Tinh Hoa Mưu Trí Trong Tam Quốc

Lượt đọc: 292 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
II. QUÂN SỰ: MỘT CUỐN BINH THƯ SỐNG

❊ ❊ ❊

Trung Quốc thời xưa chinh chiến liên miên, đó là chuyện hiếm thấy trên thế giới, số lượng binh thư do vậy cũng nhiều vào bậc nhất trên thế giới. Nghe nói có tới 1300 loại, còn lưu truyền đến ngày nay cũng vẫn còn tới hơn 500 loại, theo truyền thuyết, binh thư của Trung Quốc bắt đầu từ thời vua Hoàng Đế. Ngay thời Tây Chu đã có hai cuốn sách là Quân chỉ, Quân chính, điều đó chứng tỏ binh thư Trung Quốc có nguồn gốc sâu xa. Hiện nay binh pháp cổ đại có giá trị trong và ngoài nước của Trung Quốc có “võ kinh thất thư” tức là Tôn Tử binh pháp, Ngô Tử binh pháp, Lục thao, Hoàng Thạch Công tam lược, Úy Liêu Tử, Tư Mã pháp, Đường Thái Tông, Lý Vệ Công vấn đối và những cuốn có ảnh hưởng khá lớn như Võ kinh tổng yếu, Kỷ hiệu tân thư, Luyện binh kỷ thực v.v... Mưu lược trong Tam Quốc diễn nghĩa đã cô đọng những tinh hoa trong binh thư cổ đại của Trung Quốc như đánh vào lòng người, đánh bằng ngoại giao, lường địch, ứng biến, tạo thế, lừa địch, dùng gián điệp, dùng pháp thuật v.v... là một trong những di sản quý báu tổ tiên của dân tộc còn để lại.

Mưu lược Tam quốc và “Binh pháp Tôn Tử”

Muốn tìm hiểu mưu lược trong Tam quốc, trước hết phải làm rõ quan hệ sâu xa của nó với “Binh pháp Tôn Tử”. Không hiểu “Binh pháp Tôn Tử” sẽ không thể khái quát mưu lược Tam quốc lên thành lý luận ở trình độ cao; không đọc Tam quốc diễn nghĩa sẽ không thể lĩnh hội một cách tốt hơn, cụ thể hơn chiến lược, chiến thuật trong binh pháp Tôn Tử. Hai thứ đó bổ trợ lẫn nhau, giúp nhau hình thành, quan hệ giữa hai thứ này như thần với hình, như hồn với xác. Tam quốc diễn nghĩa tuy có kết trí tuệ cổ đại của người xưa, mà binh pháp Tôn Tử là linh hồn của nó, tất cả mọi mưu lược trong đó về cơ bản đều lấy binh pháp Tôn Tử làm tư tưởng chủ đạo.

“Mưu công biên” của binh pháp Tôn Tử nêu lên tư tưởng “toàn thắng”, tư tưởng đó sau này được Tôn Tẫn quy nạp thành mưu lược “đánh vào lòng người”. Nhiều trận đánh mê hồn trong Tam quốc đều dựa vào đó, như chuyện Lưu Bị khéo léo đoạt Tây Thục; Lã Mông đánh úp Kinh Châu, Khổng Minh tam khí Chu Du, Gia Cát bảy lần thả Mạnh Hoạch v.v... Trong cuộc tranh giành Kinh Châu giữa Gia Cát và Chu Du, cũng là sự vận dụng cụ thể của cách “đánh vào lòng người”: Trước hết là dùng kế “trai cò tranh nhau ngư ông được lợi”, để Chu Du với Tào Nhân tranh giành nhau tới mức một mất một còn, chẳng cần phí một tên lính nào mà lấy được Nam Quận, sau đó phá mỹ nhân kế của Chu Du làm cho quỷ kế là giam lỏng Lưu Bị đổi lấy Kinh Châu của hắn biến thành bọt xà phòng. Cuối cùng là kế mượn đường diệt Quắc để phá Chu Du, cuộc “tam khí” này là cuộc chiến mà như không chiến, là thứ chiến tranh đặc biệt nặng về đánh vào lòng người. Những kế của Gia Cát như “không thành kế”, “tăng bếp để lui quân Ngụy” v.v... cũng là sự vận dụng cụ thể của chiến lược đánh vào lòng người. Mà với không ít những trận đánh có tiếng trong Tam quốc diễn nghĩa, đều là sự vận dụng khéo léo luận đoán của Tôn Tử về “biết người biết mình”. Chẳng hạn như trận Quan Độ, trận Xích Bích, kẻ thắng đều do biết người biết mình, kẻ bại đều do không biết người, còn không biết cả mình.

