Tinh Hoa Mưu Trí Trong Tam Quốc

Lượt đọc: 291 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TÁC PHẨM NỔI TIẾNG VIẾT RA BẰNG TRÍ TUỆ NHIỀU NGƯỜI

❊ ❊ ❊

Tam quốc diễn nghĩa không phải thành sách bởi một người, một lúc, mà là sự sáng tác tập thể của quần chúng nhân dân. Cuối đời Đông Hán, anh hùng hào kiệt nổi dậy khắp nơi, chinh chiến liên miên, thời gian dài tới gần trăm năm: tính từ ngày Ngụy, Thục, Ngô lập nước cũng gần nửa thế kỷ. Do câu chuyện Tam quốc rất hay và phong phú, nó không hề mai một đi do ba nước đều quy phục nước Tấn, mà trong dân gian nó còn được lưu truyền rộng rãi, sự tích của nhiều nhân vật anh hùng, càng thấy hấp dẫn, và mọi người càng trở nên khâm phục và tưởng nhớ họ. Trong quá trình lưu truyền câu chuyện, họ không ngừng tô vẽ thêm vào. Đối với những nhân vật phản diện thì lại hết sức căm ghét, không ngừng bôi nhọ thêm. Đồng thời với việc đó, dã sử do văn nhân viết ra cũng đã từng ghi chép rất nhiều những mẩu chuyện đặc sắc trong Tam quốc. Được biết thời Ngụy Tấn có hơn 200 bản. Thời Tống đã có những người chuyên đi kể chuyện theo sách. Đến đời Nguyên đã xuất bản cuốn Toàn tướng Tam quốc chí bình thoại, có thể là theo những chuyện kể đó, đồng thời cũng xuất hiện những vở hát liên quan đến chuyện Tam Quốc như Tế phong, Khóc Chu Du, Ngũ trượng nguyên, Tam anh chiến Lã Bố v.v... La Quán Trung sống vào đời Nguyên đầu đời Minh, có chí đồ vương, trên cơ sở các bậc tiền nhân đã gia công sáng tác chuyện Tam Quốc, lấy Tam quốc chí của Trần Thọ văn thực lịch sử của Bùi chú làm nòng cốt, tham khảo thêm Toàn tướng Tam quốc chí bình thoại về mặt kết cấu, hấp thụ những tinh hoa của dã sử, kịch hát, truyền thuyết, truyện kể v.v… đã viết nên cuốn Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa. Đến đời nhà Thanh, qua sự sửa chữa của Mao Tôn Cương, cuối cùng mới xác định ra một bản nháp, tên sách được đổi là Tam quốc diễn nghĩa. Điều đó nói lên rằng sự hình thành của Tam quốc diễn nghĩa đã trải qua ba giai đoạn là thai nghén, sáng tác, định hình. Thời gian từ việc lưu truyền chuyện Tam quốc đến đời nhà Thanh, dài khoảng hơn 1000 năm, tham gia sáng tác gồm người đi kể chuyện, nhà soạn kịch hát và văn, ngoài ra còn người gia công câu chuyện trong dân gian. Cuốn Tam quốc diễn nghĩa nổi tiếng và bất hủ quả đúng là được viết nên bởi trí tuệ rất nhiều người.

