Tối hôm ấy, chúng tôi làm một bữa thịt bít-tết ra trò, hương vị quả thực tuyệt hảo; rồi sáng hôm sau, cả bọn lại được nếm món nước dùng béo ngậy. Cảm giác thưởng thức một sinh vật mà theo mọi định luật cổ sinh vật học lẽ ra đã tuyệt chủng từ vài triệu năm trước thật kỳ lạ làm sao. Nó mang lại một cảm giác mới mẻ đến ngượng ngùng, dẫu điều đó chẳng hề mảy may làm suy giảm khẩu vị của chúng tôi. Olson ăn khỏe đến mức tôi cứ ngỡ anh ta sắp vỡ bụng tới nơi.
Đêm đó, cô gái dùng bữa cùng chúng tôi trong căn phòng ăn nhỏ của sĩ quan nằm ngay phía sau khoang phóng ngư lôi. Chiếc bàn hẹp được mở ra; bốn chiếc ghế đẩu được kê vào; và đây là lần đầu tiên sau chuỗi ngày dài chúng tôi mới được ngồi đàng hoàng vào bàn ăn, cũng là lần đầu tiên sau nhiều tuần lễ được thưởng thức thứ gì đó khác ngoài khẩu phần ăn kham khổ, đơn điệu đến phát ngán trên chiếc tàu ngầm cạn kiệt quân nhu. Nobs ngồi xen giữa cô gái và tôi, được ban phát vài mẩu bít-tết thằn lằn đầu rắn, bất chấp nguy cơ thói nết của nó có thể bị chiều hư vĩnh viễn. Nó nhìn tôi bằng vẻ mặt đầy hối lỗi suốt bữa ăn, bởi nó thừa hiểu một con chó gia giáo thì chẳng bao giờ được bén mảng ăn cạnh bàn; nhưng con vật tội nghiệp đã kiệt quệ vì thiếu đói bấy lâu, đến nỗi nếu không chia phần cho nó ngay thì tôi cũng chẳng nuốt trôi miếng nào; vả lại Lys cũng muốn tự tay cho nó ăn. Thế là đành chịu vậy.
Lys giữ thái độ lịch thiệp một cách lạnh lùng với tôi, nhưng lại dịu dàng, nhã nhặn lạ thường với Bradley và Olson. Tôi biết tỏng cô chẳng phải hạng người hay vồ vập; thế nên tôi chẳng dám kỳ vọng nhiều, chỉ thầm biết ơn vài vụn vặt chú ý mà cô hào phóng ban phát cho tôi như bố thí dưới sàn. Bữa ăn diễn ra thật êm đẹp, chỉ duy nhất một sự cố đáng tiếc—đó là khi Olson buột miệng đoán rằng biết đâu con vật chúng tôi đang chén tì tì đây chính là kẻ đã xơi tái tên lính Đức. Mãi một hồi lâu chúng tôi mới dỗ dành được cô gái ăn tiếp, sau cùng Bradley đã thuyết phục được cô khi chỉ ra rằng từ lúc gã lính Đức bị bắt đi, tàu đã chạy ngược dòng gần bốn mươi dặm, và suốt quãng đường đó chúng tôi đã tận mắt thấy hàng ngàn cư dân lòng sông như thế, chứng tỏ khả năng đây chính là con Plesiosaur ấy là vô cùng mong manh. "Vả lại," anh kết luận, "đó chẳng qua chỉ là mưu mẹo của gã Olson nhằm độc chiếm đống bít-tết cho riêng mình mà thôi."
Chúng tôi bàn bạc về tương lai và mạo muội đưa ra những phỏng đoán về những gì đang đợi phía trước; nhưng giỏi lắm thì cũng chỉ dừng lại ở mức giả thuyết, bởi chẳng ai trong chúng tôi hay biết điều gì. Nếu toàn bộ vùng đất này đều bị lũ quái vật gớm ghiếc ấy cùng đồng loại của chúng chiếm cứ, cuộc sống ở đây sẽ là điều bất khả. Chúng tôi đi đến thống nhất rằng cả bọn sẽ chỉ nán lại thám hiểm vừa đủ để lấy nước ngọt, tìm kiếm thịt và hoa quả có thể thu lượm an toàn, rồi sau đó men theo đường ngầm dưới chân vách đá quay trở lại biển khơi.
