Lã Hảo Vấn Lã Công Tướng đang quét ngang trăm nhà như cuốn chiếu.
Nghỉ Tết bảy ngày, vốn chỉ nên có mồng một Tết, cũng chính là ngày mồng hai bị sao chép ra một kỳ Để Báo mà thôi. Nhưng hiển nhiên, Lã Công Tướng là có chuẩn bị mà đến, hơn nữa còn nhận được sự ủng hộ hết mình của Triệu Quan Gia... Mấy ngày tiếp theo, Để Báo liên tục không ngừng, mỗi ngày đều phát một kỳ phụ san, vậy mà giống như trạng thái thời chiến năm ngoái.
Tuy nhiên, những kỳ phụ san này lại không hề có văn thư chính trị ghi chép, chỉ có hai tờ nhàn đàm cuối cùng như ngày thường, cho nên ở chốn phố phường Đông Kinh có cái tên lóng, gọi là 'Vui Bảy Ngày Tết'.
Hai tờ giấy lớn, một tờ chuyên viết 'Tây Du Hàng Yêu Tạp Ký', hiển nhiên đây là kết quả của việc có người nào đó vì ra sức ủng hộ Lã Công Tướng mà liên tục bạo canh; tờ còn lại chỉ viết những bài tạp văn linh tinh, nào là tiểu từ tiểu phú, nào là chuyện lạ thú vị, thậm chí có cả Phùng Ích Phùng Nhị Quan giới thiệu quán tương thịt muối nào ở Đông Kinh ngon nhất, đến mức trở thành cửa hàng được Quan Gia khâm định... Đương nhiên rồi, ai cũng biết, trên tờ giấy này, 'Nguyên Lý Học Khái Luận' của Lã Công Tướng mấy ngày liền sấm sét không dời mới là món chính thực sự.
Suốt năm sáu ngày, trong kỳ nghỉ, Lã Công Tướng từ khai thiên tịch địa nói đến cách vật trí tri, lại từ thuận nhân dục biện thiên lý nói đến công lợi thực dụng, cùng với cái gì tri hành hợp nhất, thực tiễn kiểm nghiệm hết thảy, cuối cùng còn không quên gượng ép nói mình là từ Vương Thư Vương có được cảm ngộ... Tóm lại, trong tình huống các danh nho khác căn bản không có cơ hội mở miệng, vị Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự này chính là thông qua loại thủ đoạn như gian lận này, rồi dưới sự giới thiệu đầy ẩn ý chính trị của người nào đó, dùng một loại tài nguyên tuyên truyền mà các học thuyết khác khó lòng sánh bẳng, bằng một phương thức vượt thời đại, cưỡng ép hoàn thành khái luận cho cái học thuyết quái thai chắp vá này.
Mà trong đó có điều hơi đáng nhắc tới là, tuy rằng Để Báo đã dùng thân phận chính thức tuyên bố tên học thuyết mới của Lã Công Tướng là Nguyên Lý Tân Học, Lã Công Tướng mấy ngày nay cũng đang làm 'Nguyên Lý Học Khái Luận', nhưng dân chúng và sĩ nhân vẫn dựa theo cách đặt tên như Khí Học, Tân Học, Lý Học, Quan Học Lạc Học gì đó, ban cho cái học thuyết rõ ràng là cưỡng ép chắp vá Tân Học của Thư Vương, Đạo Học của họ Lã lại thêm Tân Thiên Lý Luận này một cái tên đơn giản là 'Nguyên Học'.
Dù sao thì, bài văn hồi mồng ba Tết đã nói rồi, sau khi thiên địa kết thúc hỗn mang, rất nhanh thiên chi nguyên đã hình thành nguyên tử, rồi nguyên tử dựa theo thiên lý cấu thành những phân tử vật chất vi mô đặc thù, sau đó các phân tử tụ tập lại với nhau thành vạn vật trong trời đất... Nói cách khác, vạn vật trong trời đất đều là từ thiên chi nguyên trải qua nguyên tử, cái hạt cơ bản này cấu thành... Cách nói này đại khái là thứ duy nhất mà người thường có thể nghe hiểu được một chút.
Vậy gọi nó là Nguyên Học, cũng chính là Nguyên Học thôi.
Đương nhiên rồi, điều phải đến rồi sẽ đến, kỳ nghỉ bảy ngày kết thúc, Thanh Sơn tiên sinh Hồ An Quốc người vẫn không tìm được lối vào phụ san Để Báo kỳ nghỉ đã trực tiếp chặn cửa Hồng Lô tự, mà lúc này Hồ Thuyên, người đến làm việc đứng đắn, cũng không còn che đậy nữa, trái lại chủ động tiếp nhận bản thảo của Hồ An Quốc, và đảm bảo sẽ đăng bản thảo lên kỳ Để Báo sau.
Vả chăng, thuyết Ngũ Đức Luân Hồi, Thiên Nhân Cảm Ứng của Hán nho, từ góc độ chính trị mà nói, trải qua sự trùng kích của Phật giáo và Đạo giáo thời trung hậu kỳ nhà Đường, sự tẩy lễ tàn khốc của hiện thực Ngũ Đại tàn Đường, đến thời Tống Chân Tông phong thiện Thái Sơn về sau, về cơ bản đã đi đến cái chết về mặt chính trị; mà từ góc độ tư tưởng cũng vậy, đồng dạng từ Hàn Dũ trung Đường đã chứng kiến sự trùng kích của Phật giáo bắt đầu, tất cả những kẻ sĩ có tầm nhìn của Nho gia đều dần dần vứt bỏ cựu học của Hán nho, chuyển sang tìm kiếm một thứ Nho học mới, thích ứng với thời đại.