Chuyện trong Tam quốc diễn nghĩa viết ra là cả một thời xáo động lớn gần một thế kỷ, nó đụng chạm đến các lĩnh vực xã hội, phản ánh lên các loại mâu thuẫn hết sức gay gắt và phức tạp của xã hội phong kiến, nhào nặn lên những nhân vật lịch sử sinh động như đang còn sống, tái hiện lên vô số những cuộc chiến đấu cổ đại kinh hồn bạt vía. Một tác phẩm dài và đồ sộ như thế, nếu không tập trung suy nghĩ đến lợi ích rộng rãi, vay mượn kinh nghiệm và thành quả của tiền nhân, mà chỉ dựa vào sự hư cấu của cá nhân, quả thực là không thể hình dung nổi. Các loại hình chiến đấu trong Tam quốc diễn nghĩa đều lấy Binh pháp Tôn Tử làm tư tưởng chỉ đạo nhuần nhuyễn lý luận nhà binh cổ xưa, hóa thân những chiến dịch nổi tiếng trong sử sách vào trong đó, kết hợp với thực tế chiến tranh thời Tam quốc mà viết nên. Những việc như đánh vào lòng người, đánh vào ngoại giao, liệu địch, ứng biến, tạo thế, lừa dụ dùng thuật v.v… của binh pháp cổ đại, trong Tam quốc diễn nghĩa đều được cụ thể hóa, hình tượng hóa. Lại như những kế như “mỹ nhân kế”, “mượn đường phạt Quắc”, v.v... trong ba mươi sáu kế”, rồi kế “mai phục bốn phía” của Hàn Tín, kế “thêm bếp để lui quân” của Ngu Phiên v.v... đều được Tam quốc diễn nghĩa lấy làm nguyên mẫu rồi tái tạo lại và vận dụng. Nhưng nó không phải là bê nguyên xi, mà cải tạo đi để áp dụng vào những chiến dịch được tái hiện, bởi vậy mà nó trở nên tươi mới, sinh động. Điều được chú trọng miêu tả vẫn là cuộc chiến tranh thời Tam quốc, như trận Xích Bích chẳng hạn, được tả một cách hùng tráng bao la, màu sắc lung linh biết bao nhiêu! Mà việc đó chủ yếu là nhờ vào sự hư cấu tài tình của tác giả. Hoặc như chiến thuật “giương đông kích tây” mà Tào Tháo giải vây ở Bạch Mã cũng như Tư Mã Ý dẹp phản loạn Công Tôn Khang đã áp dụng, rồi kế “Vội thì hợp, chậm thì ly” mà Quách Gia hiến ra khi bình định Ký Châu, Liêu Đông... đều thể hiện lên trí tuệ ghê gớm của các nhà mưu lược quân sự thời Tam quốc. Trong việc nhào nặn các nhân vật, có những hình tượng các nhân vật bất hủ cũng được hình thành trong quá trình không ngừng gia công. Chẳng hạn như việc nhào nặn hình tượng Gia Cát Lượng là như vậy. Từ đời Nguyên đã có những vở kịch về Gia Cát Lượng, như “Gia Cát Luận công”, “Hoàng hạc lâu”, “Ngũ trượng nguyên” v.v... Trong Toàn tướng Tam quốc chí bình thoại cũng viết về Gia Cát nhiều nhất. La Quán Trung khi xây dựng hình tượng Gia Cát, hiển nhiên là hấp thụ những tố chất nói trên rồi sáng tạo thêm. Như chuyện Tam cố thảo lư những chuyện trước tả rất sơ sài, lại còn nói ông ta là thần tiên, nên khi đọc khiến người ta mất thú. Đến Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa đã lôi ông ta trở lại trần gian, lấy hư tả thực, bằng thủ pháp “vén mây đè gió”, tả hình tượng lớn lao của Gia Cát Lượng và trạng thái tâm tư khao khát cầu hiến của Lưu Bị rất sinh động và hấp dẫn, làm cho chuyện Tam cố thảo lư (ba lần đến lều cỏ) thành một điển hình của việc cần biến thành một thiên tuyệt tác lưu truyền muôn đời. Thế nhưng, hình tượng Gia Cát còn chưa toàn thiện toàn mỹ, ngoài sự có phần “gần với yêu quái”, ở một số chỗ cá biệt khi miêu tả vẫn tồn tại những thiếu sót lớn như tả Gia Cát cho rằng sau gáy của Ngụy Diên có cái “xương ngược”, dụ cho Ngụy Diên cùng Tư Mã Ý lọt vào rồi định thiêu chết họ ở lũng Hồ Lô, Ngụy Diên thoát được ra rồi, Gia Cát lại giá hoạ cho Dương Nghi để tăng thêm mâu thuẫn giữa hai người. Đối với cách miêu tả như thế, trong Tam quốc diễn nghĩa do Mao Tôn Cương sửa chữa lại đã lược bỏ đi, như thế mới không làm cho Gia Cát từ người khôn ngoan mưu trí biến thành kẻ gian xảo, giữ được hình tượng cao đẹp của Gia Cát Lương. Việc xây dựng những điển hình khác, như điệu bộ của A Đẩu sau khi đầu hàng, lúc tham gia bữa tiệc do Tư Mã Chiêu mở ra ở nước Ngụy, xem điệu múa nước Ngụy, nghe nhạc nước Thục mà hoa chân múa tay “vui đến mức không còn nhớ nước Thục” cũng như các ngón trò biểu diễn đặc sắc của gian hùng Tào Tháo... những chất liệu đều được lấy từ truyền thuyết, kịch hát, chính sử, dã sử rồi phô diễn, thêm thắt, cải tạo thêm. Có thể nói những tình tiết đặc sắc và hình tượng điển hình bất hủ trong Tam quốc diễn nghĩa đều được hình thành nhờ trí tuệ của một tập thể người.