Và thế là cuối cùng chúng tôi chui vào những chiếc giường hẹp, lòng tràn trề hy vọng, an vui và thanh thản với chính mình, với cuộc đời và với Thượng đế, để rồi thức giấc vào sáng hôm sau trong trạng thái sảng khoái và vẫn ngập tràn lạc quan. Chúng tôi nhổ neo khởi hành hết sức dễ dàng—mãi sau này mới vỡ lẽ ra là do giống bò sát khổng lồ này thường chẳng buồn kiếm ăn cho tới tận cuối buổi sáng. Đỉnh điểm hoạt động của chúng kéo dài từ trưa đến nửa đêm, trong khi từ rạng đông đến tầm chín giờ sáng lại là lúc chúng uể oải nhất. Thực tế là suốt thời gian tàu lăn bánh, chúng tôi chẳng chạm trán lấy một mống, dẫu vậy tôi vẫn lệnh đưa pháo lên boong và bố trí người trực chiến đề phòng bất trắc. Tôi hy vọng, dẫu chẳng mấy dám chắc, rằng đạn pháo có thể khiến chúng chùn bước. Trên những tán cây lúc nhúc lũ khỉ đủ mọi kích cỡ và màu sắc, và có một lần chúng tôi ngỡ như thấy một sinh vật dạng người đang dõi mắt nhìn theo từ chốn rừng sâu.
Không lâu sau khi tiếp tục hành trình ngược dòng, chúng tôi trông thấy cửa của một nhánh sông nhỏ hơn đổ vào dòng chính từ phía nam—tức là bên mạn phải của chúng tôi; và gần như ngay sau đó, một hòn đảo lớn dài tới năm hay sáu dặm hiện ra trước mắt; đi chừng năm mươi dặm nữa lại có một con sông khác thậm chí còn lớn hơn con sông trước đổ về từ hướng tây bắc, trong khi dòng chảy chính giờ đã chuyển hướng đông bắc - tây nam. Mặt nước đã hoàn toàn vắng bóng lũ bò sát, và thảm thực vật hai bên bờ sông dần biến đổi thành khu rừng quang đãng như công viên, nơi bạch đàn và keo mọc xen lẫn với những cụm dương xỉ thân gỗ thưa thớt, ngỡ như hai thời kỳ địa chất riêng biệt đã giao thoa và hòa làm một. Cỏ dưới chân cũng bớt nở hoa hơn, dẫu vẫn còn những mảng hoa rực rỡ điểm xuyết trên thảm cỏ xanh mướt; và sau cùng, hệ động vật cũng không còn dày đặc như trước.
Đi thêm chừng sáu hay bảy dặm nữa, lòng sông mở rộng ra đáng kể; trước mắt chúng tôi mở ra một vùng nước bao la trải dài tận chân trời xa tít tắp, và rồi con tàu rẽ sóng tiến vào một vùng biển nội địa mênh mông đến nỗi chúng tôi chỉ còn nhìn thấy đường bờ bên phía mình. Làn nước quanh chúng tôi sôi động sự sống. Vẫn sót lại đôi ba con bò sát; nhưng cá thì bơi lội hàng ngàn, hàng triệu con.
Nước trong vùng biển nội địa này rất ấm, thậm chí gần như nóng, còn bầu không khí phía trên thì ngột ngạt và nặng nề. Thật kỳ lạ làm sao khi ngay bên ngoài những bức tường thành kiên cố của Caprona, băng trôi vẫn dập dềnh và gió nam buốt giá thấu xương, trong khi trên mặt vùng nước tràn trề sinh khí này chỉ có làn gió hiu hiu thổi qua, vừa ẩm ướt lại vừa ấm áp. Chúng tôi dần dà cởi bỏ bớt xiêm y, chỉ giữ lại vừa đủ để che thân cho phải phép; mặt trời tuy vậy không quá gay gắt. Cái nóng ở đây giống như trong một phòng xông hơi hơn là một lò nung.