Nói trắng ra, tinh anh trong xã hội truyền thống Trung Quốc tuyệt đối không phải kẻ ngốc, Ngũ Đức Luân Hồi, Thiên Nhân Cảm Ứng cái bộ này rốt cuộc có được hay không, bọn họ thân là người trải qua, người thực tế chấp hành, làm sao có thể không rõ ràng? Không hiểu được?
Nhưng mấu chốt nằm ở chỗ, vấn đề xã hội bày ra đấy, Hán nho không được, Hán đại kinh học không được, ông phải đưa ra con đường mới mới được! Hơn nữa trải qua thời gian dài như vậy, Nho gia sớm đã hòa thành một thể với toàn bộ xã hội, đồng thời có được quyền uy không thể nghi ngờ về chính trị, điều này dẫn đến việc ông muốn cải cách cũng phải từ trong nội bộ Nho gia lục lọi, quay về kinh điển Nho gia để lục lọi.
Bằng không thì sao? Lột lớp vỏ Nho gia này ra, làm liệu pháp sốc?
Cho nên, đến đời Tống về sau, Phạm Trọng Yêm, Vương An Thạch, rồi Trương Tái, Nhị Trình, rồi đến những người như Hồ An Quốc hiện tại, kẻ nào có tư tưởng, là tinh anh xã hội, thì đều đang nghiên cứu vấn đề liên quan, thử đề xuất một thứ Tân Nho học để ứng phó vấn đề xã hội, tiện thể kế thừa cựu học thuật của Hán nho, tiếp tục duy trì thành quả văn hóa chính trị đại nhất thống của Trung Quốc.
Mà quay trở lại trước mắt, Lã Hảo Vấn đã bắt đầu cắn răng làm vị thánh Nguyên Học này, thì đã chuẩn bị xong việc bị hũ thuốc súng nổ cho đen thui đen thủi. Mà Hồ An Quốc, với tư cách là một vị đại nho đi xa nhất trong mối liên hệ kế thừa trước mắt, cũng là một danh gia Đạo học ở khoảng cách thể xác gần nhất trước mắt, sự phản kích của ông ta cũng là điều hầu như mọi người đều có thể dự liệu.
Hơn nữa không thể không thừa nhận, Hồ An Quốc với tư cách là chuyên gia cả đời nghiên cứu những vấn đề này, quả thực có thực học, vừa mở miệng đã từ góc độ học thuật của mình chỉ ra một vấn đề lớn của Nguyên học — Nguyên học của Lã Hảo Vấn không có khái niệm ‘Khí’, hay nói cách khác, Nguyên học của Lã Hảo Vấn từ căn bản không có vị trí cho ‘Khí’.
Phải biết rằng, học thuyết của chính Hồ An Quốc đặt mọi thứ lên Khí là có nguyên do, tuyệt không chỉ đơn thuần tiếp nhận vài quan điểm thần kỳ từ Trương Tái, Nhị Trình, rồi nhồi nhét vào đầu… Hầu như tất cả Đạo học gia đều nhấn mạnh khái niệm Khí, lý do quan trọng là Khí vốn vô hình, đồng thời tràn ngập toàn bộ thế giới, nhưng trớ trêu thay nó lại rõ ràng có thể được con người cảm nhận, hơn nữa còn có thể liên kết với chính con người thông qua hiện tượng hô hấp, từ đó ảnh hưởng đến hai khái niệm tư tưởng và đạo đức.
Nói cách khác, Khí là khái niệm trung gian được các nhà Đạo học, Lý học thời kỳ này tuyển chọn kỹ càng, dùng để liên kết tự nhiên giới với con người, sinh mệnh với phi sinh mệnh, hữu hình với vô hình, nội tại với ngoại tại — những khái niệm triết học phức tạp ấy; những thứ hư vô mờ mịt kia đều dùng hình thức Khí để chuyển hóa lẫn nhau.
Cho nên, tuy giữa các nhà có chút khác biệt về quan niệm, ví dụ như khái niệm Khí của Hồ An Quốc đặc biệt lớn hơn một chút, rộng hơn một chút, người khác có thể ít hơn một chút, nhưng bất luận thế nào, khái niệm ‘Khí’ này trong Đạo học đều có địa vị cơ sở cực kỳ quan trọng.
Còn Hồ An Quốc nói Nguyên học của Lã Hảo Vấn không giảng ‘Khí’, thực ra là đang nói Nguyên học của Lã Hảo Vấn chưa giải thích rõ được mối liên hệ căn bản giữa sinh mệnh, đạo đức và tự nhiên giới, chưa đem vạn vật vũ trụ cùng con người và những thứ Nho gia kia liên kết hữu cơ với nhau… Đây đương nhiên là trúng tim đen, một cước giẫm thẳng lên tử huyệt.
Nói thẳng ra, cái gì gọi là Nhân thân bổn vật?
Con người là thứ thần kỳ như thế, có thể có tư tưởng, có đạo đức, thế nào lại là vật? Ngươi nói vật tải thiên lý? Chẳng lẽ hòn đá cũng biết suy nghĩ?
