Phía trên mái cung điện – nơi ở của vị Jed thành Gathol cùng đoàn tùy tùng – chiếc chiến thuyền Vanator đang oằn mình giằng xé những sợi dây neo chắc chắn. Tiếng rên rỉ của hệ thống tời cáp thể hiện rõ cơn cuồng nộ điên dại của bão tố, trong khi vẻ mặt lo lắng của những thành viên phi hành đoàn có nhiệm vụ túc trực trên con tàu đang oằn mình ấy càng chứng minh thêm cho sự hiểm nghèo của tình thế. Chỉ nhờ những mối buộc kiên cố mới ngăn được những người này bị cuốn khỏi boong tàu, còn những người ở trên mái cung điện bên dưới thì phải liên tục bám lấy lan can và cột trụ để không bị cuốn đi bởi từng đợt cuồng phong vũ trụ quét qua. Trên mũi chiếc Vanator có vẽ huy hiệu của Gathol, nhưng phần thượng tầng lại chẳng treo một lá cờ nào, bởi cơn bão đã quật gãy sạch từng chiếc một ngay khi chúng vừa được giương lên, hệt như cảm giác của những kẻ đang đứng nhìn rằng con tàu rồi cũng sẽ bị cuốn đi. Họ không thể tin nổi bất kỳ hệ thống tời cáp nào có thể chịu đựng nổi sức mạnh tựa thần Titan này trong một thời gian dài. Bám vào mỗi trong số mười hai mối buộc là một chiến sĩ vạm vỡ với thanh đoản kiếm tuốt trần. Chỉ cần một sợi dây neo duy nhất đứt trước sức mạnh của cuồng phong, mười một thanh đoản kiếm còn lại sẽ lập tức cắt đứt những sợi kia; bởi vì nếu chỉ neo đậu một phần, con tàu chắc chắn phải bỏ mạng, trong khi thả trôi tự do giữa bão tố ít ra vẫn còn chút hy vọng sống mong manh.
"Vì dòng máu của Issus, ta tin là chúng sẽ trụ được!" một chiến sĩ thét lớn với người bên cạnh.
"Và nếu chúng không trụ được, cầu mong các linh hồn tổ tiên ban thưởng cho những dũng sĩ trên chiếc Vanator," một người khác đứng trên mái cung điện đáp lời, "vì chẳng bao lâu nữa kể từ lúc cáp đứt, phi hành đoàn sẽ khoác lên mình bộ áo giáp da của người chết; nhưng dẫu sao, Tanus ạ, ta vẫn tin là chúng sẽ trụ được. Ít ra hãy tạ ơn vì chúng ta đã không khởi hành trước khi bão nổi, bởi giờ đây mỗi người chúng ta vẫn còn cơ hội sống."
"Đúng vậy," Tanus đáp, "ta rất ghét cảnh phải lênh đênh ngoài khơi vào ngày hôm nay trên bất kỳ con chiến thuyền kiên cố nào bay trên bầu trời Barsoom."
Chính lúc ấy, Jed Gahan xuất hiện trên mái nhà. Đi cùng chàng là những thành viên còn lại trong phái đoàn của mình cùng một tá chiến sĩ thành Helium. Vị tù trưởng trẻ tuổi quay sang nhìn các thuộc hạ.
"Ta sẽ khởi hành ngay trên chiếc Vanator," chàng nói, "để tìm kiếm Tara thành Helium – người được cho là đã bị cuốn đi trên một chiếc phi thuyền đơn độc bởi cơn bão. Ta thiết nghĩ mình không cần phải giải thích về cơ hội mỏng manh của chiếc Vanator trong việc chống lại cơn cuồng nộ của bão tố, và ta cũng sẽ không ra lệnh cho các ngươi phải đi chịu chết. Ai muốn ở lại cứ việc ở lại mà không phải hổ thẹn. Những kẻ khác hãy theo ta," và chàng lao mình về phía chiếc thang dây đang quất phần phật trong gió bão.
Người đầu tiên đi theo chàng là Tanus, và khi người cuối cùng đặt chân lên boong chiến thuyền, trên mái cung điện chỉ còn lại mười hai chiến sĩ thành Helium – những người với thanh kiếm trần trong tay, đã thay thế vị trí neo đậu của những người Gathol.
Không một chiến sĩ nào từng ở lại trên chiếc Vanator chịu rời bỏ con tàu lúc này.