Chúng tôi men dọc bờ hồ theo hướng tây bắc, liên tục thả dây đo độ sâu. Hồ rất sâu, đáy lởm chởm đá và dốc đứng về phía trung tâm, có lần khi tôi cho tàu chạy thẳng ra xa bờ để đo lại thì hoàn toàn không chạm tới đáy. Qua những khoảng đất trống trải ven bờ, thỉnh thoảng chúng tôi lại thoáng thấy những vách đá phía xa, và ở đây chúng dường như chỉ kém dốc đứng đôi chút so với những vách đá sừng sững ngăn cách Caprona với phía biển khơi. Giả thuyết của tôi là vào một kỷ xa xôi nào đó, Caprona từng là một ngọn núi khổng lồ—có lẽ là ngọn núi hùng vĩ nhất thế gian—và trong một đợt phun trào dữ dội kinh thiên động địa, hoạt động núi lửa đã thổi bay toàn bộ đỉnh núi, hất tung hàng ngàn bộ đất đá lên không trung, văng tung tóe ra lục địa xung quanh và để lại một miệng núi lửa khổng lồ; rồi sau đó, rất có thể lục địa ấy đã chìm xuống như bao lục địa cổ đại từng biến mất, chỉ còn trơ lại đỉnh núi Caprona nhô lên khỏi mặt biển. Những bức tường thành bao quanh, lòng hồ ở trung tâm, cùng những dòng suối nước nóng nuôi dưỡng cái hồ này thảy đều củng cố cho nhận định ấy, chưa kể hệ động thực vật cũng là bằng chứng không thể chối cãi cho thấy Caprona từng là một phần của một khối đại lục mênh mông.
Khi chúng tôi tiếp tục hành trình dọc bờ biển, cảnh quan vẫn duy trì kiểu rừng thưa tương đối quang đãng, điểm xuyết đôi chỗ là những bình nguyên nhỏ nơi muông thú đang thong dong gặm cỏ. Qua ống nhòm, tôi có thể nhận ra một loài hươu đỏ to lớn, vài con linh dương cùng một loài trông tựa như ngựa; và có lần tôi còn thấy bóng dáng bờm xồm của thứ dường như là một con bò rừng khổng lồ. Đúng là một xứ sở dồi dào muông thú! Chẳng có mấy nguy cơ chết đói ở Caprona. Tuy nhiên, lũ thú săn dường như rất cảnh giác; bởi ngay khoảnh khắc phát hiện ra chúng tôi, chúng liền nghếch đầu dựng đuôi rồi phi nước kiệu tháo chạy, những con sâu trong nội địa cũng hùa theo lũ đi trước cho đến khi tất cả biến mất tăm vào mê cung rừng rậm xa xa. Duy chỉ có con bò mộng to lớn, lông lá rậm rạp là vẫn kiên cường đứng nguyên tại chỗ. Gục thấp đầu, nó chằm chằm theo dõi chúng tôi cho đến khi tàu đi khuất, rồi mới lại thản nhiên gặm cỏ tiếp.
Cách cửa sông khoảng chừng hai mươi dặm về phía thượng nguồn bờ biển, chúng tôi bắt gặp những vách sa thạch thấp, những chứng tích nứt vỡ và oằn mình của cơn chấn động kinh hoàng từng xé toạc Caprona trong quá khứ, nhào nặn các tầng địa chất thuộc những kỷ nguyên cách xa nhau về cùng một bình diện, nung chảy mảng này nhưng lại bỏ qua mảng khác vẹn nguyên.
Chúng tôi chạy dọc theo những vách đá này chừng mười dặm thì tới một khe nứt rộng dẫn vào nơi trông như một cái hồ khác. Vì đang tìm kiếm nguồn nước ngọt, chúng tôi không muốn bỏ sót bất kỳ ngóc ngách nào của bờ biển, nên sau khi đo độ sâu và thấy mớn nước hoàn toàn an toàn, tôi đã cho tàu U-33 luồn qua các mũi đất tiến vào một vũng tàu kín gió xinh đẹp đến mức bất kỳ người thủy thủ nào cũng phải ao ước, với độ sâu lý tưởng chỉ cách bờ vài thước. Khi chúng tôi chầm chậm lướt đi, hai tên lính Đức lại trông thấy thứ mà họ tin chắc là một con người, hoặc một sinh vật dạng người, đang rình rập từ rặng cây cách bờ chừng một trăm thước, và ngay sau đó chúng tôi phát hiện ra cửa của một con suối nhỏ đang đổ vào vịnh. Đó là con suối đầu tiên chúng tôi tìm thấy kể từ khi rời con sông lớn, và tôi lập tức chuẩn bị lấy mẫu nước kiểm tra. Để cập bờ, chúng tôi buộc phải cho tàu U-33 áp sát mép nước hết mức có thể, bởi ngay cả vùng nước này cũng lảng vảng những loài bò sát dữ tợn, dẫu mật độ không quá dày đặc. Tôi lệnh xả đủ nước vào các khoang dằn để hạ mạn tàu xuống khoảng một bộ, rồi từ từ hướng mũi tàu vào bờ, bụng bảo dạ rằng nếu rủi ro có mắc cạn thì lực nâng khi bơm hết nước khỏi các khoang dằn vẫn thừa sức giải thoát cho chúng tôi; thế nhưng mũi tàu chỉ nhẹ nhàng rẽ đám lau sậy rồi chạm mép bờ trong khi sống tàu vẫn hoàn toàn nổi tự do.
