Vùng Đất Thời Gian Lãng Quên

Lượt đọc: 24 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Gần về sáng, chắc hẳn tôi đã thiếp đi, dẫu lúc ấy tôi có cảm giác mình đã thức trắng nhiều ngày ròng chứ chẳng phải vài giờ đồng hồ. Khi tôi mở mắt ra thì trời đã rạng. Mái tóc của cô gái xõa cả vào mặt tôi, và hơi thở nàng đã đều đặn trở lại. Tôi thầm tạ ơn Thượng đế vì điều đó. Đêm qua nàng đã xoay đầu, nên vừa mở mắt, tôi đã thấy gương mặt nàng ở cách mình chưa đầy một tấc, đôi môi tôi suýt nữa thì chạm vào làn môi nàng.

Chính Nobs rốt cuộc đã đánh thức nàng dậy. Chú chó đứng lên, vươn vai, quay tròn vài vòng rồi lại nằm xuống; cô gái bèn mở mắt ra và nhìn thẳng vào mắt tôi. Thoạt đầu đôi mắt nàng mở to đầy kinh ngạc, rồi dần dà nàng hiểu ra sự tình, và một nụ cười nở trên môi.

“Anh đã đối xử với tôi quá tốt,” nàng nói khi tôi đỡ nàng đứng dậy, dẫu sự thật là tôi còn cần người đỡ hơn cả nàng; toàn bộ nửa thân trái của tôi dường như đã tê liệt hoàn toàn vì máu không thể lưu thông. “Anh thật quá tốt với tôi.” Nàng chỉ nhắc đến chuyện đó duy nhất một lần ấy; nhưng tôi hiểu nàng vô cùng biết ơn, và chỉ vì ý tứ giữ gìn mà nàng không đả động thêm đến một tình cảnh dẫu bất khả kháng nhưng nói cho cùng vẫn hết sức ngượng ngùng.

Trời vừa sáng rõ thì chúng tôi nhìn thấy một làn khói dường như đang tiến thẳng về phía mình, rồi ít lâu sau, dáng hình bè bè của một chiếc tàu kéo dần hiện rõ—một trong những hiện thân quả cảm cho uy quyền thống trị đại dương của nước Anh, chuyên dắt các tàu buồm cập các cảng Pháp và Anh. Tôi đứng lên một thanh giằng của thuyền rồi vung chiếc áo khoác ướt sũng trên đầu. Nobs đứng trên một thanh khác sủa vang. Cô gái ngồi dưới chân tôi, căng mắt ngóng về phía boong con tàu đang rẽ sóng tới gần. “Họ thấy chúng ta rồi,” cuối cùng nàng thốt lên. “Có người đang vẫy tay đáp lại hiệu của anh kìa.” Nàng nói không sai. Cổ họng tôi nghẹn lại—vì nàng nhiều hơn là vì bản thân. Nàng đã được cứu, và may mắn thay là vừa kịp lúc. Nàng chẳng thể nào sống sót qua thêm một đêm nữa trên eo biển Manche; thậm chí có khi chẳng qua nổi ngày hôm nay.

Chiếc tàu kéo áp sát mạn thuyền, và một thủy thủ trên boong ném dây thừng xuống cho chúng tôi. Những cánh tay sốt sắng kéo chúng tôi lên tàu, còn Nobs thì thoăn thoắt nhảy tót lên boong chẳng cần ai giúp. Những con người thô ráp ấy lại đối xử với cô gái dịu dàng như những người mẹ. Vừa dồn dập hỏi han, họ vừa giục giã đưa nàng vào cabin thuyền trưởng còn tôi thì xuống phòng nồi hơi. Họ bảo cô gái cởi bỏ quần áo ướt ném ra ngoài cửa để hong khô, rồi chui vào giường nằm của thuyền trưởng cho ấm người. Riêng tôi thì chẳng đợi ai phải bảo, vừa bước vào hơi ấm của phòng nồi hơi là tôi đã lột sạch đồ. Trong nháy mắt, quần áo tôi đã được treo khắp những chỗ mau khô nhất, còn bản thân tôi thì đang mở từng lỗ chân lông để đón lấy hơi nóng quý giá của gian phòng ngột ngạt. Họ mang cho chúng tôi súp nóng và cà phê, rồi những ai không phải ca trực bèn ngồi quây quần xung quanh, cùng tôi rủa xả tay Hoàng đế Đức và bè lũ của hắn.