Loại nghi vấn này, không chỉ riêng các chuyên gia như Hồ An Quốc mới có, người có chút kiến thức Nho học thông thường đều có. Nếu như không thể trực diện đánh bại đợt chất vấn này của Hồ An Quốc, thì Nguyên học này dù có nhờ vào sự thiên vị của Quan Gia và địa vị chính trị của Lã Hảo Vấn mà trở thành học thuyết chính thống, thì cùng lắm cũng chỉ là một cái Tân học của Thư Vương khác, không thể phát huy tác dụng thống nhất tư tưởng được. Lý học và Đạo học ở tầng dưới vẫn sẽ tự đi đường của mình, và cuối cùng chiếm cứ dòng chính.
Thế là, tháng giêng năm Kiến Viêm thứ năm, trong tình cảnh rất nhiều Soái thần ngoại địa và võ tướng mơ hồ chẳng hiểu gì, Để Báo bắt đầu dùng một hình thức đặc biệt — chỉ phát hành nội bộ trong kinh thành, tăng thêm một kỳ mỗi ngày — để trở thành chiến trường cho cuộc giao phong học thuật.
Mồng tám tết, việc cày cấy mùa xuân còn chưa bắt đầu, Để Báo đã chính thức đăng tải những công kích, chất vấn, ủng hộ và thảo luận của Hồ An Quốc cùng nhiều đại nho khác đối với ‘Nguyên học’. Trọn vẹn hai tờ giấy, không còn bài vở tạp nhạp nào khác.
Trong số đó, Hồ An Quốc vì trong bụng có hàng, văn khí liền mạch, cho nên là người có lực công kích nhất. Những người phản đối còn lại, đại khái là vì e ngại địa vị học thuật và chính trị của Lã Hảo Vấn, thêm vào đó dò xét thái độ của Triệu Quan Gia, nên không khỏi tỏ ra có chút cẩn trọng dè dặt.
Đối với việc này, Lã Công Tướng vẫn giữ được vẻ bình tĩnh và thong dong. Trong kỳ tăng san của Để Báo lần này, ông không để ý đến những tôm tép còn lại, cũng không nhằm vào bài viết dài của Hồ An Quốc mà tỉ mỉ bổ sung cho những khái niệm triết học phức tạp như tính mệnh đạo đức, nội tâm ngoại vật của mình để biện hộ cho Nguyên học. Trái ngược hẳn, vị Lã Hảo Vấn ngày thường ôn hòa chỉ dùng một giọng điệu khẳng định và bình thản, nói ra bản chất của ‘Khí’ trong Nguyên học.
Theo cách nói của ông, Khí cũng là một loại vật chất, hơn nữa chỉ là một loại vật chất. Nó ẩn chứa thiên lý là đúng, nhưng điều đó chẳng khác gì đá, trúc, nước, băng, đất! Còn sở dĩ con người cảm thấy nó đặc biệt, chẳng qua là vì con người ở trong Khí, như cá ở trong nước, rất khó phát giác thực thái vật chất của nó mà thôi.
Câu nói này, nhìn thì tưởng chỉ là dựa theo chất vấn của Hồ An Quốc mà qua loa gấp gáp bổ sung khái niệm ‘Khí’ trong Nguyên học, nhưng thực chất lại là lấy công làm thủ, và trực tiếp cắm thẳng vào trái tim của Hồ An Quốc cùng các phái hệ Đạo học khác… Bởi vì nếu Khí chỉ là một thứ vật chất phổ biến như nước, đất, thì học thuyết của những người này rốt cuộc tính là gì?
Mà điểm mấu chốt hơn là, từ góc độ truy cầu chân lý, Khí làm sao có thể là một loại vật chất giống như nước được? Hạo nhiên chính khí rõ ràng là một khái niệm đạo đức có được không?
Tóm lại, loại ngôn luận hoang đường này, lập tức chọc giận Hồ An Quốc và rất nhiều danh sĩ Đạo học khác trong kinh thành.
Dù gì, trước mắt mọi người xem như đều đang tìm tòi, nếu chỉ là thảo luận học thuật, có chút vấn đề nhỏ là có thể thương thảo tiếp. Nhưng vấn đề ở chỗ, Nguyên học của Lã Hảo Vấn rõ ràng là muốn nhận được sự ủng hộ của triều đình, sau đó thi hành ra thiên hạ. Mà nếu thiên hạ đều coi Khí là một loại vật chất bình thường, vậy học thuyết của nhà mình còn muốn hay không?
Hơn nữa vẫn là câu nói kia, Khí làm sao chỉ có thể là một loại vật? Nguyên học có sai lầm căn bản hoang đường như vậy, sao có thể trở thành học thuyết chính thống?
Vương An Thạch còn biết để trống một số vấn đề, đúng không?
Xét về tình lẫn lý, dù là muốn diệt trừ tà thuyết dị đoan, hay là cầu tự bảo toàn, cũng không thể để mặc cho cái nguyên học này cứ đường hoàng tiếp tục phát triển như vậy được.
Hoàn toàn có thể nói, lần luận chiến này, song phương chỉ vừa giao phong một hiệp, liền không còn đường thương lượng, lâm vào cảnh nước lửa khó dung rồi.
Thế là, ngay chiều hôm ấy, không đợi đến lúc đi nộp bài tranh luận, Hồ An Quốc trực tiếp dẫn theo hai giáo thụ Thái Học, bảy tám quan viên trung hạ tầng, năm sáu danh sĩ tại Kinh Thành, đều là thuộc đạo học nhất mạch, đến ngoài lầu Tuyên Đức, thỉnh cầu vào yết kiến thánh thượng.