Quân của tôi lúc này ai nấy đều được trang bị đầy đủ cả súng trường lẫn súng ngắn, đạn dược dồi dào. Tôi lệnh cho một tên lính Đức lên bờ buộc dây neo, đồng thời cử hai người của mình đi kèm canh chừng, bởi qua chút ít những gì đã chứng kiến ở Caprona—mà sau này chúng tôi biết vùng nội địa được gọi là Caspak—chúng tôi hiểu rằng bất kỳ hiểm họa kinh hoàng mới nào cũng có thể ập đến trong chớp mắt. Dây neo được buộc chặt vào một thân cây nhỏ, cùng lúc đó tôi cho thả mỏ neo đuôi.
Ngay khi tên lính Đức cùng lính áp giải trở lại tàu, tôi tập hợp toàn bộ mọi người lên boong, kể cả von Schoenvorts, rồi giải thích với họ rằng đã đến lúc đôi bên cần đi đến một thỏa thuận chung để rũ bỏ nỗi phiền toái và ngượng ngùng khi cứ phải chia rẽ thành hai phe đối địch—kẻ tù đày và người giam giữ. Tôi nói rõ rằng sự sinh tồn của chúng tôi phụ thuộc hoàn toàn vào tinh thần đoàn kết, rằng về mọi phương diện thực tế, chúng tôi đang bước chân vào một thế giới mới, cách xa chiến trường và nguồn cơn của cuộc thế chiến ngoài kia chẳng khác nào hàng triệu dặm không gian và muôn vàn kỷ nguyên chia cắt chúng tôi với cuộc đời và chốn dung thân trước đây.
"Chẳng có lý do gì để chúng ta mang những hận thù chủng tộc và chính trị vào tận chốn Caprona này," tôi nhấn mạnh. "Những người Đức ở đây có thể giết sạch người Anh, hoặc người Anh có thể tận diệt người Đức cuối cùng, mà chẳng mảy may suy suyển đến kết cục của dẫu chỉ một cuộc giao tranh cỏn con nơi mặt trận phía Tây, hay làm lay chuyển suy nghĩ của một cá nhân đơn lẻ nào ở các nước tham chiến lẫn trung lập. Do đó, tôi đặt thẳng vấn đề trước tất cả các anh: liệu chúng ta sẽ chôn vùi thù hận để cùng chung lưng đấu cật vì nhau trong thời gian còn ở Caprona, hay cứ phải tiếp tục chia rẽ trong tình trạng vũ trang nửa vời thế này, có khi cho đến tận lúc thần chết rước đi kẻ cuối cùng? Và tôi cũng nói thẳng cho các anh biết, nếu các anh chưa kịp nhận ra, thì cơ hội để bất kỳ ai trong chúng ta nhìn thấy lại thế giới bên ngoài là một phần nghìn. Giờ đây chuyện ăn uống coi như đã tạm yên tâm; chúng ta có thể tích trữ lương thảo cho tàu U-33 cho một hải trình dài; nhưng tàu gần như đã cạn sạch nhiên liệu, mà không có nhiên liệu thì đừng hòng ra được đại dương, bởi chỉ có tàu ngầm mới chui lọt qua những vách đá che chắn kia. Câu trả lời của các anh là gì?" Tôi quay sang phía von Schoenvorts.
Hắn nhìn tôi bằng cái vẻ khó chịu thường thấy rồi gặng hỏi, rằng nếu họ chấp thuận đề nghị của tôi, thì vị thế của họ sẽ ra sao trong trường hợp chúng tôi tìm được cách trốn thoát cùng chiếc U-33. Tôi đáp rằng tôi tin một khi tất cả đã đồng lòng chung sức trung thành, chúng tôi sẽ rời Caprona trên tư cách bình đẳng như nhau, và vì mục đích đó, tôi đề xuất rằng nếu khả năng mong manh về việc trốn thoát bằng tàu ngầm trở thành hiện thực, chúng tôi sẽ lập tức hướng thẳng tới cảng trung lập gần nhất rồi nộp mình cho chính quyền sở tại, nơi tất cả có lẽ sẽ bị quản chế cho tới khi cuộc chiến kết thúc. Thật bất ngờ là hắn đồng tình rằng điều đó rất công bằng, rồi tuyên bố họ sẽ chấp nhận các điều kiện của tôi và tôi có thể tin tưởng vào lòng trung thành của họ đối với đại cuộc chung.
