Người Khuyết Tật - Barabbas

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3

❊ ❊ ❊

Ngày hôm qua, vào một buổi chạng vạng, khi tôi đang ngồi bên căn phòng nhỏ của mình, ngắm nhìn những ánh lửa của bọn Boccaroza, một điều giờ đã là thói quen của tôi, đột nhiên tôi nhìn thấy trong lùm cây, bên bờ sông có một bóng người đang đi về cánh phải của lâu đài. Tôi lấy làm lạ, bởi ai có thể đến lâu đài vào đêm hôm khuya khoắt như thế này, và tôi chợt nghĩ chắc là đứa nào đó trong đám kẻ hầu người hạ. Ánh trăng chiếu sáng, nhưng sương mù lại phủ kín đặc, bởi vậy tôi rất khó để nhận ra con người này. Hắn mặc một cái áo choàng rộng, và hình như không chạy về phía đầu hồi nhà, mà đã đi qua một trong những lối vào bên cạnh. Dường như hắn đã từng có lần biết lối đi này, điều đó có nghĩa hắn là một trong những người của lâu đài. Nhưng có cái gì đó trên khuôn mặt của con người đó làm tôi phải đề phòng cảnh giác, ngay cả cái hành vi của hắn cũng rất đáng ngờ. Bởi vậy tôi quyết định kiểm tra mọi việc, tôi nhanh chóng đi xuống dưới, và bám theo sau hắn cũng theo chính cái lối đi ấy. Trong cầu thang lúc này dày đặc bóng tối, nhưng chính cái cầu thang này lại quen thuộc với tôi, không như các cầu thang khác trong lâu đài, bởi vì trước kia người ta đã đuổi tôi đến tận cùng phía dưới của cầu thang. Chiếc cầu thang này chạy dài giữa các phòng khác và đến căn buồng của bà quận công và của Angielica. Giờ đây cầu thang này chỉ để phục vụ cho mỗi căn phòng của bà ta, còn vào các phòng khác thì ít sử dụng cầu thang này.

Tôi mò mẫm đi xuống dưới, tiến đến cánh cửa phòng của bà quận công, và bắt đầu nghe ngóng. Tôi ngạc nhiên không thể tả nổi, mặc dù ít nhiều tôi cũng đã có sự chuẩn bị. Tôi đã nghe thấy đằng sau cánh cửa có hai giọng vang lên. Và một trong hai giọng đó chính là giọng của Giovanni!

Họ nói chuyện với nhau rất thận trọng khẽ khàng, nhưng nhờ có đôi tai thính của tôi, mà tôi có thể phát hiện ra tất cả những gì họ đã nói. Xét một cách toàn diện, thì tôi chính là kẻ làm chứng giấu mặt cho hạnh phúc bất tận và cảm động của họ. “Ôi người yêu của anh”, một giọng khẽ thì thào, và “Anh yêu của em”, một giọng khác thì thầm đáp lại. “Em yêu”, rồi lại “Anh yêu”, không có gì khác ngoài những lời nói đó, và cuộc chuyện trò mê mải ấy của họ không làm những người ngoài cuộc quan tâm mấy. Thật tất cả những gì diễn ra cũng không có gì là kinh khủng cả, đó chỉ là sự nhắc đi, nhắc lại không ngớt một từ, và tôi cảm thấy buồn cười về điều này. Nhưng tôi đã không cười. Bởi vì tôi đang cố gắng nghe xem họ đang thốt ra thật ngây thơ và thiếu suy nghĩ chính những cái lời mà họ không đắn đo suy nghĩ dù chỉ một phút về ý nghĩa của nó, và những lời nói này lại xuất phát từ họ, nó cũng buộc họ phải run lên vì sợ hãi. Sau đó tôi nghe thấy hai con người tội lỗi bắt đầu hôn nhau, tiếp tục say nhau trong tình yêu đến độ líu cả lưỡi không nói được nên lời. Thật là một điều kinh tởm!

Tôi chạy ngược trở lại. Phải tìm ngài quận công ở đâu đây? Có thể trong phòng ăn, nơi mà một giờ trước đây tôi đã ở lại cùng ông ta và Phiametta. Tôi đã phục vụ họ, nhưng ngài quận công đã nói với tôi là không cần tôi nữa.

