Vùng Đất Thời Gian Lãng Quên

Lượt đọc: 24 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

Đó là những chuỗi ngày đầy âu lo, khiến tôi hiếm có cơ hội chuyện trò cùng Lys. Tôi đã nhường phòng thuyền trưởng cho cô, còn tôi và Bradley dọn sang phòng của sĩ quan boong; riêng Olson và hai tay thủy thủ thạo việc nhất thì ngụ tại căn phòng vốn dành cho các hạ sĩ quan. Tôi còn đem chăn nệm của Nobs xếp vào phòng Lys, bởi tôi hiểu có nó bên cạnh, cô sẽ bớt phần cô quạnh.

Một dạo sau khi rời khỏi hải phận nước Anh, hành trình trôi qua tương đối êm ả. Tàu chúng tôi rẽ sóng trên mặt nước với tốc độ khá ổn định. Hai con tàu đầu tiên chạm mặt đều hốt hoảng tháo chạy hết tốc lực; đến con tàu thứ ba—một tàu chở hàng đồ sộ—nó liền nã pháo dữ dội, buộc chúng tôi phải lặn xuống biển sâu. Rắc rối cũng từ đó mà bùng phát. Sang buổi sáng hôm sau, một cỗ máy Diesel bỗng dưng hỏng hóc, và ngay trong lúc chúng tôi đang xúm lại sửa chữa thì két dằn mũi mạn trái lại bắt đầu đầy nước. Bấy giờ tôi đang ở trên boong và nhận thấy thân tàu từ từ nghiêng hẳn đi. Đoán ngay ra điều tồi tệ đang xảy ra, tôi lao vội tới cửa vòm, giật mạnh nắp đóng sầm qua đầu rồi tụt thẳng xuống khoang điều khiển trung tâm. Lúc này, mũi tàu đã chúi xuống với một độ nghiêng sang mạn trái vô cùng nguy hiểm. Chẳng kịp truyền lệnh cho ai, tôi ba chân bốn cẳng phóng thục mạng về phía chiếc van xả nước biển vào két dằn mũi mạn trái. Nó đang mở toang hoác. Phải mất tròn một phút tôi mới khóa chặt được van và cho kích hoạt máy bơm hút cạn nước; quả thực phen ấy suýt chút nữa chúng tôi đã bỏ mạng.

Tôi thừa hiểu chiếc van chẳng thể nào tự mở. Nhất định phải có kẻ vặn nó ra—một kẻ sẵn sàng quyên sinh, miễn sao có thể kéo theo tất cả chúng tôi cùng vùi xác dưới đáy biển sâu.

Kể từ lúc đó, tôi cắt cử lính gác tuần tra liên tục dọc theo thân tàu chật hẹp. Chúng tôi dồn sức sửa chữa cỗ máy suốt ngày đêm hôm ấy và thêm nửa ngày hôm sau. Phần lớn thời gian tàu chỉ trôi dạt vô định trên mặt biển; nhưng tới gần trưa, chúng tôi phát hiện ra một vệt khói bốc lên ở ngay hướng chính tây. Biết rằng cả thế giới quanh mình giờ đây chỉ toàn là kẻ thù, tôi hạ lệnh khởi động cỗ máy còn lại để kịp thời tránh khỏi đường đi của chiếc tàu hơi nước đang lao tới. Thế nhưng, vừa lúc cỗ máy rục rịch chuyển bánh, một chuỗi âm thanh nghiến ken két chói tai của sắt thép bị xé rách rộ lên. Khi tắt máy kiểm tra, chúng tôi bàng hoàng phát hiện ai đó đã nhét một chiếc đục nguội vào giữa các bánh răng.

Mất thêm trọn hai ngày nữa, con tàu mới có thể tập tễnh lê bước trong tình trạng chắp vá tạm bợ. Đêm trước ngày công việc sửa chữa hoàn tất, người lính canh bước vào phòng lay tôi thức giấc. Đó là một gã thuộc tầng lớp trung lưu người Anh, khá sáng dạ và được tôi hết sức tin cậy.

“Sao thế, Wilson?” tôi hỏi. “Lại có chuyện gì nữa à?”

Anh ta đưa ngón tay lên môi làm dấu im lặng rồi cúi sát lại gần tôi. “Tôi nghĩ mình đã lần ra kẻ giở trò phá hoại rồi,” anh ta thì thào, khẽ hất đầu về phía phòng cô gái. “Vừa nãy tôi tận mắt thấy cô ta lén lút lẻn ra từ phòng thủy thủ. Cô ta vào đó to nhỏ tán gẫu với gã chỉ huy Đức. Tối qua Benson cũng thấy cô ta ở trỏng, nhưng nó chẳng hé răng nửa lời mãi tới tận khi tôi nhận ca gác đêm nay. Cái đầu thằng Benson hơi bị chậm chạp, người ta không bày sẵn ra trước mắt thì đời nào nó chịu hiểu.”

Dù gã lính canh có bất thần vung tay đấm thẳng vào mặt tôi, tôi cũng chẳng thể nào bàng hoàng kinh ngạc hơn thế.

“Tuyệt đối không được hé răng với ai về chuyện này,” tôi nghiêm giọng ra lệnh. “Hãy mở to mắt, căng tai ra mà nghe ngóng, hễ thấy có điều gì khả nghi là phải báo lại cho tôi ngay lập tức.”