Tôi cảm ơn hắn rồi quay sang nói chuyện riêng với từng người lính của hắn, từng người một đều cam đoan sẽ tuân thủ mọi điều tôi đã vạch ra. Các bên cũng ngầm hiểu rằng chúng tôi sẽ hoạt động như một tổ chức quân sự dưới kỷ luật và quy tắc quân đội—tôi giữ quyền chỉ huy tối cao, Bradley là trung úy thứ nhất, Olson là trung úy thứ hai phụ trách nhóm người Anh; trong khi von Schoenvorts đóng vai trò là một trung úy thứ hai tăng cường nắm quyền cai quản lính của hắn. Bốn người chúng tôi sẽ lập thành một tòa án binh có quyền xét xử và tuyên phạt những ai vi phạm quân pháp và kỷ luật chiến trường, thậm chí có thể tuyên án tử hình.
Kế đó, tôi phát vũ khí và đạn dược cho đám lính Đức, rồi để Bradley cùng năm người ở lại trông coi tàu U-33, số còn lại cùng tôi lên bờ. Việc đầu tiên chúng tôi làm là nếm thử nước con suối nhỏ—và thật mừng rỡ xiết bao, dòng nước ngọt lành, thanh khiết và mát lạnh. Con suối này hoàn toàn vắng bóng những loài bò sát nguy hiểm, nguyên do là vì, như sau này tôi khám phá ra, chúng sẽ lập tức rơi vào trạng thái tê cóng đờ đẫn nếu chịu mức nhiệt thấp hơn 70 độ Fahrenheit rất nhiều. Lũ chúng ghét nước lạnh và luôn tìm cách tránh càng xa càng tốt. Dưới suối đầy rẫy cá hồi chấm, lại có những vụng nước sâu mời gọi chúng tôi tắm táp, còn dọc hai bên bờ suối mọc những rặng cây trông rất giống tần bì, sồi và dẻ gai, những đặc điểm này rõ ràng được tôi luyện bởi nền nhiệt thấp của bầu không khí bao quanh làn nước lạnh, và bởi rễ của chúng được tưới tắm bằng nước suối thay vì từ những mạch ngầm nước nóng dồi dào mà sau này chúng tôi bắt gặp la liệt ở những nơi khác.
Mối bận tâm hàng đầu của chúng tôi là bơm đầy các bể nước ngọt của tàu U-33, và sau khi công việc hoàn tất, cả bọn lên đường săn bắn và thám hiểm một quãng ngắn vào sâu trong đất liền. Olson, von Schoenvorts, hai lính Anh và hai lính Đức đi cùng tôi, để lại mười người canh giữ con tàu và cô gái. Ban đầu tôi định bỏ Nobs lại, nhưng nó đã lén chuồn theo rồi bám lấy tôi, mừng rỡ đến mức tôi chẳng nỡ lòng đuổi nó quay về. Chúng tôi men theo dòng suối ngược lên qua một vùng đất tuyệt đẹp chừng năm dặm, rồi bắt gặp đầu nguồn của nó tại một khoảng đất trống rải rác những tảng đá tảng. Giữa những hốc đá, có tới hai mươi mạch suối nước lạnh như băng đang tuôn trào ùng ục. Về phía bắc của bãi đất trống sừng sững những vách sa thạch cao chừng năm mươi đến bảy mươi lăm bộ, dưới chân vách mọc những rặng cây cao vút gần như che khuất tầm nhìn của chúng tôi. Về phía tây, địa hình bằng phẳng và rừng thưa thớt hơn, và chính tại nơi này chúng tôi đã nhìn thấy con thú săn đầu tiên—một con hươu đỏ to lớn. Nó đang cắm cúi gặm cỏ quay lưng về phía chúng tôi và chưa hề hay biết gì khi một người lính ra hiệu cho tôi thấy. Ra dấu im lặng và bảo cả nhóm nằm rạp xuống, tôi cùng Whitely thận trọng bò trườn về phía con mồi. Chúng tôi áp sát cách con hươu chừng một trăm thước thì nó bỗng ngẩng cao chiếc đầu mang gạc nhọn và vểnh đôi tai to tướng lên nghe ngóng. Cả hai chúng tôi đồng loạt bóp cò và mãn nguyện chứng kiến con hươu đực ngã gục; đoạn chúng tôi lao nhanh tới để kết liễu nó bằng dao găm. Con hươu nằm trên một khoảng đất trống nhỏ sát bên một lùm keo, và khi chúng tôi chỉ còn cách con mồi vài thước thì cả hai đột ngột khựng lại cùng một lúc. Whitely nhìn tôi, tôi nhìn Whitely, rồi cả hai cùng quay ngoắt lại nhìn về hướng con hươu.