Quần áo vừa khô, họ liền giục chúng tôi mặc lại ngay, bởi lẽ ở vùng biển này, nguy cơ đụng độ quân địch lúc nào cũng chực chờ, điều mà tôi hiểu quá rõ. Nhờ hơi ấm ngập tràn, cảm giác an lòng khi cô gái đã an toàn, và niềm tin rằng chỉ cần nghỉ ngơi ăn uống đôi chút là nàng sẽ nhanh chóng hồi phục sau những giờ phút kinh hoàng vừa qua, tôi thấy lòng mình khoan khoái hơn bất cứ lúc nào kể từ khi ba tiếng còi rách màn không gian xé tan cuộc sống thanh bình của tôi vào chiều hôm trước.

Thế nhưng sự thanh bình trên eo biển Manche vốn dĩ chỉ là thứ phù du kể từ tháng Tám năm 1914. Sáng hôm ấy điều đó lại ứng nghiệm, bởi tôi vừa tròng xong bộ quần áo khô ráo và mang đồ của cô gái tới cabin thuyền trưởng thì một mệnh lệnh đã được thét giật ngược xuống buồng máy yêu cầu tăng hết tốc lực tiến lên, và chỉ chớp mắt sau tôi nghe thấy tiếng đại bác trầm đục vang rền. Liền tức khắc tôi lao lên boong và nhìn thấy một chiếc tàu ngầm địch cách mũi tàu bên mạn trái chừng hai trăm thước. Nó đã ra tín hiệu bắt chúng tôi dừng lại, nhưng thuyền trưởng của chúng tôi phớt lờ; giờ đây nó đã chĩa thẳng pháo vào chúng tôi, và phát đạn thứ hai sượt qua cabin như một lời cảnh cáo gửi tới vị thuyền trưởng tàu kéo hiếu chiến rằng đã đến lúc phải quy phục. Một mệnh lệnh nữa lại truyền xuống buồng máy, và chiếc tàu kéo giảm tốc độ. Chiếc U-boat ngừng bắn, ra lệnh cho tàu chúng tôi quay mũi áp sát. Theo đà tiến, chúng tôi trôi quá tàu địch một chút, nhưng giờ đây con tàu đang bẻ lái theo một đường vòng cung để cập vào mạn nó. Trong lúc đứng nhìn thao tác ấy và thắc mắc không biết số phận mình sẽ trôi dạt về đâu, tôi cảm thấy có gì đó chạm vào khuỷu tay mình bèn quay lại thì thấy cô gái đã đứng bên cạnh. Nàng ngước nhìn tôi với nét mặt rầu rĩ: “Dường như chúng quyết tận diệt chúng ta,” nàng nói, “và trông nó giống hệt chiếc tàu đã đánh chìm chúng ta hôm qua.”

“Chính là nó đấy,” tôi đáp. “Tôi biết nó quá rõ mà. Tôi từng tham gia thiết kế nó và đích thân đưa nó đi chạy thử chuyến đầu tiên.”

Cô gái lùi lại một bước, thốt lên một tiếng khe khẽ đầy ngạc nhiên và thất vọng. “Tôi cứ ngỡ anh là người Mỹ,” nàng nói. “Tôi đâu ngờ anh lại là một kẻ... một kẻ...”

“Tôi đâu phải thế,” tôi đáp. “Người Mỹ chúng tôi đã đóng tàu ngầm cho khắp các quốc gia từ nhiều năm nay rồi. Nhưng giá như cha con tôi phá sản phắt đi trước khi tạo ra cái thứ quái vật Frankenstein ấy thì hay biết mấy.”