"Ta đã đoán trước được điều đó," Gahan nói, khi chàng và những người khác cùng nhau tìm những mối buộc chắc chắn với sự giúp đỡ của những người đã có mặt trên boong. Viên chỉ huy chiếc Vanator lắc đầu. Ông yêu con chiếc chiến thuyền gọn gàng của mình, niềm kiêu hãnh thuộc hàng top trong hải quân nhỏ bé của Gathol. Ông chỉ nghĩ đến nó – chứ không phải bản thân mình. Ông mường tượng ra cảnh nó nằm rách nát và méo mó trên thảm thực vật màu đất son ở một đáy biển xa xôi nào đó, để rồi sẽ sớm bị chà đạp và cướp phá bởi một bầy lũ dã man da xanh. Ông nhìn Gahan.
"Mọi thứ đã sẵn sàng chưa, San Tothis?" vị jed hỏi.
"Tất cả đã sẵn sàng."
"Vậy thì cắt đi!"
Lệnh được truyền dọc qua boong tàu và vắt qua mạn thuyền xuống cho các chiến sĩ Helium ở bên dưới rằng cứ đến phát súng thứ ba thì họ sẽ cắt dây. Mười hai lưỡi kiếm sắc bén phải chém xuống đồng thời với lực ngang bằng nhau, và mỗi người phải chặt đứt hoàn toàn và tức thì ba sợi cáp dày để không có đầu dây lỏng nào vướng vào ròng rọc gây ra thảm họa ngay lập tức cho chiếc Vanator.
Đùng! Tiếng súng hiệu vang dội xuyên qua tiếng gió thét gào dội xuống mười hai chiến sĩ trên mái nhà. Đùng! Mười hai thanh kiếm giơ cao trên mười hai đôi vai vạm vỡ. Đùng! Mười hai lưỡi sắc chém đứt mười hai sợi dây neo đang oằn mình, gọn gàng và đồng loạt.
Chiếc Vanator với những chân vịt đang quay tít, lao vút về phía trước cùng cơn bão. Cuồng phong đập thẳng vào đuôi tàu tựa như một cú đấm đeo găng sắt, dựng ngược con chiến thuyền to lớn lên theo phương thẳng đứng, rồi chộp lấy nó và quay tít như con quay của trẻ thơ; còn trên mái cung điện, mười hai người đứng nhìn trong sự bất lực lặng câm và cầu nguyện cho linh hồn của những dũng sĩ đang đi về cõi chết. Và những người khác cũng chứng kiến từ các bến đáp trên cao của Helium cùng từ hàng ngàn nhà chứa máy bay trên muôn vàn mái nhà; nhưng sự chuẩn bị nhằm đưa những dũng sĩ khác dấn thân vào vùng xoáy kinh hoàng của cuộc tìm kiếm dường như vô vọng ấy chỉ dừng lại trong chốc lát, bởi bản lĩnh của các chiến sĩ Barsoom là thế.
Nhưng chiếc Vanator đã không rơi xuống mặt đất, ít ra là trong tầm mắt của thành phố, dẫu cho chừng nào những người quan sát còn trông thấy nó thì khoảnh khắc nào con tàu cũng không chịu nằm yên trên một đường thăng bằng. Lúc thì nó nằm nghiêng bên này hay bên nọ, khi thì lao vút đi với phần sống keel chổng ngược, hoặc cứ xoay vòng lộn nhèo hết lần này đến lần khác, khi thì chúc mũi xuống đất hoặc chổng đuôi lên trời theo ý thích của thứ sức mạnh vĩ đại đang cuốn nó đi. Và những người quan sát nhận ra rằng con chiến thuyền lớn lao ấy chẳng qua chỉ đang bị thổi bay đi cùng những mảnh vụn lớn nhỏ khác lấp đầy bầu trời. Chưa bao giờ trong ký ức con người hay biên niên sử được ghi chép lại từng có một cơn bão nào hoành hành dữ dội như thế trên khắp bề mặt Barsoom.
Và chỉ một tích tắc sau, chiếc Vanator đã bị lãng quên khi tòa tháp màu đỏ cao ngất từng là dấu mốc của Lesser Helium suốt bao đời nay đổ sụp xuống mặt đất, mang theo cái chết và sự tàn phá đến thành phố bên dưới. Sự hỗn loạn bao trùm. Một đám cháy bùng lên trong đống đổ nát. Mọi lực lượng của thành phố dường như tê liệt, và chính lúc đó Warlord đã ra lệnh cho những người đang chuẩn bị lên đường tìm kiếm Tara thành Helium hãy dồn tâm sức vào việc cứu lấy thành phố, bởi ông cũng đã chứng kiến thời điểm xuất phát của chiếc Vanator và nhận ra sự vô ích của việc phí phạm những con người đang rất cần cho mục đích cứu Lesser Helium khỏi cảnh bị hủy diệt hoàn toàn.
