Con Chó Mùa Xuân

Lượt đọc: 99 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

❊ ❊ ❊

Một chiều nọ, cô tới bấm chuông ở xưởng vào lúc Jansen đi vắng và đột nhiên tôi quyết định mở cửa cho cô. Tôi thấy thật bực vì lúc nào cũng trả lời cô qua điện thoại là Jansen không có đó.

Khi cô nhìn thấy tôi trong khe cửa mở, một biểu hiện kinh ngạc đầy lo lắng lướt qua ánh mắt cô. Có lẽ trong thoáng chốc cô tưởng rằng Jansen đã bỏ đi hẳn và giờ đây một người thuê nhà khác chiếm cứ căn xưởng.

Ngay lập tức tôi trấn an cô. Phải, đúng là tôi hay trả lời điện thoại cô. Phải, tôi là một người bạn của Francis.

Tôi mời cô vào và hai chúng tôi ngồi xuống, cô thì trên cái trường kỷ, còn tôi thì ở một cái phô tơi. Cô để ý hai quyển vở, quyển sổ agenda lớn, những cái va li mở cùng các chồng ảnh. Cô hỏi có phải tôi làm việc cho Francis không.

- Tôi đang thử lập một catalogue tất cả những bức ảnh ông ấy từng chụp.

Cô nghiêm trang gật đầu.

- À vâng… Anh đúng đấy… Vậy rất tốt…

Một quãng ngại ngần nặng nề, giữa chúng tôi. Cô phá vỡ sự im lặng:

- Anh không biết ông ấy ở đâu à?

Cô nói câu đó bằng giọng vừa rụt rè vừa vội vã.

- Không… Càng ngày ông ấy càng ít đến đây hơn…

Cô rút từ trong túi xách ra một gói thuốc lá, cô mở nó rồi lại đóng vào. Cô nhìn thẳng vào mắt tôi:

- Anh không thể nói hộ tôi với ông ấy, bảo ông ấy cho tôi gặp ông ấy một lần cuối cùng à?

Cô khẽ bật cười.

- Cô quen ông ấy lâu chưa?, tôi hỏi.

- Sáu tháng rồi.

Tôi những muốn biết nhiều hơn thế. Có phải cô từng chia sẻ cuộc sống với Jansen?

Cô tò mò nhìn quanh như thể đã không đến đây từ cả một vĩnh hằng và muốn ghi nhận các đổi thay. Chắc cô tầm hăm lăm tuổi. Cô có mái tóc nâu và cặp mắt sáng màu: lục nhạt hay ghi?

- Ông ấy thật kỳ lạ, cô nói. Ông ấy rất dễ mến và rồi, chỉ ngày một ngày hai, ông ấy biến mất… Cả anh cũng thế, ông ấy đã làm cái trò đó với anh?

Tôi đáp rằng, thường thì tôi không biết ông ở đâu.

- Từ hai tuần nay, ông ấy không còn muốn gặp tôi, cả nói chuyện điện thoại cũng không.

- Tôi không nghĩ đó là do ông ấy có gì độc ác đâu, tôi nói.

- Không… không… Tôi biết chứ… Chuyện đó thỉnh thoảng xảy ra với ông ấy… Ông ấy có các quãng vắng mặt… Ông ấy biến mất chẳng còn tăm hơi… Và rồi ông ấy xuất hiện trở lại…

Cô rút ra một điếu thuốc lá và chìa nó cho tôi. Tôi không dám nói với cô là tôi không hút thuốc. Cô cũng lấy một điếu cho mình. Rồi cô dùng bật lửa châm điếu thuốc của tôi. Tôi hít vào một bụm khói và ho sặc sụa.

- Anh giải thích điều đó như thế nào?, đột nhiên cô hỏi.

- Gì cơ?

- Cái thói biến mất chẳng còn tăm hơi ấy?

Tôi ngập ngừng một chốc. Rồi tôi nói:

- Có lẽ là vì một số sự kiện trong đời ông ấy…

Ánh mắt tôi chạy tới đậu lên bức ảnh chụp Colette Laurent treo trên tường. Cả cô hồi đó cũng chừng hăm lăm tuổi.

- Có lẽ tôi đang làm phiền anh trong lúc anh làm việc…

Cô chực đứng dậy đi khỏi. Hẳn cô sẽ chìa tay cho tôi và chắc chắn sẽ nhờ tôi chuyển một lời nhắn vô ích mới cho Jansen. Tôi nói với cô:

- Không mà… Cô cứ ở lại thêm một lúc nữa đi… Chẳng bao giờ ta biết được… ông ấy có thể về bất cứ lúc nào…

- Và anh cho là ông ấy sẽ sung sướng nếu thấy tôi ở đây?

