Ông nghĩ rằng một nhiếp ảnh gia chẳng là gì hết, rằng anh ta phải tan biến vào trong décor và trở nên vô hình nhằm làm việc tốt hơn và nhằm nắm lấy - như ông hay nói - ánh sáng tự nhiên. Thậm chí hẳn người ta còn chẳng nghe thấy tiếng nút bấm của cái Rolleiflex nữa. Hẳn ông những muốn giấu biến máy ảnh của ông đi. Cái chết của người bạn Robert Capa của ông chính xác có thể được giải thích, theo ông, bằng ý chí ấy, hay cơn chóng mặt ấy, tan biến đi một lần là xong, vào décor.
Hôm qua là một thứ Hai dịp lễ Phục sinh. Tôi đi dọc cái phần của đại lộ Saint-Michel dẫn từ nhà ga Luxembourg cũ tới Port-Royal. Một đám đông người đi bộ xô đẩy nhau trước cổng vào khu vườn nhưng, ở chỗ tôi bước đi, không còn ai nữa. Một buổi chiều nọ, trên cùng vỉa hè ấy, Jansen đã chỉ cho tôi hiệu sách nằm nơi góc đại lộ giao với phố nhỏ Royer-Collard. Tại đó, ông từng dự, ngay trước chiến tranh, một cuộc triển lãm ảnh của họa sĩ Wols[1]. Ông đã làm quen với ông ấy và ngưỡng mộ ông ấy ngang với ngưỡng mộ Robert Capa, ông từng đến thăm Wols tại Cassis, nơi ông ấy trú kể từ đầu kỳ Chiếm đóng. Chính Wols là người đã dạy cho ông chụp ảnh đôi giày của mình.
Hôm đó Jansen đã bảo tôi chú ý nhìn mặt tiền của Trường Mỏ mà cả một phần, cao ngang cỡ người, mang những vết đạn bắn. Một tấm bảng nứt và hơi bờm xờm ở các mép cho biết một người tên là Jean Monvallier Boulogne, hai mươi tuổi, đã bị giết chết tại nơi này vào đúng ngày giải phóng Paris.
Tôi đã nhớ được cái tên đó, vì vang âm của nó, thứ gợi lên một chuyến đi xuồng dạo chơi trong Rừng cùng một cô gái tóc vàng, một cuộc picnic ở nông thôn, trên bờ một dòng sông và một cái thung nơi vẫn cô gái đó cùng bạn bè tụ tập[2] - tất cả bị phạt đứt vào một buổi chiều tháng Tám, trước bức tường.
Thế nhưng, hôm thứ Hai ấy, trước nỗi sửng sốt lớn lao của tôi, tấm bảng đã biến mất, và tôi thấy tiếc vì Jansen, vào cái buổi chiều chúng tôi cùng nhau ở đó, đã không chụp một bức ảnh bức tường chi chít vết đạn cùng tấm bảng kia. Hẳn tôi sẽ ghi nó vào bản thống kê. Nhưng đột nhiên, tôi không còn chắc về việc Jean Monvallier Boulogne có từng bao giờ tồn tại và, thêm nữa, tôi không còn chắc về bất kỳ điều gì.
Tôi rẽ lối đám đông đang bu kín trước cổng, bước vào khu vườn. Tất tật mọi ghế băng, mọi cái ghế đều đã có người ngồi và trên các lối đi rất nhiều người qua lại. Đám thanh niên ngồi trên các hàng lan can và những bậc cầu thang dẫn xuống phía bồn nước trung tâm, đông đến nỗi người ta không còn có thể đi xuống đoạn ấy trong khu vườn nữa. Nhưng điều đó chẳng có chút quan trọng nào. Tôi sung sướng được lạc lối trong đám đông ấy và - theo cách nói của Jansen - được tan mình vào trong décor.