Giờ đây chúng tôi đang tiếp cận chiếc U-boat với nửa tốc độ, và tôi gần như có thể phân biệt rõ từng nét mặt của những kẻ đứng trên boong tàu nó. Một thủy thủ bước đến bên tôi, lén nhét vào tay tôi một vật cứng và lạnh ngắt. Chẳng cần nhìn tôi cũng biết đó là một khẩu súng lục hạng nặng. “Cầm lấy mà nã,” anh ta chỉ nói vỏn vẹn có thế.

Mũi tàu chúng tôi lúc này chĩa thẳng vào chiếc U-boat đúng lúc tôi nghe lệnh truyền xuống buồng máy cho tàu chạy hết tốc lực. Ngay lập tức tôi hiểu ra sự liều lĩnh táo tợn của viên thuyền trưởng người Anh gan dạ—ông ta định đâm thẳng vào năm trăm tấn thép của chiếc U-boat ngay trước họng pháo đã chĩa sẵn của nó. Tôi suýt nữa thì reo hò tán thưởng. Thoạt đầu lũ lính Đức dường như không nắm được ý đồ của ông. Hẳn chúng ngỡ rằng mình đang chứng kiến một màn điều khiển tàu vụng về, nên la hét inh ỏi cảnh cáo tàu kéo giảm tốc và bẻ hết lái sang mạn trái.

Chúng tôi chỉ còn cách chúng chừng năm mươi bộ khi chúng sực tỉnh trước mối đe dọa cố tình từ cú bẻ lái của chúng tôi. Đội pháo thủ của chúng vốn mất cảnh giác; nhưng giờ đây chúng lao vội về phía khẩu pháo và bắn ra một phát đạn vô hại bay vút qua đầu chúng tôi. Nobs nhảy cẫng lên sủa dữ dội. “Cho chúng nếm mùi đi!” thuyền trưởng tàu kéo hạ lệnh, và lập tức súng lục cùng súng trường trút mưa đạn xuống boong chiếc tàu ngầm. Hai tên trong đội pháo thủ ngã gục; những tên còn lại lập tức hạ thấp nòng pháo nhắm thẳng vào mớn nước của chiếc tàu kéo đang lao tới. Số còn lại trên boong dùng súng cầm tay bắn trả chúng tôi, dồn toàn bộ hỏa lực vào người cầm lái.

Tôi vội vàng đẩy cô gái xuống cầu thang dẫn tới buồng máy, rồi giương súng bắn phát đầu tiên vào một tên lính Đức. Những gì diễn ra trong vài giây tiếp theo dồn dập đến mức ký ức tôi chỉ còn là những mảng mờ nhạt. Tôi thấy người hoa tiêu đổ ập về phía trước ôm lấy bánh lái, kéo theo bánh lái xoay ngoắt khiến con tàu chệch phắt khỏi đường đi, và tôi nhớ mình đã nhận ra mọi nỗ lực của chúng tôi sắp tan thành mây khói, bởi trong số bao nhiêu con người trên tàu, số phận lại an bài để chính anh ta là kẻ đầu tiên ngã xuống dưới làn đạn địch. Tôi thấy đội pháo thủ thiếu hụt trên tàu ngầm khai hỏa, tôi cảm nhận được chấn động dữ dội và nghe thấy tiếng nổ đanh tai khi quả đạn pháo bắn trúng rồi phát nổ tung nơi mũi tàu chúng tôi.

Tôi nhìn thấy và thấu suốt tất cả những điều ấy ngay trong lúc lao vào buồng lái, đứng dạng chân qua xác người hoa tiêu mà nắm chặt lấy bánh lái. Tôi dồn hết sức bình sinh bẻ lái sang mạn phải; nhưng đã quá muộn để thực hiện trọn vẹn ý đồ của thuyền trưởng. Điều tốt nhất tôi làm được chỉ là cọ sượt mạn tàu mình dọc theo chiếc tàu ngầm. Tôi nghe thấy ai đó thét giật một mệnh lệnh xuống buồng máy; con tàu rùng mình run bần bật trước cú đảo chiều máy đột ngột, và tốc độ của chúng tôi giảm nhanh chóng. Thế rồi tôi đã thấy viên thuyền trưởng điên rồ kia toan tính điều gì một khi kế hoạch đầu tiên bị phá sản.

