thế—vào một ngày nào đó. Nhưng anh còn có thứ này nữa," ông nói thêm ngay—"thứ này dành cho em;" rồi rút từ trong túi ra một bức tiểu họa được cẩn hồng-ngọc và kim cương. "Anh mang thứ này đến cho em theo ý của Duc de Mauban—cả thứ này nữa," ông tiếp tục, lấy một bức thư từ trong túi ra và trao cùng món quà. "Công tước nghĩ rằng em sẽ thích giữ nó. Đây là dung nhan của mẹ đỡ đầu em, Nữ công tước Guidabaldine."
Guida ngắm nghì bức tiểu họa với vẻ đăm chiêu, rồi cất lời có phần đượm buồn: "Khuôn mặt mới đẹp làm sao—nhưng số trang sức này quá cao sang đối với em! Ở đây người ta dùng hồng ngọc với kim cương để làm gì chứ? Làm sao em có thể tạ ơn ngài Công tước đây!"
"Không đâu. Ngài sẽ cảm ơn em vì đã nhận nó đấy. Ngài đã khẩn khoản nhờ anh nói rằng—như em sẽ thấy trong bức thư gửi cho em—nếu em chịu khó đến thăm ngài cùng với đại trượng phu ở đây"—ông mỉm cười chỉ vào đứa trẻ—"ngài sẽ coi đó là một trong những niềm vui lớn nhất đời mình. Ngài đã quá già để đến thăm em, nhưng ngài nài nỉ em hãy đến gặp ngài—Chevalier, cả em, và cả chú bé Guilbert này nữa. Giờ đây ngài rất cô độc, và ngài khao khát chút tình bằng hữu vốn chỉ có thể tìm thấy ở rất ít người trên cõi đời này. Ngài đang mong ngài có mặt, vì anh đã nói rằng anh nghĩ em sẽ nhận lời."
"Thật là kỳ lạ làm sao," nàng đáp, "khi rời khỏi căn nhà tranh thuở thơ ấu này, nơi cuối cùng em đã quay về trong yên bình—từ căn bếp này, để đến lâu đài của Duc de Mauban."
"Nhưng đó là điều chắc chắn phải đến," ông đáp. "Căn bếp này, nơi anh cũng tìm đến để thực hiện lời hứa sau bảy năm trời, thuộc về một phần cuộc đời em. Nhưng vẫn còn một phần khác cần phải hoàn thành,"—ông cúi xuống vuốt ve những lọn tóc của đứa trẻ,—"và vì đứa con ở đây của em, em nên làm điều đó."
Sau một thoáng suy ngẫm, nàng đáp: "Em không hiểu ý anh là gì."
"Em không biết anh muốn em phải hiểu như thế nào."
"Theo một vài cách nào đó, anh và em sẽ hạnh phúc hơn trong những chốn bình dị," ông nghiêm túc đáp, "nhưng dường như để hoàn thành trọn vẹn vai trò của mình trên thế giới này, chúng ta buộc phải bước vào những vòng tròn rộng lớn hơn. Theo ý anh thì căn bếp này là nơi tuyệt đẹp nhất trên đời. Tại đây anh đã nhận lấy sứ mệnh sống một cuộc đời mới. Anh đã bước ra như một kẻ tàn tạ, dấn thân vào một canh bạc tuyệt vọng; và giờ đây anh lại trở về tổng hành dinh một lần nữa—không phải để nhận lời ca tụng," ông nói thêm với giọng mỉa mai, kèm theo cử động bẽn lẽn gần như thiếu niên—"không phải để được khen ngợi; mà chỉ để chứng minh rằng từ một chút lương tri còn sót lại trong một con người, người ta có thể gặt hái được những bó lúa của công việc lương thiện và bổn phận rạch ròi."
"Không, còn hơn thế nhiều, còn nhiều, nhiều hơn thế nữa," nàng xen vào.