Sự hội tụ của trí tuệ cổ đại

Nền văn hóa rực rỡ, huy hoàng hơn 4000 năm của Trung Quốc, đã chói ngời lên trí tuệ của lớp lớp tổ tiên của chúng ta. Tam quốc diễn nghĩa chính là sự tập hợp mọi trí tuệ cổ đại rồi thể hiện lên những nhân vật chính được xây dựng. Trí tuệ đó không phải chỉ tập trung ở một vai nhân vật cá biệt, mà thể hiện trên nhiều nhân vật khác. Trước đây có người cho rằng Gia Cát Lượng là hóa thân trí tuệ trong Tam quốc diễn nghĩa, như vậy chưa đầy đủ lắm, nói cái đó biểu hiện trên con người ông ta tương đối nhiều thì có thể được, nhưng không thể nói chỉ một mình ông ta khôn ngoan còn phần lớn người khác đều ngu. Nếu như thế bộ sách đó sẽ không thể hấp dẫn người ta đến thế. Chính vì ba nước Ngụy, Thục, Ngô đều vốn có rất nhiều nhân tài, tức là đông đảo người khôn ngoan như Tào Tháo, Tư Mã Ý, Quách Gia, Trình Dục, Giả Hủ... của nước Ngụy; Lưu Bị, Gia Cát Lượng, Bàng Thống, Khương Duy, Tưởng Uyển, Phí Vĩ của nước Thục; Tôn Quyền, Chu Du, Lỗ Túc, Lã Mông, Lục Tốn của nước Ngô, họ đều là người khôn ngoan, nhưng mỗi người đều có mặt hay mặt dở, cái đó làm cho sự đấu trí so tài đôi bên mới có thua có thắng, mới thu hút được người ta, để mỗi khi nói đến những chỗ đặc sắc, không nhịn được mà phải vỗ đùi khen hay. “Đánh vào lòng người là thượng sách”, mà mức độ cao nhất của cách đánh vào lòng người là thứ quân không đánh mà khuất phục được người khác. Chúng ta không thể nói chỉ có Gia Cát Lượng mới biết vận dụng cách đánh tuyệt vời này mà “bảy lần bắt bảy lần thả Mạnh Hoạch” của ông ta là khúc tuyệt hay của cách đánh vào lòng người, một khúc có thể xứng đáng là tuyệt hay của cách đánh vào lòng người nữa lại là Lã Mông tập kích Kinh Châu bắt Quan Vũ. Gia Cát Lượng bình định phương nam lấy “đánh vào lòng người” là thượng sách, tuy có đạt được hiệu quả tốt nhất, cho rằng người phương nam không quay trở lại được, nhưng sau khi hai bên lại đọ sức và chiến đấu với nhau, người chết không phải ít, như thế không thể nói là thứ quân không đánh mà làm người khác thua. Lã Mông tập kích Kinh Châu, trước hết dùng đủ loại mưu kế để Quan Vũ lơ là trễ nải, tập trung lực lượng vây thành mà không phải lo lắng gì, không cần một tên lính, áo trắng đánh úp Kinh Châu. Vào Kinh Châu rồi, giữ nghiêm kỷ luật quân đội và an ủi, bảo hộ cho các gia đình những tướng sĩ đã xuất chinh theo Quan Vũ, để làm rệu rã lòng quân lính. Đến khi Quan Vũ – một người từng nổi tiếng lấy thiện đối xử với quân lính, trên đường về, do quân tâm đã ly tán, chẳng đánh cũng tan, rồi mãnh tướng Quan Vũ có bản lĩnh “địch vạn người” cuối cùng phải bị bắt, đó mới đúng là thứ quân không đánh mà làm người khác thua. Đối với Lưu Bị, Tôn Quyền, các nhà nghiên cứu trước đây cũng không xếp họ vào hàng những người khôn ngoan, kỳ thực Lưu Bị là một đại sư trong việc đánh vào lòng người. Những việc vứt A Đẩu, bày trò nhảy sông, bỏ Từ Châu, khiến chư tướng v.v... đều là sự đánh vào lòng người rất khéo léo, cho nên đều đạt hiệu quả tốt đẹp nhất, có tác dụng rất quan trọng trong việc xây dựng cơ nghiệp. Tôn Quyền dùng người sáng suốt, rất giỏi trong việc chọn tướng, dùng tướng, không phải tự mình ra quân mà tin thắng trận báo về dồn dập, một thống soái không sáng suốt không thể như vậy được. Đến Tào Tháo nổi tiếng với hùng tài đại lược, Trương Tú từng gần như đưa vào chỗ chết, giết con cả, cháu trai và ái tướng, nhưng Tào Tháo đã xuất phát từ toàn cục, đã quên thù sâu hận lớn, biết tính toán kỹ, thu hàng được Trương Tú và kết nên tình thân gia với con cái. Người không khôn ngoan không làm được như thế!