Cô mỉm cười với tôi. Lần đầu tiên kể từ lúc bước vào xưởng, cô thực sự để ý đến tôi. Cho tới khi đó, tôi ở trong cái bóng của Jansen.

- Anh chịu trách nhiệm về điều đó chứ?

- Hoàn toàn chịu trách nhiệm, tôi đáp.

- Thế thì, ông ấy có nguy cơ sẽ gặp một bất ngờ tệ hại.

- Không mà. Tôi chắc chắn ông ấy sẽ rất sung sướng nếu gặp cô. Ông ấy có xu hướng khép kín bản thân.

Đột nhiên tôi trở nên lắm lời, nhằm che giấu sự rụt rè và nỗi lúng túng của tôi bởi vì cô nhìn chằm chằm vào tôi, cặp mắt nhạt màu. Tôi nói thêm:

- Nếu không bắt ép ông ấy, ông ấy có nguy cơ biến mất chẳng còn thấy tăm hơi hẳn luôn.

Tôi khép mấy quyển vở và quyển sổ agenda lại, chúng nằm vương vãi dưới đất, rồi xếp lại các chồng ảnh vào trong một cái va li.

- Cô đã quen với ông ấy như thế nào?, tôi hỏi cô.

- Ồ… do tình cờ… ngay gần đây thôi… tại một quán cà phê.

Có phải đó cũng là quán cà phê ở Denfert-Rochereau nơi chúng tôi, cô bạn gái và tôi, đã gặp ông?

Cô nhíu mày, cặp lông mày màu nâu, tương phản hẳn với cặp mắt nhạt.

- Khi biết ông ấy làm nghề gì tôi đã đề nghị ông ấy chụp ảnh tôi… Tôi cần chúng cho công việc… ông ấy đã đưa tôi đến đây… Và ông ấy đã chụp cho tôi những bức ảnh rất đẹp…

Tôi còn chưa rơi trúng vào chúng. Những bức mới nhất mà tôi từng kiểm kê được chụp từ 1954. Có lẽ ông đã chẳng giữ lại gì kể từ năm ấy.

- Vậy thì, nếu tôi hiểu đúng, ông ấy đã thuê anh làm thư ký?

Cô vẫn nhìn tôi chăm chăm bằng cặp mắt trong suốt của mình.

- Hoàn toàn không, tôi đáp. Ông ấy chẳng cần đến một thư ký nữa đâu. Càng ngày ông ấy càng ít hành nghề hơn.

Hôm trước, ông đã mời tôi tới một quán ăn nhỏ gần xưởng. Ông mang theo chiếc Rolleiflex. Cuối bữa, ông đặt nó lên bàn và tuyên bố với tôi là xong hết rồi, ông không còn muốn dùng nó nữa. Ông tặng nó cho tôi. Tôi đã nói với ông thế thì thực sự tiếc quá.

“Cần phải biết dừng lại đúng lúc.”

Ông uống nhiều hơn thường lệ. Trong bữa ăn, ông đã cạn một chai whisky nhưng gần như không thể thấy điều đó: chỉ có một chút mờ sương trong ánh mắt và nói năng thì chậm bớt đi.

“Nếu tôi tiếp tục, cậu sẽ phải thêm việc để làm cho catalogue của cậu. Thế cậu không nghĩ vậy là đã đủ rồi à?”

Tôi đã đi cùng ông về một khách sạn trên đại lộ Raspail nơi ông thuê phòng, ông không muốn về căn xưởng. Theo ông, “con bé ấy” có khả năng đợi sẵn ông ngoài cửa. Và, thực sự, cô ta mất thời gian với “một tay thuộc dạng ông…”.

Cô đang ngồi đó, trước mặt tôi, trên trường kỷ. Đã bảy giờ tối, ánh sáng giảm dần cường độ.

- Anh nghĩ hôm nay ông ấy sẽ tới chứ?, cô hỏi tôi.

