Thiệu Tống

Lượt đọc: 2292 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 213
Bình Lục

❊ ❊ ❊

Vào chiều ngày cuối cùng năm Kiến Viêm thứ ba, Hưng Ninh quân Tiết độ sứ, Ngự doanh trung quân Đô thống chế Lý Ngạn Tiên đã nhận được thưởng tết của triều đình cùng kỳ Để Báo mới nhất do khoái mã trong quân đưa tới tại thành Bình Lục, Thiểm Châu.

Nhắc tới mới hay, kỳ Để Báo này với Lý Ngạn Tiên quả thực là để báo chính cống, vì chữ để trong để báo vốn là để do các quận quốc thời Hán và phiên trấn thời Đường lập ra ở kinh đô, còn ý nghĩa ban đầu của để báo là chỉ quá trình triều đình niêm yết tin tức đại sự liên quan, người ở để sao chép lại rồi báo về cho quận quốc, phiên trấn địa phương... Dùng cho một vị tiết súy một phương như Lý Ngạn Tiên, chẳng phải đúng là trở về với bản sắc sao?

Chuyện vặt không nói nhiều, Hưng Ninh quân Tiết độ sứ Lý Ngạn Tiên đang ở Bình Lục giám sát việc quân dân phía Hà Bắc Thiểm Châu rút lui về nam, trước hết nghiêm chỉnh nhận thưởng, rồi sai người tiếp đãi sứ giả thật tốt. Sau khi mọi việc thỏa đáng, chẳng màng bên cạnh có đại tướng Thiệu Vân, dưới chân có quân sĩ, quân nhu qua lại không ngớt, ông ngồi luôn lên đầu thành Bình Lục, mượn ánh mặt trời trên đầu mở ngay tờ Để Báo này ra...

Biết làm sao được, tờ Để Báo mới đưa tới này dày hơn rất nhiều so với những gì đã nhận hơn nửa năm trước, giấy cũng rộng và chắc hơn hẳn, kết hợp với bản ‘danh sách cảm tạ’ lần trước còn thấy trong thành Thiểm Châu bên Hà Bắc, ông còn tưởng có đại sự kinh thiên động địa gì xảy ra.

Vậy mà, Lý Ngạn Tiên xem từ đầu tới cuối, càng xem càng chẳng hiểu ra làm sao, bởi thực sự chẳng có đại sự gì ngoài dự liệu, chỉ là ghi chép đặc biệt tỉ mỉ, bố cục ngay ngắn, có thứ tự hơn chút thôi, nhưng lại vẫn khiến người ta không nhịn được mà xem thật kỹ.

Ví dụ như, mở đầu cả một trang Để Báo về điều động nhân sự, ngoài việc thuyên chuyển quan lại trong triều ra, lại còn có cả biểu dương anh hùng chiến đấu trận Tiểu Ngô Tảo của bộ tướng Trương Vinh.

Như mỗ mỗ một hơi lấy bảy thủ cấp; mỗ mỗ chém được một thủ cấp vô danh đội mũ bầu lót lụa, uy nghi như đại tướng; Mỗ Đô Đầu lại lái thuyền nhỏ chở đầy hỏa dược lao vào cảng trước, công đồng tiên đăng... Làm Lý Ngạn Tiên xem mà trong lòng nghèn nghẹn, bởi công lao của ông còn lớn hơn Trương Vinh, binh sĩ Thiểm Châu của ông tác chiến còn dũng mãnh hơn thủy quân Lương Sơn Bạc, mà trước nay còn thảm liệt hơn, nhưng đến cả tên cũng không kịp ghi lại.

Đây là sự thực.

Sau Tĩnh Khang, thiên hạ tan tác cả, ngay Hàn Thế Trung và Trương Tuấn cũng chỉ biết chạy trốn tìm ‘quan gia mới’, chỉ có Lý Ngạn Tiên bị thượng cấp chèn ép, xếp xó, bỏ rơi hết lần này tới lần khác, liều chết cầu sinh, dẫn đám tàn binh đoạt lại Thiểm Châu, nơi yếu hại của thiên hạ, từ tay quân Kim một cách cứng rắn.

Mà vị trí Thiểm Châu, hai bên phân Thiểm, nam bắc kẹp Hoàng Hà, vốn là nơi yếu hại của thiên hạ. Hơn nữa, binh lực dã chiến chủ lực của quân Tống thực chất chia làm Ngự doanh và Quan Tây binh mã, còn quân Kim thực tế lại chia làm Đông Tây lưỡng lộ, dẫn tới việc Thiểm Châu, điểm giao hội của bốn phương đại quân này, quan trọng tới mức nào cũng không đủ.

