Con Chó Mùa Xuân

Lượt đọc: 60 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15

❊ ❊ ❊

Hôm trước ngày Jansen rời khỏi Paris, tôi đã đến xưởng vào giữa trưa để xếp đống ảnh vào mấy cái va li. Chẳng gì khiến tôi đoán trước được cuộc khởi hành đột ngột của ông. Ông từng nói với tôi là ông sẽ không nhúc nhích cho tới cuối tháng Bảy. Vài hôm trước, tôi đã đưa ông bản sao quyển vở và bản thống kê. Thoạt tiên ông do dự không muốn nhận chúng:

- Cậu nghĩ những cái này thực sự cần thiết cho tôi vào lúc này à?

Rồi ông lật giở bản thống kê. Ông trùng trình lại một trang và đôi lúc nói to lên một cái tên như thể ông đang tìm cách nhớ lại khuôn mặt người mang nó.

- Hôm nay vậy là đủ rồi…

Ông khép bản thống kê lại bằng một động tác dứt khoát.

- Cậu đã thực hiện một công việc thư lại rất tốt đẹp… Tôi xin khen ngợi cậu…

Cái ngày cuối cùng ấy, lúc bước vào xưởng và bắt chợt tôi đang xếp các bức ảnh, ông lại chúc mừng tôi lần nữa:

- Một chuyên gia lưu trữ đúng nghĩa… Lẽ ra người ta phải thuê cậu làm cho các viện bảo tàng…

Chúng tôi đi ăn trưa tại một quán trong khu phố. Ông mang theo chiếc máy ảnh Rolleiflex. Ăn xong, chúng tôi đi theo đại lộ Raspail và ông dừng lại trước khách sạn nằm nơi góc phố Boissonade, đứng đó đơn độc cạnh bức tường và hàng cây của Trung tâm Mỹ.

Ông bước lùi lại ra đến gờ vỉa hè và chụp nhiều bức ảnh mặt tiền khách sạn đó.

- Chính đây là nơi tôi từng sống khi mới đến Paris…

Ông kể với tôi là ông đã bị ốm vào cái buổi tối mới tới nơi và nằm liệt trong phòng suốt khoảng chục ngày. Ông đã được một người tị nạn Áo sống ở khách sạn cùng vợ, một ông bác sĩ tên là Tennent, chăm sóc.

- Hồi đó tôi đã chụp cho ông ấy một bức ảnh…

Ngay tối hôm ấy tôi đã kiểm tra. Vì tôi đã liệt kê các bức ảnh theo chiều lịch đại vào trong quyển vở màu đỏ hiệu Clairefontaine, bức ảnh đó được nêu lên ngay đầu danh sách:

1. Bác sĩ Tennent cùng vợ. Vườn Luxembourg. Tháng Tư 1938.

- Nhưng tôi còn chưa có bức ảnh nào chụp khách sạn này… Cậu sẽ có thể cho thêm nó vào kiểm kê của cậu…

Ông đã đề nghị tôi đi cùng ông sang bên hữu ngạn nơi ông phải đi tìm “cái gì đó”. Trước tiên ông đã muốn đi tàu điện ngầm tại bến Raspail, nhưng, sau khi nhận ra trên bản đồ là sẽ phải đổi tàu nhiều lần thì mới đến được Opéra, ông quyết định chúng tôi sẽ tới đó bằng taxi.

* * *

Jansen bảo người tài xế dừng xe trên đại lộ Italiens, đoạn quán Café de la Paix, rồi ông đưa tay chỉ cho tôi hàng hiên của quán và nói:

- Đợi tôi ở kia nhé… sẽ không lâu đâu…

Ông đi về phía phố Auber. Tôi đi vài bước dọc theo đại lộ. Tôi đã không quay trở lại cái quán Café de la Paix này kể từ khi bố tôi hay dẫn tôi đến đó vào chiều Chủ nhật. Vì hiếu kỳ, tôi đi kiểm tra xem cái cân tự động nơi chúng tôi từng cân, những Chủ nhật ấy, có còn hay không, nó nằm ngay trước lối vào Grand Hôtel. Phải, nó vẫn ở cùng chỗ đó. Thế là tôi không sao tự ngăn mình trèo lên, nhét một đồng xu vào cái khe rồi đợi tấm tích kê màu hồng rơi ra.