Tôi chắc chắn là không. Hẳn ông sẽ đi ăn tối một mình trong khu phố, rồi về lại căn phòng khách sạn trên đại lộ Raspail. Trừ phi ông không gọi điện thoại cho tôi vào bất kỳ lúc nào để hẹn tôi tại quán ăn. Và nếu tôi thú nhận với ông rằng cái cô Nicole kia đang ở đó, ông sẽ phản ứng thế nào? Hẳn ông sẽ ngay tắp lự nghĩ rằng cô đã giật lấy điện thoại. Thế thì hẳn ông sẽ làm ra vẻ đang gọi từ Bruxelles hoặc Genève và thậm chí sẽ chấp nhận nói chuyện với cô. Ông sẽ nói với cô rằng kỳ lưu trú của ông ở đó có nguy cơ sẽ kéo dài.

Nhưng điện thoại không đổ chuông. Chúng tôi ngồi trước mặt nhau trong im lặng.

- Tôi có thể đợi ông ấy thêm được không?

- Tới chừng nào mà cô muốn…

Căn phòng bị bóng tối lờ mờ xâm chiếm và tôi đứng dậy để bật đèn. Khi thấy tôi đặt tay lên công tắc, cô nói:

- Không… Đừng bật…

Tôi quay trở lại ngồi lên trường kỷ. Tôi có cảm giác cô đã quên mất sự hiện diện của tôi. Rồi cô ngẩng đầu về phía tôi:

- Tôi sống cùng một người rất hay ghen và có nguy cơ tới bấm chuông cửa nếu thấy có ánh đèn…

Tôi câm lặng. Tôi không dám đề nghị với cô mở cửa ra và giải thích với người khách đó, nếu hắn đến, là trong xưởng không có ai.

Như thể đoán được ý nghĩ của tôi, cô nói:

- Ông ta có khả năng đẩy anh và sấn sổ vào đây để xem có tôi không… Và thậm chí đập vỡ mặt anh…

- Đó là chồng cô?

- Vâng.

Cô kể cho tôi, một tối nọ, Jansen mời cô đi ăn tối tại một quán trong khu phố. Chồng cô đã tình cờ bắt chợt họ. Ông ta bước thẳng về phía bàn của họ và tát cô, bằng mu bàn tay. Hai cái tát khiến khóe miệng cô bật máu. Rồi ông ta biến mất khỏi đó trước khi Jansen kịp can thiệp, ông ta đợi họ ngoài vỉa hè. Ông ta bước đi theo họ từ một quãng xa, dọc theo cái phố hai bên trồng cây cùng những bức tường bất tận cắt vào nghĩa trang Montparnasse. Cô đã vào xưởng cùng Jansen và chồng cô đứng đó suốt gần một tiếng đồng hồ trước cửa.

Cô nghĩ rằng kể từ câu chuyện tồi tệ đó Jansen cảm thấy e ngại không muốn gặp cô nữa. Ông, vốn dĩ là người bình thản đến vậy, thong dong đến vậy, tôi thầm ước lượng nỗi khó ở của ông có thể lớn đến mức nào, vào cái buổi tối ấy.

Cô giải thích với tôi rằng chồng cô hơn cô mười tuổi. Ông ta là diễn viên kịch câm và diễn tại cái mà thời đó người ta hay gọi là các quán cabaret “tả ngạn”. Sau đó tôi đã nhìn thấy ông ta, dăm ba lần, lảng vảng vào buổi chiều trên phố Froidevaux nhằm tìm cách bắt chợt Nicole ra khỏi căn xưởng. Ông ta nhìn tôi chằm chằm với vẻ láo xược. Một tay tóc nâu khá cao lớn, dáng vẻ lãng mạn. Một hôm, tôi bước lại gần ông ta: “Ông tìm ai à?

- Tôi tìm Nicole.”

Một cái giọng đầy chất kịch, có chút the thé. Trong dáng dấp và ánh mắt của mình, ông ta tận dụng vẻ giống mơ hồ với diễn viên Gérard Philippe, ông ta vận một cái rơ đanh gốt màu đen và quàng chiếc khăn rất dài buông lơi. Tôi đã nói với ông ta: “Nicole nào? Có biết bao nhiêu là Nicole…”.

Ông ta đã ném vào tôi một ánh mắt đầy khinh miệt rồi quay người đi về phía quảng trường Denfert-Rochereau, với dáng điệu rất kịch nghệ, như thể ông ta vừa bước ra từ sân khấu, cái khăn bay trong gió.

Cô xem đồng hồ đeo tay trong bóng tối lờ mờ.

- Được rồi… Anh bật đèn được rồi… Chúng ta không còn mắc phải nguy cơ nào nữa… Chắc ông ta đang bắt đầu tiết mục của ông ta tại École buissonnière…

- École buissonnière[1]?