“Kế biên” trong binh pháp Tôn Tử rất chú trọng và nhấn mạnh tác dụng của mưu trí. Chẳng hạn, trong đó yêu cầu người làm tướng lĩnh phải có đủ năm điều kiện là “trí, tín, nhân, dũng, nghiêm” mà trí được đặt ở hàng đầu và có mưu trí hay không, là nhân tố mấu chốt quyết định thắng bại. Nhiều tướng lĩnh được khắc họa trong Tam quốc diễn nghĩa, loại có mưu trí rất được ca ngợi, còn đối với bọn giỏi giang có tiếng trong ba quân thì tuy có ca ngợi cái dũng của họ, cũng chỉ ra rằng họ chẳng qua chỉ là một đấng trượng phu dũng cảm mà thôi. Chẳng hạn Là Bố, Mã Siêu đều là những hổ tướng trên đời, Lã Bố từng có thời không ai địch nổi, Mã Siêu cũng đã từng ép một người như Tào Tháo phải cắt râu, vứt áo mà chạy. Vì họ đều là loại hữu dũng vô mưu, nên rốt cuộc, Lã Bố thì bị Tào Tháo bắt và giết, Mã Siêu cũng bị Tào Tháo đánh bại.

Tam quốc diễn nghĩa còn miêu tả nhiều trận đánh mang tính “tính nhiều thì thắng, không tính thì thua” và vận dụng cụ thể “12 phép quỷ quyệt” như thế nào, cho nên rất hấp dẫn người đọc. Cái gọi là “12 phép quỷ quyệt” là 12 loại mưu kế do Tôn Tử chỉ ra trong phần “kế biên”. Ông nói: “Người cầm quân phải quỷ quyệt cho nên cái được thì coi là không được, cái dùng lại coi như không dùng, cái gần thì coi là xa, xa thì coi là gần, dùng lợi mà nhử, thấy rối loạn thì vào mà lấy, thấy cái thực phải đề phòng, thấy chỗ mạnh phải tránh, thân phải làm cho ly gián, đánh vào chỗ không đề phòng, xuất kỳ bất ý, đó là cách thắng của người cầm quân...” Tôn Tử là người đầu tiên trong lịch sử quân sự Trung Quốc đề ra nguyên tắc chiến thuật “người cầm quân, phải quỷ quyệt”, mà mục đích của những chiến thuật này chỉ có một, tức là “đánh vào chỗ không đề phòng, xuất kỳ bất ý”. Thí dụ, khi Quan Vũ tiến quân Phàn Thành thắng lợi, Tào Tháo đã dùng mưu “thân thì ly gián” phá tan sự liên minh Tôn – Lưu, lấy lợi nhử Tôn Quyền để Tôn đánh úp Kinh Châu; Lã Mông thì bám riết lấy nhược điểm của Quan Vũ là tự kiêu tự đại, thích người ta tâng bốc, dùng kế “tự ty thì làm cho kiêu ngạo” để làm cho người này tê liệt cảnh giác, lơ là chểnh mảng, rút quá nửa quân lực ra tuyến trước Phàn Thành, rồi “xuất kỳ bất ý, đánh vào nơi không phòng bị”, áo trắng qua sông, lính không vấy máu, lấy Kinh Châu một cách nhẹ nhàng.