Thực tế, nếu không nhờ ngày ấy Lý Ngạn Tiên thu phục Thiểm Châu, buộc Hoàn Nhan Ngân Thuật Khả phải kết thúc sớm cuộc tàn phá ở Kinh Tây của hắn, thì Triệu Cửu và tiểu triều đình có thể trụ vững ở Nam Dương hay không còn chưa dám chắc.

Nói câu tuyệt không khoa trương, dù Lý Ngạn Tiên từ giờ trở đi chẳng làm gì nữa, chỉ cần kiên trì giữ vững Thiểm Châu, thì trong số các công thần đệ nhất đẳng của thiên hạ sau này, thế nào cũng chẳng thiếu phần ông.

Cho nên, ở một mức độ nhất định, vị Hưng Ninh quân Tiết độ sứ này tuyệt đối có tư cách duy trì dáng vẻ kiêu ngạo đó trước mặt tất cả quân Tống còn lại.

Còn sau khi khen ngợi, thăng tiến cho thủ hạ Trương Vinh một hồi, Lý Ngạn Tiên miễn cưỡng chỉnh đốn tâm tình, quay sang xem tiếp những ghi chép văn thư chính sự kia, chằm chằm nhìn vào mấy thông tin chiếm dụng cực nhiều diện tích mặt báo, vừa xem vừa lắc đầu lia lịa, đến lúc lật hai tờ cuối, lại không khỏi ngạc nhiên.

Thì ra, từ lúc này trở đi, trên Để Báo toàn là những thứ chẳng liên quan gì tới thời chính.

Ví như ở trang giáp tờ cuối cùng có một bài ‘Khí luận’ gì đó của đại nho Hồ An Quốc; có một bài thuyết minh về chương trình Để Báo mới của Hồ biên tu nào đó; còn có một bài chúc từ năm mới nhân danh Quan Gia viết theo giọng của Lã Tướng Công; lại có một bài thảo luận về việc vì sao Đông Kinh thành vững như thành đồng của Trần Xu Tướng...

Còn tờ cuối cùng, lại càng hoang đường.

Trên tờ giấy này, một nửa là những bài thi từ văn phú chẳng ra đâu vào đâu... cái này còn tạm chấp nhận, nửa còn lại là một câu chuyện như kiểu thoại bản, nhưng không hề ký tên.

Kể rằng Hoài Hà thủy thần Trương Vĩnh Trân, bao nhiêu kiếp trước lại là nhân vật thời Thái Cổ Hồng Hoang, xuất thân chính tông từ bộ tộc Viêm Hoàng, làm sao gặp được tiên nhân, được truyền tiên pháp, rồi lúc tác chiến, dễ dàng thế nào hóa ra pháp tướng cao hai mươi trượng, lại làm sao trảm yêu trừ ma vô số, tới mức thu gom binh khí của yêu ma đã diệt, tạo ra một thanh đại đao mười bốn trượng. Cuối cùng, ngày đao thành, người này lại theo Hoàng Đế cùng Cửu Lê Xi Vưu chiến ở Trác Lộc, trong trận chém năm trong tám mươi mốt huynh đệ Xi Vưu, công lao to lớn, nên sau trận được phong làm thần Hoài Hà, mây mây.

Câu chuyện hoang đường như vậy lại được đăng trên Để Báo, Lý Ngạn Tiên văn võ song toàn dĩ nhiên chẳng thèm quan tâm, nhưng vẫn không nhịn được đọc đi đọc lại hai ba lần, rồi lại thầm so sánh với tường thành xem thanh đại đao mười bốn trượng kia rốt cuộc dài bao nhiêu, lúc này mới hơi thỏa mãn thu Để Báo lại, giao cho mạc thuộc bên cạnh, bảo họ sao chép vài bản, phân phát cho các quan văn võ các lộ bên dưới.

Nhưng mà, đến lúc này, quân đội, xe cộ tiếp tế, bách tính dưới thành vẫn ùn ùn kéo vào trong thành không dứt, Lý Ngạn Tiên đành phải tiếp tục ngồi ngay ngắn trên đầu thành, rồi lại tiếp tục trò chuyện với tướng giữ Bình Lục là Thiệu Vân đã đứng khô chân bên cạnh từ lâu.

“Thái úy, trên báo có tin tức gì không?” Thiệu Vân dĩ nhiên không khỏi hỏi câu này.