Người lính chào theo quân lễ rồi lui ra; nhưng suốt hơn một tiếng đồng hồ sau đó, tôi cứ trằn trọc cựa mình trên chiếc giường hẹp cứng ngắc, tâm can bị giằng xé dữ dội trong nỗi ghen tuông và sợ hãi khôn cùng. Mãi sau, tôi mới chìm vào một giấc ngủ mệt mỏi đầy âu lo. Khi tôi mở mắt thì trời đã rạng. Tàu đang từ từ rẽ sóng trên mặt nước, theo đúng mệnh lệnh tôi đã ban ra là duy trì nửa tốc độ cho đến khi định vị được tọa độ thiên văn. Cả ngày lẫn đêm hôm trước bầu trời đều xám xịt mây mù; nhưng khi bước chân vào khoang điều khiển sáng hôm ấy, lòng tôi chợt nhẹ bẫng khi thấy vầng thái dương lại tỏa rạng chan hòa. Tinh thần của đám thủy thủ dường như cũng phấn chấn hẳn lên; vạn sự dường như đều đang thuận buồm xuôi gió. Bao nỗi ngờ vực cay đắng của đêm qua thoắt cái tan biến khi tôi bắt tay vào việc đo đạc tọa độ.

Nhưng một đòn giáng nặng nề đang chực chờ tôi phía trước! Cả thước đo góc lẫn đồng hồ bấm giờ hàng hải đều đã bị đập phá tan tành không thể nào cứu vãn, và chúng chỉ vừa mới bị hủy hoại ngay trong đêm qua. Chúng bị phá hoại đúng vào cái đêm mà người ta bắt gặp Lys đang trò chuyện cùng von Schoenvorts. Tôi đồ rằng chính ý nghĩ cuối cùng ấy mới là nhát dao cứa sâu vào tim tôi nhất. Tôi có thể thản nhiên đối mặt với mọi tai ương khác; nhưng cái sự thật trần trụi rằng Lys có thể là một kẻ phản bội đã khiến tôi kinh hoàng đến tột độ.

Tôi gọi Bradley và Olson lên boong rồi kể lại sự tình, song dù có thế nào tôi cũng chẳng nỡ thốt ra những lời mà Wilson đã báo cáo đêm qua. Thực lòng mà nói, khi suy xét kỹ lại, tôi thấy thật khó tin khi một cô gái có thể đi qua căn phòng tôi và Bradley đang nằm ngủ, rồi vào tận phòng thủy thủ nơi giam giữ von Schoenvorts để to nhỏ trò chuyện, mà lại chỉ có duy nhất một người nhìn thấy.

Bradley lắc đầu ngao ngán. “Tôi chịu, chẳng hiểu nổi,” anh bảo. “Hẳn phải có đứa nào trong đám lính Đức kia quá đỗi ma mãnh mới qua mặt được tất cả chúng ta như thế; nhưng chúng chưa gây hại được nhiều như chúng tưởng đâu; ta vẫn còn các dụng cụ dự phòng cơ mà.”

Lần này thì đến lượt tôi lắc đầu ảo não. “Chẳng còn dụng cụ dự phòng nào đâu,” tôi đáp. “Chúng cũng biến mất hệt như cỗ máy vô tuyến điện rồi.”

Cả hai người trố mắt nhìn tôi sững sờ. “Ta vẫn còn chiếc la bàn và mặt trời đấy thôi,” Olson lên tiếng. “Biết đâu đêm hôm chúng lại mò tới trộm nốt cái la bàn; chứ ban ngày ban mặt thế này thì người đông như kiến, đố bố con đứa nào cướp nổi mặt trời.”

Đúng lúc ấy, một bóng người nhô đầu lên khỏi miệng cửa vòm, trông thấy tôi liền xin phép được lên boong hít thở chút khí trời. Tôi nhận ra đó là Benson, gã mà Wilson bảo đã trông thấy Lys bên von Schoenvorts hai đêm trước. Tôi vẫy tay gọi anh ta lên rồi kéo riêng ra một góc, hỏi xem trong ca gác đêm qua có phát hiện điều gì bất thường hay kỳ lạ không. Gã gãi đầu gãi tai một hồi rồi đáp: “Không ạ,” rồi như sực nhớ ra điều gì, gã bảo có thấy cô gái vào phòng thủy thủ khoảng nửa đêm để nói chuyện với viên chỉ huy người Đức, nhưng vì nghĩ bụng chuyện cỏn con ấy chẳng hại gì nên gã không buồn báo lại. Dặn dò anh ta từ nay hễ thấy bất cứ điều gì sai lệch dù là nhỏ nhất so với thường lệ thì phải bẩm báo ngay, tôi liền cho gã lui.

Mấy người nữa cũng lần lượt xin phép lên boong, chẳng mấy chốc ngoài những kẻ vướng bận nhiệm vụ cần kíp, tất cả đều đã tụ tập quanh mạn tàu phì phèo khói thuốc và trò chuyện rôm rả với tinh thần vô cùng hưng phấn. Tranh thủ lúc mọi người đang ở cả trên boong, tôi tụt xuống dưới dùng bữa sáng mà anh đầu bếp đang lục đục chuẩn bị bên chiếc bếp điện. Vừa bước chân vào khoang điều khiển, tôi đã thấy Lys bước tới, theo sau là chú chó Nobs. Cô cất tiếng chào tôi bằng một câu “Chào buổi sáng!” thật dịu dàng, mà tôi e rằng mình chỉ đáp lại bằng một giọng điệu gượng gạo và cộc cằn.

“Cô dùng bữa sáng cùng tôi nhé?” Bất chợt tôi cất lời mời, hạ quyết tâm tự mình tra vấn đầu đuôi ngọn ngành theo đúng trách nhiệm phải làm.

Cô mỉm cười gật đầu nhận lời mời, rồi cả hai chúng tôi cùng ngồi xuống chiếc bàn nhỏ trong phòng ăn sĩ quan.

“Đêm qua cô ngủ ngon chứ?” tôi hỏi.

“Suốt cả đêm,” cô đáp. “Tôi vốn là người rất dễ ngủ mà.”