Tôi có một cảm giác thật kỳ khôi, ngồi đó một mình tại hàng hiên quán Café de la Paix nơi những người khách chen chúc quanh các bàn. Có phải vì mặt trời tháng Sáu, tiếng ồn ã xe cộ qua lại, những tán lá cây mà màu lục tạo thành một sự tương phản thật lớn với màu đen các mặt tiền nhà, và những giọng nói xa lạ mà tôi đang nghe thấy từ những cái bàn gần đó? Tôi thấy như thể cả tôi cũng là một người khách du lịch bị lạc đường trong một thành phố mà tôi không biết rành. Tôi nhìn chăm chăm vào cái tích kê màu hồng như thể đó là thứ đồ vật cuối cùng đủ sức chứng nhận và đảm bảo cho tôi về căn cước của tôi, nhưng chiếc tích kê ấy còn làm cho tôi khó ở thêm. Nó gợi về một thời đã quá xa xôi của cuộc đời tôi, tới mức tôi thấy thật khó nối nó vào với hiện tại. Rốt cuộc tôi tự hỏi có đúng là tôi, đứa trẻ tới đây cùng bố tôi. Một cơn thẫn thờ, một dạng chứng quên dần dà xâm chiếm lấy tôi, giống cơn ngủ của cái ngày tôi bị một chiếc cam nhông nhỏ đâm phải, rồi thì người ta đã áp lên mặt tôi một tăm bông tẩm ê-te. Chỉ thêm một lúc nữa thôi, hẳn thậm chí tôi sẽ còn chẳng biết tôi là ai và không người nào trong số những người xa lạ ở xung quanh tôi kia có thể nói cho tôi biết. Tôi cố công chiến đấu chống lại cơn thẫn thờ đó, hai mắt dán chặt vào tấm tích kê màu hồng trên đó viết tôi nặng bảy mươi ba cân.

Có người vỗ lên vai tôi. Tôi ngẩng đầu lên nhưng bị quáng mắt vì ánh nắng.

- Trông cậu nhợt nhạt quá…

Tôi nhìn thấy Jansen như những cái bóng chập chờn. Ông ngồi xuống bên bàn, đối diện với tôi.

- Do trời nóng quá đấy, tôi ấp úng. Tôi nghĩ là tôi bị khó ở…

Ông gọi một cốc sữa cho tôi và một cốc whisky cho ông.

- Uống đi, ông bảo tôi. Sẽ khá hơn đấy…

Tôi chầm chậm uống sữa lạnh. Đúng, dần dà, thế giới quanh tôi lấy lại các hình dáng và những màu sắc của nó, cứ như thể tôi đang chỉnh một cái ống nhòm để có thể nhìn mỗi lúc một nét hơn. Jansen, ở đối diện, hiền từ nhìn tôi.

- Đừng lo, cậu nhỏ của tôi… Cả tôi cũng vẫn thường rơi vào các lỗ đen…

* * *

Một làn gió thổi vào các tán lá và bóng của chúng thật râm mát trong lúc chúng tôi, Jansen và tôi, bước đi dọc Grands Boulevards. Chúng tôi đã tới quảng trường Concorde. Chúng tôi bước vào khu vườn Champs-Élysées. Jansen dùng chiếc Rolleiflex của ông chụp những bức ảnh nhưng tôi chỉ thoáng để ý thấy. Ông chỉ liếc nhìn vào khung ngắm, để ngang eo. Và thế nhưng tôi biết rằng bức ảnh nào của ông cũng có độ chính xác cực điểm. Một ngày nọ, khi tôi ngạc nhiên trước vẻ thong thả vờ vịt ấy, ông đã nói với tôi là cần phải “nắm lấy mọi thứ thật nhẹ nhàng và trong im lặng, nếu không chúng sẽ chuồn mất”.

Chúng tôi ngồi xuống một cái ghế băng và, vẫn tiếp tục nói chuyện, thỉnh thoảng ông đứng dậy và nhấn nút chụp khi có một con chó, một đứa trẻ con đi ngang qua, lúc xuất hiện một tia nắng, ông duỗi dài rồi gập lại hai chân và đầu ông gục xuống như thể đã ngủ gật.

Tôi hỏi ông đang chụp gì thế.

- Đôi giày của tôi.

Qua đại lộ Matignon, chúng tôi đến faubourg Saint-Honoré, ông chỉ cho tôi tòa nhà nơi đặt trụ sở hãng Magnum và ông muốn chúng tôi uống một cốc tại quán cà phê bên cạnh, nơi xưa kia ông hay ghé cùng Robert Capa.

Chúng tôi ngồi vào một cái bàn trong góc, và thêm lần nữa ông gọi một cốc sữa cho tôi và một cốc whisky cho ông.

- Chính ở quán cà phê này tôi đã quen với Colette, đột nhiên ông nói với tôi.

Tôi những muốn đặt cho ông các câu hỏi và nói với ông về vài bức ảnh chụp cô mà tôi đã kiểm kê được trong quyển vở màu đỏ:

Colette. 12, thôn Danube.

Colette cầm ô nhỏ.

