Trong Tam quốc chí – Thục Thư – Gia Cát Lượng truyện, Trần Thọ nói: “Gia Cát Lượng là bậc tướng quốc, biết thương dân, không màng quan chức, biết theo quyền chế, mở lòng thành, ưa công bằng; người tận trung làm việc ích tuy có thù cũng thưởng, kẻ phạm pháp trễ nải dù có thân cũng phạt, kẻ biết tội mà ăn năn dẫu nặng cùng tha, cố che giấu trốn tránh dù nhẹ cũng giết; Thiện thì không có gì nhỏ mà không thưởng, ác thì không có tơ tóc nào mà bỏ qua, rèn luyện qua công việc, tùy chức mà xem thực lực, giả dối coi khinh. Cuối cùng ở trong nước ai cũng sợ nhưng lại mến, về hình sự thì mọi người nghiêm mà không oán, bình thường chỉ bình tâm mà khuyên giải...” Một người chấp pháp lớn lao thế, sợ là tất nhiên rồi, còn yêu thì ít thấy; người nào chấp pháp nghiêm ngặt, bị ghét thường nhiều hơn, không thù oán cũng hiếm thấy. Thế mà chấp pháp nghiêm như Gia Cát Lượng, lại được người sợ mà vẫn yêu. Người chịu hình phạt mà không oán, Trần Thọ cho đó là do “bình thường bình tâm mà khuyên giải”. Nhưng tôi lại cho rằng: Gia Cát Lượng sở dĩ làm được như thế vì ông không vì tình mà làm hư pháp luật, chấp pháp không quên tình.
Không vì tình làm hư hỏng pháp luật
Gia Cát Lượng không vì tình mà làm hỏng pháp luật, chém Mã Tốc là một thí dụ điển hình. Mã Tốc là con của Mã Lương, em nuôi cũng là bà con của Gia Cát Lượng. Ngay từ đầu quan hệ giữa hai người đã có chỗ khác người. Trên đường Gia Cát Lượng đánh xuống phía Nam, Mã Tốc nhận lệnh vua đến úy lạo quân sĩ, vì Gia Cát Lượng phục tài nên Mã Tốc tuy là lớp hậu sinh, ông vẫn khiêm tốn hỏi: “Ta phụng chiếu thiên tử, đi dẹp man phương; vốn nghe trẻ thường cao kiến, mong được nghe lời chỉ dạy”. Mã Tốc nói: “Mấy điều ngu ý mong thừa tướng xem xét: Nam man ỷ vào ở xa, núi hiểm, bất phục đã lâu; có phá được hôm nay, ngày mai chúng lại sống lại. Đại quân của thừa tướng đến đó tất nhiên là dẹp được, những ngày ra quân, phải dùng quân ấy đánh Tào Phi, Man binh nếu thấy bên trong đã trống rỗng rồi, thì chống lại chúng cũng rất nhanh. Đạo lý của người dùng binh là: Đánh vào lòng người là chính, đánh thành là phụ, đánh bằng tâm trí là chính, đánh bằng binh lính là phụ. Mong thừa tướng hãy nghĩ cho đủ về chữ tâm”. Gia Cát Lượng chấp nhận sách lược này bảy lần bắt bảy lần thả Mạnh Hoạch để thu phục nhân tâm. Cho nên suốt đời Gia Cát Lượng, người phía Nam không nổi dậy thêm nữa, làm cho nhà Thục Hán từ đó trở đi không còn phải bận lòng suy nghĩ, có tác dụng lớn lao trong việc ổn định hậu phương, chi viện cho cuộc Bắc phạt. Mã Tốc tuy nhiều mưu kế, Gia Cát Lượng “càng thêm vì nể” con người này cũng không phải không có căn cứ. Thế nhưng cách nhìn của Lưu Bị với Mã Tốc thì lại hoàn toàn trái ngược. Trước lúc chết, ông đã nói nhiều với Gia Cát Lượng về Mã Tốc, và hỏi Gia Cát Lượng: “Thừa tướng thấy tài của Mã Tốc thế nào?” Gia Cát Lượng nói: “Người này là anh tài của thời nay!” Lưu Bị nói: “Chưa hẳn thế đâu, Trẫm thấy người này, lời nói quá với thực tế, không thể trọng dụng được, thừa tướng hãy quan sát sâu hơn nữa xem.” Trước phút lâm nguy, Lưu Bị đã nói những lời đó với vị đại thần là Gia Cát Lượng, nói lên rằng việc này Lưu Bị không coi là nhỏ, ông biết Gia Cát Lượng rất coi trọng Mã Tốc, tất sẽ trọng dụng, mà trọng dụng thì