Phong thái của cô thẳng thắn và chân thật đến mức tôi không tài nào tin nổi cô lại là kẻ hai lòng; vậy mà—Nghĩ bụng sẽ bất ngờ đánh úp để cô tự để lộ sơ hở tội lỗi, tôi buột miệng nói thẳng: “Đồng hồ hàng hải và thước đo góc đêm qua đều bị đập phá tan tành rồi; trong chúng ta có kẻ phản bội.” Thế nhưng sắc mặt cô chẳng hề biến chuyển mảy may, tuyệt nhiên không có chút dấu hiệu nào của một kẻ hay biết về thảm họa đó.

“Ai lại có thể làm thế được cơ chứ?” cô thốt lên. “Đám người Đức có điên mới làm vậy, vì mạng sống của họ cũng đang ngàn cân treo sợi tóc hệt như chúng ta thôi.”

“Đàn ông ta lắm khi sẵn lòng chết vì một lý tưởng—chẳng hạn như lòng yêu nước,” tôi đáp; “và một khi đã sẵn sàng biến mình thành kẻ tử vì đạo, họ cũng chẳng ngần ngại hy sinh những người khác, kể cả những kẻ yêu thương họ. Phụ nữ cũng chẳng khác là bao, có chăng họ còn đi xa hơn cả cánh đàn ông—họ dám đánh đổi tất cả, thậm chí cả danh dự, chỉ vì tình yêu.”

Tôi chăm chú dò xét gương mặt cô từng li từng tí khi thốt ra những lời ấy, và dường như tôi thoáng thấy một rệt ửng hồng rất khẽ lan trên gò má cô. Nhận thấy đây là kẽ hở và là lợi thế của mình, tôi liền dấn tới.

“Chẳng hạn như von Schoenvorts,” tôi tiếp lời: “hắn hẳn sẽ rất vui lòng được chết và kéo theo tất cả chúng ta cùng xuống mồ, nếu đó là cách duy nhất để ngăn con tàu rơi vào tay kẻ thù. Hắn sẵn sàng hy sinh bất kỳ ai, kể cả cô; và nếu cô vẫn còn nặng lòng yêu hắn, cô hoàn toàn có thể trở thành tay sai đắc lực cho hắn. Cô có hiểu ý tôi không?”

Cô tròn mắt kinh ngạc nhìn tôi trong giây lát, rồi sắc mặt cô bỗng tái mét đi và đứng bật dậy khỏi ghế. “Tôi hiểu,” cô đáp, đoạn quay lưng bỏ đi thật nhanh về phòng mình. Tôi toan rảo bước đuổi theo, bởi dẫu bụng nghĩ thế nào đi nữa, tôi vẫn thấy hối hận vì đã làm tổn thương cô. Tôi đuổi kịp đến tận cửa phòng thủy thủ ngay sát sau lưng cô, vừa vặn trông thấy von Schoenvorts nhoài người tới thì thầm điều gì đó khi cô bước ngang qua; nhưng chắc hẳn cô đoán biết mình có thể đang bị theo dõi nên cứ thế rảo bước đi thẳng.

Chiều hôm ấy, mây đen giăng kín mịt mù; gió rít lên thành bão tố, sóng biển cuộn trào dữ dội khiến con tàu chao đảo và chồm lắc một cách ghê rợn. Hầu như mọi người trên tàu đều bị say sóng li bì; bầu không khí trở nên ngột ngạt và nặng nề đến tức thở. Suốt hai mươi tư tiếng đồng hồ ròng rã, tôi không rời vị trí chỉ huy trên tháp quan sát nửa bước, bởi cả Olson lẫn Bradley đều đã đổ bệnh. Cuối cùng, nhận thấy mình buộc phải chợp mắt một chút, tôi liền ngó quanh tìm người thay phiên. Benson xung phong nhận việc. Anh ta không hề hấn gì bởi chứng say sóng, lại còn quả quyết với tôi rằng mình từng phục vụ trong Hải quân Hoàng gia và đã kinh qua nhiệm vụ tàu ngầm hơn hai năm trời. Tôi thở phào khi người đó là anh ta, bởi tôi đặt trọn niềm tin vào lòng trung thành của gã lính này; thế nên với một cảm giác yên tâm tuyệt đối, tôi tụt xuống khoang dưới ngả lưng.

Tôi đánh một giấc liền tù tì suốt mười hai tiếng đồng hồ, và khi bừng tỉnh nhận ra mình đã ngủ quá lâu, tôi vội vã lao ngay lên tháp quan sát. Benson vẫn đang ngồi đó, tỉnh táo như sáo sậu, và chiếc la bàn chỉ rõ chúng tôi đang rẽ sóng thẳng tiến về hướng tây. Cơn giông bão vẫn gầm thét cuồng nộ; mãi tới ngày thứ tư sức cuồng loạn của nó mới chịu lắng dịu. Ai nấy đều mệt mỏi rã rời và chỉ mong mỏi đến giây phút được bước lên boong hít căng lồng ngực bầu không khí trong lành. Suốt bốn ngày trời ấy tôi không hề chạm mặt cô gái, hiển nhiên là cô chỉ giam mình trong phòng kín; và trong suốt ngần ấy thời gian, chẳng có bất kỳ biến cố bất trắc nào xảy ra trên tàu—một sự thật dường như càng siết chặt thêm mớ chứng cứ ngoại phạm đầy nghi vấn quanh cô.

Suốt sáu ngày tiếp theo sau khi cơn bão đã tan bớt, biển trời vẫn còn khá động; mặt trời cũng chẳng buồn ló dạng lấy một lần trong suốt chuỗi ngày đó. Vào tiết trời này—bấy giờ đã là giữa tháng Sáu—một cơn bão như thế quả là điều dị thường; nhưng vốn sinh ra ở miền nam California, tôi đã quá đỗi quen thuộc với những kiểu thời tiết trái khoáy. Thực tình mà nói, tôi nghiệm ra rằng trên khắp thế gian này, tiết trời dị thường dường như xảy ra vào mọi thời điểm trong năm.