Ngay sau buổi trưa của ngày thứ hai, cơn bão bắt đầu dịu dần, và trước khi mặt trời lặn, chiếc phi thuyền nhỏ bé – nơi Tara thành Helium đã trôi nổi giữa ranh giới sinh tử suốt ngàn ấy giờ – trôi đi lững lờ theo một làn gió nhẹ bên trên khung cảnh những ngọn đồi nhấp nhô từng là những dãy núi cao ngất trên một lục địa Sao Hỏa. Cô gái kiệt sức vì mất ngủ, vì thiếu ăn thiếu uống, và vì sự suy sụp thần kinh sau những trải nghiệm kinh hoàng mà cô vừa trải qua. Ở khoảng cách gần, vừa vấp phải một ngọn đồi chắn ngang, cô thoáng thấy cái trông giống như một tòa tháp có chóp mái hình vòm. Nhanh chóng, cô hạ thấp phi thuyền cho đến khi ngọn đồi che khuất nó khỏi tầm nhìn của những cư dân tiềm năng trong cấu trúc mà cô vừa thấy. Ngọn tháp đối với cô đồng nghĩa với sự hiện diện của con người, gợi lên sự tồn tại của nước và, có lẽ, cả thức ăn nữa. Nếu tòa tháp chỉ là một di tích hoang phế từ một thời đại đã qua, cô hầu như sẽ chẳng tìm thấy thức ăn ở đó, nhưng vẫn còn một chút hy vọng là sẽ có nước. Nếu nơi đó có người ở, vậy thì cô phải tiếp cận thật thận trọng, bởi chỉ có kẻ thù mới có thể sống ở một vùng đất xa xôi đến vậy. Tara thành Helium thừa biết rằng cô phải đang cách rất xa các thành phố sinh đôi trong đế chế của ông nội mình, nhưng nếu cô đoán trúng dù chỉ trong vòng một ngàn haad sự thật, cô đã phải chết sững vì nhận thức được sự vô vọng đến cùng cực trong hoàn cảnh của mình.
Giữ cho con tàu bay thấp, bởi các khoang chứa khí nâng vẫn còn nguyên vẹn, cô gái lướt sát mặt đất cho đến khi ngọn gió di chuyển nhẹ nhàng đưa cô đến sườn ngọn đồi cuối cùng nằm chắn giữa cô và cấu trúc mà cô từng nghĩ là tòa tháp do con người xây dựng. Tại đây, cô hạ phi thuyền xuống mặt đất giữa một số cây cối còi cọc, rồi kéo nó nấp dưới một gốc cây nơi nó có thể được che khuất phần nào khỏi những chiếc tàu bay qua bên trên, cô buộc cố định nó lại và bắt đầu đi thám thính. Giống như hầu hết phụ nữ cùng tầng lớp với mình, cô chỉ được vũ trang bằng một lưỡi dao mảnh duy nhất, thế nên trong tình huống khẩn cấp đang đối mặt lúc bấy giờ, cô hầu như chỉ có thể dựa vào sự khôn ngoan của mình để không bị kẻ thù phát hiện. Với sự thận trọng tối đa, cô rón rén bò về phía đỉnh đồi, tận dụng mọi màn ngụy trang tự nhiên mà cảnh vật mang lại để che giấu cách tiếp cận của mình khỏi những kẻ quan sát có thể xuất hiện phía trước, đồng thời chốc chốc lại ngoái đầu nhìn nhanh về phía sau kẻo bị đánh úp từ hướng đó.
Cuối cùng cô cũng lên tới đỉnh, nơi từ chỗ ẩn nấp của một bụi cây thấp, cô có thể nhìn thấy khung cảnh bên kia sườn đồi. Trải rộng bên dưới cô là một thung lũng tuyệt đẹp được bao bọc bởi những ngọn đồi thấp. Rải rác khắp thung lũng là vô số tòa tháp hình tròn có chóp mái vòm, và bao quanh mỗi tòa tháp là một bức tường đá bao bọc lấy diện tích đất rộng vài mẫu Anh. Thung lũng trông có vẻ được canh tác rất kỹ lưỡng. Nằm ở phía bên kia ngọn đồi và ngay bên dưới cô là một tòa tháp cùng khu đất rào chắn. Chính phần mái của tòa tháp này ban đầu đã thu hút sự chú ý của cô. Về mọi mặt, nó có vẻ giống hệt về mặt kiến trúc với những tòa tháp xa hơn trong thung lũng – một bức tường trát vữa cao với cấu trúc đồ sộ bao quanh một tòa tháp được xây dựng tương tự, trên bề mặt màu xám của nó được vẽ những kỳ hiệu kỳ lạ bằng màu sắc rực rỡ. Các tòa tháp có đường kính khoảng bốn mươi sofad, tương đương khoảng bốn mươi foot của Trái Đất, và cao sáu mươi foot tính đến chân mái vòm. Đối với một người Trái Đất, chúng sẽ lập tức gợi nhớ đến những cái silo mà nông dân nuôi bò sữa dùng để dự trữ thức ăn ủ chua cho đàn gia súc của họ; nhưng nếu quan sát kỹ hơn, để lộ ra một số ô cửa hoa tiêu thưa thớt cùng với cấu trúc kỳ lạ của các mái vòm, sẽ làm thay đổi kết luận đó. Tara thành Helium thấy rằng các mái vòm có vẻ được ốp bằng vô số lăng kính thủy tinh, những lăng kính hướng về phía mặt trời lặn phản chiếu rực rỡ đến mức khiến cô chợt liên tưởng đến trang phục lộng lẫy của Gahan xứ Gathol. Khi nghĩ về người đàn ông ấy, cô giận dữ lắc đầu, và cẩn thận bước tiến lên một hai bước để có thể quan sát rõ hơn tòa tháp gần hơn cùng khu đất rào chắn của nó.