Nghệ thuật dùng người trong Tam quốc diễn nghĩa cũng là sự thể hiện trí tuệ cổ đại của nước ta, khi kể lại nguyên nhân hưng vong của Tam quốc không ai là không quy về cho việc có biết dùng người hay không, nó nói lên rằng việc dùng người quan trọng đến chừng nào. Việc dùng người trong Tam quốc cũng từng người có mặt yếu mặt mạnh, như “sáng suốt ở chỗ biết người” của Lưu Bị, sách lược “tài đức song toàn” của Khổng Minh và “có tài là cất nhắc” của Tào Tháo, “nghi thì không dùng, dùng thì không nghi” của Tôn Quyền. Họ vừa có những đặc điểm khác nhau trong cách dùng người, cũng có những điểm giống nhau, tức là không xếp theo thứ tự như cũ, mà là phá cách dùng người. Bất kể thân hay sơ, thưởng phạt rõ ràng và mỗi người trong họ còn có thuật chế ngự con người rất khéo léo v.v...

Trí tuệ trong Tam quốc diễn nghĩa còn thể hiện trong khai thác và sáng tạo nghệ thuật, như dùng phép biện chứng của cái đẹp để xây dựng nhân vật điển hình, và có thể từ trong phát triển, so sánh, mâu thuẫn... khắc họa nên tính cách của nhân vật. Về mặt kết cấu đã sắp đặt tình tiết câu chuyện cho có đầu có cuối, đan xen lẫn nhau để thành một thể hoàn chỉnh hết sức đẹp và khéo léo. Lại còn ý thơ ý họa của nó trong tạo hình, trữ tình, tả cảnh đều có sự gợi mở và ảnh hưởng đối với sáng tác văn học sau này. Thành quả nghệ thuật từ nhiều phía nói trên trong “Tam quốc diễn nghĩa” hiển nhiên là sáng tạo trí tuệ của một tập thể tác giả.

Vốn có nhiều tác dụng, để vay mượn

Trí tuệ, tài trí, mưu trí là những từ đồng nghĩa, là từ chỉ khả năng nhận thức, phân tách, phán đoán, xử lý và phát minh sáng tạo đối với sự vật. Trước khi có năng lực đó, một thời gian rất dài, con người là nô lệ của tự nhiên. Có được khả năng ấy, con người mới dần dần làm chủ thiên nhiên, mới đổi đất thay trời được. Con người cổ đại của chúng ta sớm đã nhận thức được tác dụng to lớn của trí tuệ. Hạng Vũ bản kỷ có ghi chép lại rằng Hạng Vũ và Lưu Bang cầm cự với nhau ở Quảng Vũ, Hạng Vũ đòi đấu sức với Lưu Bang để quyết một phen sống mái. Lưu Bang cười và nói rằng: “Ta chỉ có thể đấu trí, không thể đấu sức.” Kết quả là Lưu Bang giỏi đấu trí cuối cùng đã thắng Hạng Vũ, người “có sức bạt núi”, uy dũng lừng lẫy ba quân. Cuốn Hoài nam tử chủ thuật huấn xuất bản thời Tây Hán cũng nói “làm bằng trí tuệ nhiều người, không việc gì không thành”. Mới hay rằng, trí tuệ quả là cái gốc của thắng lợi hoặc thành công.