"Không, anh e là không phải vậy," ông đáp; "nhưng đó không phải điều anh muốn nói. Điều anh muốn nói là vì tiểu vương đây—"
Đôi mắt nàng thoáng hiện tia giận dữ. "Nó chẳng phải tiểu vương nào cả, nó là Guilbert d'Avranche," nàng cay đắng đáp. "Anh không giống người hay giễu cợt con tôi đâu, thưa Hoàng tử. Ôi, em biết anh chỉ nói đùa thôi," nàng vội vã nói thêm, "nhưng—nhưng nghe chẳng lọt tai chút nào."
"Vì lợi ích của tiểu vương, người thừa kế công quốc Bercy," ông nói thêm, đặt tay lên đầu đứa trẻ, "em nên làm những điều mà những người bạn hết lòng của em gợi ý, thưa Công nương."
Ánh mắt trong trẻo, không chút dao động của nàng nhìn thẳng vào ông, nhưng gương mặt nàng bỗng tái đi.
"Sao anh lại gọi nó là tiểu vương, người thừa kế công quốc Bercy?" nàng nói gần như lạnh lùng, kèm theo chút vẻ hoảng sợ trong ánh mắt.
“Bởi vì anh đến đây để nói cho em sự thật, và trao vào tay em văn kiện chứng thực cho một hành động công lý.”
Rút từ trong túi ra một tấm da thuộc được trang hoàng lộng lẫy bởi những con dấu, ông cúi xuống, cầm lấy đôi tay của đứa trẻ và đặt tấm văn kiện vào đó. "Hãy cầm cho chắc, cầm cho thật chắc nhé tiểu bằng hữu của ta, vì nó hoàn toàn là của con đấy," ông trìu mến vui vẻ nói với đứa bé. Đoạn lùi lại một chút và nhìn Guida đầy đăm chiêu, ông ra hiệu về phía đứa trẻ và nói thêm:
"Em phải tìm hiểu sự thật từ nó thôi."
"Ồ, ý anh là sao—ý anh thực sự là sao?" nàng thốt lên. Quỵ xuống và vòng tay ôm lấy đứa trẻ, nàng mở tấm da thuộc ra đọc.
"Cái gì—sao nó lại có quyền này?" nàng kêu lên giọng đầy kinh hoàng. "Một năm trước chính anh đã tước đoạt công quốc khỏi tay cha nó cơ mà. Ah, em không tài nào hiểu nổi! Anh—chính anh mới là Duc de Bercy cơ mà."
Đôi mắt nàng ngời sáng niềm xúc động hạnh phúc và dịu dàng. Đã lâu lắm rồi gương mặt nàng mới lại có ánh nhìn ấy. Một điều gì đó ngủ quên từ lâu đang bừng tỉnh trong nàng, một giọng nói câm lặng từ lâu nay đã cất lên. Người đàn ông này đã mang trở lại trái tim nàng thứ hơi ấm mà nàng từng nghĩ sẽ chẳng bao giờ cảm nhận lại được nữa, hơi ấm của sự kỳ diệu trong cuộc sống và niềm tin thuở thiếu thời.
"Anh chỉ là Detricand của Vaufontaine mà thôi," ông đáp. "Sao thế, em lại... em lại có thể nghĩ rằng anh sẽ tước đoạt quyền lợi của con em ư? Cha của nó là con nuôi của Duc de Bercy. Không gì có thể xóa nhòa điều đó, dẫu là luật pháp hay các quốc gia. Em mãi mãi là Công nương Guida, và con trai em mãi mãi là Hoàng tử Guilbert d'Avranche—thậm chí còn hơn thế nữa."
Giọng ông trầm xuống, khuôn mặt từng trải qua bao trận mạc bừng lên ngọn lửa và sức mạnh từng khiến ông trở thành một nhân vật lừng lẫy trong các trang sử chiến tranh của châu Âu suốt những năm qua.