sẽ hỏng việc lớn. Lưu Bị nhìn ra Mã Tốc “lời nói quá với thực tế” và cho rằng “không thể trọng dụng” mà Gia Cát Lượng hàng ngày cộng sự với Mã Tốc lại không phát hiện ra cái khuyết điểm quan trọng này, còn trọng dụng người này. Thế là tại sao? Việc này có liên quan đến sự từng trải của Gia Cát Lượng và Lưu Bị cũng như cảm tình khác nhau của hai người với Mã Tốc. Lưu Bị cả đời huyết chiến nơi sa trường, tài trí của ông có được là qua thực tế chiến đấu. Nghe những lời nói suông của Mã Tốc “gặm” từ trong binh thư ra, không phù hợp với thực tế chiến đấu, và phát hiện ra “lời nói quá với thực tế”. Khi Lưu Bị còn sống, Gia Cát Lượng chủ yếu là vạch ra những quyết sách và quản lý nội chính, kinh nghiệm thực chiến không phong phú lắm cho nên một lúc không thể nhìn ra Mã Tốc là “ba hoa chích chòe”. Về mặt tình cảm, Lưu Bị với Mã Tốc quan hệ nhạt nhẽo hơn, cho nên khi nhìn nhận không bị tình cảm chế ước; Gia Cát Lượng và Mã Tốc “như cha con” nên đã phục tài, nên hy vọng cũng nhiều và sự gửi gắm ở con người này cũng nhiều, vào lúc đó, có thể coi Mã Tốc như một người mà ông định bồi dưỡng thành người thừa kế. Tình cảm như một cái màng che mắt khiến người ta không nhìn ra diện mạo của đối phương, cho nên việc ông giao cho Mã Tốc giữ Nhai Đình cũng là điều dễ hiểu. Mã Tốc đánh nhau với Tư Mã Ý ở Nhai Đình, vì thiếu kinh nghiệm thực tế chiến đấu, không xuất phát từ thực tế, mà là bê nguyên xi binh pháp, bỏ nước mà lên núi, Vương Bình can gián mãi không nghe, cuối cùng bị Tư Mã Ý đánh tan, thua to phải bỏ chạy. Gia Cát Lượng tiến vào không có chỗ dựa, buộc phải rút quân, đâu có biết quân của Tư Mã Ý đột nhiên ào đến, nếu không dùng “không thành kế” thì hầu như bị bắt. Lúc đó Gia Cát Lượng mới hối hận mình không biết nhìn người, nhưng đã chậm mất rồi. Lần này ra khỏi Kỳ Sơn, quân Thục lên tiếng đánh được người khác, thắng ngay trận đầu, lấy luôn ba quận, có nhiều hy vọng sẽ chiến thắng, thế mà do mất Nhai Đình nên ngoài việc rút quân về Hán Trung ra chẳng còn đường nào thoát. Việc mất Nhai Đình, Gia Cát Lượng sai lầm ở chỗ dùng Mã Tốc chỉ biết đánh giặc trên giấy, còn Mã Tốc thì đi ngược và vi phạm sự bố trí quân sự của Gia Cát Lượng, hẳn phải chịu trách nhiệm chính. Cho nên, không xử lý Mã Tốc thì không thu phục được người khác, khó mà trị quân, đối với Gia Cát Lượng, đây là một việc hết sức đau lòng. Với việc Gia Cát Lượng chém Mã Tốc, Tưởng Uyển phản đối rằng: “Xưa nước Sở giết Đắc Thần thì Văn công mừng. Nay thiên hạ còn chưa ổn định mà đem giết kẻ mưu sĩ, có đáng tiếc hay không?” Gia Cát Lượng rơi nước mắt đáp rằng: “Xưa Tôn Vũ sở dĩ thắng được thiên hạ là do dùng pháp rất minh. Nay bốn phương phân tranh, mới bước vào trận đánh, nếu như làm hỏng luật pháp, thì liệu còn đánh được giặc không? Cho nên phải chém.” Sau khi Mã Tốc bị chém, Gia Cát Lượng khóc than mãi, rồi tự mình làm lễ tế, chu cấp tiền tài cho gia đình Mã Tốc, mỗi tháng còn cấp lộc bằng gạo cho. Gia Cát Lượng cũng không dễ dãi với mình, ông dâng biểu xin giáng quan ba cấp.
Chấp pháp không quên tình
Đối với những người phạm tội, Gia Cát Lượng có thể trị bằng pháp luật, tác động bằng tình cảm, tức là chấp pháp mà không quên tình, khiến cho người phạm tội phục trong lòng mà không oán giận.