Không cần tôi thêm nữa ư! Tại sao tôi lại mò mẫm xuống cái cầu thang tối om đấy làm gì. Quý ngài vẫn phải luôn cần đến cái gã lùn này đây.

Tôi chạy qua sân bên trong của lâu đài đến lối đi chính. Tất nhiên giờ này bọn canh cầu thang và các lối đi cũng đã chìm trong giấc ngủ. Song tôi vẫn tìm được đường và đã đi đến trước căn phòng có cửa hai cánh cao. Tôi nghe ngóng. Nhưng tôi đã không nghe thấy một âm thanh nào. Có thể là họ đã không còn ở đấy. Tất nhiên sẽ là một điều rất tốt, nếu ngài quận công nhìn thấy rõ mọi việc. Nhưng tiếc là tôi đã không thể mở được cửa: cái cửa mà tôi không thể mở được cũng chính là vì tầm vóc của tôi. Tôi lại nghe ngóng một lần nữa. Một bầu không khí yên lặng. Tôi không thể chờ đợi được nữa, đành phải trở về phòng, mặc dù tôi vẫn chưa hoàn toàn yên tâm.

Tôi đi đến phòng ngủ của ngài quận công. Nó cách phòng ăn không xa, ngay ở tầng trên. Tôi bước lên thang, đi đến gần cửa phòng và bắt đầu lắng nghe. Nhưng tôi chẳng nghe thấy gì cả, và tôi cũng không thể nhận thấy một âm thanh nào xác nhận sự có mặt của ngài trong phòng. Tôi chợt nghĩ có lẽ ông ta đã ngủ. Điều đó hoàn toàn là có thể. Chẳng nhẽ đành phải bạo gan đánh thức ông ta dậy ư? Một hành động láo xược chưa từng thấy. Nhưng đây là một công việc không thể trì hoãn, đặc biệt quan trọng. Bởi vậy trường hợp của tôi là ngoại lệ.

Tôi lấy tinh thần và gõ cửa. Chẳng có ai trả lời. Tôi đã lấy hết sức mình đấm vào cửa. Nhưng vẫn chẳng có tiếng trả lời.

Tôi quả quyết, điều này có nghĩa là quận công không có trong phòng ngủ. Bởi vì tôi biết rằng quận công là người rất tỉnh ngủ. Nhưng nếu ông ta không có ở đây, thì ở đâu? Tôi bắt đầu cảm thấy bực mình. Mất bao nhiêu là thời gian. Ông ta có thể ở đâu chứ?

Có lẽ ở chỗ bà Phiametta ư? Rất có thể họ đến đấy để có thể cảm thấy thoải mái hơn? Đây là sự hy vọng cuối cùng của tôi.

Tôi lại đi xuống cầu thang và nhảy bổ ra sân. Bà Phiametta sống ở một khu khác của tòa lâu đài, có thể họ đã dự định sắp xếp như vậy để ngụy trang mối quan hệ của mình. Để đến được chỗ bà Phiametta, thì cần phải đi gần hết cái sân.

Tôi đã tìm thấy một lối đi cần thiết, nhưng cái phần này của lâu đài tôi không quen mấy, và tôi đã đi lang thang rất lâu một cách hú họa, tôi đi lên cầu thang, đi xuống, rồi lại đi lên, sau đó thì tôi rơi vào một lối đi vô tận, nơi chỉ có toàn bóng tối, và tôi cũng không muốn mất thời gian thêm nữa, tôi chạy về phía trước nhưng không thể tìm thấy đường. Tôi có cảm giác mình như con chuột trũi, đang lạc vào một mê cung dưới lòng đất, cẩn thận đánh hơi tất cả những gì trên đường mình đi. May mắn thay, tôi đã đánh hơi định hướng đúng trong cái bóng đêm tối mò đấy. Tôi đã biết được vị trí các ô cửa sổ quay mặt ra vườn, và cuối cùng tôi đã sung sướng tìm thấy cái cánh cửa cần thiết.