Khi Tara thành Helium nhìn xuống khu vực rào chắn xung quanh tòa tháp gần nhất, đôi mày cô thoáng chau lại vì ngạc nhiên rồi cau có, và sau đó đôi mắt cô mở lớn biểu lộ vẻ không thể tin nổi phảng phất nỗi kinh hoàng, bởi thứ cô nhìn thấy là vài chục thi thể người – không mảnh vải che thân và không đầu. Suốt một hồi lâu, cô nín thở quan sát; không thể tin nổi vào chính mắt mình rằng những sinh vật đáng sợ ấy đang chuyển động và có sự sống! Cô thấy chúng đang bò trườn bằng cả bàn tay và đầu gối đè lên nhau và băng qua nhau, dùng các ngón tay để khua khoắng tìm kiếm xung quanh. Và cô thấy một vài con đang ở các máng ăn – thứ mà những con khác dường như đang tìm kiếm, và những con ở máng ăn đang lấy thứ gì đó từ những vật chứa này rồi rõ ràng là nhét nó vào cái lỗ đáng lẽ phải là cổ của chúng. Chúng ở cách cô không xa – cô có thể nhìn rõ chúng và nhận thấy đó là thi thể của cả nam lẫn nữ, rằng chúng có tỷ lệ cơ thể đẹp đẽ, và da của chúng tương tự như da cô, nhưng có sắc đỏ nhạt hơn một chút. Ban đầu cô cứ ngẫm rằng mình đang nhìn vào một lò mổ và các thi thể vừa mới bị chặt đầu đang cử động theo phản ứng của cơ bắp; nhưng chẳng mấy chốc cô nhận ra đây mới chính là trạng thái bình thường của chúng. Sự kinh dị của chúng khiến cô mê mẩn đến mức khó lòng rời mắt. Rõ ràng qua những đôi bàn tay đang khua khoắng, chúng là những kẻ không mắt, và những chuyển động uể oải của chúng gợi ý về một hệ thần kinh sơ khai cùng một bộ não nhỏ bé tương ứng. Cô gái tự hỏi làm thế nào mà chúng duy trì được sự sống, bởi ngay cả trong trí tưởng tượng phong phú nhất, cô cũng không thể hình dung nổi những sinh vật khuyết tật này lại là những người nông dân canh tác đất đai thông minh. Thế nhưng đất đai trong thung lũng rõ ràng là đã được cày cấy và những sinh vật này cũng có thức ăn là điều hiển nhiên không kém. Nhưng ai là kẻ cày cấy đất đai? Ai đã nuôi dưỡng và cho những sinh vật bất hạnh này ăn, và với mục đích gì? Đó là một ẩn đố vượt quá khả năng suy luận của cô.
Cảnh tượng thức ăn lại đánh thức nhận thức về cơn đói đang gặm nhấm chính cô và cơn khát đang làm khô cháy cổ họng. Cô có thể nhìn thấy cả thức ăn lẫn nước uống bên trong khu rào chắn; nhưng liệu cô có dám bước vào ngay cả khi tìm được lối vào không? Cô hoài nghi điều đó, bởi chính ý nghĩ có thể tiếp xúc với những sinh vật rùng rợn này cũng đủ khiến toàn thân cô rùng mình run rẩy.