Chúng tôi kiên trì giữ vững hải trình hướng tây, và bởi chiếc U-33 vốn là một trong những tàu ngầm chạy nhanh nhất từng được hạ thủy, tôi biết chắc chúng tôi hẳn đã áp sát bờ biển Bắc Mỹ. Điều làm tôi đau đầu nhất là suốt sáu ngày ròng rã, chúng tôi chẳng hề bắt gặp lấy một bóng tàu bè. Thật kỳ lạ khi ta có thể vượt ngang Đại Tây Dương đến gần sát lục địa châu Mỹ mà lại chẳng thoáng thấy một vệt khói hay một cánh buồm nào; cuối cùng tôi đi đến kết luận rằng tàu đã đi chệch đường rất xa, nhưng trôi dạt về phương bắc hay phương nam thì tôi chịu chết không sao xác định nổi.

Sang ngày thứ bảy, mặt biển lúc mờ sáng phẳng lặng đến lạ thường. Một làn sương mỏng manh giăng mắc trên mặt đại dương đã che khuất tầm nhìn tới các vì tinh tú; nhưng mọi dấu hiệu đều báo trước một ngày mai trời quang mây tạnh, và tôi đứng trên boong bồn chồn ngóng đợi vầng thái dương ló rạng. Đôi mắt tôi dán chặt vào màn sương dày đặc phía sau đuôi tàu, bởi chính nơi phương đông ấy, tôi sẽ nhìn thấy ánh rạng đông đầu tiên của mặt trời mọc để tin chắc rằng con tàu vẫn đang đi đúng hướng. Nền trời cứ thế sáng dần lên; thế nhưng phía sau lái tàu, tôi chẳng hề thấy một quầng sáng rực rỡ nào báo hiệu vầng thái dương đang ẩn mình sau làn sương khói. Bradley đang đứng kề bên tôi. Bất chợt anh khẽ chạm vào cánh tay tôi.

“Nhìn kìa, thuyền trưởng,” anh nói, rồi chỉ tay về hướng nam.

Tôi nhìn theo và chết lặng người đi, bởi ngay phía mạn trái tàu, thấp thoáng qua làn sương mờ là đỉnh tròn đỏ ối của vầng dương đang nhô lên. Hối hả lao về phía tháp quan sát, tôi liếc nhìn la bàn. Kim la bàn vẫn chỉ rõ chúng tôi đang giữ vững hành trình về hướng tây. Hoặc là mặt trời đã mọc đằng nam, hoặc là chiếc la bàn đã bị kẻ nào đó nhúng tay phá hoại. Kết luận đã quá đỗi rành rành.

Tôi quay lại chỗ Bradley và thuật lại những gì mình vừa phát hiện. “Và,” tôi cay đắng kết luận, “chúng ta chẳng thể chạy thêm nổi năm trăm hải lý nữa nếu không có dầu; lương thực cạn dần mà nước ngọt cũng sắp hết. Chỉ có Chúa mới biết chúng ta đã dạt xuống tít tận phương nam xa xôi dường nào.”

“Chẳng còn cách nào khác,” anh đáp, “ngoài việc bẻ lái con tàu quay trở lại hướng tây; chúng ta phải sớm tìm thấy đất liền, bằng không tất cả sẽ bỏ mạng nơi đây.”

Tôi bảo anh hãy làm như vậy; rồi tôi cặm cụi tự chế một chiếc thước đo góc thô sơ để cuối cùng đo đạc ra tọa độ một cách đại khái và hết sức mơ hồ; bởi khi hoàn tất, chúng tôi cũng chẳng biết kết quả ấy sai lệch so với thực tế bao xa. Nó cho thấy chúng tôi đang ở khoảng 20 độ vĩ bắc và 30 độ kinh tây—chệch khỏi hành trình dự kiến gần hai ngàn năm trăm dặm. Tóm lại, nếu kết quả đo đạc này tương đối chính xác, thì suốt sáu ngày qua chúng tôi đã lao thẳng một mạch về phương nam. Giờ đây Bradley lên thay ca cho Benson, bởi chúng tôi đã chia ca kíp sao cho Benson và Olson luân phiên trực đêm, còn tôi và Bradley thay nhau gác ban ngày.

Tôi gặng hỏi cặn kẽ cả Olson lẫn Benson về vụ chiếc la bàn; nhưng cả hai đều quả quyết thề thốt rằng chẳng có ai bén mảng tới phá hoại trong ca trực của mình. Benson nở một nụ cười đầy ẩn ý, như muốn bảo: “Thôi thì, ngài với tôi đều thừa biết ai đã làm chuyện này rồi đấy.” Dẫu vậy, tôi vẫn không sao tin nổi thủ phạm lại là cô gái ấy.

Chúng tôi kiên trì giữ vững lộ trình hướng tây thêm vài giờ đồng hồ thì tiếng reo của người hoa tiêu báo hiệu có một cánh buồm xuất hiện. Tôi hạ lệnh cho chiếc U-33 chuyển hướng, đè sóng lao thẳng về phía con tàu lạ, bởi tôi đã đưa ra một quyết định sống còn bắt nguồn từ sự bức bách. Chúng tôi không thể nằm trơ trọi giữa lòng Đại Tây Dương mà chết đói nếu như vẫn còn một tia hy vọng thoát thân. Con tàu buồm kia đã phát hiện ra chúng tôi từ khoảng cách rất xa, bằng chứng là nó đang dốc toàn lực tháo chạy. Thế nhưng gió lặng như tờ, tình thế của nó kể như tuyệt vọng; vì vậy khi chúng tôi áp sát và phát tín hiệu yêu cầu dừng lại, nó liền quay mũi đón gió rồi nằm bất động, những cánh buồm rũ xuống phần phật trong vô vọng. Chúng tôi tiến lại rất gần. Đó là chiếc Balmen đến từ Halmstad, Thụy Điển, chở một chuyến hàng bách hóa từ Brazil sang Tây Ban Nha.