Tôi nghe ngóng. Liệu có ai không đây? Có! Đầu tiên tôi nghe thấy cái giọng cười nhạt nhẽo của bà Phiametta. Trước kia tôi chưa bao giờ nghe thấy bà ta cười như vậy, nhưng ngay lập tức tôi cũng nhận ra ngay chính là bà ta. Giọng cười nghe rất khắc nghiệt, nhưng trong tiếng cười đó có một cái gì rất khiêu khích. Sau đó tôi nghe thấy ngài quận công cũng bật cười, ngắn và không được vui vẻ lắm. Tôi thở phào nhẹ nhõm.

Sau đó tôi nghe thấy giọng của họ, nhưng đã không phát hiện ra một từ nào, rõ ràng là họ đang ở đâu đó rất sâu trong căn phòng. Song thực sự họ đang trò chuyện với nhau, liệu có phải họ nói về tình yêu hay không, tôi không biết chưa chắc đã phải là vậy. Sau đó đột nhiên một bầu không khí yên lặng bao trùm xuống. Tôi đã giáng hết sức, nhưng không thể nghe thấy một âm thanh nào. Qua một chút thời gian, tôi lại cố gắng và hiểu rằng họ đang làm cái gì đó rất đáng xấu hổ. Tôi cảm thấy hơi ghê tởm. Sự thật là trong lúc này tôi không thể tồi tệ như vậy, dù cho tôi đã rất nhiệt tình, nhưng dẫu sao tôi cũng phải tiếp tục để tìm gặp được ngài quận công, và tôi bắt đầu chờ đợi. Tôi quyết định chịu đựng và chờ đợi, để không phải nghe những âm thanh khó chịu kia.

Cuối cùng tôi lại đi đến gần cửa, họ đang nói chuyện rất điềm tĩnh về cái gì đó, nhưng tôi không hề biết. Sự chuyển biến đột ngột ấy làm tôi ngạc nhiên, tôi cảm thấy vui và đã quyết định thực hiện điều mà tôi đã nghĩ. Song họ cũng chẳng vội vàng gì, vẫn cứ nằm và không ngớt thảo luận về một vấn đề gì đó, chắc là toàn những chuyện tầm phào vớ vẩn. Tôi lại kìm lòng, bao nhiêu thời gian quý báu đã trôi qua! Nhưng tôi không thể làm gì. Dĩ nhiên là tôi không thể xuất hiện và làm phiền họ trong lúc này.

Cuối cùng tôi đã nghe thấy hình như ngài quận công đứng dậy và bắt đầu mặc quần áo, nhưng vẫn tiếp tục thảo luận với bà Phiametta về lẽ gì đó, và rõ ràng là họ vẫn chưa nhất trí với nhau về vấn đề này. Tôi đã rời khỏi cánh cửa và đứng rình ở trong bóng tối.

Ông ta bước ra khỏi phòng và đi, nhưng không biết rằng đang đi thẳng về phía tôi. “Kính thưa ngài”, tôi thì thào. Phát hiện ra sự có mặt của tôi, ông ta đã tức giận và chửi rủa, rồi đe dọa “Nhà ngươi làm gì ở đây? Định dò xét cái gì? A, thì ra là ngươi, đồ quái thai đê tiện! Ngươi là đồ rắn độc! Ngươi ở chỗ nào hả? Ta sẽ giết ngươi ngay lập tức!” Và ông ta bắt đầu quờ quạng khắp phía, giơ tay ra và cố tóm tôi trong bóng tối. Tất nhiên là ông ta không thể bắt được tôi trong bóng tối đen kịt này. “Hãy cho phép tôi nói!” “Hãy cho phép tôi nói một chuyện” tôi cố gắng trấn tĩnh nhắc lại, mặc dù tôi đang rất run. Nhưng cuối cùng thì ông ấy cũng cho phép.