Rồi ánh mắt cô lại dời đi hướng ra thung lũng cho đến khi bắt gặp thứ trông giống như một dòng suối nhỏ uốn lượn xuyên qua trung tâm các vùng đất nông nghiệp – một cảnh tượng kỳ lạ trên Sao Hỏa. À, chao ôi, nếu đó chính là nước! Khi ấy cô mới có thể nuôi chút hy vọng thực sự, bởi các cánh đồng sẽ mang lại cho cô lương thực mà cô có thể kiếm được vào ban đêm, trong khi ban ngày cô sẽ ẩn nấp giữa những ngọn đồi xung quanh, và thế nào, vâng, thế nào rồi cô cũng biết, những người đi tìm kiếm sẽ đến, bởi John Carter, Warlord của Barsoom, sẽ không bao giờ ngừng tìm kiếm con gái mình cho đến khi từng thước vuông của hành tinh này được lùng sục hết lần này đến lần khác. Cô hiểu ông và cô hiểu các chiến sĩ Helium, và vì thế cô biết rằng chỉ cần cô xoay sở trốn tránh hiểm họa cho đến khi họ đến nơi, họ thực sự sẽ xuất hiện vào phút chót.
Cô sẽ phải đợi cho đến khi trời tối mới dám mạo hiểm bước vào thung lũng, và trong thời gian đó cô nghĩ tốt hơn hết là nên tìm kiếm một nơi an toàn gần đó, nơi cô có thể tương đối an toàn trước những con thú dữ. Có thể là quận hạt này không có loài ăn thịt nào, nhưng chẳng thể nào chắc chắn được ở một vùng đất lạ. Khi cô chuẩn bị rút lui về phía sau đỉnh đồi, sự chú ý của cô lại bị thu hút bởi khu rào chắn bên dưới. Hai nhân vật vừa bước ra từ tòa tháp. Thân hình đẹp đẽ của họ trông giống hệt như những sinh vật không đầu mà họ đang di chuyển giữa bầy, nhưng những kẻ mới đến thì không mất đầu. Trên đôi vai họ là những chiếc đầu trông có vẻ giống người, nhưng cô gái trực giác cảm nhận được rằng chúng không phải là con người. Chúng chỉ hơi quá lớn một chút để cô có thể nhìn rõ trong ánh chiều tà đang tắt dần, nhưng cô biết rằng chúng quá to, chúng không cân đối với thân hình hoàn hảo, và chúng có hình bầu dục. Cô có thể thấy rằng những người đàn ông này mặc một dạng dây nằn nào đó đeo vắt theo thanh kiếm dài và đoản kiếm thông thường của chiến sĩ Barsoom, và quanh những chiếc cổ ngắn của họ là những chiếc vòng cổ bằng da đồ sộ được cắt sao cho vừa khít ôm trọn lấy đôi vai và vừa vặn với phần dưới của đầu. Các đường nét trên khuôn mặt họ hầu như không thể nhận ra, nhưng phảng phất một nét quái dị mang lại cho cô cảm giác ghê tởm.
Cả hai mang theo một sợi dây thừng dài được buộc chặt, cứ cách khoảng hai sofad lại có những thứ mà sau đó cô đoán là còng nhẹ, vì cô thấy các chiến sĩ đang đi giữa những sinh vật tội nghiệp trong khu rào chắn và buộc một chiếc còng vào cổ tay phải của từng con. Khi tất cả đã được buộc vào sợi dây như vậy, một trong những chiến sĩ bắt đầu kéo và giật đầu dây lỏng như thể đang cố gắng lôi đám đông không đầu về phía tòa tháp, trong khi người kia đi giữa chúng với một chiếc roi dài và nhẹ, quất nó vào làn da trần của chúng. Chậm chạp và lờ đờ, các sinh vật đứng dậy, và giữa một bên là lực kéo của chiến sĩ đằng trước cùng những roi quất của kẻ đằng sau, đám người bất hạnh cuối cùng cũng được lùa vào trong tháp. Tara thành Helium rùng mình quay đi. Chúng là loại sinh vật gì thế này?
Đột nhiên trời tối sập xuống. Ngày trên Sao Hỏa đã kết thúc, và rồi khoảng thời gian chạng vạng ngắn ngủi khiến sự chuyển đổi từ ban ngày sang ban đêm gần như đột ngột hệt như việc bật tắt một công tắc điện, vậy mà Tara thành Helium vẫn chưa tìm được chốn dung thân nào. Nhưng có lẽ chẳng có con thú nào phải sợ, hay đúng hơn là phải tránh né – Tara thành Helium không thích từ sợ hãi cho lắm. Tuy nhiên, cô sẽ rất mừng nếu có một cái cabin, dù là một cái cabin rất nhỏ, trên chiếc phi thuyền nhỏ của mình; nhưng chẳng có cabin nào cả. Bên trong thân tàu hoàn toàn bị chiếm chỗ bởi các khoang chứa khí nâng. À, cô nghĩ ra rồi! Sao mình lại ngốc thế nhỉ, sao không nghĩ ra điều này từ trước chứ! Cô có thể neo con tàu vào cái cây bên dưới nó và để nó bay lên theo chiều dài của sợi dây. Được buộc chặt vào các vòng trên boong tàu, cô sẽ an toàn trước bất kỳ con thú săn mồi lang thang nào tình cờ đi ngang qua. Vào buổi sáng, cô có thể hạ xuống mặt đất một lần nữa trước khi con tàu bị phát hiện.