“Cũng chẳng có mấy chuyện lớn, chỉ là Quan Gia mấy ngày nay liên tiếp thị sát Thái Học, quân phường Tướng Quốc Tự, an ủi phụ lão Đông Kinh mà thôi.” Lý Ngạn Tiên vẫn ngồi im không động đậy, chỉ thản nhiên cười, nói với vị tướng tâm phúc bên cạnh mình. “Ngoài ra, lại còn một lần nữa biểu dương công lao của đám tặc khấu Lương Sơn Bạc… coi như là nối tiếp lần trước tạ ơn đám quý nhân cho vay tiền vậy.”

Thiệu Vân liên tục gật đầu: “Quan Gia vất vả… nhưng ta vẫn thấy chuyện vay tiền đó hoang đường, hỏi đi hỏi lại mấy lần mạc tá bên cạnh mới tin.”

Lý Ngạn Tiên lắc đầu, bèn thuận miệng hỏi lại: “Ngươi thấy Quan Gia vay tiền người ta là hoang đường, hay là thấy đám quý nhân ấy lại chịu cho Quan Gia vay tiền làm quân phí mới là hoang đường?”

“Cả hai.” Thiệu Vân thành khẩn đáp.

“Ta thì lại thấy chẳng có gì hoang đường.” Lý Ngạn Tiên thẳng thắn cười đáp. “Quan Gia tuy trẻ tuổi, làm việc cũng có phần khinh suất, nhưng ý chí kháng Kim thì kiên định quyết liệt, ngày thường cũng tỏ ra nằm gai nếm mật lắm, để gom góp quân phí, trong cung hầu như đình chỉ mọi khoản thu nhập… Ta mấy lần ra vào cung cấm, thấy rõ ràng, biết là không thể giả được… Mà nay Đông Kinh dần dần khởi sắc, đám phú quý nhân gia mang tiền trở về, sao người không thể hạ mặt đi vay mượn chứ?”

“Quan Gia quả là vị Quan Gia tốt.” Nghe đến đây, Thiệu Vân chống đao mà cảm khái một tiếng. “Ta thường nghĩ, Quan Gia với Thái úy thực ra khá giống nhau…”

“Đây là lời gì vậy?” Lý Ngạn Tiên khó có lúc ngỡ ngàng: “Chưa nói đến chuyện quân thần sao có thể tự tiện so sánh, dù không nói những chuyện hư văn ấy, thì Quan Gia và ta, tuổi tác, kinh lịch, tập tính đều chẳng giống nhau…”

“Ta không có ý đó.” Thiệu Vân lập tức nghiêm túc giải thích. “Chỉ là thấy Thái úy và Quan Gia giống nhau ở chỗ, không chỉ chuyện kháng Kim chưa bao giờ hàm hồ, mà đối với thuộc hạ cũng đều cực tốt… Sau khi kết nghĩa ở Hà Âm, Quan Gia cho phép thống chế quan đưa trát tử thẳng vào trong cung, ta và đại ca (Thiệu Long) cùng bàn bạc, dù không viết được mấy chữ, cũng nên mỗi tháng thỉnh an Quan Gia một lần, kết quả là lần nào Quan Gia trả lời cũng cực kỳ tỉ mỉ, hỏi trong quân ta có thiếu tiền, thiếu quân giới không? Gia quyến sĩ tốt đã có chỗ an trí chưa? Người nhà ta thế nào? Mấy đứa con đã cưới gả chưa? Bất kể công hay tư, có gì phải lo lắng hay không? Những điều ấy đều giống y như Thái úy ngày thường.”

Lý Ngạn Tiên khẽ gật đầu, rồi lại cười: “Đã biết Quan Gia là vị Quan Gia tốt, sao lại vẫn thấy người đi vay tiền là có chút hoang đường chứ?”

“Bởi vì ta vốn nghĩ Quan Gia và Thái úy cực kỳ giống nhau, mà ta cũng biết, nếu là Thái úy ở đây, thì thà chết đói cũng không muốn đi vay tiền của đám đại quan quý nhân kia, bởi vì Thái úy là người ngạo thượng, càng là quý nhân chức lớn càng muốn tỏ thái độ ra mặt…”

“…”

Lý Ngạn Tiên đã trầm mặc, Thiệu Vân cũng chỉ cho rằng mình lỡ lời, nhất thời không dám nói nhiều, bởi vậy, trên thành lâu một lúc yên tĩnh, chỉ còn chút gió nam nhẹ thổi, cùng với tiếng ồn ào dưới chân thành như cũ.