Bằng một tiếng thét vang lệnh, ông nhảy phắt lên boong trơn trượt của chiếc tàu ngầm, và bám sát gót ông là đám thủy thủ dạn dày sương gió. Tôi lao ra khỏi buồng lái bám theo sau, quyết không chịu đứng ngoài cuộc khi đến lúc trừng trị lũ giặc Đức. Từ cầu thang buồng máy, tay thợ máy cùng các thợ đốt lò cũng ùa lên, và chúng tôi cùng lao theo số thủy thủ còn lại, bước vào một trận giáp lá cà biến boong tàu ướt sũng nhuộm đỏ máu tươi. Bên cạnh tôi là Nobs, giờ đây lặng thinh và dữ dằn. Lũ lính Đức đang chui lên từ cửa hầm mở toang để tham chiến trên boong. Thoạt đầu súng lục nổ râm ran xen lẫn tiếng chửi thề của đám thủy thủ và mệnh lệnh quát tháo của viên chỉ huy cùng cấp phó của hắn; nhưng chẳng mấy chốc đôi bên đã quần thảo lẫn lộn đến mức chẳng thể nổ súng an toàn được nữa, và cuộc chiến biến thành một trận ẩu đả tay đôi nhằm giành giật lấy boong tàu.

Mục đích duy nhất của mỗi người chúng tôi là hất đối phương xuống biển. Tôi sẽ chẳng bao giờ quên được vẻ mặt ghê tởm của gã Phổ hộ pháp mà số phận run rủi đẩy tới trước mặt tôi. Hắn cúi gằm đầu lao thẳng vào tôi, rống lên như một con bò mộng. Bằng một cú né nhanh sang bên và cúi rạp người xuống dưới đôi cánh tay đang giang ra của hắn, tôi đã tránh được đòn; và khi hắn quay ngoắt lại toan xông tới, tôi giáng một quả đấm thẳng vào cằm khiến hắn loạng choạng xoay tít về phía mép boong. Tôi thấy hắn tuyệt vọng vùng vẫy hòng lấy lại thăng bằng; tôi thấy hắn lảo đảo như kẻ say trong giây lát bên bờ vực sinh tử rồi thét lên một tiếng kinh hoàng trước khi trượt chân chìm nghỉm xuống biển. Cùng lúc ấy, một đôi tay hộ pháp từ phía sau siết chặt lấy tôi, nhấc bổng tôi khỏi mặt sàn. Dù tôi có giãy giụa đạp loạn xạ thế nào cũng chẳng thể xoay người lại đối mặt với kẻ địch hay thoát khỏi gọng kìm điên cuồng của hắn. Hắn lầm lì đẩy tôi về phía mép tàu và cái chết. Chẳng một ai có thể cản hắn lại, bởi mỗi đồng đội của tôi đều đang phải một mình chọi từ một đến ba tên địch. Trong khoảnh khắc, tôi đã lo sợ cho mạng sống của mình, nhưng rồi tôi nhìn thấy một cảnh tượng còn khiến tôi kinh hãi hơn gấp bội vì một người khác.

Tên lính Đức đang đẩy tôi về phía mạn tàu ngầm, nơi chiếc tàu kéo vẫn đang va đập ầm ầm vào đó. Cái chết vì bị nghiền nát giữa hai con tàu chẳng còn mảy may khiến tôi bận tâm khi tôi nhìn thấy cô gái đang đứng trơ trọi trên boong chiếc tàu kéo, khi tôi thấy đuôi tàu giếch cao lên trời còn mũi tàu đang chìm nhanh cho cú lặn cuối cùng, khi tôi thấy tử thần—mà tôi bất lực không cứu nổi nàng—đang chực chộp lấy tà áo của người phụ nữ mà giờ đây tôi đã hiểu quá rõ rằng mình yêu say đắm.

