Chúc Ảnh Dao Hồng

Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Dẫn Đọc

❊ ❊ ❊

Huệ Sơn xảo thủ Mộ Dung Mỹ

Từ "Chúc ảnh diêu hồng" bàn về mấy vấn đề sáng tác võ hiệp

Một, tìm cội nguồn cho tác giả

Tác giả của "Chúc ảnh diêu hồng" là tiên sinh Mộ Dung Mỹ, trong văn đàn võ hiệp Đài Loan, Hương Cảng không phải là "hạng người tầm thường".

Sớm vào khoảng năm 1959, 1960, vào thời kỳ sấm xuân chấn động, vạn vật hồi sinh, kiếm khí võ lâm Đài Loan cũng phá đất vọt lên, thẳng xông cõi mây, thế là gió mây cuồn cuộn, anh hùng các phái ném kiếm giục ngựa, tranh giành thiên hạ, cuối cùng tạo nên cục diện chiến quốc võ lâm Đài Loan, Hương Cảng trăm nhà tranh hùng.

Đài Bắc là nơi hội tụ nhân tài của Đài Loan, Ngọa Long Sanh, Bán Hà Lâu Chủ, Gia Cát Thanh Vân, Tư Mã Linh mấy vị lúc này tuy đã đường đường là một phương hào kiệt, nhưng nghe danh quy tụ, hưởng ứng mà ra càng là từ bốn phương tám hướng tới, như Tiêu Dật, Cổ Như Phong, Tôn Ngọc Hâm, Võ Lăng Tiều Tử v.v., cũng đều chiếm cứ một cõi, dần thành khí hậu. Ngay vào lúc đó, tận phương nam Cao Hùng cũng trỗi dậy một vị anh hùng, ông chính là Vương Phục Cổ với tên thật là Mộ Dung Mỹ.

Vương Phục Cổ sinh năm 1932 là người Vô Tích, Giang Tô.

Vô Tích từ lâu mang mỹ danh "kho lúa Giang Tô", chẳng những là vùng đất cá gạo Giang Nam chính hiệu, mà còn là trọng trấn công nghiệp dệt may của nước ta.

Không những thế, Vô Tích nằm bên bờ Thái Hồ, chẳng những có thắng cảnh non nước, đình viện, mà "búp bê đất" Huệ Sơn lại càng nổi tiếng gần xa. Một nơi vừa có sơn thủy, nhân văn tươi đẹp linh động như thế, sinh ra vài bậc văn nhân mặc khách tự nhiên là chuyện "trong dự liệu".

Do tiên sinh ở tận phương nam Đài Loan, lại nhậm chức trong cơ quan thuế vụ nhà nước, cho dù đến Đài Bắc, phần lớn thời gian không phải cùng bạn bè uống trà đàm đạo, thì cũng là cùng mấy vị đồng đạo "đấu cờ" thâu đêm, cho nên cuộc đời ông ít được người ta biết đến.

Thế nhưng nhìn từ sở thích "đạo trà", "đạo cờ", "thư họa" trong cuộc sống của ông, cùng với việc "dẫn kinh chứng điển", "dẫn chứng rộng rãi" trong tiểu thuyết, hẳn là một tao nhân kiểu tài tử Giang Nam học rộng tài cao, phong lưu phóng khoáng; mà vị tao nhân này lại cứ hi sinh phục vụ trong cơ quan tài thuế, ngược lại là một chuyện khá thú vị giữa muôn vàn trạng thái thực tế.

Đầu năm 1960, ông dùng bút danh "Yên Tửu Thượng Nhân", tung ra tác phẩm đầu tay "Anh hùng lệ" mà bước chân vào giang hồ, xoay chuyển đổi tên thành "Mộ Dung Mỹ", với hai cuốn sách "Hắc bạch đạo", "Phong vân bảng" mà "lừng danh thiên hạ", sánh vai cùng Tiêu Dật, Thượng Quan Đỉnh và những người khác, tung hoành trên sa trường võ lâm.

Cho đến năm 1985 do bị đột quỵ nên gác bút, cuối cùng qua đời vào năm 1992, cả đời tổng cộng viết được hai mươi ba, hai mươi tư bộ tiểu thuyết.