- Đó là một quán cabaret. Mỗi đêm ông ta diễn tại dăm ba quán.

Ông ta chọn nghệ danh Mime Gil và biểu diễn một tiết mục trên nền các bài thơ của Jules Laforgue và Tristan Corbière bật lớn tiếng. Ông ta đã thu âm cô đọc thơ, thành thử chính giọng cô là cái mà người ta nghe thấy vào mỗi tối, trong lúc ông ta trình diễn dưới làn ánh sáng giống ánh trăng.

Cô nói với tôi rằng chồng cô là người rất tàn nhẫn. Ông ta muốn thuyết phục cô rằng một phụ nữ thì phải có nghĩa vụ “cả về thể xác lẫn tâm hồn” với một “nghệ sĩ”, khi mà cô ta chia sẻ cuộc sống với anh ta. Ông ta hay lên những cơn ghen tuông vì những nguyên cớ vớ vẩn nhất, và sự ghen tuông ấy đã trở nên còn bệnh hoạn hơn nữa kể từ khi cô quen biết Jansen.

Quãng mười giờ, hẳn ông sẽ rời École buissonnière để sang quán cabaret La Vieille Grille, trên phố Puits-de-l’Ermite, một cái va li xách trên tay. Nó chứa thứ đạo cụ duy nhất của ông: máy ghi âm thu sẵn những bài thơ.

Còn Jansen, ông đang ở đâu, theo tôi? Tôi đáp là thực sự tôi chẳng biết gì. Trong thoáng chốc, nhằm khiến cho mình trở nên thú vị, tôi đã muốn chỉ cho cô khách sạn trên đại lộ Raspail nhưng rồi tôi im lặng. Cô đề nghị tôi đưa cô về nhà. Tốt hơn hết là cô về trước chồng. Cô đã lại nói với tôi về ông ta. Tất nhiên, cô không còn cảm thấy coi trọng ông ta chút nào nữa, thậm chí cô còn cho là thật lố bịch, lòng ghen của ông ta cũng như việc ông ta cứ tự nhận mình là “nghệ sĩ”, nhưng tôi cảm thấy rõ là cô sợ ông ta. Ông ta luôn luôn về nhà vào lúc mười một giờ rưỡi để kiểm tra xem cô có ở đó không. Sau rồi, ồng ta lại lên đường tới quán cabaret cuối cùng để biểu diễn tiết mục của mình, một quán thuộc khu phố Contrescarpe, ông ta sẽ ở lại đó đến hai giờ sáng, và bắt Nicole phải đi cùng.

Chúng tôi đi theo đại lộ Denfert-Rochereau dưới tán cây và cô đặt cho tôi những câu hỏi về Jansen. Và tôi, tôi đáp lại cô theo cách thức mơ hồ: Phải, ông hay đi xa vì công việc và không bao giờ cho tôi tin tức. Rồi ông tới rất bất chợt và rồi lại biến mất trong cùng ngày. Một cơn gió đúng nghĩa. Cô dừng lại và ngẩng mặt về phía tôi:

- Nghe này… Một hôm nào đó, nếu ông ấy tới xưởng, anh không thể lén gọi điện thoại cho tôi à? Tôi sẽ đến ngay… Tôi chắc chắn là ông ấy sẽ mở cửa cho tôi.

Cô rút từ trong túi cái áo gió ra một mẩu giấy và hỏi tôi có bút không. Cô viết số điện thoại của mình:

- Cứ gọi cho tôi vào bất kỳ giờ nào trong ngày hay buổi đêm để báo cho tôi.

- Thế còn chồng cô?

- Ồ… chồng tôi…

Cô nhún vai. Dường như đó không phải là một trở ngại đối với cô không thể vượt qua.

Cô tìm cách trì hoãn cái mà cô gọi là “trở về nhà tù” thế cho nên chúng tôi đi một đường vòng xuyên qua các phố ngày hôm nay gợi cho tôi nghĩ đến một tỉnh đầy chuyên cần: Ulm, Rataud, Claude-Bernard, Pierre-et-Marie-Curie[2]… Chúng tôi băng ngang quảng trường Panthéon, thảm đạm trong ánh trăng, chắc hẳn tôi không dám bước vào đó nếu chỉ có một mình. Sau nhiều năm, tôi thấy như thể khu phố hoang vắng giống sau giờ giới nghiêm. Vả lại, buổi tối cách đây ba mươi năm ấy thường quay lại trong những giấc mơ của tôi. Tôi ngồi trên trường kỷ bên cạnh cô, xa cách đến mức tôi có cảm giác mình đang ở cùng một pho tượng. Cứ đợi mãi, chắc hẳn rốt cuộc cô bị hóa đá. Một làn ánh sáng hè cuối ngày tắm đẫm căn xưởng. Những bức ảnh chụp Robert Capa và Colette Laurent đã bị gỡ đi khỏi tường. Chẳng còn ai ở đó nữa. Jansen đã đi Mexico. Và chúng tôi, chúng tôi cứ chờ đợi chẳng cái gì hết.