Colette. Bãi biển Pampelonne.

Colette. Cầu thang trên phố Cascades.

Rốt cuộc tôi nói:

- Thật tệ vì tôi đã không được quen với mọi người hồi đó…

Ông mỉm cười với tôi.

- Nhưng lúc đó cậu vẫn còn ở cái tuổi ngậm bình sữa…

Và ông đưa tay chỉ vào cốc sữa tôi đang cầm trên tay.

- Đợi chút… Đừng nhúc nhích…

Ông đặt cái Rolleiflex lên mặt bàn rồi nhấn nút. Tôi có bức ảnh, nó đang ở bên cạnh tôi, giữa tất tật những bức ảnh mà ông đã chụp vào buổi chiều hôm ấy.

Cánh tay giơ lên của tôi và những ngón tay tôi cầm cái cốc hiện lên sắc nét, ngược sáng và có thể nhìn rõ, phía sau, cánh cửa mở của quán cà phê, vỉa hè và phố tắm đẫm trong làn ánh sáng mùa hè - cùng thứ ánh sáng trong đó chúng tôi bước đi, mẹ tôi và tôi, trong kỷ niệm của tôi, cùng Colette Laurent.

* * *

Sau bữa tối, tôi đi theo ông về đến căn xưởng. Chúng tôi đã đi một đường vòng thật dài. Ông nói với tôi nhiều hơn thường lệ và lần đầu tiên đặt cho tôi những câu hỏi về tương lai tôi. Ông lo lắng cho các điều kiện sống mà tôi sẽ rơi vào. Ông nhắc tới sự tạm bợ cuộc tồn tại của ông ở Paris vào cùng độ tuổi với tôi. Cuộc gặp với Robert Capa đã cứu sống ông, nếu không có lẽ chắc hẳn ông đã chẳng có đủ can đảm để làm cái nghề của ông. Vả lại, chính Capa là người đã dạy nó cho ông.

Đã quá nửa đêm, chúng tôi vẫn tiếp tục chuyện vãn trên một băng ghế của đại lộ Maine. Một con chó giống pointer hiện ra đơn độc, bước đi trên vỉa hè, vẻ vội vã, và nó tới hít ngửi chúng tôi. Nó không mang vòng cổ. Dường như nó có quen biết Jansen. Nó đi theo chúng tôi về đến phố Froidevaux, lúc đầu từ xa, rồi nó xáp lại gần và đi bên cạnh chúng tôi. Chúng tôi tới trước căn xưởng và Jansen lục tìm trong các túi quần túi áo nhưng không tìm thấy chìa khóa đâu. Đột nhiên ông có vẻ nhọc. Tôi cho là ông đã uống quá nhiều. Tôi bèn mở cửa cho ông bằng cái chìa dự phòng mà ông đã giao cho tôi.

Trong khung cửa, ông bắt tay tôi và nói, giọng trang trọng:

- Cám ơn cậu vì mọi điều.

Ông nhìn tôi chăm chăm, ánh mắt hơi có chút mờ sương. Ông đóng cửa lại trước khi tôi kịp có thời gian nói cho ông biết con chó đã lẻn vào xưởng sau lưng ông.

* * *

Hôm sau, tôi gọi điện thoại quãng mười một giờ đến xưởng nhưng không có ai trả lời. Tôi đã làm theo đúng dấu hiệu thỏa thuận giữa Jansen và tôi: Dập máy sau ba hồi chuông rồi bấm số lại. Tôi quyết định đi tới đó để xếp nốt đống ảnh.

Như thường lệ, tôi mở cửa bằng chìa khóa dự phòng. Ba cái va li đã biến mất, cũng như bức ảnh Colette Laurent và bức ảnh chụp Jansen cùng Robert Capa, vốn dĩ treo trên tường. Trên cái bàn thấp là một cuộn phim chưa rửa. Chiều hôm đó, tôi đã mang nó tới hiệu tráng rửa trên phố Delambre. Khi quay trở lại, vài hôm sau, tôi phát hiện trong cái túi mà người ta đưa cho tôi tất tật những bức ảnh mà Jansen đã chụp trong cuốc đi dạo Paris của chúng tôi.

Tôi biết rõ rằng kể từ nay đợi chờ ông sẽ chỉ hoài công mà thôi.

Tôi lục tìm trong các tủ tường trên tầng gác lửng nhưng chúng không còn chứa gì nữa, không có lấy đến một thứ quần áo, không có lấy một chiếc giày. Ga và chăn đã bị lột hết đi, chỉ còn trơ lại tấm nệm. Không có lấy một đầu mẩu thuốc lá ở các gạt tàn. Không còn cốc lẫn chai whisky nào nữa. Tôi thấy mình thật giống một thanh tra cảnh sát đến thăm viếng căn xưởng của một người bị truy nã từ lâu, và tôi tự nhủ thật vô ích bởi vì chẳng có chứng cứ nào cho thấy người đó từng sống ở đây, không có đến cả một dấu vân tay.