Và tôi đã nói thẳng vào mặt ông ấy rằng, vào cái lúc này đây thì thằng con trai của xứ Montan đang cưỡng hiếp con gái ông, hắn đã bí mật đột nhập vào lâu đài để trả thù cho cha của mình, hắn đã làm ô nhục con gái ngài. “Đồ dối trá!” Ông ta hét lên, ngươi đang ba hoa cái gì đấy, đồ điên rồ! Đó là một sự dối trá!, “Không, đó là sự thật!”, tôi cãi lại, và tiến đến gần sát ông ta. “Bây giờ hắn đang ở chỗ con gái ngài, chính mắt tôi nhìn thấy tên tội phạm đó đột nhập vào chỗ cô ấy. Bây giờ ngài tới thì đã quá muộn, mọi tội lỗi đã trót lọt, nhưng ngài có thể vẫn bắt được hắn ở đấy.” Tôi hiểu, là ông ta đang nghi ngờ tôi, ông hét lên như sấm “Không thể thế được!”, ông ta nói, “Dù có chạy nhanh đến mấy hắn cũng không thể thoát được.” “Không thể thế được!, ông ta nhắc lại. Hắn làm thế nào mà lọt được vào thành phố? Còn tòa lâu đài thì đã có bảo vệ!” Tôi trả lời mặc dù đã cố gắng hết sức mình để theo dõi hắn nhưng tôi không hiểu điều này, nhưng tôi chỉ nhận ra bóng của hắn ở bên bờ sông, có thể là hắn đã vào bờ bằng một cái bè, ai mà biết được cái thằng trẻ ranh táo bạo ấy làm được những gì, và từ đấy hắn đã lẻn thẳng vào sân trong của lâu đài. “Không thể thế được!, ngài quận công lại khẳng định. Hắn không thể đột nhập vào thành phố theo đường sông được, và hắn cũng không thể lẻn vào mà lại không bị phát hiện ra khi mà các tòa tháp được canh giữ rất cẩn mật cả ban ngày lẫn ban đêm. Điều đó là không thể tưởng tượng nổi!” “Đúng, đó là điều không tưởng”, tôi đồng ý với ngài, “hoàn toàn không thể hiểu được điều này, cả quỷ sứ cũng không hiểu nổi, hắn đã lẻn qua bằng cách nào, nhưng rõ ràng là hắn có mặt ở trong phòng con gái ngài. Tôi hoàn toàn tin là tôi đã nghe thấy giọng của hắn ở đấy.”

Chúng tôi đã xuống cầu thang và đi ra sân của tòa lâu đài. Ngài quận công nhanh chóng đi về hướng cửa chính, ra lệnh canh gác cẩn mật hơn nữa toàn bộ lâu đài và ngăn không cho hắn tẩu thoát. Sự phòng xa của ngài quận công hoàn toàn có cơ sở và khôn ngoan, nhưng nếu tên tội phạm đã tẩu thoát rồi thì sao! Cả hai đứa cùng đi thì sao đây! Cái ý nghĩ kinh khủng này buộc tôi phải chạy qua sân, đi lên cầu thang và đi đến cửa phòng của Angelica.

Tôi ghé sát tai vào cánh cửa. Không một âm thanh nào! Liệu chúng đã bỏ đi rồi sao! Tim tôi đập thình thịch vì chạy và vì lo lắng với suy nghĩ là bọn chúng đã may mắn tẩu thoát được rồi. Tôi bèn đập vào, gọi cửa, rồi chợt nghĩ, điều tôi đoán có lẽ là đúng bởi tôi chẳng nghe thấy gì cả. Tôi cố gắng định thần, thở đều và định nghe ngóng lại lần nữa. Nhưng không, chẳng có một âm thanh gì phát ra từ căn phòng cả. Tôi lấy lại bình tĩnh và nghĩ là tôi sẽ điên lên mất. Cuối cùng tôi không thể chịu được khi chưa biết rõ, nên tôi cẩn thận đấy cánh cửa không được đóng. Tôi nhìn thấy ngọn nến vẫn đang cháy, nhưng không có một âm thanh nào, không có cái gì chứng tỏ cho sự xuất hiện của con người. Tôi lẻn vào căn phòng. Và ngay lập tức tôi trấn tĩnh lại. Trong ánh sáng của ngọn đèn leo lét mà chúng chưa kịp tắt, tôi đã nhìn thấy bọn chúng đang ngủ trên giường của Angelica. Sau khi đã thỏa mãn thói dâm dục của tình yêu, thì bọn chúng đã lăn ra ngủ như những đứa trẻ.

Tôi đỡ lấy ngọn đèn, đi đến gần giường và chiếu sáng vào người chúng. Chúng nằm ngủ quay mặt vào nhau, hơi mím môi, đôi môi của chúng trở nên hồng hơn vì tội ác mà chúng vừa thực hiện, mà nếu giờ đây cho chúng làm lại chắc chúng cũng không dám. Đôi lông mi thì vẫn còn ươn ướt, còn trên môi trên của cả hai bọn chúng vẫn còn dính mồ hôi. Tôi đã quan sát một giấc ngủ rất đỗi ngây thơ, không một chút lo lắng. Liệu cái giấc ngủ này, người ta có gọi là hạnh phúc không?