Một lát sau, vị Tiết độ sứ này mới liên tục bật cười: “Chẳng lẽ Thiệu Thống Chế ngươi có con mắt tinh đời hơn… Ta với Quan Gia thật đúng là có chút giống nhau, chỉ là đám quý nhân ấy đối với ta là quý nhân, còn trong mắt Quan Gia thì chỉ là người rỗi việc, nên Quan Gia mới chẳng hề để tâm, tùy tiện đi vay.”

Thiệu Vân nhất thời chưa nghe ra, chỉ khẽ gật đầu mà thôi.

Mà Lý Ngạn Tiên cũng tiếp tục cảm khái: “Còn như việc đám quý nhân kia sao lại chịu vì quốc gia xuất lực, kỳ thực cũng là do Quan Gia, bởi vì Quan Gia dù sao cũng là Quan Gia, kẻ dưới đều phải nhìn vào người… Quan Gia muốn kháng Kim, kẻ dưới dù không muốn kháng Kim, dần dà cũng phải đi kháng Kim; Quan Gia coi trọng quân sự, kẻ dưới dù coi thường quân quan sĩ tốt, dần dà cũng phải coi trọng quân quan sĩ tốt… Lần này xuất tiền, cũng là trong tình lý.”

Thiệu Vân càng gật đầu lia lịa: “Đạo lý này ta hiểu… Cũng giống như cưới vợ vậy, nàng dâu mới vào cửa nhà có tính nết riêng, nhưng dần dần, tính nết cuối cùng lại phải xem bà mẹ chồng đương gia trong nhà và tính tình trượng phu mình, thế mới định hình được.”

Lý Ngạn Tiên nhất thời ngỡ ngàng, nhưng thoáng suy nghĩ rồi vẫn liên tục gật đầu, bởi vì ví von của Thiệu Vân quả thực có mấy phần đạo lý.

Con người ta rồi sẽ thay đổi, hoặc là do tai nghe mắt thấy dần nhiễm, hoặc là do trái ý mình mà nịnh nọt, đều sẽ bất giác mà thay đổi. Huống chi, họ đang nói tới Quan Gia, tới thiên tử… Sở vương thích eo nhỏ, trong cung lắm kẻ chết đói, Quan Gia muốn kháng Kim, cả triều đương nhiên đều là ‘nghĩa sĩ’!

Cứ thế, hai người than thở một hồi, nói chuyện một hồi, tạm gác chuyện Để Báo sang một bên, nhưng cuối cùng vẫn quay trở lại chuyện quân sự.

“Thái úy, mạt tướng trước đó đã muốn hỏi, nếu người Lương Sơn Bạc thật sự an cư trên Hoàng Hà, mà công lao ở Tiểu Ngô Tảo lại không giả dối, thì về sau trên sông há chẳng phải vô ưu rồi sao?” Thiệu Vân hỏi trước một việc. “Bên Thiểm Châu chúng ta cũng có thể an ổn hơn chút?”

Lý Ngạn Tiên hoàn hồn, liên tục lắc đầu: “Khu khu ba mươi chiếc luân thuyền, trăm chiếc thuyền nhỏ, có thể khống chế được bao nhiêu mặt sông? Chẳng qua giữ được đoạn sông phía chính diện Đông Kinh mà thôi, dù muốn chi viện, cũng khó qua Tam Môn Hạp… Vả lại ngươi chớ quên, cầu phao Bồ Tân ở Hà Trung phủ vẫn luôn nằm trong tay người Kim, chi viện cũng vô dụng.”

Thiệu Vân hơi lộ vẻ thất vọng.

“Không chỉ như vậy.” Lý Ngạn Tiên nhìn chằm chằm phía xa, nơi đuôi đoàn quân đã lộ rõ, lại thở dài thườn thượt. “Ngươi đã nghĩ tới chưa, nếu đoạn Hoàng Hà đối diện Đông Kinh bị Trương Vinh khống chế, quân Kim mất con đường tiến quân này, trái lại phải xuất kích từ hai cánh, bên chúng ta nói không chừng lại phải hứng chịu trọng binh của người Kim trực diện đến đánh… Mà một khi đánh tới, nếu là người khác thì còn đỡ, Hoàn Nhan Lâu Thất há dễ đối phó như vậy.”

Thiệu Vân khẽ giật mình, lại dời ánh mắt về phía đoàn quân dưới thành, lúc này mới nhỏ giọng nói: “Cho nên Thái úy mới bất chấp tết nhất, không tiếc vứt bỏ nhiều thành trấn phía bắc, cũng phải hạ lệnh gấp rút rút lui tối đa mọi người về sau sao?”