Khi Tara thành Helium rón rén vượt qua đỉnh đồi đi xuống thung lũng, sự hiện diện của cô được che giấu bởi màn đêm tối mịt khỏi tầm mắt của bất kỳ kẻ quan sát tình cờ nào đang lảng vảng bên cửa sổ của tòa tháp gần đó. Cluros, mặt trăng xa hơn, vừa nhô lên phía chân trời để bắt đầu hành trình thong thả qua thiên hà. Tám zodes sau nó sẽ lặn – nhỉnh hơn mười chín tiếng rưỡi của Trái Đất một chút – và trong khoảng thời gian đó Thuria, người bạn đời năng động của nó, sẽ quay quanh hành tinh hai lần và đi được hơn nửa vòng cho chuyến đi thứ ba của mình. Nó vừa mới lặn xong. Sẽ mất hơn ba tiếng rưỡi nữa trước khi nó vọt lên phía chân trời đối diện để lao vút đi, nhanh và thấp, băng qua bề mặt của hành tinh đang lụi tàn. Trong khoảng thời gian vắng bóng tạm thời của vầng trăng điên dại này, Tara thành Helium hy vọng sẽ tìm được cả thức ăn lẫn nước uống, và quay trở lại nơi an toàn trên boong phi thuyền của mình.
Cô dò dẫm mò mẫm trong bóng tối, cố gắng né tránh tòa tháp và khu rào chắn của nó với khoảng cách rộng nhất có thể. Đôi khi cô vấp ngã, bởi trong những chiếc bóng dài do ánh trăng Cluros đang lên hắt xuống, các vật thể bị biến dạng một cách kỳ quái mặc dù ánh sáng từ mặt trăng vẫn chưa đủ để hỗ trợ cô nhiều lắm. Mà thực ra, cô cũng chẳng cần ánh sáng. Cô có thể tìm thấy dòng suối trong bóng tối bằng cách đơn giản là đi xuống dốc cho đến khi bước thẳng vào nó, và cô đã thấy rằng các loại cây ăn quả và nhiều loại hoa màu mọc khắp thung lũng, thế nên cô sẽ đi ngang qua rất nhiều thức ăn trước khi đến được con suối. Nếu ánh trăng soi đường rõ hơn cho cô và nhờ thế cứu cô khỏi những cú vấp ngã bất chợt, nó cũng sẽ soi rõ cô hơn cho những cư dân kỳ lạ trong các tòa tháp, và điều đó dĩ nhiên là không được phép xảy ra. Giá như cô có thể đợi cho đến đêm hôm sau thì điều kiện sẽ tốt hơn nhiều, bởi vì Cluros sẽ không hề xuất hiện trên bầu trời và do đó, trong lúc Thuria vắng mặt, bóng tối hoàn toàn sẽ ngự trị; nhưng những cơn đói cồn cào và cơn khát gặm nhấm không thể chịu đựng thêm được nữa khi mà cả thức ăn và nước uống đều đang bày trước mắt, thế nên cô đã quyết định liều lĩnh mạo hiểm đối mặt với nguy cơ bị phát hiện còn hơn là phải chịu đựng thêm nữa.
Vượt qua tòa tháp gần nhất một cách an toàn, cô di chuyển nhanh nhất có thể trong giới hạn mà cô cảm thấy an toàn, chọn đường đi bất cứ khi nào có thể để tận dụng bóng râm của những hàng cây mọc rải rác và đồng thời phát hiện ra những cây có quả. Ở vế sau, cô đã thành công gần như tức thì, bởi ngay cái cây thứ ba mà cô dừng chân lại đã nặng trĩu quả chín. Tara thành Helium nghĩ rằng chưa bao giờ có thứ gì ngon đến thế chạm đến vòm miệng của mình, vậy mà nó chẳng là gì khác ngoài quả usa gần như nhạt nhếch, vốn chỉ được coi là ngon miệng sau khi đã được nấu chín và tẩm ướp gia vị đậm đà. Nó mọc rất dễ dàng với ít nước tưới và các cây ra quả vô cùng sai trái. Loại quả này, có giá trị dinh dưỡng cao, là một trong những lương thực chủ yếu của tầng lớp bình dân, và nhờ giá thành rẻ cùng giá trị dinh dưỡng nên nó tạo thành một trong những khẩu phần chính của cả quân đội lẫn hải quân trên Sao Hỏa, một công dụng đã mang lại cho nó một biệt danh bằng tiếng Sao Hỏa mà nếu dịch tự do sang tiếng Anh sẽ là: Khoai tây chiến đấu. Cô gái đủ khôn ngoan để chỉ ăn một lượng vừa phải, nhưng cô vẫn nhét đầy túi áo khoác của mình bằng loại quả này trước khi tiếp tục hành trình.