Triệu Quan Gia đương nhiên vẫn hòa ái dễ gần như thường lệ, ngài trực tiếp sai Lam Khuê ra mặt, dẫn bọn Hồ An Quốc vào Hậu cung.
"Thần không biết Bệ hạ đang hành lễ canh xuân..." Đến Hậu cung, dẫu bọn Hồ An Quốc đang căm phẫn đầy ruột, nhưng sau khi thấy việc Triệu Quan Gia đang làm, vẫn thu lại hỏa khí, cung kính đối đáp.
"Không phải lễ canh xuân, canh xuân năm nay chắc còn phải mười mấy ngày nữa." Triệu Quan Gia mặc y phục ngắn gọn, vác thuổng sắt xoay người lại, mồ hôi hơi rịn ra, mà sau lưng ngài có đến trăm mười tên Nội Thị xắn tay áo, xắn ống quần đang lao động ở chỗ kia. "Trẫm đây là đang tuân theo lời dạy trong nguyên học của Lã Tướng Công, thực hành rồi kiểm chứng, để chứng minh đạo lý."
Nghe thấy lời này, những người đi cùng vốn đã cổ vũ dũng khí, trong lòng kinh hoàng, căn bản không dám lên tiếng, duy chỉ có Hồ An Quốc bình tĩnh quan sát thần sắc của Quan Gia một lượt, rồi bất ty bất kháng, thong dong hỏi lại: "Dám hỏi Quan Gia, đây là đang thực hành điều gì, chứng minh đạo lý gì?"
"Là như thế này." Triệu Cửu chống thuổng sắt, thản nhiên đối đáp. "Trẫm đọc sách Mạnh Tử, nói là bảy mươi tuổi mới được ăn thịt, bèn có chút nghi hoặc… Hồ khanh, khanh là đại nho nổi tiếng thiên hạ, khanh nói xem tại sao bảy mươi tuổi mới được ăn thịt?"
Hồ An Quốc hơi nhíu mày, nhưng vẫn nghiêm túc chắp tay đáp: “Quan Gia, câu này là có văn trước văn sau, nguyên văn là 'ngũ mẫu chi trạch, thụ chi dĩ tang, ngũ thập giả khả dĩ y bạch hĩ; kê đồn cẩu trệ chi súc, vô thất kỳ thì, thất thập giả khả dĩ thực nhục hĩ; bách mẫu chi điền, vật đoạt kỳ thì, sổ khẩu chi gia khả dĩ vô cơ hĩ'. Nói cách khác...”
"Nói cách khác, đây là nói một gia đình dựng nhà lập nghiệp trên mảnh đất năm mẫu, trong điều kiện không tính đến việc thu hoạch ngũ cốc từ trăm mẫu ruộng canh tác bên ngoài của gia đình, thì ngay trong khuôn viên nhà trồng dâu nuôi tằm, chăn nuôi gia súc, để đạt được tự cấp tự túc về vải vóc và thịt cá?" Triệu Cửu tiếp lời đối phương, nói thẳng luôn một mạch.
"Chính là ý đó." Hồ An Quốc cũng có chút thận trọng hơn.
"Trẫm không cho là vậy." Triệu Cửu lắc đầu đáp. "Trẫm cứ nghĩ mãi, một khuôn viên rộng năm mẫu mà chỉ làm được mức độ tự cấp tự túc đến thế thôi, thực có chút buồn cười… Cho nên trẫm muốn đích thân thử xem, xem có thể làm tốt hơn trong sách được không."
Hồ An Quốc tuyệt đối không phải là kẻ ‘khiến thiên tử xa rời nho giả’, ông ta không hề phản bác Triệu Cửu điều gì ngay tại chỗ, mà là nghiêm túc quan sát mức độ khai khẩn vùng đất hoang trong Hậu cung của Triệu Quan Gia một lượt, rồi chính sắc đối đáp: "Không biết Quan Gia muốn làm tốt hơn trong sách đến mức nào?"
"Trẫm đang nghĩ, có thể khiến cho trên dưới Đại Tống, mỗi người mỗi ngày đều được ăn hai lạng thịt hay không?" Triệu Cửu, dưới ánh mắt bất lực của bọn quan viên Nội thị tỉnh như Phùng Ích đứng sau lưng, và dưới cái nhìn ngơ ngác nhìn nhau của những danh gia đạo học đứng sau Hồ An Quốc, thốt ra một lời nói hoang đường đến cực điểm. "Hồ khanh thử nghĩ xem, nếu như mỗi người mỗi ngày đều được ăn hai lạng thịt, người người đều cường tráng lên, thì có phải sẽ không bị người Kim ức hiếp nữa không?"
Hồ An Quốc trầm mặc một lúc, chính sắc chắp tay đối đáp: "Vậy dám hỏi Quan Gia, chẳng hay Quan Gia định thực hành rồi kiểm chứng, để làm ra chứng minh ấy như thế nào đây?"