Tôi phân trần hoàn cảnh của đoàn mình với viên thuyền trưởng và ngỏ lời xin viện trợ lương thực, nước ngọt cùng dầu đốt; nhưng khi phát hiện chúng tôi không phải là lính Đức, lão ta đùng đùng nổi giận, buông lời thóa mạ rồi toan cho tàu tách xa khỏi chúng tôi; thế nhưng tôi chẳng còn bụng dạ nào mà nhẫn nhịn thứ trò mèo ấy. Quay sang phía Bradley đang đứng trên tháp quan sát, tôi gắt lên dứt khoát: “Đội pháo thủ lên boong! Toàn tàu vào vị trí lặn!” Chúng tôi chưa từng có cơ hội thao diễn tác chiến; nhưng mỗi người đều đã được phổ biến kỹ càng về phần việc của mình, và đám tù binh Đức thừa hiểu rằng nếu không tuân lệnh thì chỉ có con đường chết, bởi kè kè bên cạnh mỗi tên luôn là một tay súng chực sẵn. Tuy nhiên, phần lớn bọn chúng đều chỉ mong được phục tùng tôi.

Bradley truyền lệnh xuống khoang dưới, và chỉ một thoáng sau, khẩu đội pháo đã lách qua chiếc thang hẹp trèo lên, theo hiệu lệnh của tôi chĩa thẳng nòng pháo vào con tàu Thụy Điển đang lững lờ trôi chậm chạp. “Bắn một phát đạn cảnh cáo qua mũi tàu nó,” tôi lệnh cho viên khẩu đội trưởng.

Tin tôi đi, gã Thụy Điển kia chẳng mất nhiều thời gian để nhận ra sai lầm của mình, lập tức cho kéo lá cờ hiệu hai màu đỏ trắng mang ý nghĩa “Tôi đã hiểu” lên đỉnh cột buồm. Những cánh buồm lại một lần nữa buông thõng bất động, rồi tôi ra lệnh cho lão hạ thuyền cứu sinh chèo sang đón tôi. Cùng với Olson và hai người lính Anh, tôi bước lên boong tàu, lùng trong khoang hàng những thứ chúng tôi đang cần kíp—dầu, lương thực và nước ngọt. Tôi trao cho thuyền trưởng tàu Balmen một tờ biên nhận cho những thứ đã lấy, kèm theo một bản cam đoan có chữ ký của Bradley, Olson và tôi, trình bày vắn tắt lý do chúng tôi nắm quyền kiểm soát chiếc U-33 và sự cấp bách buộc chúng tôi phải lấy số hàng này. Chúng tôi gửi cả hai văn bản tới bất kỳ đại diện nào của chính quyền Anh với lời thỉnh cầu hãy bồi hoàn thỏa đáng cho chủ tàu Balmen; nhưng liệu họ có được đền bù hay chăng, tôi nào đâu hay biết.[1]

[1] Vào cuối tháng Bảy năm 1916, một mẩu tin trên mục tin tức hàng hải có nhắc đến một tàu buồm Thụy Điển mang tên Balmen, chạy tuyến Rio de Janeiro tới Barcelona, đã bị một tàu cướp biển vũ trang của Đức đánh chìm vào khoảng tháng Sáu. Một người sống sót duy nhất trôi dạt trên chiếc thuyền cứu sinh đã được cứu vớt ngoài khơi quần đảo Cape Verde trong tình trạng hấp hối. Người này đã trút hơi thở cuối cùng mà không kịp trăng trối lại bất kỳ chi tiết nào.

Có thêm nước ngọt, lương thực và dầu đốt trong khoang, chúng tôi cảm thấy như vừa được hồi sinh thêm một lần nữa. Giờ đây, chúng tôi cũng đã nắm chắc vị trí của mình, và tôi quyết định sẽ hướng mũi tàu về phía Georgetown, thuộc vùng Guiana thuộc Anh—thế nhưng số phận lại sắp đặt cho tôi phải nếm trải thêm một nỗi thất vọng cay đắng khôn cùng.

Sáu người trong số thủy thủ đoàn trung thành của chúng tôi đã lên boong để vận hành pháo hoặc đổ bộ lên tàu Thụy Điển trong suốt cuộc chạm trán vừa rồi; và giờ đây, từng người một tụt xuống thang trở lại khoang điều khiển trung tâm. Tôi là người bước xuống sau cùng, và vừa chạm chân tới bậc đáy, tôi bàng hoàng thấy mình đang đối diện với họng súng lục đen ngòm trên tay Nam tước Friedrich von Schoenvorts—tôi thấy toàn bộ người của mình đã bị dồn thành một hàng sang một bên, dưới sự canh chừng của tám tên lính Đức còn lại.

Tôi chẳng thể tài nào hình dung nổi sự thể lại diễn ra như thế nào; nhưng mọi chuyện đã rồi. Mãi sau này tôi mới vỡ lẽ rằng thoạt tiên bọn chúng đã đánh úp Benson lúc anh ta đang ngủ say trong giường nằm rồi tước lấy khẩu súng lục của anh, sau đó việc tước vũ khí của người đầu bếp và hai người lính Anh còn lại dưới khoang chỉ là chuyện dễ như trở bàn tay. Từ lúc đó, bọn chúng chỉ việc đứng chờ sẵn dưới chân thang và tóm gọn từng người một khi chúng tôi lần lượt bước xuống.