“Không sai, ta trước sau vẫn cho rằng người Kim sẽ xuôi nam, tối thiểu Hoàn Nhan Lâu Thất nhất định sẽ tới.” Lý Ngạn Tiên rốt cuộc đứng dậy khỏi đầu thành, chắp tay sau lưng quay lưng về gió, nhìn về bắc. “Hôm nay ăn tết, chúng ta hãy tạm hoãn một chút, nhưng cũng chỉ riêng hôm nay, ngày mai ta sẽ tự mình dẫn lão nhược phụ nữ trẻ em cùng một phần binh mã trực tiếp về Hà Nam… Nơi này, ta để lại cho ngươi trọn vẹn năm nghìn nhân thủ cùng đầy đủ lương thảo, đến lúc quân Kim đến đánh, ngươi ở Bình Lục, ta ở thành trị Thiểm Châu, chúng ta hết sức kẹp sông mà giữ, như thế tốt nhất; nhưng nếu quân Kim thế lớn, ngươi cũng không cần cố kỵ, giữ được thì giữ, không giữ được thì qua sông về Hà Nam cũng tốt, lui vào Trung Điều Sơn cũng được, đều là một con đường!”

Thiệu Vân trầm mặc giây lát, trịnh trọng hành lễ trên tường thành.

Cứ như vậy, vì hôm đó là tết, Lý Ngạn Tiên với tư cách tiết soái duy nhất trong đại quân Ngự Doanh không bị hạn chế biên chế, lại được tự do chi phối ba vạn định mức tiền lương, tự mình làm chủ, hạ lệnh ban thưởng cùng lương thực để phủ dụ quân dân đang rút lui trong ngoài thành, khu vực quanh Bình Lục hiếm có dịp náo nhiệt vui mừng, coi như trong loạn lạc còn được một cái tết tạm an ổn.

Thế nhưng, ngay canh tư đêm đó, ở phủ châu trực tết, Lý Ngạn Tiên bỗng nhiên nhận được cấp báo từ thám tử—— mấy vạn chủ lực quân Kim, chia làm nhiều đường, từ tối hôm trước đến ban đêm đột ngột đại cử tiến xuống phía nam tập kích gấp.

Trong đó, Hoàn Nhan Tát Bát lấy năm nghìn thiên sư đánh tan vùng Tập Tân, trọng trấn phía đông phần Hà Bắc của Thiểm Châu, không nói làm gì; riêng cờ hiệu của đích thân Hoàn Nhan Lâu Thất lại đột nhiên xuất hiện ở vùng Đồng Quan, cực tây phần Hà Nam của Thiểm Châu.

Việc Hoàn Nhan Lâu Thất đánh tan Đồng Quan không tính là kỳ tích quân sự gì, dù sao hắn cũng không phải lần đầu đánh tan Đồng Quan, hơn nữa Đồng Quan cũng sớm đã bị phá hủy, tổn hại mấy lần trong những lần giao chiến Tống Kim, không còn là hùng quan vô song lấy một địch mười nữa, đơn thuần chỉ được coi là một cứ điểm trọng yếu có chức năng phòng ngự thôi.

Thậm chí, Lý Ngạn Tiên có thể tưởng tượng ra cụ thể lộ trình tiến quân lần này của Hoàn Nhan Lâu Thất, chẳng qua là vượt sông từ Bồ Tân, rồi tập kích gấp xuống phía nam mà thôi.

Chỉ riêng việc vị thống soái quân sự thực thụ của Tây Lộ Quân nước Kim này lại suy tính sâu xa, chuyên chờ đúng tết, tự mình suất kỵ binh thực hiện cuộc tập kích này… rõ ràng có chuẩn bị mà tới, e rằng khó đối phó.

Nhưng trời muốn mưa, mẹ muốn lấy chồng, người Kim muốn đến, quân Tống không có quyền chủ động chiến lược thì làm sao được? Huống chi Lý Ngạn Tiên sớm đã đoán được người này sẽ tới.

Nếu nhất định phải cảm khái, thì chỉ có thể nói, bất kể thế nào, đại chiến vẫn lại bắt đầu, hơn nữa người Kim lần này cướp trước một ngày trước khi đến năm Kiến Viêm thứ tư, phát động tập kích như vậy, cũng coi như duy trì truyền thống quân sự hằng năm đều phải xâm lược xuống phía nam của bọn họ.

Tin tức truyền ra, tháng giêng năm Kiến Viêm thứ tư, toàn tuyến Hà Nam, Quan Tây chấn động.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.