"Anh đã phế truất Philip d'Avranche," ông tiếp lời, "bởi vì hắn ta giành được công quốc do một sự hiểu lầm; bởi vì quyền thừa kế của dòng họ Vaufontaine lớn hơn. Chúng ta thuộc về nơi đó, còn hắn chỉ là kẻ ngoại tộc. Hắn có quyền làm con nuôi, nhưng không có quyền hưởng công quốc—không hề có quyền thực sự theo công lý giữa các quốc gia. Nhưng suốt thời gian đó, chưa bao giờ anh quên rằng người vợ của Philip d'Avranche và đứa con của nàng có những quyền lợi vượt trội hơn hẳn hắn. Tất cả những gì hắn đạt được đều thuộc về họ theo mọi nguyên tắc công lý. Bổn phận rách ròi của anh là giành lại cho con em quyền kế vị vốn thuộc về thằng bé theo mọi lẽ đạo đức. Khi Philip d'Avranche thiệt mạng, anh bắt tay vào việc làm cho con em những gì mà người khác từng làm cho Philip d'Avranche. Anh đã lập thằng bé làm người thừa kế của mình. Khi nó đến tuổi trưởng thành, anh sẽ nhường ngôi công quốc lại cho nó. Tờ văn kiện này, có chữ ký xác nhận của các Cường quốc từng tước đoạt quyền của cha nó, sẽ đảm bảo cho nó quyền cai trị công quốc khi nó đủ lớn."
Guida lắng nghe như kẻ đang mơ màng. Trăm ngàn cảm xúc ngập tràn trong lòng nàng, và có một cảm xúc vượt lên trên tất cả. Nàng bất chợt nhận ra toàn bộ sự tử tế mà Detricand dành cho mình kéo dài suốt một chuỗi dài tình bạn tận tụy, từ ngày hôm ấy cho đến tận khoảnh khắc xa xôi cách đây bảy năm, khi ông đã thề nguyền cùng nàng—một lời thề được giữ gìn cao đẹp biết bao! Tình bạn tận tụy—liệu đó chỉ là tình bạn tận tụy thôi sao, ngay cả với chính bản thân nàng? Giữa muôn vàn cảm xúc hỗn độn, nàng vội vã đáp lời ông. "Không, không, không, không! Em không thể chấp nhận điều này. Đây không phải công lý, đây là một món ăn quà tặng chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nhân loại."
"Anh nghĩ tốt hơn hết là cứ tự mình cai trị Bercy trong những năm tháng đầy sóng gió này," ông điềm tĩnh tiếp lời. "Cho đến nay vị thế trung lập của nó vẫn được tôn trọng, nhưng ai mà biết được chuyện gì sẽ xảy ra! Là một người mang dòng họ Vaufontaine, bổn phận của anh là đảm bảo rằng lợi ích của Bercy được bảo vệ vẹn toàn giữa những biến động của châu Âu."
Lúc này Guida đã đứng lên, ngẩn ngơ nhìn tấm da thuộc trên tay. Đứa trẻ thấy mình bị bỏ bơ vơ liền chạy ra khu vườn.
Đọng lại trong khóe mắt Guida là chút lệ ngấn khi nàng cất lời: "Em chưa từng nghĩ có một người đàn ông nào lại cao thượng đến thế—không, ngay cả anh cũng vậy."
"Em không nên tự ti về bản thân mình như thế," ông thâm trầm đáp. "Anh là tác phẩm do chính tay em tạo nên. Nếu anh đã chiến đấu để giành lại một cuộc đời lương thiện..."
Ông ngừng lời, lấy từ trong túi ra một chiếc khăn tay. "Đây chính là vật làm tin," ông nói, giơ nó lên. "Em có nhớ ngày anh đến để trả lại nó cho em, rồi lại mang đi mất không?"
"Thật ngốc nghếch khi anh giữ lại nó," nàng dịu dàng đáp, "cũng ngốc nghếch như việc anh nghĩ rằng em sẽ chấp nhận những vinh quang lớn lao này cho con mình vậy."
“Nhưng giả sử sau này đứa trẻ trách cứ em thì sao?” ông chậm rãi nói, từng chữ rành mạch. “Giả sử Guilbert nói rằng: Mẹ lấy quyền gì mà từ chối những gì đáng lẽ thuộc về con?”
Đây chính là câu hỏi nàng từng tự hỏi bản thân từ rất lâu, rất lâu về trước. Giờ đây nó xoáy sâu vào tim nàng. Nàng lấy quyền gì để chối bỏ món quà mà định mệnh ban cho con mình?