Việc đầu tiên von Schoenvorts làm là cho giải tôi tới và tuyên bố rằng với tư cách là một tên cướp biển, tôi sẽ bị xử bắn vào sáng sớm hôm sau. Đoạn, hắn giải thích thêm rằng chiếc U-33 sẽ tuần tiễu tại vùng biển này một thời gian, bắn chìm không phân biệt tàu bè của các nước trung lập hay phe thù địch, đồng thời truy tìm một trong những chiếc tàu cướp biển vũ trang của Đức được cho là đang hoạt động quanh vùng này.

Hắn đã không xử bắn tôi vào sáng hôm sau như lời đã hứa, và tôi cũng chẳng bao giờ hiểu nổi vì sao hắn lại hoãn thi hành bản án tử hình dành cho tôi. Thay vào đó, hắn cùm chặt tay chân tôi lại hệt như tình cảnh của hắn trước đây; rồi hắn tống cổ Bradley ra khỏi phòng tôi và chiếm trọn căn phòng ấy làm của riêng.

Chúng tôi rong ruổi suốt một thời gian dài, đánh chìm vô số tàu thuyền, tất cả—trừ một chiếc—đều bị bắn hạ bằng pháo trên boong, nhưng tuyệt nhiên không hề chạm trán chiếc tàu cướp biển vũ trang nào của Đức. Tôi lấy làm ngạc nhiên khi thấy von Schoenvorts thường xuyên giao quyền chỉ huy cho Benson; nhưng rồi tôi cũng tự lý giải điều này bằng việc Benson dường như am tường các nhiệm vụ của một thuyền trưởng tàu ngầm hơn hẳn lũ lính Đức đần độn kia.

Một hai lần Lys có bước ngang qua chỗ tôi; nhưng phần lớn thời gian cô đều giam mình trong phòng kín. Lần đầu tiên, cô ngập ngừng bước chậm lại như muốn cất lời với tôi; nhưng tôi chẳng buồn ngẩng đầu lên, và cuối cùng cô đành cất bước đi thẳng. Rồi một ngày kia, có tin truyền đến rằng chúng tôi sắp sửa vòng qua Mũi Horn và von Schoenvorts đã nảy ra cái ý nghĩ điên rồ là sẽ tuần tiễu dọc theo bờ biển Thái Bình Dương của Bắc Mỹ để săn lùng đủ mọi loại tàu buôn.

“Ta sẽ cho chúng nó biết thế nào là nỗi sợ hãi Chúa trời và Hoàng đế Kaiser,” hắn huênh hoang.

Ngay ngày đầu tiên tiến vào vùng biển Nam Thái Bình Dương, chúng tôi đã gặp phải một biến cố bất ngờ. Hóa ra đó lại là chuyến phiêu lưu nghẹt thở và gay cấn nhất trần đời mà tôi từng nếm trải. Mọi sự bắt đầu như thế này. Vào khoảng tám hồi chuông của ca gác sáng, tôi nghe thấy một tiếng hô lớn từ trên boong vọng xuống, rồi ngay sau đó là tiếng bước chân dồn dập của toàn bộ thủy thủ đoàn, xét theo mức độ huyên náo rộ lên nơi chân thang. Ai đó gào tướng lên vọng xuống cho những kẻ còn chưa kịp trèo lên mặt boong: “Tàu cướp biển đấy, chiếc Geier của quân Đức!”

Tôi hiểu rằng ngày tàn của chúng tôi đã điểm. Dưới khoang tàu hoàn toàn tĩnh lặng—chẳng còn một bóng người. Một cánh cửa ở cuối thân tàu chật hẹp bật mở, và ngay sau đó chú chó Nobs lon ton chạy lại phía tôi. Nó liếm láp mặt tôi rồi lăn ngửa ra sàn, giơ những chiếc móng vuốt to bè, vụng về cào cào vào người tôi. Rồi một chuỗi bước chân khác vang lên, đang dồn dập tiến lại gần. Tôi biết thừa đó là ai, nên cứ dán chặt mắt nhìn xuống mặt sàn gỗ. Cô gái gần như đang chạy thục mạng—thoắt cái cô đã đứng sững ngay bên cạnh tôi. “Cầm lấy!” cô thảng thốt kêu lên. “Mau lên!” Rồi cô nhét nhanh một vật gì đó vào lòng bàn tay tôi. Đó là một chiếc chìa khóa—chìa khóa mở xiềng xích của tôi. Cô còn đặt cạnh tôi một khẩu súng lục, rồi vội vã lao thẳng vào khoang điều khiển trung tâm. Khi cô lướt qua, tôi kịp thấy trên tay cô còn thủ sẵn một khẩu súng lục khác. Chẳng mất nhiều thời gian để tôi tự giải thoát cho mình, và chỉ chớp mắt sau tôi đã có mặt bên cạnh cô. “Làm sao tôi có thể cảm ơn cô—” tôi mở lời; nhưng cô đã chặn họng tôi bằng một câu dứt khoát.

“Đừng có cảm ơn tôi,” cô lạnh lùng đáp. “Tôi chẳng thiết nghe lời cảm ơn hay bất cứ lời lẽ nào từ miệng anh nữa đâu. Đừng có đứng đực ra đó mà nhìn tôi trân trân như thế. Tôi đã trao cho anh một cơ hội để hành động rồi đấy—giờ thì làm đi!” Câu cuối cùng là một mệnh lệnh dứt khoát khiến tôi giật thót mình.