Lý Nghiêm (sau đổi tên là Lý Bình) là cựu bộ của Lưu Chương, lúc Lưu Bị vào đất Thục thì quy hàng, sau do dẹp phản loạn có công, được phong chức thượng thư lệnh. Lúc lâm nguy, Lưu Bị để di chúc nhờ Gia Cát Lượng và Lý Nghiêm phò hậu Chúa. Để đoàn kết đối địch, Gia Cát Lượng rất tôn trọng ông, nhưng đối với người, Lý Nghiêm lại mưu mô tư lợi, thích chơi trò bắt cá hai tay. Mùa xuân năm Kiến Hưng thứ 9, Gia Cát Lượng xuất quân ở Kỳ Sơn, Lý Nghiêm phụ trách đôn đốc lương thảo. Do chở lương thực không kịp, sợ Gia Cát Lượng bắt tội, bèn loan báo tình hình quân đội để cáo cấp, nói quân Đông Ngô sẽ tiến vào Tứ Xuyên, yêu cầu Gia Cát Lượng kéo quân về. Để che đậy lỗi lầm của mình, lại tâu bậy lên với hậu chúa: “Thần đã chuẩn bị quân lương, đưa đến kho quân của thừa tướng, không biết làm sao thừa tướng lại rút quân về”. Sau khi Gia Cát Lượng về Thành Đô hỏi biết được việc này rất bực mình, nói: “Kẻ thất phu chỉ vì bản thân mình, mà hỏng cả việc lớn của đất nước.” Lệnh người triệu đến định đem chém, vì nghĩ rằng ông này cũng là bậc đại thần nên sau dâng biểu, phế xuống hàng thứ dân. Trong lịch sử, phàm những hàng đại thần mà nổi loạn, kẻ nào bại thường bị tru di tam tộc. Nhưng Gia Cát Lượng vẫn để Lý Nghiêm được sống sung túc, để người con ở lại phủ thừa tướng phong cho chức trung lương tham quân, và dạy dỗ rất chu đáo. Đối với một người phạm sai lầm nặng như vậy, mà lại giải quyết tình cảm như thế, để cho con họ được an ủi, để họ hối cải, đối với con họ còn động viên khích lệ để phấn đấu vươn lên, ý thành thực như thế, tình khẩn thiết như thế, chẳng lẽ cha con Lý Nghiêm lại không biết mang ơn mang đức. Lại như Liêu Lập, là người kiêu ngạo tự cho là Gia Cát Lượng thứ hai, mà lại chỉ xếp thứ vị ở dưới Lý Nghiêm, cho nên rất bất mãn, thường hay làm mình làm mẩy, kêu ca oán thán, gây nên một ảnh hưởng không tốt, bởi vậy Gia Cát Lượng cho rằng: “Cừu đã loạn bầy, rồi sẽ có hại, huống chi Lập lại ở một ngôi cao như thế, những người bên dưới nhìn lên sẽ thấy chính thành tà”, bèn phế Liêu Lập xuống hàng thứ dân. Nhưng Liêu Lập vốn kính trọng Gia Cát Lượng, đối với việc mình bị xử lý không hề có lời oán giận. Khi nghe tin Gia Cát Lượng ốm chết ở Ngũ Trượng Nguyên, đã khóc và nói: “Ta suốt đời làm giáng quan thôi!” Lý Nghiêm nghe được tin buồn này cũng khóc òa lên. Do cảm động quá, sinh bệnh mà chết. Có thể Lý Nghiêm, Liêu Lập đều tin Gia Cát Lượng sẽ lại thu phục họ, để mong bù đắp lại sai sót cũ, nếu Gia Cát Lượng chết rồi, người sau ông sẽ không dùng họ. Một người chấp pháp nghiêm minh, khiến kẻ bị xử lý không hề oán hận thật quả là khó. Cái chết của Gia Cát Lượng, khiến Liêu Lập rơi nước mắt, Lý Nghiêm đau buồn đến chết đó chẳng những là không oán giận mà còn là sự yêu mến vô cùng với Gia Cát Lượng nữa.
Trị quốc không thể không dùng đến pháp luật, Gia Cát Lượng trị loạn quốc dùng hình phạt nặng, uốn nắn lại trạng thái rối ren khi Lưu Chương trị nước Thục, khiến cho “quân dân yên tĩnh”. Nhưng điều đáng quý là ở chỗ pháp luật nghiêm mà dân không oán, dân sợ nhưng lại mến. Chúng ta biết mục đích chính của pháp trị là để giáo dục người khiến người người tuân theo pháp luật, bảo đảm cho quốc thái dân an. Về mặt này pháp trị của Gia Cát Lượng thu được hiệu quả tốt đẹp nhất. Sở dĩ được như vậy, như ở trên vừa nói, là do Gia Cát Lượng biết xử lý đúng mực quan hệ giữa tình và pháp, làm đến mức gắn tình với pháp, làm cho tình và pháp hòa quyện với nhau. Đó là nghệ thuật cao siêu nhất trong vận dụng luật pháp trị nước, là phép thực hành pháp trị hay nhất.