Hai, thành tựu và điểm thiếu sót của "Chúc ảnh diêu hồng"

Trong hơn hai mươi bộ tiểu thuyết của đời người Mộ Dung Mỹ, "Chúc ảnh diêu hồng" nên thuộc về tác phẩm tiêu biểu thời kỳ trung hậu kỳ. Nhân vật xuất hiện tuy huy động cả "bốn đời già trẻ" võ lâm, nhưng câu chuyện không hề phức tạp.

Võ lâm tĩnh lặng tôn đại hiệp Thiên Long Lam Công Liệt làm Thái sơn bắc đẩu. Lam Công Liệt lấy "Thiên Long trảo", "Long Lân tiêu" uy trấn giang hồ.

Nhưng phong vân giang hồ quỷ dị khó lường, đệ tử ba phái Thiếu Lâm, Võ Đang, Chung Nam bỗng dưng bị người ta sát hại, mà hung khí lại chính là "Long Lân tiêu", thủ pháp thì là "Thiên Long trảo" cùng với "Nhất nguyên chỉ" nổi danh võ lâm của Thiên Long đại hiệp.

Đồ tôn môn phái Thiên Long là Mộ Phẩm Dương được đệ tử Thiếu Lâm báo tin, vì niệm tình chia sẻ nỗi lo cho sư phụ, quyết tâm một mình điều tra; lúc nhận được tin cảnh báo, vừa khéo Thiên Long lão nhân ra ngoài, mà tính thời điểm sự việc xảy ra, tiểu sư muội Long Nữ Lam Gia Phong lại vừa hay không có nhà; mà vô số sự việc trùng hợp trớ trêu, khiến Mộ Phẩm Dương lo lắng do tiểu sư muội tính tình tùy hứng gây ra tai họa lớn; nghĩ đến ơn nghĩa sư môn sâu nặng, mà ân sư chỉ có đứa con gái độc nhất này, vì để sự việc không đến nỗi lan rộng và sớm ngày dẹp yên, bèn giả trang thay mặt Thiên Long lão nhân hẹn gặp chưởng môn năm phái; lại vì cuộc hẹn này mà không kịp về dự thọ thần của ân sư, lúc bị gặng hỏi lại có u tình khó nói, cuối cùng dẫn đến việc bị trục xuất khỏi sư môn, nhưng vẫn một lòng kiên định truy tìm chân tướng.

Tiếp theo đó, lại liên tiếp truyền ra tin tức "Vân Mộng nhị lão", "Thiên Phong lão nhân" bị hại, kế tiếp, nghĩa nô của Bạch Thạch tiên sinh, ái đồ của Bát Chỉ đà tẩu lại gặp độc thủ, hình thành đại biến giang hồ.

Trong trận đại biến này, Ngũ Phượng bang quỗi khởi võ lâm, từ đó dẫn ra nhiều vị cao nhân thế ngoại, cũng khơi dậy ân oán cũ chốn giang hồ nhiều năm qua, lại kéo theo tăng lù Tây Vức, làm chấn động "Cửu tử ma mẫu" khiến người nghe tên phải khiếp đảm, cuối cùng may nhờ cao nhân ẩn cư Lư Sơn là "Cố lão" tự mình tái xuất Lư Sơn, mới có thể tiêu trừ được hạo kiếp võ lâm này.

Mà trận đại biến mưa máu gió tanh này, nguyên nhân ban đầu lại chỉ vì người vợ tào khang của Thiên Long đại hiệp là Lãnh diện tiên tử Lãnh Tâm V Vận, một trận hiểu lầm giữa vợ chồng năm xưa, phẫn nộ đi đến bước đường cùng, tự lập ra Ngũ Phượng bang để thay thế Thiên Long bảo, cho nên mới giá họa cho Thiên Long môn.

Mà việc "Cửu tử ma mẫu" thâm nhập Trung thổ, cũng là vì tình oán thời thiếu niên của Thiên Long đại hiệp với ái nữ của bà (đệ nhất mỹ nhân "Nhất chi hoa" trong "Ba đẹp một hoa" võ lâm năm xưa) mà "dưngng cờ hưng sư vấn tội".