Có lẽ tôi chỉ còn sống được một phần tích tắc nữa thì một tiếng gầm gừ giận dữ vang lên sau lưng quyện cùng tiếng thét đau đớn lẫn phẫn nộ của gã khổng lồ đang cắp lấy tôi. Hắn lập tức ngã ngửa ra sau boong tàu, và trong lúc ngã, hắn buông tay ra để chống đỡ, giải thoát cho tôi. Tôi ngã đè nặng nề lên người hắn, nhưng đứng bật dậy ngay tức khắc. Vừa nhổm dậy, tôi liếc nhìn kẻ thù duy nhất một lần. Hắn sẽ chẳng bao giờ còn đe dọa tôi hay bất kỳ ai được nữa, bởi hàm răng sắc nhọn của Nobs đã cắn ngập vào họng hắn. Đoạn tôi phóng mình về phía mép boong gần cô gái nhất trên chiếc tàu kéo đang chìm nghỉm.

“Nhảy đi!” tôi thét lớn. “Nhảy đi!” và giang rộng hai tay về phía nàng. Ngay tức khắc, như thể tin tưởng tuyệt đối vào khả năng cứu nàng của tôi, nàng lao qua mạn tàu kéo xuống mạn sườn dốc nghiêng và trơn trượt của chiếc U-boat. Tôi rướn hết người để chộp lấy tay nàng. Đúng khoảnh khắc ấy, chiếc tàu kéo dựng đứng đuôi lên trời rồi chìm nghỉm mất dạng. Tay tôi hụt mất tay nàng chỉ trong gang tấc, và tôi thấy nàng trượt xuống biển; nhưng nàng vừa chạm nước thì tôi đã lao mình theo sau.

Chiếc tàu kéo chìm xuống tạo thành xoáy nước hút chúng tôi sâu xuống dưới mặt nước; nhưng tôi đã tóm được nàng ngay khoảnh khắc chạm nước, và thế là chúng tôi cùng chìm xuống, rồi lại cùng nổi lên—cách chiếc U-boat chỉ vài thước. Điều đầu tiên tôi nghe thấy là tiếng Nobs sủa vang dữ dội; rõ ràng chú chó không thấy tôi đâu nên đang cuống cuồng tìm kiếm. Chỉ một cái liếc nhìn lên boong tàu cũng đủ cho tôi biết trận chiến đã tàn và phần thắng thuộc về chúng tôi, bởi tôi thấy những người sống sót của phe mình đang chĩa súng lục khống chế một nhúm quân địch, trong khi số lính còn lại lần lượt chui ra khỏi lòng tàu và xếp hàng trên boong cùng đám tù binh kia.

Khi tôi bơi dìu cô gái về phía chiếc tàu ngầm, tiếng sủa dồn dập của Nobs đã thu hút sự chú ý của vài thủy thủ tàu kéo, nên vừa chạm vào mạn tàu là đã có những bàn tay chìa ra kéo chúng tôi lên. Tôi hỏi cô gái có bị thương không, nhưng nàng quả quyết mình chẳng hề hấn gì sau lần ướt sượt thứ hai này; nàng cũng chẳng có vẻ gì là bị sốc. Tự mắt tôi đã được chứng kiến rằng sinh linh mảnh dẻ và dường như yếu ớt ấy lại mang trong mình trái tim và lòng can trường của một chiến binh.

Khi nhập vào nhóm của mình, tôi thấy thuyền phó của tàu kéo đang điểm danh số người sống sót. Phe chúng tôi còn lại mười người, không tính cô gái. Viên thuyền trưởng dũng cảm của chúng tôi đã mất tích, cùng tám người khác. Đội xung kích của chúng tôi ban đầu có mười chín người, và bằng cách này hay cách khác trong trận chiến, chúng tôi đã hạ được mười sáu lính Đức và bắt sống chín tù binh, trong đó có viên chỉ huy. Tên thuyền phó của hắn đã đền mạng.