Vẫn còn đủ chỗ - chừng hai mươi xăng ti mét - để tôi ngồi xuống đầu một ghế băng. Những người ngồi cạnh thậm chí còn không cần nép vào nhau. Chúng tôi đang ở dưới tán những cây dẻ gai che nắng cho chúng tôi, ngay gần bức tượng đá Velléda màu trắng. Một phụ nữ, đằng sau tôi, tán chuyện cùng một người bạn gái và giọng của họ ru ngủ tôi: Họ nói về một phụ nữ tên là Suzanne, người đó lấy một người tên là Raymond. Raymond là bạn của Robert, và Robert, anh trai của một trong hai phụ nữ kia. Thoạt đầu, tôi cố công tập trung sự chú ý vào những gì họ nói và thu nhặt các chi tiết hẳn có thể sẽ giúp tôi dùng làm điểm định vị để số phận của Robert, Suzanne và Raymond dần dà thoát ra khỏi sự xa lạ. Ai biết đâu? Do ngẫu nhĩ, mà vốn dĩ người ta sẽ luôn luôn chẳng hay biết các kết hợp vô tận, có lẽ Suzanne, Robert và Raymond từng có ngày bắt gặp Jansen trên phố?
Tôi cảm thấy một cơn buồn ngủ thiu thiu. Các từ vẫn vẳng đến với tôi xuyên qua một làn sương mù ngập nắng: Raymond… Suzanne… Livry-Gargan… Ở gốc rễ… Hạt bắn vào mắt… Èze-sur-Mer gần Nice… Doanh trại lính cứu hỏa trên đại lộ Diderot… Đợt sóng những người bộ hành trên lối đi càng làm tăng thêm nữa cái trạng thái nửa thức nửa ngủ kia. Tôi nhớ tới suy nghĩ của Jansen: “Đừng lo lắng gì hết, cậu nhỏ của tôi… Cả tôi cũng vẫn hay bị rơi vào các lỗ đen…”. Nhưng đó thậm chí còn không còn là một “lỗ đen” như cái mà tôi từng cảm thấy hồi mười chín tuổi tại hàng hiên quán Café de la Paix. Tôi thấy gần như nhẹ cả người vì sự mất đi dần dà của căn cước ấy. Tôi vẫn còn tri nhận được vài lời, giọng của hai người phụ nữ trở nên êm ái hơn, xa xôi hơn. La Ferté-Alais… Trai lơ lắm… Thì ngược lại tôi cũng rất thân ái với anh ta… Caravan… Chuyến đi vòng quanh thế giới…
Tôi đã sắp biến mất trong khu vườn này, giữa đám đông ngày thứ Hai dịp lễ Phục sinh. Tôi đang đánh mất ký ức và không còn hiểu được thật rõ tiếng Pháp bởi vì lời lẽ mấy người phụ nữ ngồi gần tôi giờ đây trong tai tôi chỉ vang lên như các từ tượng thanh. Những nỗ lực lớn của tôi từ ba mươi năm nay để làm một cái nghề, tạo lập sự liền mạch cho cuộc đời tôi, cố sao để nói và viết một ngôn ngữ càng giỏi càng tốt nhằm có thể chắc chắn về quốc tịch của tôi, đột nhiên toàn bộ sự căng đó chùng xuống. Hết rồi. Tôi chẳng còn là gì nữa. Lát nữa thôi, hẳn tôi sẽ đi ra khỏi khu vườn này về phía một bến tàu điện ngầm, rồi một nhà ga và một bến cảng. Khi các cổng sắt đóng lại, hẳn từ tôi sẽ chỉ còn lại cái áo gió mà tôi mang, cuộn lại thành một nắm, trên băng ghế.
❀ ❀ ❀
[1] Tức Alfred Otto Wolfgang Schulze (1913-1951), họa sĩ người Đức.
[2] Sở dĩ có liên tưởng ấy là vì trong cái tên người vừa được nhắc có yếu tố “Boulogne” là tên khu Rừng Boulogne ở Paris, trong “Montvallier” lại có yếu tố “mont” nghĩa là “núi” và “vai” nghĩa là “thung lũng”.