Nhìn bao quát toàn bộ cuốn sách, "vật bản" mà nó muốn viết không hề phức tạp, nhưng qua sự nhào nặn, thiết kế "cố ý" của tác giả, liền trở thành "náo nhiệt tưng bừng", "cao trào nối tiếp cao trào".

Mộ Dung Mỹ có thể chiếm một chỗ đứng trong võ lâm, đương nhiên không phải nhờ may mắn. Về mặt khắc họa nhân vật, như uy đức, khí phái lĩnh tụ võ lâm của Thiên Long đại hiệp, sự phong lưu hài hước của Long môn kỳ sĩ Cổ Khang Đồng, sự phóng khoáng thoát tục của Lộng Nguyệt lão nhân, Tứ hải thần cái và cái bang trọng nghĩa khinh sinh, tính cách cô ngạo cố chấp của Lãnh diện tiên tử Lãnh Tâm Vận, sự uy mãnh của Cửu thiên ma mẫu, vẻ yêu diễm hồ mị của ba nàng Tu Hoa, Bế Nguyệt, Trầm Ngư Lạc Nhạn, sự tham lam hoang dâm của Nghiêm Thượng Tính cùng với cuộc đấu đá tâm cơ giữa hai sư huynh đệ "nắm giữ âm dương", "y thánh độc vương" Tư Tu Cầu và "lão độc vật" Tư Mã Phù, không có chỗ nào là không được viết thấu tận xương tủy. Cho dù là cao nhân Lư Sơn "thần long thấy đầu không thấy đuôi" là "Cố lão", viết ra cũng là bút lực vạn cân.

Mà mấy thiếu niên nam nữ kiếm đảm tình tâm, như sự nhân hậu hiếu kính của Mộ Phẩm Dương, sự tinh linh cổ quái của tiểu kỳ sĩ Triệu Quan, sự tùy hứng ngoan cố của Long Nữ, tình cảm nhi nữ của Lăng Ba tiên tử, Vu Vân Quyên, Hồng Phượng, đều được khắc họa cực kỳ tinh tế, đặc biệt là viết về người con phượng "Hoàng Nguyên", lại càng si tình đến mức động lòng người sâu sắc.

Câu chuyện tuy khép lại trong cảnh "đoàn viên viên mãn" mà "mang theo chút tiếc nuối", nhưng tác giả đối với cái kết của Vu Vân Quyên, Hồng Phượng mà mình từng dốc sức khắc họa lại không thể giao phó rõ ràng; mà "Cố lão" đối với "Hoàng Nguyên" không chỉ coi trọng, cưng chiều, thậm chí còn từng có "lời hứa" miệng; đối với Diệu thủ không không nhi La Tập cũng có hứa hẹn, kết quả lại "một đi không trở lại", không khỏi khiến người ta tiếc nuối.

Tiểu thuyết võ hiệp Đài Loan, Hương Cảng, tuy từng tạo nên phong quang và thịnh huống chưa từng có, nhưng việc nó được giới học thuật coi trọng, nghiên cứu, bình tích, lại là chuyện của mấy năm gần đây.

Mà các học giả, chuyên gia, người thì tôn sùng lý thuyết phương Tây, người thì chấp nhất quan điểm truyền thống, văn bản bình luận tuy nhiều, nhưng vẫn là mỗi người một ý, kẻ thấy nhân người thấy trí. Lấy Mộ Dung Mỹ làm ví dụ, "Phong vân bảng" là tác phẩm thành danh thời kỳ đầu của ông, nhà bình luận nổi tiếng Diệp Hồng Sanh tiên sinh từng cho rằng ông am hiểu rộng về "văn sử chưởng cố", có thể "một không y bái, năng cận thủ phượng", mà ca tụng là "đến tận đời nay, trừ tài năng cao diệu của Kim Dung ở Hương Cảng, có thể kiêm đắc cả thú vị nhã và tục ra, Đài Loan chỉ có một mình Mộ Dung Mỹ là xuôi dòng nước ngược, kiêm thông cả hai, không để Kim Dung độc chiếm phong tao ở phía trước".