* * *

Phía dưới đồi Sainte-Geneviève, chúng tôi bước vào một ngõ cụt: phố Écosse. Trời bắt đầu đổ mưa. Cô dừng lại trước tòa nhà cuối cùng, cổng đang mở rộng. Cô đặt một ngón tay lên miệng và kéo tôi vào hành lang lối vào. Cô đã không bật ngọn đèn tự tắt.

Có một luồng ánh sáng dưới cánh cửa đầu tiên bên trái mở ra hành lang.

- Ông ta về mất rồi, cô thì thầm vào tai tôi. Tôi sẽ bị ăn tẩn cho mà xem.

Câu nói ấy khiến tôi sửng sốt khi được phát ra từ miệng cô. Mưa mỗi lúc một thêm nặng hạt.

- Thậm chí tôi còn chẳng thể nào đưa cho anh mượn một cái ô…

Tôi vẫn nhìn chăm chăm vào luồng ánh sáng. Tôi sợ thấy ông ta bước ra.

- Anh phải ở lại trong hành lang đợi mưa tạnh đấy nhé… Dẫu sao, chồng tôi cũng không biết anh…

Cô nắm lấy tay tôi.

- Nếu có lúc nào Francis quay về, anh sẽ báo ngay cho tôi nhé… Hứa đấy nhé?

Cô bật ngọn đèn tự tắt và nhét chìa khóa vào ổ. Cô liếc nhìn tôi lần cuối. Cô bước vào bên trong và tôi nghe thấy cô nói, giọng chẳng mấy tự tin:

- Chào, Gil.

Người kia giữ im lặng. Cánh cửa đóng lại. Trước khi đèn tắt, tôi đã kịp có thời gian nhận ra, trên bức tường của hành lang, hòm thư của họ giữa các hòm thư khác. Trên đó viết, bằng những chữ màu đỏ uốn éo:

Nicole

Gil

Diễn viên kịch câm nhà thơ

Tiếng một thứ đồ gỗ đổ. Có ai đó vừa va vào cánh cửa. Giọng của Nicole:

- Để tôi yên…

Có thể nói là cô đang quẫy đạp. Người kia vẫn giữ im lặng. Cô cất lên một tiếng hét nghẹn lại như thể đang bị ông ta bóp cổ. Tôi tự hỏi mình có nên can thiệp hay không nhưng vẫn đứng đó bất động trong bóng tối, dưới cổng. Nước mưa đã tạo thành một cái vũng trước mặt tôi, ngay giữa vỉa hè.

Cô hét lên: “Để tôi yên”, to hơn lần trước. Tôi đã chuẩn bị đập cửa nhưng luồng ánh sáng chợt tắt phụt. Sau một lúc, là tiếng cót két của một bộ khung giường. Rồi đến những tiếng thở hổn hển và giọng Nicole, khàn, vẫn nói:

- Để tôi yên.

Trời tiếp tục mưa trong lúc cô phát ra những lời rên than gấp gáp và tôi nghe rõ tiếng cái giường cọt kẹt. Sau đó, cơn mưa nhỏ dần, chỉ còn là một dạng mưa phùn.

Tôi chuẩn bị bước qua bên kia cổng thì ngọn đèn tự tắt bật sáng sau lưng tôi. Cả hai người bọn họ đang ở trong hành lang và ông ta cầm trên tay cái va li. Cánh tay trái của ông ta choàng qua vai Nicole. Họ đi ngang qua, và cô làm như thể không biết tôi. Nhưng đến đầu phố, cô ngoái đầu lại và khẽ giơ tay chào tôi.

❀ ❀ ❀

[1] Tên của quán gây sửng sốt vì “école buissonnière” có nghĩa là “trốn học”.

[2] Đây là khu vực chuyên về học hành của quartier Latin.

Người dịch: Hoàng Lam Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.