Tôi đợi cho tới năm giờ, ngồi đó trên trường kỷ, mà xem quyển vở màu đỏ và bản thống kê. Có vẻ như là Jansen đã mang theo bản sao của chúng. Có lẽ Nicole sắp bấm chuông cửa và tôi sẽ phải nói với cô rằng kể từ nay chúng tôi có nguy cơ phải chờ đợi Jansen mà chẳng bao giờ thấy và rằng một nhà khảo cổ học, trong những thế kỷ sắp tới, sẽ tìm thấy chúng tôi đã trở thành xác ướp, cả hai, trên trường kỷ. Phố Froidevaux sẽ trở thành đối tượng cho một cuộc đào bới. Nơi góc nghĩa trang Montparnasse, người ta sẽ phát hiện Mime Gil, bị biến thành pho tượng, và người ta sẽ nghe thấy trái tim ông ta đập. Và cái đài ghi âm, đằng sau ông ta, phát ra một bài thơ mà ông ta đã ghi âm bằng cái giọng nhiều chất kim của mình:

Démons et merveilles

Vents et marées…[1]

Một câu hỏi đột nhiên lướt qua tâm trí tôi: Con chó pointer từng đi theo chúng tôi tối hôm qua và đi vào căn xưởng mà Jansen không hay biết sao rồi? Ông có mang nó đi theo với mình? Ngày hôm nay nghĩ lại chuyện ấy, tôi tự hỏi hay con chó ấy, hết sức đơn giản, là chó của ông.

* * *

Tôi quay trở lại căn xưởng, sau đó, vào cái giờ bóng tối bắt đầu buông. Một đốm nắng cuối cùng trùng trình nán lại trên trường kỷ. Giữa những bức tường đó, cái nóng thật ngột ngạt. Tôi đã mở ô kính lớn. Tôi nghe thấy tiếng xào xạc của đám cây cùng tiếng chân bước của những người đi ngoài phố. Tôi kinh ngạc thấy rằng sự ồn ã của xe cộ đi lại đã tắt ngấm về phía Denfert-Rochereau, cứ như thể cảm giác về vắng mặt và nỗi trống rỗng mà Jansen để lại lan rộng theo các đợt sóng đồng tâm và Paris dần dà trở nên hoang vu.

Tôi tự hỏi tại sao ông không báo trước cho tôi là ông sắp ra đi. Nhưng mấy dấu hiệu ấy gợi lên rất rõ một sự biến mất sắp sửa: bức ảnh khách sạn trên đại lộ Raspail mà ông đã chụp và cuộc đi vòng cho đến faubourg Saint-Honoré để chỉ cho tôi trụ sở của hãng Magnum cũ và quán cà phê nơi ông từng hay lai vãng cùng Robert Capa và Colette Laurent. Phải, ông đã, cùng tôi, thực hiện chuyến hành hương cuối cùng tới các địa điểm của tuổi trẻ ông. Tận sâu trong căn xưởng, cánh cửa của phòng tối đang mở hé. Cái buổi chiều Jansen phóng các bức ảnh chụp cô bạn gái tôi và tôi, bóng đèn nhỏ màu đỏ sáng lấp lánh trong bóng tối. Ông đứng đó trước chậu hóa chất, đeo đôi găng tay bằng cao su. Ông đã chìa cho tôi những tấm phim âm bản. Khi chúng tôi quay trở ra ngoài xưởng, ánh nắng làm tôi quáng cả mắt.

Tôi không trách ông. Và thậm chí, tôi hiểu ông rõ đến thế… Tôi đã ghi nhận được ở nơi ông một số cách thức hành động và một số nét tính cách hết sức quen thuộc với tôi. Ông từng nói với tôi: “Đừng lo gì hết, cậu nhỏ của tôi… Cả tôi cũng vẫn hay bị rơi vào những lỗ đen…”. Tôi chẳng thể đoán định trước tương lai, nhưng từ giờ cho tới chừng ba mươi năm nữa, chừng nào tôi đến độ tuổi của Jansen, hẳn tôi cũng sẽ không còn trả lời điện thoại và hẳn tôi sẽ biến mất, giống ông, vào một tối tháng Sáu, cùng một con chó ma.

❀ ❀ ❀

[1] Jacques Prévert, “Paroles de démons et merveilles”; hai câu thơ trên có nghĩa: “Những con quỷ và những điều huyền diệu/Những cơn gió và những đợt thủy triều”.

Người dịch: Hoàng Lam Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.