"Trời đất ơi!" anh ta thốt lên. "Cái giống gì thế kia, thưa ngài?"
"Theo tôi thấy, Whitely à, trông nó như một sản phẩm lỗi vậy," tôi bảo; "chắc có vị phụ tá thần linh nào đang nặn voi thì bị điều chuyển tạm thời sang ban thằn lằn cũng nên."
"Con chả dám nói thế đâu, thưa ngài," Whitely đáp; "nghe báng bổ lắm."
"Chẳng báng bổ bằng cái thứ đang nẫng tay trên miếng thịt của chúng ta đâu," tôi đáp trả, bởi dù cái giống kia là cái thớ gì đi nữa, nó cũng đã chồm lên con hươu của chúng tôi và đang ngoạm từng tảng thịt lớn rồi nuốt chửng mà chẳng thèm nhai. Con quái vật nom như một con thằn lằn khổng lồ cao ít nhất mười bộ, sở hữu cái đuôi hộ pháp đầy uy lực dài ngoẵng bằng cả thân mình, hai chân sau vạm vỡ cùng đôi chi trước ngắn củn cỡn. Khi tiến ra khỏi bìa rừng, nó nhảy loi choi chẳng khác nào chuột túi, dùng chân sau và đuôi để đẩy mình đi, và khi đứng thẳng dậy, nó ngồi bệt lên chính cái đuôi ấy. Đầu nó dài ngoẵng và to bè với cái mõm tù, khóe hàm ngoác rộng tít tận sau mắt, bên trong tua tủa những chiếc răng dài sắc nhọn. Thân hình phủ vảy của nó lốm đốm những vết tròn màu đen và vàng đường kính chừng một bộ với đường nét méo mó dị thường. Những đốm này được viền sắc đỏ bằng những đường rìa rộng chừng một đốt ngón tay. Mặt dưới ngực, bụng và đuôi có màu trắng ánh xanh lục.
"Hay là ta nã chết cụ con chim quỷ quái này đi, thưa ngài?" Whitely gợi ý.
Tôi bảo anh ta đợi khẩu lệnh của tôi; rồi cả hai sẽ đồng loạt khai hỏa, anh nhắm vào tim còn tôi sẽ bắn vào cột sống.
"Vào tim, vâng, thưa ngài," anh đáp rồi nâng súng tì lên vai.
Tiếng súng của chúng tôi vang lên giòn giã cùng lúc. Con quái vật ngỏng đầu lên dáo dác nhìn quanh cho đến khi mắt nó dừng lại ở chỗ chúng tôi; đoạn nó rít lên một tràng kinh hoàng, âm thanh the thé dâng cao thành một tiếng thét rợn người rồi lao thẳng về phía chúng tôi.
"Chạy mau, Whitely!" tôi hét lớn rồi quay đầu tháo lui.
Chúng tôi cách toán quân còn lại khoảng một phần tư dặm, và hoàn toàn nằm trong tầm mắt của họ khi họ đang nằm rạp trong bãi cỏ cao quan sát. Việc họ chứng kiến toàn bộ sự việc thể hiện rõ qua hành động tất cả vùng dậy lao về phía chúng tôi, dẫn đầu là con Nobs đang phóng như bay. Con quái vật sau lưng đang nhanh chóng rút ngắn khoảng cách thì Nobs lướt qua tôi như một vệt sao băng, lao thẳng vào con bò sát kinh hoàng. Tôi cố gọi nó giật lại, nhưng nó chẳng thèm để tai, và vì không thể trơ mắt nhìn nó nộp mạng vô ích, tôi cũng dừng phắt lại xoay người đối mặt với con quái vật. Con thú dường như bị phân tâm bởi Nobs hơn là bởi chúng tôi cùng những khẩu súng, bởi nó khựng lại khi con chó sục Airedale vừa gầm gừ vừa lao vào, rồi hung hãn đớp mạnh bộ hàm uy lực về phía con chó.