Linh hoạt vận dụng và phát triển binh pháp, chiến dịch cổ đại

Cái mà Tam quốc diễn nghĩa hấp thụ được không chỉ là “Binh pháp Tôn Tử”, mà đã dung hòa nhuần nhuyễn vào trong đó những tinh hoa của binh pháp và các trận đánh từ thời Xuân Thu đến cuối nhà Nguyên rồi vận dụng và phát triển một cách linh hoạt.

Những diệu kế mà Tam quốc diễn nghĩa hư cấu nên đều xuất xứ từ “36 kế” như để ly gián “cha con” Đổng Trác và Lã Bố, Vương Doãn đã dùng “mỹ nhân kế”; để làm cho Lưu Bị và Lã Bố đấu chọi nhau, Tào Tháo đã dùng kế “hai hổ tranh mồi”, “xua hổ nuốt sói”; Chu Du muốn lấy Kinh Châu đã dùng kế “mượn đường diệt Quắc”; Gia Cát Lượng đánh úp Kinh Châu đã dùng kế “điệu hổ ly sơn” v.v...

Những trận đánh nổi tiếng của Trung Quốc đều in bóng dáng trong Tam quốc diễn nghĩa. Kế mai phục bốn phía, bày trận quay lưng ra sông mà Trình Dục dùng ở Thương Đình, thực tế là sự tái hiện hai kế mà Hàn Tín phá Hạng Vũ và đánh bại Trần Dư. Quan Vũ trên đường rút quân về Kinh Châu bị Lã Mông phản lại dẫn đến thất bại toàn quân, có điểm giống hệt như Hạng Vũ lâm vào bối cảnh bị bao vây tứ phía. Kế “tăng bếp làm lui quân” của Khổng Minh cũng là kế dùng Ngu Phiên để làm lui địch.

Cuộc đấu trí giữa Lưu Bị với Tào Tháo, Gia Cát Lượng với Tư Mã Ý, Khương Duy với Đặng Ngải cũng bắt nguồn từ luận điểm nổi danh “biết người biết mình, trăm trận không thua” của Tôn Tử, nhưng đã phát triển nó lên: không phải chỉ viết một phía “biết người biết mình”, mà viết cả người cả mình đều “biết người biết mình”, bởi thế mà trở nên biến hóa vô cùng, hấp dẫn hết sức.

Bất kể binh pháp gì, đều không thể bê nguyên xi, phải kết hợp với thực tế lúc đó mà vận dụng linh hoạt, nếu không sẽ đụng đầu vào tường, thậm chí còn thất bại thảm hại. Những trận đánh thắng, bại có liên quan về mặt này được miêu tả trong Tam quốc diễn nghĩa đều muốn nói lên điều đó, đấy là cách tốt nhất trong vận dụng binh pháp. Về vấn đề này, Mao Tôn Cương có lời bình rằng: “Cái nguyên cớ thành bại của nhà quân sự, có mặt khác nhau mà lại giống nhau, có mặt giống nhau mà lại khác nhau. Từ Hoàng Trung không nghe lời can ngăn của Vương Bình, dàn trận quay lưng ra sông; Mã Tốc không nghe lời can gián của Vương Bình, dựa vào núi đóng quân. Nước khác với núi, nhưng cái thế tất phải thua thì giống nhau. Hoàng Trung trú quân trên núi mà có thể chém được Hạ Hầu Uyên; Mã Tốc trú quân trên núi mà không làm lui được quân của Tư Mã Ý. Núi và núi thì giống nhau, nhưng cái thế một thắng một thua lại khác nhau. Mã Tốc sở dĩ phải thua, bởi thuộc trong lòng thành ngữ của binh pháp, chẳng qua nói “đặt vào tử địa để rồi sống”, rồi nói “đứng trên cao nhìn xuống, thế tựa chẻ tre”. Thuộc lúc ngồi mà nói thì đúng, nhưng đến lúc làm lại sai, đọc sách thì nhiều, đến lúc dùng lại lầm lẫn, làm sao mà không đáng than thay! Cho nên, giỏi dùng người không ở lời, giỏi dùng binh không ở sách vở” (lời bình hồi 95). Mao Tôn Cương nói “giỏi dùng binh không ở sách vở không có nghĩa là chống lại việc kế thừa kinh nghiệm của người xưa, mà là chống lại lối nệ cổ, chủ trương dùng binh phải xuất phát từ thực tế, tùy cơ ứng biến vậy!” Lời bình ở trên của Mao Tôn Cương đã khái quát tư tưởng vận dụng linh hoạt binh thư trong Tam quốc diễn nghĩa.