Liếc mắt nhìn lên, tôi thấy tháp quan sát hoàn toàn trống trơn, bèn không bỏ lỡ một giây leo tót lên trên rồi ngó nghiêng ra bốn phía. Cách chừng một trăm thước là một chiếc tàu tuần dương cướp biển nhỏ gọn, lướt sóng vun vút, trên đỉnh phất phơ lá cờ chiến hạm của Hải quân Đức. Một chiếc thuyền con vừa được thả xuống, và tôi có thể thấy nó đang rẽ nước tiến về phía chúng tôi, chật ních những sĩ quan và lính thủy. Chiếc tuần dương hạm nằm ngay thẳng trước mũi tàu. “Trời đất,” tôi thầm nghĩ, “một mục tiêu tuyệt hảo làm sa—” Tôi khựng lại không dám nghĩ tiếp, quá đỗi kinh ngạc và bàng hoàng trước sự táo bạo trong mường tượng của chính mình. Cô gái đang đứng ngay dưới chân tôi. Tôi cúi nhìn xuống cô với ánh mắt khắc khoải khôn nguôi. Liệu tôi có thể tin cô được chăng? Vì cớ gì cô lại giải thoát cho tôi đúng vào thời khắc này? Phải liều thôi! Phải tin thôi! Chẳng còn con đường nào khác. Tôi tụt vội trở lại khoang dưới. “Làm ơn bảo Olson bước xuống đây một lát,” tôi khẽ yêu cầu; “và đừng để ai thấy cô gọi anh ta đấy.”

Cô nhìn tôi với nét mặt bối rối trong một tích tắc ngắn ngủi, rồi quay người thoăn thoắt bước lên thang. Chỉ một thoáng sau Olson đã trở xuống, và cô gái cũng bám sát theo sau anh. “Nhanh lên!” tôi thì thào với gã người Ireland hộ pháp, rồi lao thẳng về phía khoang mũi nơi bố trí các ống phóng ngư lôi; những quả ngư lôi cũng được xếp đặt ngay tại đây. Cô gái cùng đi theo chúng tôi, và khi nhận ra ý định trong đầu tôi, cô liền bước tới góp một tay đẩy khối trụ khổng lồ mang theo chết chóc và hủy diệt kia vào miệng ống phóng. Bằng dầu bôi trơn và sức bình sinh, chúng tôi tống quả ngư lôi vào đúng vị trí rồi đóng sập nắp ống lại; đoạn tôi co cẳng chạy thục mạng về tháp quan sát, thầm cầu nguyện tận đáy lòng sao cho mũi chiếc U-33 không bị chệch hướng khỏi con mồi. Ơn trời, mũi tàu vẫn giữ nguyên hướng!

Chưa bao giờ đường ngắm lại chuẩn xác đến thế. Tôi phát tín hiệu ngược xuống cho Olson: “Bắn đi!” Chiếc U-33 rung chuyển bần bật từ mũi tới lái khi quả ngư lôi lao vút ra khỏi ống phóng. Tôi nhìn thấy vệt nước trắng xóa xé toạc mặt biển phóng thẳng từ mũi tàu chúng tôi về phía chiếc tuần dương hạm của quân thù. Một tràng la hét khản đặc rộ lên từ trên boong tàu chúng tôi: tôi thấy các sĩ quan trên chiếc thuyền con đang tiến lại bỗng đứng bật dậy trân trối, và từ phía con tàu cướp biển vẳng lại những tiếng gào thét cùng những lời nguyền rủa vang trời. Bấy giờ tôi mới dồn tâm trí vào phần việc của mình. Hầu hết đám lính trên boong tàu ngầm đều đang đứng chết trân trong nỗi kinh hãi tột độ, dán chặt mắt vào quả ngư lôi. Bradley tình cờ ngoái nhìn về phía tháp quan sát và trông thấy tôi. Tôi phóng thẳng lên boong rồi lao nhanh về phía anh. “Nhanh lên!” tôi thì thào. “Thừa lúc chúng đang choáng váng, ta phải hạ gục bọn chúng ngay.”

Một tên lính Đức đang đứng cạnh Bradley—ngay trước mặt anh. Gã người Anh liền giáng một đòn sấm sét vào gáy tên lính, đồng thời giật phắt khẩu súng lục ra khỏi bao da của hắn. Von Schoenvorts đã kịp hoàn hồn sau cơn kinh ngạc ban đầu và quay phắt về phía cửa vòm chính để xem xét tình hình. Tôi chĩa thẳng khẩu súng lục vào người hắn, và đúng khoảnh khắc ấy, quả ngư lôi đâm sầm vào chiếc tuần dương hạm; tiếng nổ kinh thiên động địa trùm lấp hoàn toàn mệnh lệnh mà viên chỉ huy người Đức đang gào thét với đám thuộc hạ.

Bradley lúc này đang chạy đôn chạy đáo từ người này sang người khác trong phe chúng tôi, và dẫu có vài tên lính Đức nhìn thấy và nghe thấy anh, chúng dường như vẫn quá đỗi bàng hoàng không kịp trở tay hành động.

Olson vẫn còn ở khoang dưới, thế nên chỉ có chín người chúng tôi đối đầu với tám tên lính Đức, bởi cái gã bị Bradley đốn ngã vẫn nằm sóng soài bất tỉnh trên boong. Phe chúng tôi chỉ có hai người có vũ khí; nhưng nhuệ khí của đám lính Đức dường như đã tan thành mây khói, bọn chúng chỉ kháng cự một cách yếu ớt lấy lệ. Von Schoenvorts là kẻ hung hãn nhất—hắn gần như phát cuồng vì phẫn nộ và nhục nhã, hắn lao thục mạng về phía tôi như một con bò điên, vừa xông tới vừa bóp cò súng loạn xạ. Nếu hắn chịu dừng lại một giây để ngắm nghía, có lẽ hắn đã hạ gục được tôi; nhưng bước chạy điên cuồng khiến những phát đạn bay trật lếch, chẳng có viên nào chạm được vào người tôi, rồi hai chúng tôi lao vào ôm ghì lấy nhau ngã nhào xuống mặt boong. Khẩu súng của hắn văng ra, nâng tổng số vũ khí lên hai khẩu súng ngắn, và hai người lính của tôi đã nhanh tay chộp lấy ngay lập tức. Tên Nam tước chẳng phải là đối thủ của tôi trong một trận giáp lá cà, và chẳng mấy chốc tôi đã đè nghiến hắn xuống sàn tàu, bóp cổ hắn đến nghẹt thở suýt chết.