Thế nhưng Nobs lại nhanh như chớp so với bộ não chậm chạp của con thú, nó dễ dàng né tránh cú táp hiểm hóc của đối thủ. Rồi nó lách ra sau lưng sinh vật khổng lồ và ngoạm chặt lấy đuôi nó. Tại chính nơi ấy, Nobs đã phạm phải sai lầm lớn nhất đời mình. Ẩn chứa bên trong cái cơ quan đốm rằn ấy là những thớ cơ của một gã khổng lồ Titan, mang sức mạnh của hàng tá cỗ máy bắn đá dũng mãnh, và kẻ sở hữu cái đuôi thừa biết rõ uy lực mà nó nắm giữ. Chỉ với một cú quất nhẹ của chóp đuôi, nó đã hất bổng chú chó Nobs tội nghiệp bay vút lên không trung cao cả trăm bộ, rơi thẳng tắp trở lại lùm keo nơi con thú từng phục kích vồ lấy con mồi của chúng tôi—và rồi, sinh vật quái đản kia đổ sụp xuống đất, bất động không còn giọt sinh khí.
Olson và von Schoenvorts cùng lính tráng ùa tới một phút sau đó; đoạn tất cả chúng tôi thận trọng tiến lại gần cái xác nằm bất động trên mặt đất. Con quái vật đã chết hẳn, và qua khám nghiệm, chúng tôi phát hiện ra phát đạn của Whitely đã găm trúng tim, còn viên đạn của tôi thì tiện đứt tủy sống của nó.
"Nhưng cớ sao nó không chết ngay tức khắc?" tôi thốt lên.
"Bởi vì," von Schoenvorts cất giọng khó chịu cố hữu, "con thú này quá đồ sộ, mà hệ thần kinh của nó lại thuộc đẳng cấp quá thấp sơ khai, đến nỗi phải mất ngần ấy thời gian tín hiệu tử thần mới truyền tới và tác động được vào bộ não bé tí hon của nó. Con vật thực chất đã chết ngay khi trúng đạn của các người; nhưng nó chẳng hề hay biết điều đó trong vài giây—thậm chí có khi cả một phút. Nếu tôi không lầm, đây là một con Allosaurus thuộc kỷ Jura Thượng, hóa thạch của loài này từng được tìm thấy ở miền Trung Wyoming, thuộc ngoại ô New York."
Một gã người Ireland tên là Brady toét miệng cười. Mãi sau này tôi mới biết anh ta từng có ba năm phục vụ trong đội cảnh sát giao thông Chicago.
Trong lúc đó, tôi không ngừng gọi với Nobs và toan đi tìm nó, lòng thực sự lo ngay ngáy vì sợ sẽ thấy nó nằm chết thảm thương giữa những gốc cây trong lùm keo, thì bất thình lình nó lù lù chui ra từ các thân cây, tai cụp xuống, đuôi kẹp chặt giữa hai chân sau và thân mình uốn éo thành hình chữ S đầy vẻ quy phục tạ lỗi. Nó hoàn toàn vô sự ngoại trừ vài vết trầy xước nhẹ; nhưng đó quả thực là con chó bị bạt vía kinh hồn nhất mà tôi từng thấy trên đời.
Chúng tôi thu gom những gì còn sót lại của con hươu đỏ sau khi lột da và xẻ thịt, rồi bắt đầu hành trình quay trở lại tàu ngầm. Trên đường đi, Olson, von Schoenvorts và tôi cùng bàn bạc về những nhu cầu cấp bách trước mắt, và tất cả đều nhất trí đặt lên hàng đầu sự cần thiết phải dựng một khu lán trại kiên cố trên bờ. Không gian bên trong chiếc U-boat quả là chốn dung thân ngột ngạt và tồi tệ nhất trần đời mà người ta có thể mường tượng ra, và dưới khí hậu ấm áp này, lại ngâm mình trong làn nước ấm, nơi đó trở nên ngột ngạt đến mức gần như không thể nào chịu thấu. Do đó, chúng tôi quyết định sẽ dựng một khu trại có hàng rào cọc gỗ bao quanh.