"Hồ khanh hãy xem." Triệu Cửu quay người chỉ vào mảnh đất hoang và đám người phía sau mà nói. "Trừ những người đi theo Lam đại quan, Phùng nhị quan có sai phái chính đáng ra, trong cung còn có hơn trăm Nội Thị, cung nữ nhàn rỗi, đều là những người cũ dần dần quay về trong một hai năm nay, chỉ cư trú nhàn tản khắp các nơi trong Hậu cung. Còn mảnh đất hoang trước đây là ao sen, vườn hoa này, ước chừng mười bốn mười lăm mẫu, chính là chỗ Ngự Hoa Viên trước khi Cấn Nhạc được xây dựng. Trẫm định dẫn những người này, dùng ngay chỗ đất chừng mười hai mười ba mẫu này, sửa sang ao cá, di thực cây dâu, nuôi gà nuôi vịt, lại tìm vài lão nông cẩn thận dẫn dắt chỉ dạy… Ngươi nói xem, nếu có thể dùng những chỗ đất ấy khiến cho mấy trăm miệng ăn trong cung mỗi người mỗi ngày, bất kể gà vịt cá, đều được ăn hai lạng thịt, thì có phải đủ để chứng minh rằng thiên hạ mà chăm chỉ làm, cũng có thể mỗi người mỗi ngày được hai lạng thịt không? Rồi mỗi người trở nên cường tráng?"
Hồ An Quốc lại trầm mặc giây lát, mới lên tiếng: "Quan Gia nếu làm được đến mức ấy, đương nhiên là đủ để chứng minh. Vả lại, đây là lời khuyên can của thánh nhân, đạo lý ‘Vương vô tội tuế’, Quan Gia muốn kiểm chứng, ai cũng không dám ngăn cản… Nhưng Quan Gia vốn là thiên tử, hoàng gia phải có uy nghi, có những việc không cần thiết phải làm ở trong cung, cũng không cần Quan Gia phải đích thân ra tay."
Triệu Cửu lắc đầu không ngừng: “Nếu không thể làm ở đây, cũng không tự tay làm, thì sao coi là thực nhi tiễn chi trong Nguyên học? Lại sao có thể khiến người tâm phục khẩu phục? Nên biết Lã Tướng Công mùng bốn Tết đã nói, thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm thiên lý. Còn về uy nghi hoàng gia, trách nhiệm thiên tử, Hồ khanh thực ra không cần để ý, trẫm chỉ đang làm thực tiễn thiên lý theo Nguyên học của Lã Tướng Công, một khi thành công, sẽ không tự mình dây dưa nữa… chút lao động này, Hồ khanh cứ coi là Kim nhân chưa diệt, trẫm mượn đó nằm gai nếm mật là được.”
Hồ An Quốc khẽ thở dài, nghĩ một lát, nhưng cũng chỉ đành cúi đầu: “Quan Gia chất phác nghiêm túc, lại thêm Hồ lỗ chưa diệt, thần không còn lời nào để nói, chỉ mong đừng làm lỡ chính sự.”
“Sao có thể chứ?” Có lẽ hơi lạnh, Triệu Cửu buông xẻng sắt, đi vào trong đình, nhưng giọng nói càng trở nên thờ ơ. “Từ Lã Công Tướng trở xuống, bốn vị tướng công Triệu Đỉnh, Trương Tuấn, Lưu Cấp, Trần Quy đều là lựa chọn nhất thời, các việc quốc gia chính vụ họ phần lớn đều xử lý thỏa đáng, trẫm hoàn toàn có thể thùy củng nhi trị, dù có chút tranh chấp, trẫm cũng chỉ là đến làm phán quyết mà thôi…”
Hồ An Quốc càng không nói được gì, hơn nữa ông ta cũng ý thức được không thể để vị Quan Gia này dắt mũi đi mãi, bởi vậy, sau khi suy nghĩ một chút, vị đại nho đương thời này trực tiếp bỏ qua những đề tài ấy, cứ đứng ngoài đình đi vào chính đề: “Quan Gia, thần nhận chức nhàn tại gia, không có triệu truyền vốn không nên tự tiện cầu kiến, nhưng hôm nay có một việc…”
“Trẫm biết, khí cũng là vật, người ta không cảm thấy, như cá không cảm thấy nước.” Triệu Cửu buột miệng nói. “Là việc này sao?”
“Chính là việc này.” Hồ An Quốc nghiêm sắc mặt nói. “Quan Gia, lời này hoang đường đến cực điểm!”
“Ngươi sao biết lời này hoang đường?” Triệu Cửu không chút khách khí.
“Khổng Tử nói, huyết khí phương cương; Mạnh Tử cũng nói, ngô thiện dưỡng hạo nhiên chi khí; đến cả Đạo gia cũng có thuyết tinh khí thần… có thể thấy đạo về khí, cùng tính mệnh, đạo đức liên quan, sao có thể chỉ là vật thực như nước?” Hồ An Quốc đương nhiên cũng buột miệng mà ra.
“Nhưng sao không phải các ngươi khúc giải ý của tiên thánh?” Triệu Cửu vẫn không ngừng lại nửa giây. “Trẫm nhớ lần đầu gặp Hồ khanh, khanh đã nói với trẫm, trẫm thế nào thế nào, thì có thể ra khí gì đó, khiến thiên hạ thế nào thế nào, còn một nhà nho thế nào thế nào, cũng có thể ra khí gì đó, khiến bản thân thế nào thế nào… nhưng trẫm đến giờ vẫn chưa thấy khí gì cả! Ngươi nếu bảo có, sao không thể thực nhi tiễn chi, như trẫm mở ao trồng lúa, phơi ra cho thiên hạ xem?”
“Quan Gia, thứ khí này vốn là vật huyền nhi hựu huyền, vô hình nhi tồn.” Hồ An Quốc nghiêm túc đáp. “Không phải thần không muốn vì Quan Gia biểu hiện, mà là học thuật của thần còn thiển cận, chỉ có thể cảm giác và tỉnh ngộ sự tồn tại của nó, lại không biết nên khiến nó hiện hình thế nào! Kỳ thực, khí của Quan Gia đã phát huy tác dụng, trận Nghiêu Sơn chính là minh chứng!”