“Một ngày làm việc không tồi,” Bradley, viên thuyền phó, nói sau khi điểm danh xong. “Chỉ có việc mất thuyền trưởng,” anh ngậm ngùi nói thêm, “là điều tồi tệ nhất. Ông ấy là một người tuyệt vời, một con người tuyệt vời.”

Olson—dẫu mang cái tên ấy nhưng lại là người Ireland, và dù không phải người Scotland nhưng lại làm thợ máy cho tàu kéo—đang đứng cùng Bradley và tôi. “Phải,” anh ta đồng tình, “chúng ta vừa làm xong một mớ việc đấy, nhưng giờ tóm được nó rồi thì ta định làm cái quái gì với nó đây?”

“Chúng ta sẽ lái nó về cảng Anh gần nhất,” Bradley đáp, “rồi tất cả sẽ lên bờ nhận Huân chương Thập tự Victoria,” anh kết luận bằng một tiếng cười lớn.

“Lái kiểu gì cơ chứ?” Olson gặng hỏi. “Mấy tay lính Đức này chẳng tin được đâu.”

Bradley gãi đầu. “Tôi nghĩ anh nói đúng,” anh thừa nhận. “Vả lại tôi chẳng biết tí gì về tàu ngầm cả.”

“Tôi biết đấy,” tôi trấn an anh. “Tôi còn rành chiếc tàu ngầm cụ thể này hơn cả tên sĩ quan từng chỉ huy nó cơ.”

Cả hai người trố mắt nhìn tôi đầy kinh ngạc, rồi tôi đành phải giải thích lại từ đầu y như đã từng giải thích với cô gái. Bradley và Olson mừng rỡ khôn xiết. Ngay lập tức tôi được giao quyền chỉ huy, và việc đầu tiên tôi làm là cùng Olson xuống khoang dưới kiểm tra cẩn thận con tàu xem có tên lính Đức nào ẩn nấp hay máy móc có bị hư hại gì không. Chẳng có tên địch nào trốn bên dưới, mọi thứ đều nguyên vẹn và vận hành trơn tru đúng chuẩn. Đoạn tôi lệnh cho tất cả mọi người xuống khoang, chỉ chừa lại một người làm nhiệm vụ cảnh giới. Tra hỏi đám lính Đức, tôi nhận thấy tất cả bọn họ, trừ viên chỉ huy, đều sẵn lòng trở về vị trí tác chiến và hỗ trợ đưa con tàu cập một cảng của Anh. Tôi tin rằng họ cảm thấy nhẹ nhõm trước viễn cảnh được giam giữ tại một trại tù binh tiện nghi của Anh cho đến hết chiến tranh sau bao hiểm nguy và gian khổ mà họ đã nếm trải. Tuy nhiên, viên sĩ quan quả quyết rằng hắn sẽ không bao giờ thỏa hiệp với việc con tàu của mình bị bắt giữ.

Bởi vậy, chẳng còn cách nào khác là phải còng tay hắn lại. Đúng lúc chúng tôi chuẩn bị thi hành quyết định này thì cô gái từ trên boong bước xuống. Đây là lần đầu tiên nàng và viên sĩ quan Đức giáp mặt nhau kể từ khi chúng tôi bước chân lên chiếc U-boat. Tôi đang đỡ cô gái bước xuống thang và vẫn nắm tay nàng—có lẽ ngay cả khi sự nâng đỡ ấy đã chẳng còn cần thiết—thì nàng quay lại và nhìn thẳng vào mặt tên lính Đức. Cả hai người đồng thanh thốt lên một tiếng ngạc nhiên lẫn kinh hoàng.

“Lys!” hắn kêu lên, và bước một bước về phía nàng.

Mắt cô gái mở to, rồi dần ngập tràn nỗi kinh hãi tột cùng khi nàng lùi lại. Thế rồi thân hình mảnh mai của nàng đứng thẳng tắp như một người lính, ngẩng cao cằm và chẳng thốt một lời, nàng quay lưng lại phía viên sĩ quan.