Giovanni nằm bên rìa giường, mớ tóc quăn đen của hắn bám chặt vào trán, còn đôi môi thì vẫn gợi lên một nụ cười hài lòng, như là hắn vừa thực hiện được một chiến công nào đó. Trên cổ hắn vẫn đeo tấm hình chân dung của mẹ hắn, người đang ở trên thiên đường.

Đột nhiên tôi nghe thấy bước chân trên cầu thang, ngài quận công bước vào với sự hộ tống của hai tá lính đánh thuê, một nửa trong số chúng cầm đuốc. Căn phòng trở nên sáng rực, nhưng không có gì đánh thức nổi giấc ngủ đang say như chết của bọn người tội lỗi kia. Bước rất nhẹ nhàng, không gây tiếng động, ngài quận công đi đến gần giường và nhìn thấy nỗi ô nhục ê chề chưa từng thấy của mình. Mặt ông ta trở nên tái mét vì tức giận; ông ta lập tức rút kiếm và chỉ một nhát chặt phăng cái đầu của Giovanni lìa khỏi thân xác hắn. Angelica đã nhổm dậy và sững sờ nhìn thấy cảnh người ta đã lôi người tình đẫm máu của cô ra khỏi giường, vứt xác hắn qua cửa sổ xuống đống rác. Ngay lập tức cô nàng ngã khuỵu xuống bất tỉnh và đến khi chúng tôi ra đi vẫn chưa tỉnh lại.

Ngài quận công đã hoàn tất công việc của mình rất xuất sắc, nhưng cả người ông đã run lên đầy phấn khích, và tôi đã nhìn thấy, khi bước chân ra khỏi phòng ông ta đã đóng cửa rầm một cái. Tôi cũng bước ra theo ông và đi về hướng của mình. Tôi đi chậm rãi bởi vội vã cũng chẳng để làm gì. Trong sân, ở cách không xa tôi nhìn thấy một đoàn người hộ tống, đốt đuốc soi đường cho ngài quận công, sau đó ông ta biến mất sau cánh cửa vòm, cứ như là hòa luôn vào bóng đêm vậy.

Angelica rơi vào tình trạng sốt cao khủng khiếp, ngự y của triều đình cũng đành bó tay, cô dường như không còn cảm giác gì với mọi thứ xung quanh. Không một ai tỏ chút lòng thương hại dù chỉ là nhỏ nhất đối với cô ta cả, rõ ràng là cô ta chẳng tỏ ra chống đối khi bị cưỡng hiếp, và sự lăng mạ cô ta được coi như là một sự xỉ nhục không thể so sánh với bất kì cái gì đối với gia đình quận công và dòng tộc. Chỉ có một người đàn bà già nua chăm sóc cô ta, không một ai trong triều đình ghé thăm cô cả.

Người ta đã ném thân xác người tình tội lỗi của cô ra sông, bởi họ không muốn để cho cái thây đó ám ảnh lâu trong lâu đài. Người ta nói rằng, cái xác đã bị cuốn ra biển.

Một căn bệnh kì lạ nào đó đã bắt đầu lan truyền trong thành phố. Theo tôi được biết thì triệu chứng ban đầu của nó là người bệnh rét run và đau đầu kinh khủng. Sau đó hai mắt sưng húp lên, lưỡi trương phình, bởi vậy người bệnh không thể nói được, còn cơ thể thì dày đặc những nốt đỏ, máu thối ở trong người rỉ ra ngoài da. Những người bị bệnh kêu gào họ đòi uống nước, bởi vì trong cơ thể của họ đang nóng như lửa đốt. Các thầy thuốc đều bó tay không giúp gì được cho họ. Người ta nói rằng tất cả những người nhiễm bệnh đều đang hấp hối, nhưng bao giờ họ chết thì tôi cũng không rõ.