Trong lịch sử quân sự Trung Quốc, thời đại Tam quốc và thời Xuân Thu Chiến quốc đều chiếm một vị trí quan trọng. Trong gần một trăm năm chiến tranh, đã hun đúc nên biết bao nhiêu binh quyền mưu gia lỗi lạc, xuất hiện biết bao nhiêu trận đánh trứ danh như trận Quan Độ, trận Xích Bích, trận Linh Lăng... Tào Tháo, Chu Du, Lục Tốn đều lấy ít thắng nhiều; Tào Tháo giương đông kích tây giải vây ở Bạch Mã, lấy lui làm tiến khéo đoạt Dương Bình quan; kế “cấp thì hợp, hoãn thì ly” của Quách Gia phá được Ký Châu bình định Liêu Đông v.v... những trận đánh nổi tiếng ấy đã thêm trang mới cho binh pháp cổ đại.

Binh thư được hình tượng hóa, cụ thể hóa

Thời Tam quốc tuy có nhiều nhà mưu lược quân sự, nhưng những người để lại binh thư thật hiếm như sao buổi sớm. Ngoài cuốn Tướng uyển của Khổng Minh ra, chưa thấy có cuốn binh thư nào khác, trong truyền thuyết nói Tào Tháo có viết Mạnh Đức tân thư, nhưng qua điều tra thấy không đáng tin cậy. Những cuộc chiến có liên quan được ghi chép trong Tam quốc chí của Trần Thọ không tránh khỏi sự quá phân tán và vụn vặt, may mà La Quán Trung lại đem viết thành Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa thì cuộc chiến tranh thời Tam quốc mới hiện ra trước mắt người đọc một cách đầy đủ và có hình tượng.

Những binh thư khác vì nó được lý luận hóa, nếu không có kinh nghiệm thực tiễn khó mà từ đó nhìn ra điều kỳ diệu bên trong. Còn Tam quốc diễn nghĩa thì như một cuốn binh thư hình tượng. Những trận đánh mà nó miêu tả, vì nó cụ thể và hình tượng, khiến người ta thấy như có mình trong trận đó, như thấy những con người đó, như nhìn thấy sờ thấy được cho nên dễ học tập, dễ vay mượn.

So với tất cả các loại binh thư trong và ngoài nước, Tam quốc diễn nghĩa có thể nói là loại binh thư đặc biệt. Những binh thư khác, phần lớn là quân sự bàn quân sự. Tam quốc diễn nghĩa lại không thế, nó không tả đấu tranh quân sự một cách cô lập mà đưa nó vào trong tổng thể của xã hội, liên hệ chặt chẽ với chính trị, kinh tế văn hóa, nhất là miêu tả con người hoạt động như thế nào trong đó, như quyết sách, dùng người, đấu tranh v.v... như vậy lại càng phản ánh tốt hơn bộ mặt đầy đủ của chiến tranh và càng đi sâu vào vạch trần một cách rõ ràng bản chất và quy luật của chiến tranh, cho nên mới có cái vinh dự là cuốn binh thư sống. Nếu nói riêng về mặt này, nó đứng trên mọi cuốn binh thư khác.

Bởi vậy có nhiều lãnh tụ khởi nghĩa của nông dân như Lý Tự Thành, Trương Hiến Trung, Hồng Tú Toàn v.v... đều nhờ đó mà chỉ đạo chiến tranh. Bọn thống trị nhà Thanh chính đã nhờ cuốn binh thư sống này mà lấy được giang sơn và quyết định là cuốn sách mà tướng lĩnh buộc phải đọc.

Nguyễn Bá Thính dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.