Nửa giờ đồng hồ sau, mọi sự đã đâu vào đấy và tình hình lại trở về trật tự hệt như trước khi đám tù binh nổi loạn—chỉ có điều lần này chúng tôi canh giữ von Schoenvorts cẩn mật hơn gấp bội. Chiếc Geier đã chìm nghỉm ngay trong lúc chúng tôi còn đang quần thảo trên boong, và sau đó chúng tôi rẽ sóng hướng lên phía bắc, mặc kệ những kẻ sống sót cho chiếc thuyền con duy nhất—vốn đang chèo về phía chúng tôi lúc Olson phóng ngư lôi—tự lo liệu. Tôi đồ rằng những kẻ khốn khổ ấy chẳng bao giờ vào được tới bờ, mà dẫu có vào được đi chăng nữa, rất có thể chúng cũng bỏ mạng trên bờ cõi lạnh lẽo và hoang vu cằn cỗi ấy; nhưng tôi không thể nào cho phép chúng bước chân lên chiếc U-33. Số lính Đức trên tàu đã quá đủ để chúng tôi phải nhọc công trông chừng rồi.

Tối hôm ấy, cô gái xin phép được lên boong hóng mát. Cô bảo rằng mình cảm thấy ngột ngạt vì bị giam hãm quá lâu dưới khoang tàu, và tôi sẵn lòng chấp thuận thỉnh cầu của cô. Tôi không tài nào hiểu nổi con người cô, và tôi khao khát có cơ hội được trò chuyện cùng cô một lần nữa nhằm thấu suốt tâm tư cùng những toan tính của cô, thế nên tôi đã chủ ý bước theo cô lên chiếc thang sắt. Đó là một đêm trời trong vắt, lạnh buốt và tuyệt đẹp. Mặt biển phẳng lặng như tờ, ngoại trừ những bọt nước trắng xóa cuộn trào nơi mũi tàu và hai dải sóng lừng tỏa rộng tít tắp về hai phía sau đuôi, tạo thành một chữ V khổng lồ mà chân vịt của chúng tôi xới tung lên thành những con sóng nhỏ nhấp nhô. Benson đang ở trên tháp quan sát, chúng tôi đang trực chỉ hướng về San Diego và mọi sự dường như đều hết sức êm xuôi.

Lys đứng đó, tấm chăn dày quấn chặt lấy thân hình mảnh mai, và khi tôi bước lại gần, cô khẽ nghiêng đầu nhìn lại xem là ai. Khi nhận ra tôi, cô lập tức ngoảnh mặt đi chỗ khác.

“Tôi muốn cảm ơn cô,” tôi cất lời, “vì lòng dũng cảm và sự trung thành của cô—cô quả thực rất tuyệt vời. Tôi rất ân hận vì trước đây đã khiến cô phải nghĩ rằng tôi ngờ vực cô.”

“Anh đã ngờ vực tôi đấy thôi,” cô đáp bằng một giọng đều đều lạnh nhạt. “Anh đã thẳng thừng buộc tội tôi tiếp tay cho Nam tước von Schoenvorts. Tôi không bao giờ tha thứ cho anh đâu.”

Cả lời lẽ lẫn giọng điệu của cô đều dứt khoát đến mức không thể vãn hồi.

“Tôi vốn không muốn tin vào điều đó,” tôi nói; “nhưng có tới hai người lính của tôi báo cáo rằng đã tận mắt thấy cô trò chuyện với von Schoenvorts vào đêm muộn trong hai lần riêng biệt—mà sau mỗi lần ấy, sáng hôm sau người ta lại phát hiện ra những tổn hại nghiêm trọng giáng xuống đầu chúng tôi. Tôi không hề muốn nghi ngờ cô; nhưng trên vai tôi là sinh mạng của tất cả những con người này, là sự an toàn của con tàu, là mạng sống của cô và của chính bản thân tôi. Tôi buộc phải để mắt tới cô, và tôi buộc phải cảnh báo để cô không lặp lại hành động điên rồ ấy nữa.”

Giờ đây cô đang nhìn tôi trân trân bằng đôi mắt to tròn mở lớn.

“Ai đã nói với anh rằng tôi trò chuyện với Nam tước von Schoenvorts vào ban đêm, hay vào bất cứ lúc nào khác?” cô gặng hỏi.

“Tôi không thể nói cho cô biết được, Lys à,” tôi đáp, “nhưng tin tức ấy đến với tôi từ hai nguồn khác nhau.”

“Thế thì cả hai kẻ ấy đều là phường dối trá,” cô khẳng định mà không hề lộ vẻ giận dữ. “Tôi chưa từng nói chuyện với Nam tước von Schoenvorts lần nào khác ngoài cái lần có mặt anh khi chúng ta mới bước chân lên chiếc U-33 này. Và xin anh làm ơn, khi xưng hô với tôi, hãy nhớ rằng trừ những người thân thiết ra, tôi là tiểu thư La Rue.”

Đã bao giờ bạn bị giáng một cái tát như trời giáng vào mặt đúng lúc bạn ít ngờ tới nhất chưa? Chưa ư? Thế thì bạn chẳng thể nào thấu hiểu nổi cảm giác của tôi vào giây phút ấy đâu. Tôi có thể cảm nhận rõ hơi nóng bừng bừng cùng sắc đỏ tía rần rật dâng lên từ cổ, tràn qua hai má, trùm lên hai vành tai rồi lan tận tới tận chân tóc. Ấy thế mà điều đó lại càng khiến tôi si mê cô đắm đuối hơn; nó khiến tôi thầm thề thốt trong lòng cả ngàn lời thề son sắt rằng nhất định tôi sẽ chinh phục được trái tim nàng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.