Cô đi qua hai tòa tháp nữa trước khi cuối cùng cũng đến được con suối, và tại đây cô lại tỏ ra kiềm chế, chỉ uống một ít và uống rất chậm, tự nhủ chỉ cần súc miệng thường xuyên và rửa mặt, rửa tay cùng bàn chân; và dẫu cho ban đêm trời rất lạnh, đúng như những đêm trên Sao Hỏa, cảm giác sảng khoái mang lại còn vượt trội hơn cả sự khó chịu về thể xác do nhiệt độ thấp gây ra. Đeo lại dép, cô tìm kiếm trong số các luống hoa màu đang mọc gần dòng suối xem có loại quả mọng hoặc củ ăn được nào được trồng ở đó không, và tìm thấy vài loại có thể ăn sống. Với những thứ này, cô thay thế một phần quả usa trong túi áo, không chỉ để đảm bảo sự đa dạng mà còn vì cô thấy chúng dễ ăn hơn. Thỉnh thoảng cô lại quay trở lại con suối để uống nước, nhưng lần nào cũng uống một cách điều độ. Đôi mắt và đôi tai cô luôn cảnh giác trước những dấu hiệu nguy hiểm đầu tiên, nhưng cô chẳng hề nhìn thấy hay nghe thấy điều gì làm mình bận tâm. Và chẳng mấy chốc thời gian đã điểm, cô cảm thấy mình phải quay trở lại phi thuyền kẻo bị bắt gặp trong ánh sáng phơi bày của vầng trăng Thuria đang là đà là là ở tầm thấp. Cô rất ngại rời xa nguồn nước bởi cô biết rằng mình sẽ phải khát khô cổ họng trước khi có thể hy vọng quay lại con suối lần nữa. Ước gì cô có một chiếc vật chứa nhỏ nào đó để đựng nước, dẫu chỉ một lượng nhỏ cũng có thể giúp cô qua cơn hoạn nạn cho đến đêm hôm sau; nhưng cô chẳng có gì trong tay và vì thế cô đành phải tự bằng lòng tốt nhất có thể với phần nước ép từ hoa quả và củ mà cô đã thu hái.
Sau ngụm nước cuối cùng ở suối – ngụm nước dài và sâu nhất mà cô cho phép mình uống – cô đứng dậy quay gót bước trở lại hướng những ngọn đồi; nhưng ngay lúc đó cô đột nhiên trở nên căng thẳng vì sợ hãi. Thứ gì thế kia? Cô dám thề rằng mình vừa thấy thứ gì đó chuyển động trong bóng râm dưới một gốc cây cách đó không xa. Suốt một phút dài cô gái không hề động đậy – cô hầu như không dám thở. Đôi mắt cô dán chặt vào bóng râm dày đặc dưới gốc cây, đôi tai căng lên giữa sự tĩnh lặng của màn đêm. Một tiếng rên rỉ trầm đục vọng xuống từ những ngọn đồi nơi phi thuyền của cô đang ẩn nấp. Cô biết rõ nó – âm thanh kỳ quái của loài banth săn mồi. Và con thú ăn thịt to lớn ấy đang nằm ngay trên đường đi của nó. Nhưng nó lại không ở gần bằng thứ này, thứ đang ẩn nấp ở ngay bóng râm cách đó một đoạn ngắn. Nó là cái gì vậy? Chính sự căng thẳng của sự bất định mới là thứ đè nặng lên cô nhất. Giá mà cô biết rõ bản chất của sinh vật đang rình rập ở đó, một nửa mối đe dọa của nó đã tan biến. Cô đảo mắt nhanh chóng tìm kiếm một chốn dung thân nào đó trong trường hợp sinh vật này hóa ra là loài nguy hiểm.