“Giải hắn đi,” tôi chỉ thị hai người lính đang áp giải hắn, “và tống hắn vào cùm.”

Khi hắn đã đi khuất, cô gái ngước mắt nhìn tôi. “Hắn chính là người Đức mà tôi đã kể,” nàng nói. “Hắn là Nam tước von Schoenvorts.”

Tôi chỉ khẽ cúi đầu. Nàng từng yêu hắn! Tôi tự hỏi liệu trong sâu thẳm cõi lòng, nàng có còn yêu hắn hay không. Lòng ghen tuông điên cuồng lập tức trỗi dậy trong tôi. Tôi căm thù Nam tước Friedrich von Schoenvorts đến tột độ, một cảm xúc mãnh liệt khiến tôi rạo rực một nỗi hân hoan kỳ lạ.

Nhưng tôi chẳng có nhiều thời gian để gặm nhấm mối hận thù ấy, bởi gần như ngay lập tức, người lính cảnh giới thò đầu qua cửa hầm và thét tướng xuống rằng có khói ở đường chân trời, ngay trước mũi tàu. Lập tức tôi lên boong để quan sát, và Bradley đi cùng tôi.

“Nếu là tàu phe mình,” anh nói, “chúng ta sẽ bắt liên lạc. Còn nếu không, ta sẽ bắn chìm nó—nhỉ, thuyền trưởng?”

“Phải đấy, trung úy,” tôi đáp, và đến lượt anh mỉm cười.

Chúng tôi kéo cờ Union Jack lên và nán lại trên boong, bảo Bradley xuống dưới phân công nhiệm vụ cho từng thuyền viên, cắt cử một người Anh cầm súng lục đứng kèm một người Đức.

“Nửa tốc độ tiến lên,” tôi ra lệnh.

Khoảng cách giữa chúng tôi và con tàu lạ thu hẹp nhanh chóng hơn, cho đến khi tôi có thể nhìn rõ lá cờ đỏ của hạm đội thương thuyền Anh quốc. Lòng tôi dâng lên niềm tự hào khôn xiết khi nghĩ đến cảnh tượng lát nữa đây những thủy thủ Anh đầy mến mộ sẽ chúc mừng chúng tôi vì chiến tích bắt sống tàu giặc hiển hách này; và đúng vào lúc ấy, hẳn chiếc tàu buôn đã phát hiện ra chúng tôi, bởi nó bỗng đột ngột chuyển hướng về phía bắc, và chớp mắt sau những cuộn khói đen đặc bốc lên ngùn ngụt từ các ống khói của nó. Rồi ngoằn ngoèo lượn hình chữ chi, nó tháo chạy trối chết khỏi chúng tôi như thể vừa chạm trán với dịch hạch. Tôi bèn đổi hướng chiếc tàu ngầm rồi đuổi theo; nhưng con tàu buôn chạy nhanh hơn chúng tôi, và chẳng mấy chốc đã bỏ xa chúng tôi lại phía sau trong vô vọng.

Với một nụ cười cay đắng, tôi lệnh cho tàu quay về hải trình ban đầu, và một lần nữa chúng tôi lại trực chỉ nước Anh tươi đẹp mà tiến bước. Đó là chuyện của ba tháng trước, và đến giờ chúng tôi vẫn chưa tới nơi; mà cũng chẳng có mảy may hy vọng nào là chúng tôi sẽ tới được.

Chiếc tàu buôn chúng tôi vừa thấy hẳn đã phát điện tín cảnh báo, vì chưa đầy nửa giờ sau chúng tôi lại thấy khói ở chân trời, và lần này con tàu mang cờ trắng của Hải quân Hoàng gia cùng trang bị súng pháo đầy mình. Nó chẳng thèm chuyển hướng lên phía bắc hay đi đâu cả, mà lao thẳng về phía chúng tôi với tốc độ xé gió. Tôi vừa chuẩn bị phát tín hiệu thì một ánh lửa lóe lên từ mũi tàu nó, và chớp mắt sau, một cột nước khổng lồ dựng đứng ngay trước mặt chúng tôi bởi phát đạn pháo nổ tung.