Triệu Cửu gật đầu, trong chốc lát tỉnh ngộ: “Trẫm hiểu rồi, cái khí này theo định nghĩa của ngươi vốn là không thể thấy, đúng không?”
“Đúng.”
“Vậy tại sao không cho phép Lã Tướng Công như cá ở trong nước, không thể cảm nhận?” Triệu Cửu xòe tay nói.
“Quan Gia.” Hồ An Quốc nghiêm túc nói. “Lã Tướng Công cùng thần trên Để Báo đấu khẩu qua lại, bề ngoài là ông ấy đang biện hộ, thực ra là ông ấy đang công kích, thần không cho là Quan Gia không nhìn ra…”
Triệu Cửu liền bật cười gật đầu: “Phải rồi, ai chủ động thì người đó chịu trách nhiệm, ai đề xuất thì người đó chứng minh… Nguyên học ra sau lại tấn công trước, đương nhiên nên để họ chứng minh… Lã Bản Trung.”
Theo một tiếng gọi khẽ của Triệu Quan Gia, Hồ An Quốc cùng mọi người kinh ngạc quay đầu nhìn, mới phát hiện không biết tự khi nào sau lưng mình đã có thêm một người, chính là người con trai suốt mấy chục năm không được xuất sĩ của Lã Hảo Vấn Lã Công Tướng, người có một chỗ đứng trong Giang Tây thi phái là Lã Bản Trung, ai nấy đều rùng mình.
Vả nói, phong bình của Lã Bản Trung thực ra không tốt lắm, chủ yếu vì thời niên thiếu ông ta bị thân phận cựu đảng liên lụy, đường đường là đích trưởng của họ Lã mà không được vào làm quan, vậy nên phong cách sinh hoạt phóng đãng, hơn nữa thân là người kế thừa tự nhiên của gia học họ Lã, thành tựu về Đạo học kém xa cha mình, trái lại suốt ngày làm thơ điền từ.
Mà trong hoàn cảnh chuỗi khinh bỉ rõ ràng như vậy thời này, thứ làm thơ viết từ ấy so với Đạo học rốt cuộc vẫn không lên được mặt bàn. Cho nên, dù năm xưa Lã Bản Trung đùa một câu, nêu ra khái niệm Giang Tây thi phái, vô tình sáng lập tông phái thi từ chính thức đầu tiên trong lịch sử thi từ Trung Quốc, chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử văn hóa Trung Quốc, nhưng vẫn luôn bị người ta khinh bỉ.
Nhưng mà, giờ phút này, người này ở ngay trước mặt, ai còn coi thường hắn chính là kẻ ngốc.
“Thần có mặt.”
Lã Bản Trung chắp tay bước ra khỏi hàng, chỉ có thể nói người này tuy chưa ra làm quan, nhưng với tư cách đích trưởng của họ Lã, trên người tự nhiên sớm đã có ân ấm nhàn chức, chẳng khác gì việc Hồ An Quốc mang quán chức mà không làm việc.
“Ngươi có nghe lời của Hồ tiên sinh không?” Triệu Cửu cười hỏi không ngừng.
“Thần đã nghe.” Không hiểu sao, dưới cái nhìn quay đầu của Hồ An Quốc cùng mọi người, nhân vật rõ ràng có chuẩn bị mà đến này lại có phần giọng run run, cũng không biết là đang sợ gì?
"Hồ tiên sinh họ ý tứ đã rất rõ ràng rồi, Nguyên học chú trọng cách vật trí tri, tri hành hợp nhất, thực tiễn kiểm nghiệm hết thảy…" Triệu Cửu hơi nhướng mày cười, mở miệng chính là mấy thứ cao đại thượng. "Mà như nay, chúng ta không nói cái khác, chỉ nói phụ thân ngươi đề cái ý khí như nước vậy, dẫn tới Hồ tiên sinh bọn họ nhiều bất mãn, Lã Công Tướng lao khổ công cao, gần đây lại suốt ngày làm học vấn, trẫm không tiện quấy rầy, đành hỏi ngươi hai câu, thứ này phụ tử các ngươi có thể thực tiễn chứng minh không?"
"Có thể." Lã Bản Trung nghiến răng đáp, dường như hạ quyết tâm gì vậy.
"Chứng minh thế nào?" Triệu Cửu càng thêm bật cười. "Chúng ta phải nói cho rõ, ngươi phải thiết kế cái thí nghiệm khiến người ta tâm phục khẩu phục mới được, cũng như trẫm mười mấy mẫu đất này cho mấy trăm người trong cung mỗi ngày hai lạng thịt, mới có thể tạm so sánh toàn Đại Tống đều có thể mỗi ngày hai lạng thịt vậy."
"Quan gia, Thanh Sơn tiên sinh." Lã Bản Trung chắp tay đối mặt. "Thần có cái biện pháp, không những chứng minh được khí như nước, còn chứng minh được khí luận của Thanh Sơn tiên sinh là sai!"
"Nói đi." Theo Hồ An Quốc lông mày nhíu một cái, Triệu Cửu cũng nghiêm nghị lên tiếng.