Diệp tiên sinh đặc biệt ca ngợi Mộ Dung Mỹ ở chỗ, hễ viết đến các danh lam thắng cảnh liên quan trong sách, đều có thể "dẫn kinh chứng điển" viết ra "hình thế sơn thủy cùng lịch sử diễn biến", lại có thể kịp thời, tùy người, tùy cảnh trích dẫn thơ từ phú chương của người xưa, để làm sâu sắc thêm ấn tượng của độc giả.

Nếu lấy đây làm tiêu chuẩn đánh giá, thì "Chúc ảnh diêu hồng" cũng nên thuộc về tác phẩm thượng thượng tác, bởi vì "nhân vật trong sách" hễ đến một nơi nào đó, tác giả đều "dẫn kinh chứng điển" khảo cứu một phen, cũng mượn "nhân vật trong sách" ngâm vịnh danh cú của cổ nhân.

Những điều này, đủ để chứng minh tác giả quả thực "kho bụng vô cùng phong phú", trong bụng chứa đầy kinh, sử, tử, tập, có thể "cất lời thành chương".

Sự thật quả thực là như vậy. Hãy xem bức thư ở chương thứ ba mươi tư "Cảnh tấn tần truyền", nơi Cố Phẩm Dương mô phỏng bút tích của sư phụ, viết thay gửi cho Lãnh Tâm Vận

"... Công Liệt tự tàm đức bạc năng tiển, dĩ trí cô hồng bắc độ, lao yến đông phi. Trung tiêu chẩm bạn, bán dạ đăng tiền, tráng hoài vị dĩ, nhiễu thất trường hu! Nhân thế kỷ hồi thương vãng sự, sơn hình y như chẩm hàn lưu. Phu nhân kinh tài tuyệt đại, quý ngã bạch thủ tu mi, niệm vân xuất vô ý, hợp đồng hữu ý, đồng cừ ân ái, khởi khả vong hoài?..."

Bức thư này viết không chỉ văn phong nhã nhặn trong sáng, tình ý lại càng chân thành tha thiết. Nhìn khắp văn đàn võ hiệp Đài Loan, Hương Cảng, tìm thật không ra mấy người có thể vung bút viết ra thứ văn điền nhã nhặn kiêu sa này.

Nhân vật trong "Chúc ảnh diêu hồng", như Mộ Phẩm Dương, Long môn kỳ sĩ Cổ Khang Đồng, tiểu kỳ sĩ Triệu Quan, y thánh độc vương Tư Thúc Cầu, lão độc vật Tư Mã Phù, diệu thủ không không nhi La Tập, Vu Vân Quyên, Lam Gia Phong, "phượng", "ưng" của Ngũ Phượng bang, hầu như ai nấy đều tinh thông thuật "dịch dung". Thuật dịch dung thời cổ tinh tế, thần diệu đến mức độ nào tạm thời chưa bàn tới, nhưng cũng tuyệt đối không phải ai ai cũng tinh thông, huống chi cho dù tinh thông đạo này, mà đối mặt đều là những cao nhân "không phải hạng người bình thường", lại há có lý nào không nhìn thấu?

Thuật "dịch dung" trong tiểu thuyết võ hiệp, thỉnh thoảng dùng một lần, hãy còn mang lại sự mới mẻ của "thần lai chi bút", dùng đến mức nát bét rồi, ngược lại thành ra "không có gì lạ" nữa.

Ba, liên tưởng đến hai vấn đề trong sáng tác

(1) Viết cảo và viết sách

Đài Loan, Hương Cảng, đặc biệt là Đài Loan, với kinh nghiệm làm biên tập phụ san ba mươi năm của người viết, thể nghiệm được tiểu thuyết võ hiệp có sự khác biệt giữa "viết cảo" và "viết sách".

Loại đăng kỳ trên báo, có thể gọi là "viết cảo". Do trên báo mỗi ngày phải dùng hơn một nghìn chữ, mà mấy vị danh gia lại không thể nào viết xong "cả bộ" rồi mới đưa tòa soạn, phần lớn đều là mỗi ngày viết một bài.