Giọng nàng thều thào gần như chỉ đủ nghe: "Đương nhiên là thằng bé có thể nói thế, nhưng làm sao, ôi làm sao mà những kẻ quê mùa như mẹ con em, lại có thể xứng đáng với chốn cao sang quyền quý này chứ—cho đến tận bây giờ? Giờ đây, khi những gì em hằng ao ước cho con suốt bao năm qua đã thành sự thực, em lại chẳng đủ dũng khí."
“Em có những người bạn luôn sẵn sàng giúp đỡ trong mọi việc,” ông thâm trầm đáp.
“Nhưng bạn bè đâu thể ở bên cạnh ta mãi được,” nàng đáp.
“Điều đó còn tùy thuộc vào người bạn ấy là ai. Có một người bạn đã biết em suốt mười tám năm qua. Tình bạn vun đắp qua mười tám năm hẳn phải rất bền chặt—ít ra thì về phía anh, tình bạn ấy vẫn luôn vẹn nguyên. Anh ấy có thể là một người bạn tốt hơn và vững chãi hơn nữa. Anh ấy đến đây lúc này để trao cho em phần đời còn lại mà chính sự lương thiện của em là minh chứng đảm bảo. Anh ấy đến để trao cho em một thứ tình yêu mà chỉ có tâm hồn em mới là phán quan duy nhất, bởi em có đôi mắt biết nhìn và một tâm hồn biết thấu hiểu. Chevalier cần đến em, Duc de Mauban cần đến em, nhưng Detricand của Vaufontaine lại cần đến em gấp ngàn lần hơn thế."
"Ồ, thôi đi—không, anh không được nói nữa!" nàng thốt lên, mặt đỏ bừng, môi run rẩy.
"Nhưng anh phải nói chứ," ông đáp ngay. "Em tìm thấy sự bình yên ở đây, nhưng đó chỉ là sự bình yên của sự trì trệ. Nó làm trì độn trí óc, và cuối cùng cuộc sống cứ thế cuộn tròn lại đầy mệt mỏi. Nhưng ngoài kia có ánh sáng, có ngọn lửa, có hành động, có nhịp đập rộn rã của trái tim, và niềm vui của quyền lực được sử dụng khôn ngoan cho đến tận cùng. Em xuất thân từ một dòng giống lớn lao, em sinh ra là để đón nhận những điều vĩ đại; con trai em nay đã có những quyền lợi được mọi triều đình châu Âu thừa nhận. Em phải hành động vì nó. Vì con trai em, vì anh, hãy bước ra khoảng trời rộng lớn của cuộc đời cùng anh—với tư cách là vợ anh, Guida."
Nàng quay sang nhìn ông thật chân thành, nhìn thẳng vào mắt ông, sắc diện trên gương mặt cứ thế thay đổi hồi hộp, nhưng đôi mắt lại ngời lên cảm xúc.
"Sau tất cả những chuyện đã xảy ra ư?" nàng hỏi bằng giọng trầm buồn.
"Chính vì tất cả những chuyện đã xảy ra nên mới phải như vậy," ông đáp.
"Không, không, anh không hiểu đâu," nàng vội vã nói, giọng nghẹn ngào nỗi đau đớn lớn lao. "Em đã đau khổ biết bao, qua ngấy ngẩy những năm tháng này! Em sẽ chẳng bao giờ có thể vui tươi vô tư lại được nữa. Và em nào có xứng với chốn vinh hoa phú quý ấy. Anh không thấy những gì anh đang đòi hỏi ở em sao—là rời bỏ căn nhà tranh này để bước vào cung điện ư?"
“Anh yêu em quá nhiều nên sẽ không ép em làm những điều vượt quá sức mình. Em phải tin tưởng anh,” ông đáp, “em phải cho cuộc đời mình một cơ hội, em phải—”
"Nhưng hãy nghe em nói đây," nàng ngắt lời với giọng đứt quãng; "em biết chắc chắn như việc em biết—như việc em biết gương mặt đứa con của mình, rằng tuổi trẻ trong em đã chết rồi. Mùa hè của em đã đến—và đã đi qua tự lâu lắm rồi. Không, không, anh không hiểu đâu—em không muốn làm anh bất hạnh. Em chỉ có thể sống để mang lại hạnh phúc cho con mình. Tình yêu đó chưa từng bị vấy bẩn."