"Quan gia, Thanh Sơn tiên sinh." Lã Bản Trung thở dài một hơi, lại chắp tay, nhưng cuối cùng nhằm vào Hồ An Quốc. "Gia phụ trong Nguyên học xiển thuật, khí vốn là vật, như nước, mà mọi người đều biết, cá trong nước không hay biết, nhưng chúng ta ở ngoài nước lại biết nước thứ này dù sao cũng có trọng lượng, càng sâu càng nặng càng có áp lực… Bởi thế, nếu lấy Nguyên học xiển thuật, khí thứ này tuy nhìn không thấy sờ không được, nhưng thực tế cũng nên có trọng lượng và áp lực, chỉ vì chúng ta ở trong đó khó đo lường thôi."
"Trẫm hiểu rồi." Triệu Cửu bỗng xen vào. "Trẫm nhớ Thanh Sơn tiên sinh có nói, khí tràn đầy vũ trụ, vô cùng vô tận, mà nếu khí như nước có trọng lượng, có áp lực, vậy chẳng phải sẽ đem người đè bẹp sao? Cho nên, nếu có thể thực tiễn chứng minh khí như nước có áp lực trọng lượng, tự nhiên là Nguyên học nói đúng, còn Hồ tiên sinh là sai… Là ý này chăng?"
"Vâng!" Lã Bản Trung vội cúi đầu.
"Vậy ngươi có thể chứng minh không?"
"Có thể… có thể!" Không biết vì sao, Lã Bản Trung dường như có chút nhụt chí.
"Hồ tiên sinh, ngươi thấy sao?" Triệu Cửu lạnh lùng liếc đối phương một cái, lại quay sang cười với Hồ An Quốc.
Hồ An Quốc cẩn thận nghĩ một chút, rồi có sao nói vậy: "Quan gia, thần cùng Lã Tướng Công tranh luận căn bản là ở quan hệ giữa tính mệnh đạo đức và ngoại vật, cũng chẳng phải cái áp lực của khí, mà dù chứng minh được khí như nước có áp lực, kỳ thật cũng không thể nói Lã Tướng Công về Nguyên học ở phương diện này là đúng… Nhưng đúng như Quan gia nói, thần và phần lớn Đạo học đồng đạo đều cho rằng khí tràn đầy vũ trụ, mà nếu khí thật có áp lực, kế đó nói rõ khí có trọng lượng, ít nhất có thể nói rõ thần đợi ở chuyện khí này nghĩ suy có chút sai lầm, chuyện này rốt cuộc vẫn là thần đợi hơi lép vế."
Triệu Cửu vội vàng gật đầu, rồi quay sang Lã Bản Trung, trong lời nói lộ vẻ không chờ được: "Lã khanh nghe thấy chưa?"
Lã Bản Trung cũng luôn gật đầu lia lịa, nhưng không biết vì sao mặt mày hơi tái đi.
"Trẫm đào ao cá, trồng dâu, chăn nuôi… ít nhất cần một năm, nhiều thì ba năm năm chưa chắc mới có hiệu quả, đây là thiên thời hạn chế, bất đắc bất như thế." Triệu Cửu tiếp tục tăng áp lực. "Vậy chuyện thực hành về khí áp của ngươi lại cần mấy ngày chuẩn bị cho xong, để thiên hạ thấy rõ? Một hai tháng trẫm có thể đợi, Hồ tiên sinh bọn họ tự nhiên cũng có kiên nhẫn, nhưng nếu ba năm năm năm, chớ nói Hồ tiên sinh bọn họ cho rằng các ngươi cố lộng huyền hư, thì chính trẫm cũng không cho phép."
Hồ An Quốc mọi người khó gặp tinh thần đại chấn… bọn họ vốn tưởng Quan gia thiên vị Lã Công Tướng, thiên vị Nguyên học là rất lớn, mang mục đích chính trị, nhưng bất kể thế nào, nếu có thể hạn chế đến mức này trong chuyện này, cũng đủ nói rõ vị Quan gia này vẫn coi trọng công bằng công chính.
Quả nhiên, Lã Bản Trung rõ ràng lâm vào thế khó xử, hồi lâu mới nặng nề gật đầu: "Gia phụ đang chuyên tâm học vấn, khó làm việc này, xin cho thần kỳ hạn một tháng, mượn điều thợ thủ công, nhân thủ, vì cha thay lao."
"Được." Triệu Cửu gật đầu, rồi lại thúc ép không tha. "Cần sân bãi bao lớn, Tuyên Đức lâu trước có được chăng?"
Lã Bản Trung run sợ, chung quanh Hồ An Quốc đám người thấy rõ, lúc này xuân lạnh còn vương, đối phương thế mà lại đổ mồ hôi, rõ ràng bị Triệu Quan Gia dồn vào chân tường, chột dạ 'khí' hư rồi.
Nhưng bất kể thế nào, Lã Bản Trung thở dài mấy hơi, vẫn nặng nề gật đầu: "Hoàn toàn y Quan gia!"
Triệu Cửu luôn gật đầu, hài lòng tột bậc, rồi lại quay sang Hồ An Quốc đám người: "Khanh đợi nghe thấy rồi, trẫm tới làm chủ, từ ngày mai, Để Báo tạm dừng đăng tải Đạo học, Nguyên học chi tranh, song phương riêng tư thảo luận đều khả dĩ, nhưng không được công kích lẫn nhau, chỉ là mỗi bên tạm yên lặng, tĩnh chờ một tháng kỳ hạn, rồi tại trước Tuyên Đức lâu cho thiên hạ thấy rõ phân minh… Như Hồ khanh đã nói, việc này tuy không dám khẳng định ai nắm chân lý, nhưng cũng đủ để tạm quyết thắng bại… Hôm nay lui cả đi, trẫm muốn tiếp tục đào ao cá."