Bradley đã lên boong và đứng cạnh tôi. “Thêm một phát như thế nữa là nó căn trúng cự ly của ta đấy,” anh nói. “Nó có vẻ chẳng thèm bận tâm đến lá cờ Union Jack của mình đâu.”

Một quả đạn thứ hai bay vút qua đầu chúng tôi, và tôi lập tức hạ lệnh đổi hướng, đồng thời bảo Bradley xuống dưới truyền lệnh lặn khẩn cấp. Tôi chuyền Nobs xuống cho anh, rồi theo sau, cẩn thận đóng chặt nắp hầm tàu.

Tôi có cảm tưởng các két lặn chưa bao giờ đầy nước chậm chạp đến thế. Chúng tôi nghe thấy một tiếng nổ chát chúa dường như ngay trên đỉnh đầu; con tàu rung chuyển dữ dội trước chấn động hất ngã tất cả chúng tôi xuống sàn boong. Từng giây từng phút tôi nơm nớp chờ đợi một dòng nước lũ tràn vào xối xả, nhưng chẳng có gì xảy ra cả. Thay vào đó, chúng tôi tiếp tục chìm sâu cho đến khi áp kế chỉ bốn mươi bộ, bấy giờ tôi mới biết mình đã an toàn. An toàn! Tôi suýt bật cười mỉa mai. Tôi đã thay phiên cho Olson, người được tôi chỉ định ở lại tháp chỉ huy trước đó do từng là thành viên của một trong những đội thủy thủ tàu ngầm Anh thời kỳ đầu, nên nắm được đôi chút chuyên môn. Bradley đứng cạnh tôi. Anh nhìn tôi đầy thắc mắc.

“Quỷ tha ma bắt, ta phải làm gì bây giờ?” anh hỏi. “Tàu buôn thì tháo chạy khỏi ta; tàu chiến thì đòi tiêu diệt ta; chẳng ai thèm tin vào màu cờ của ta hay cho ta lấy một cơ hội giải thích. Chúng ta sẽ còn nhận một sự tiếp đón tồi tệ hơn nhiều nếu cứ lởn vởn quanh một cảng của Anh—nào là thủy lôi, lưới chắn cùng đủ thứ hiểm họa. Ta không thể làm thế được.”

“Cứ thử lại lần nữa khi gã kia mất dấu đi,” tôi giục. “Ắt phải có con tàu nào đó chịu tin chúng ta chứ.”

Và chúng tôi đã thử lại thật, để rồi suýt nữa bị một chiếc tàu chở hàng khổng lồ húc thẳng vào người. Ít lâu sau, chúng tôi bị một tàu khu trục nã pháo, và hai chiếc tàu buôn khác vừa thấy bóng chúng tôi đã quay đầu bỏ chạy thục mạng. Suốt hai ngày ròng rã, chúng tôi tuần tra ngược xuôi khắp eo biển Manche hòng tìm kiếm một ai đó chịu lắng nghe rằng chúng tôi là bạn bè; nhưng tuyệt nhiên chẳng một ai thèm nghe. Sau cuộc chạm trán với tàu chiến đầu tiên, tôi đã chỉ thị gửi đi một bức điện tín giải thích tình cảnh ngặt nghèo của chúng tôi; nhưng tôi chết lặng khi phát hiện ra cả máy phát lẫn máy thu đều đã không cánh mà bay.

“Các người chỉ có một nơi duy nhất để đi thôi,” von Schoenvorts gửi lời nhắn cho tôi, “và nơi đó là Kiel. Các người không thể cập bến bất kỳ nơi nào khác trong vùng biển này đâu. Nếu các người muốn, tôi sẽ đưa các người tới đó, và tôi cam đoan các người sẽ được đối đãi tử tế.”

“Còn một nơi nữa chúng tôi có thể đến,” tôi gửi câu trả lời đáp lại, “và chúng tôi thà đến đó còn hơn là sang Đức. Nơi đó chính là địa ngục.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.