Lại một tiếng rên rỉ vang lên từ các ngọn đồi, nhưng lần này ở khoảng cách gần hơn. Gần như ngay lập tức nó được đáp lại từ phía bên kia thung lũng, phía sau cô, rồi từ khoảng cách bên phải cô, và hai lần bên trái cô. Đôi mắt cô đã tìm thấy một cái cây, khá gần đó. Chầm chậm, và không rời mắt khỏi bóng râm của cái cây kia, cô di chuyển về phía những tán cây rủ xuống có thể mang lại cho cô chỗ ẩn nấp trong trường hợp cần thiết, và ngay cử động đầu tiên của cô vừa phát ra thì một tiếng gầm gừ trầm đục vang lên từ chỗ cô vừa quan sát và cô nghe thấy tiếng chuyển động đột ngột của một thân hình to lớn. Đồng thời sinh vật ấy lao vút vào ánh trăng trong một cuộc tấn công toàn lực nhắm vào cô, cái đuôi dựng đứng, đôi tai nhỏ xíu ép sát, cái miệng rộng với vô số hàng răng nanh sắc nhọn và khỏe mạnh đang ngoác ra chực chờ con mồi, mười chiếc chân đưa nó lao về phía trước trong những bước nhảy vồ vĩ đại, và giờ đây từ cổ con thú phát ra tiếng gầm đáng sợ mà nó dùng để làm tê liệt con mồi. Đó là một con banth – loài sư tử có bờm vĩ đại của Barsoom. Tara thành Helium nhìn thấy nó lao tới và liền nhảy vồ về phía cái cây mà cô vừa di chuyển đến, và con banth nhận ra ý đồ của cô nên càng nhân đôi tốc độ. Tiếng gầm gớm ghiếc của nó đánh thức những âm thanh vang vọng trong các ngọn đồi, đồng thời cũng đánh thức những tiếng vang trong thung lũng; nhưng những tiếng vang này phát ra từ những cái cổ sống của những con khác cùng loài, cho đến khi cô gái cảm thấy như thể Định Mệnh đã ném cô vào giữa một đám đông vô số những con thú dữ dội này.
Tốc độ của một con banth đang lao tới là nhanh đến khó tin, và thật may mắn làm sao khi cô gái không bị tóm gọn ở nơi quang đãng hơn. Dù vậy, khoảng cách an toàn của cô gần như không đáng kể, bởi khi cô uyển chuyển bám vào các cành cây thấp thì con thú đang rượt đuổi cô đã đâm sầm vào tán lá suýt chạm vào cô khi nó tung người chồm lên để bắt lấy cô. Chỉ nhờ sự kết hợp giữa may mắn và sự nhanh nhẹn mới cứu được cô. Một cành cây chắc chắn đã làm chệch hướng móng vuốt cào cấu của con thú ăn thịt, nhưng khoảnh khắc ấy nguy hiểm đến mức cẳng tay khổng lồ của nó sượt qua da cô ngay tích tắc trước khi cô kịp leo bám lên những cành cây cao hơn.
Bị đánh lạc hướng, con banth trút hết cơn giận dữ và thất vọng vào một loạt tiếng gầm kinh hoàng khiến mặt đất rung chuyển dữ dội, và hòa vào đó là những tiếng gầm, tiếng gừ và tiếng rên rỉ của đồng loại chúng khi chúng kéo đến từ mọi hướng, với hy vọng giật lấy từ nó bất kỳ phần con mồi nào mà chúng có thể cướp được bằng sự ranh mãnh hoặc sức mạnh. Và giờ đây nó quay lại gầm gừ với chúng khi chúng vây quanh cái cây, trong khi cô gái, co ro cuộn tròn trên chạc cây phía trên họ, nhìn xuống những con quái vật gầy gò màu vàng đang di chuyển bằng những bước chân không tiếng động vòng tròn bồn chồn quanh cô. Giờ đây cô tự vệ về trò đùa kỳ lạ của định mệnh đã cho phép cô đi xuống sâu đến thế này vào thung lũng ban đêm mà không hề hấn gì, nhưng cô còn tự hỏi nhiều hơn về việc làm thế nào mình có thể quay trở lại những ngọn đồi. Cô biết rằng mình sẽ không dám mạo hiểm làm điều đó vào ban đêm và cô cũng đoán rằng ban ngày cô có thể phải đối mặt với những hiểm họa còn trầm trọng hơn nữa. Dựa dẫm vào thung lũng này để kiếm sinh kế giờ đây cô thấy là điều vượt ngoài tầm khả năng vì những con banth sẽ ngăn cản cô tiếp cận thức ăn và nước uống vào ban đêm, trong khi những cư dân trong các tòa tháp chắc chắn sẽ khiến cô không thể đi kiếm ăn vào ban ngày. Chỉ có một giải pháp duy nhất cho rắc rối của cô và đó là quay trở lại phi thuyền của mình và cầu nguyện rằng ngọn gió sẽ đưa cô đến một vùng đất bớt đáng sợ hơn; nhưng khi nào cô mới có thể quay lại phi thuyền đây? Lũ banth chẳng có vẻ gì là muốn từ bỏ hy vọng bắt được cô, và ngay cả khi chúng đi khuất tầm mắt thì liệu cô có dám mạo hiểm thử vận may không? Cô hoài nghi điều đó.
Tình thế của cô quả thật vô vọng – đúng thế, nó hoàn toàn vô vọng.