Phương thức sáng tác này có ưu điểm của nó, chính là trong khoảng hơn một nghìn chữ mỗi ngày đó, bắt buộc phải tạo ra chút "cao trào nhỏ", giấu chút "nút thắt nhỏ", khiến độc giả "xem rồi lại muốn xem tiếp". Tóm lại mà nói, kiểu viết này ưu điểm ở chỗ "nhỏ gọn", "lời thừa không thể nhiều".

Loại viết cho nhà xuất bản in sách phát hành, có thể gọi là "viết sách".

Trong thời kỳ hoàng kim của võ hiệp, tác giả "viết sách" chỉ cần viết chương đầu tiên của phần "mở đầu" thật "hấp dẫn", "nhỏ gọn", "căng thẳng", thì nhất định sẽ được nhà xuất bản tiếp nhận, sau khi tiếp nhận rồi, tác giả có thể tha hồ vung bút tung hoành. Nếu tác giả giỏi khoe khoang tài năng, hoặc thích "cố kéo dài" một chút, một đoạn miêu tả, giải thích có thể viết tới một hai vạn chữ.

Một hai vạn chữ này in trong sách, lật chục trang tám trang là qua đi, mà nếu cuốn tiểu thuyết này đăng liên kỳ trên báo thì hỏng bét. Thử nghĩ xem, một đoạn miêu tả, giải thích rườm rà, chia thành mười ngày, nửa tháng đăng ra từng đoạn từng đoạn, thế thì còn có "cốt truyện" và "cao trào" gì nữa?

“Chúc ảnh diêu hồng” của Mộ Dung Mỹ, nhìn tổng thể, đều có thể làm được cốt truyện nhỏ gọn, hồi hộp liên tiếp, thăng trầm có nhịp điệu; đương nhiên, một số chương riêng lẻ cũng có những khuyết điểm kể trên, nhưng chính vì nó là "riêng lẻ", cho nên toàn bộ cuốn sách vẫn có thể xếp vào hàng "tác phẩm tinh hoa".

(2) Có thể mới, nhưng không thể quá mới

Theo sự vận hành của thiên thể, cái gì cũng đang thay đổi, tiểu thuyết võ hiệp không chỉ tác giả đang thay đổi, thực ra độc giả cũng đang thay đổi.

Từ khi "võ hiệp tân phái" của Cổ Long ra đời, chữ "mới" đã trở thành chủ đề bàn tán.

Chữ "mới" được chỉ định khá rộng rãi, nó bao gồm thể văn sáng tác, kết cấu, kỹ thuật, dung hàm cả tư tưởng, sự biểu đạt giá trị quan cùng với việc lựa lời, dùng chữ; mà những cái "mới" này bắt buộc phải dung hợp một cách hài hòa mà không bị bài xích. Nếu viết về "Võ Tòng", bảo rằng hắn ở "Sư Tử lâu" rút ra khẩu súng lục ổ quay, thế thì mới đến mức vô lý rồi.

Trong chương thứ năm "Tĩnh nhã sơn trang" của "Chúc ảnh diêu hồng", có một đoạn miêu tả kỳ lạ

Vu Vân Quyên dùng ngón tay vẽ một chữ "?" lên đầu gối của Mộ Phẩm Dương, sau đó dán chặt mắt vào Mộ Phẩm Dương, vẻ mặt nghi ngờ kinh ngạc mà cấp bách chờ đợi câu trả lời.

Độc giả hiện đại, bất kỳ ai cũng có thể hiểu dấu "?" là "dấu chấm hỏi", nhưng vào thời đại của Mộ Phẩm Dương, tuyệt đối không có ai hiểu sử dụng dấu "?" này cả. Bạn nói có đúng không?

Đọc xong "Chúc ảnh diêu hồng", phát hiện ra một vài vấn đề liên quan đến sáng tác, nhân đây viết cả ra để tham khảo.

Hồ Chính Quần——

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ tianyashuku.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.