Hồ An Quốc cùng những người khác đã được uống thuốc an thần, vốn định chắp tay cáo từ, nhưng nghĩ lại, vẫn cùng Lã Bản Trung ở lại, giúp Triệu Quan Gia gánh vài sọt đất, lúc này mới mãn nguyện vừa lòng, thong dong rời đi.
Nhưng mà, chưa nói đến sau một tháng, đôi bên sẽ phải ở trước Tuyên Đức lâu quyết một trận thắng bại, để định đoạt sự sống còn của Nguyên học. Chỉ nói mấy ngày tiếp theo, xuân nhật dần dần ấm lên, công việc các nơi chồng chất, mà Triệu Quan Gia chỉ là như thường ngày, hoặc trong cung đào đất, hoặc đi phó ứng nghi thức triều đình, hơi có chút thời gian rảnh rỗi cũng chỉ cùng Trần Quy đến Đại Tướng Quốc Tự, đến phía tây thành Nhạc Đài đại doanh quanh quẩn, thật sự là chẳng làm việc chính đáng.
Đương nhiên rồi, có một vị Quan Gia quyền uy tuyệt đối mà không tùy tiện nhúng tay, chưa chắc đã không phải là chuyện tốt, thùy củng nhi trị thôi, quốc chi đại sự duy nhung dữ tự thôi... Nhưng là theo Nguyên Tiêu kết thúc, xuân canh triển khai, triều đình về tranh luận một việc quân quốc đại sự lại càng ngày càng kịch liệt, cuối cùng rốt cục đến mức cần vị Quan Gia này ra quyết định.
Sự tình rất đơn giản, Nhạc Phi tại Động Đình Hồ án binh bất động nhiều ngày, dẫn phát sự phản đối kịch liệt của địa phương! Mã Thân, Lưu Hồng Đạo cùng các đại viên địa phương trở xuống, bao gồm mấy chục quan viên cấp quân châu, đều dâng sớ đàn hặc Nhạc Phi dưỡng tặc tự trọng, làm lỡ thiên thời, hại nước hại dân.
Kỳ thật, trung khu các nơi đối với sự trì trệ của Nhạc Phi vốn dĩ đã có ý kiến, chỉ là bị Triệu Cửu đè xuống mà thôi.
Nhưng hiện tại, theo niên tiết qua đi, tin tức Hoàn Nhan Ngột Truật đơn kỵ nhập Đại Danh phủ, sau đó cùng Niêm Hãn tay trong tay bắc quy truyền đến; theo Động Đình Hồ quanh vùng xuân canh bị trì hoãn, xuân tấn tùy thời có thể tới; theo mấy vạn đại quân của Nhạc Phi tại phía bắc Động Đình Hồ đóng quân, hậu cần tiêu hao đối với địa phương hình thành áp lực thật lớn, lão bách tính khổ không chịu nổi, rất nhiều người trái lại thừa thế bỏ hoang ruộng đất, trốn vào Động Đình Hồ làm giặc... Đủ loại chuyện rắc rối, nam bắc trong ngoài, lại rốt cuộc cho mọi người lý do phản đối đường đường chính chính.
Cuối cùng, Ngự sử đài, Hộ bộ, Binh bộ các nơi cũng liên tiếp đàn hặc lên, theo Kinh Tương địa phương liên thành một mảnh, yêu cầu trung khu chính thức tạo áp lực, để Nhạc Phi nhanh chóng kết thúc chiến đấu, không được làm lỡ đại cục. Và rất nhanh, thân là thủ lĩnh phái địa phương Kinh Tương, Đô tỉnh phó tướng Lưu Cấp cũng lại lần nữa đứng ra, biểu đạt hy vọng Nhạc Phi nhanh chóng kết thúc chiến sự.
Dưới tình huống này, nguyên bản đã đối với hành động quân sự của Nhạc Phi đình trệ mà cảm thấy bất mãn, Đô tỉnh thủ tướng Triệu Đỉnh duy trì trầm mặc không rõ là tốt hay xấu, còn Khu mật sứ Trương Tuấn, người một mực ủng hộ Nhạc Phi, thì không thể không một mình gánh chịu áp lực, vị tể chấp trẻ tuổi tính tình nhảy nhót này bất đắc dĩ công khai thượng thư, biểu thị nguyện lấy tính mạng hơn trăm người cả nhà để làm đảm bảo cho Nhạc Phi.
Mà cũng chính là lúc này, Triệu Đỉnh cũng đột nhiên thượng thư, kiến nghị để Trương Tuấn xuống nam đốc sư, lấy thân phận Khu mật sứ giám sát thúc giục Nhạc Phi bình phản.
Triệu Cửu do dự một chút, lựa chọn đồng ý... Nguyên nhân rất đơn giản, áp lực của hắn cũng rất lớn, hắn vô điều kiện tin tưởng Nhạc Phi, nhưng vấn đề ở chỗ, áp lực hậu cần của địa phương, sự lo lắng của trung khu cũng là trần trụi, hơn nữa hợp tình hợp lý.
Vậy thì cái vị Quan Gia này, phàm là giảng chút đạo lý, đều cần vì quyết định trước đó của mình mà làm ra tư thế chính trị, trả giá đại giới chính trị.
Chính trị cũng tốt, học thuật cũng thế, thân là một thiên tử, làm sao có thể làm chuyện buôn bán không vốn?