Có trí tuệ, tất có thể nhận thức đúng đắn hoặc phản ánh chính xác quy luật khách quan, những việc đã làm, có thể thành công; ngược lại, sẽ gặp phải khó khăn trở ngại hoặc là thất bại, và như thế không thể gọi là trí tuệ, khôn ngoan được. Trí tuệ hay trí khôn có nhiều loại, có loại có thể phản ánh chính xác quy luật chung của sự vật; có loại có thể phản ánh chính xác quy luật chung của những sự vật giống nhau; có loại có thể phản ánh chính xác quy luật của sự vật nhất định. Bởi vậy, có thể vận dụng trí tuệ cổ đại một cách tương ứng và thực sự cầu thị, sẽ có tác dụng có ích với sự nghiệp của chúng ta.

Có rất nhiều mưu lược trong Tam quốc diễn nghĩa, tuy là ứng dụng trong chiến tranh, nhưng đều có thể vận dụng vào mọi cuộc đấu tranh hoặc cạnh tranh trong xã hội, tức là bao gồm cả những cuộc tranh chấp trong chính trị, kinh tế, ngoại giao cho đến việc tranh chấp giữa các nước với nhau. “Biết người biết mình, trăm trận trăm thắng” là xuất xứ từ “binh pháp Tôn Tử”, nhưng Tam quốc diễn nghĩa vận dụng vào cuộc chính chiến giữa ba nước là có sự phát triển thêm. Mao Tôn Cương đã bình luận như sau về cuộc đấu tranh giữa Đặng Ngải và Khương Duy (hồi 100): “Biết mình mà không biết người, mới chỉ biết được mình, chưa thể gọi thế là biết mình. Biết người mà không biết mình mà cho rằng mình biết người, không thể gọi thế là biết người.” Lời bình đó nói lên rằng Tam quốc diễn nghĩa không phải bê nguyên xi binh pháp của Tôn Tử, mà là có sáng tạo. “Biết người biết mình” của Tôn Tử, chỉ nói về một mặt rằng chỉ có anh “biết mình biết người”, mà đối phương không biết mình không biết người, đương nhiên anh sẽ “trăm trận trăm thắng”. Nếu như đối phương cũng “biết mình biết người”, thì anh chưa hẳn đã “trăm trận trăm thắng” được. Nếu như biết mình, lại có thể lường được người có biết mình hay không; biết người lại có thể biết người có thể lường được mình biết người, như thế mới có thể áp dụng đối sách không sơ hở chỗ nào, mới “bách chiến bách thắng” được. Tam quốc chí còn vận dụng những mưu trí như “đánh vào lòng người”, “tránh thực đánh hư”, “giương đông kích tây”, “đi trước một bước”, “tùy cơ ứng biến” v.v... vào cuộc chiến tranh của ba nước, nhưng kể lại một cách sinh động hơn, làm cho những binh pháp cổ đại đó được hình tượng hóa, cụ thể hóa, làm cho người ta dễ hiểu và dễ vay mượn. Nếu như không biết hấp thu những mưu trí đó thì không có thể nói đến việc cạnh tranh hoặc đấu tranh.

Có nhiều học giả trong nước và nước ngoài đã dự đoán rằng: đến thế kỷ 21, những tiểu thuyết cổ điển của Trung Quốc được khiến thế giới quan tâm, không phải không có Tam quốc diễn nghĩa, nhất là việc nghiên cứu ứng dụng nó. Đó có phải là một dự đoán khoa học không, hay là lời nói quá đáng, việc ấy phải chờ đến thế kỷ 21 mới rõ được.

Nhưng điều có thể khẳng định được là, Tam quốc diễn nghĩa không chỉ là của Trung Quốc, mà còn là của thế giới, trí tuệ của dân tộc Trung Hoa sẽ được phát huy rộng rãi hơn trong cạnh tranh quốc tế.

Nguyễn Bá Thính dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.