“Và anh phải là người phán quyết điều gì mang lại hạnh phúc cho chính mình. Còn cho hạnh phúc của em nữa—nếu anh nghĩ tình yêu của mình mang lại cho em bất kỳ sự bất hạnh nào dẫu chỉ trong một ngày, anh đã chẳng ngỏ lời. Anh là người tình của em, nhưng anh đồng thời cũng là bạn của em. Nếu không có em, có lẽ anh đã vùi thây trong nấm mồ của kẻ say xỉn ở Jersey rồi. Nếu không có em, xương cốt anh giờ này chắc đang nằm lại ở Vendee. Anh đã rời bỏ những người nông dân của mình, từ chối cái chết bên cạnh họ chỉ để phụng sự em. Lý tưởng xưa kia đã phai tàn. Em và con trai giờ đây là lý tưởng duy nhất của đời anh—”
"Anh cứ dồn em vào thế khó," nàng xen vào. "Hãy nghĩ đến những bóng đen từ quá khứ luôn hiển hiện trong mắt em, luôn đè nặng trong tim em—làm sao người ta có thể mang xiềng xích của tù nhân mà bước đi với những bước chân thanh thản sau đó được chứ."
"Bóng tối ư—người bạn tri kỷ của tâm hồn anh, làm sao anh dám đến bên em nếu trong đời em chưa từng có những bóng đen! Chính vì em—em đã chịu đựng đau khổ, chính vì em đã thấu hiểu, nên anh mới đến đây. Từ những cay đắng, từ bước chân lê lết của kẻ tù tội mà em nhắc đến ư? Hãy nghĩ xem anh từng là gì đi. Em chưa từng làm điều gì sai trái, trong khi anh từng lún sâu vào những vũng lầy ngu xuẩn của tội lỗi—"
"Em không muốn nghe anh nói thế," nàng ngắt lời; "chưa bao giờ trong đời anh làm một chuyện đồi bại nào cả."
“Vậy thì anh lại xin nói rằng, hãy tin tưởng anh. Bởi vì, trên danh dự của một người mang dòng họ Vaufontaine, anh tin chắc hạnh phúc sẽ thuộc về em khi làm vợ anh. Cậu bé kìa, em thấy đấy, thằng bé và anh—”
"Ah, anh đối xử với nó tốt quá!"
"Em phải cho anh cơ hội và danh nghĩa để chăm sóc thằng bé chứ. Em và anh còn mong chờ điều gì khác nữa chứ? Vinh hoa ở cõi đời này chẳng mảy may can dính gì tới chúng ta. Những niềm vui rực rỡ nhất không dành cho chúng ta đâu. Chúng ta còn có công việc phải làm, chứ không phải những tham vọng viển vông. Nhưng còn đứa trẻ—hãy nghĩ cho nó—” ông dừng lời.
Được một lúc, nàng chìa tay về phía ông. "Tạm biệt anh," nàng khẽ nói.
"Tạm biệt—em lại nói tạm biệt với anh sao!" ông hốt hoảng kêu lên.
"Cho đến—cho đến ngày mai," nàng đáp và mỉm cười. Nụ cười ấy thoảng nét tinh nghịch thuở nhỏ, đồng thời cũng mang chút u buồn thuộc về người phụ nữ. Nhưng cái bắt tay của nàng thật quả quyết và mạnh mẽ; hơi ấm từ bàn tay nàng truyền sang làm tim ông xao xuyến. Sức mạnh ẩn chứa nơi đó, sức mạnh đi liền với sự dịu dàng vô bờ bến. Và ông đã thấu hiểu nàng; điều đó còn quý giá hơn tất cả.
Ông quay người ở ngưỡng cửa. Nàng vẫn đứng bất động, tờ văn kiện với những con dấu lớn vẫn nằm trong tay. Không nói một lời, nàng giơ nó ra về phía ông, như thể vẫn còn lưỡng lự chưa biết phải xử lý thế nào.
Khi bước qua khung cửa, ông mỉm cười và nói:
"Ngày mai—ngày mai nhé!"