Dĩ nhiên trong triều đình của chúng tôi thì không có ai mắc bệnh cả. Căn bệnh này chỉ hoành hành trong đám những con người nghèo nhất và đói nhất, đặc biệt là trong đám dân chúng chạy nạn, rõ ràng là căn bệnh này có liên quan đến sự bẩn thỉu không thể tưởng tượng nổi, mà bọn họ đã trải qua trong các túp lều của mình và trong toàn bộ thành phố. Tôi không lấy làm ngạc nhiên bởi bọn họ bị mắc bệnh do môi trường dơ bẩn xung quanh họ.

Tất nhiên cô Angelica cũng mắc bệnh, nhưng là một căn bệnh hoàn toàn khác. Căn bệnh đau khổ của cô ấy cũng đã từng xuất hiện khi cô ấy còn nhỏ, tôi không nhớ chính xác là trong những hoàn cảnh nào. Cô nàng luôn bị đau ốm hoặc là vì những nguyên nhân nào đó, hoặc là vì những cái vớ vẩn, giờ đây tôi mới nhớ ra là có một lần cô ấy đau buồn khi tôi chặt đầu con mèo con của cô ấy.

Căn bệnh quái gở vẫn đang tiếp tục lan rộng. Giờ đây không chỉ những người nghèo mới mắc phải, mà khó có ai tránh nổi được căn bệnh quái đản này. Tai họa đang đến với từng nhà, ở khắp các đường phố và quảng trường, bởi vì toàn bộ dân chúng đều chung sống dưới một vòm trời. Người ta nói rằng ở khắp mọi nơi trong thành phố đều có thể gặp những con bệnh, mặc những bộ quần áo rách nát, lao thẳng ra mặt đường, la hét om sòm. Ruồi muỗi cũng không thể chịu đựng được những con người điên rồ này: Giờ đây đi lại trong thành phố không còn là chuyện đơn giản nữa, trong các câu chuyện của những người chứng kiến thảm họa này thì ẩn chứa đầy những tình tiết kinh tởm, rùng rợn. Hơi thở của những con bệnh thì phát buồn nôn, trên cơ thể họ đầy ung nhọt đang vỡ ra, gây nên một cái mùi kinh tởm. Khi tôi nghe về những điều này thì tôi cảm thấy rợn cả người.

Cũng có người nghi ngờ rằng, chính những kẻ chạy nạn là người có lỗi trong căn bệnh khủng khiếp này. Và họ càng trở nên căm ghét những người chạy nạn. Nhưng tôi cũng nghe thấy ai đó giải thích nguyên nhân của căn bệnh theo một cách hoàn toàn khác. Họ cho rằng căn bệnh dịch hạch này là đại họa do chúa gây nên, sự trừng phạt của chúa trời vì những tội ác tày đình của loài người. Thảm họa trên đã giáng xuống đầu những đứa con của chúa, để giúp họ thoát khỏi tội lỗi của mình.

Tôi rất hài lòng khi xem đây là một sự trừng phạt. Nhưng liệu có phải chúa đang trút tai họa xuống đầu họ không? Điều đó tôi không biết. Rất có thể là do một sức mạnh siêu bí ẩn nào đó.

Thỉnh thoảng tôi ngồi bên khung cửa sổ phòng mình và nhìn xuống thành phố.

Bà quận công phu nhân có một cuộc sống khác thường. Căn phòng ngủ mà bà ta chẳng bao giờ rời bước lúc nào cũng mờ mờ ảo ảo. Bà nói rằng bà không xứng đáng được hưởng ánh sáng mặt trời. Trên tường không treo gì cả, trần trụi chẳng có ghế cũng không có bàn. Chỉ có một cái ghế nhỏ để cầu nguyện. Một phòng tu thật sự. Chiếc giường vẫn ở nguyên vị trí trước kia. Nhưng bà ta không ngủ trên giường mà ngủ ngay dưới sàn nhà, trên ổ rơm. Bà ta không cho phép di chuyển cả ổ rơm đang ngày càng bốc mùi hôi thối. Căn phòng không lúc nào thoáng khí, ngột ngạt và oi bức kinh khủng. Tôi nghẹt thở vì bầu không khí ngột ngạt này. Nếu đi từ chỗ sáng vào phòng thì không nhìn thấy gì cả, dần dần tôi quen mắt với bóng tối và nhận ra hình dáng của bà ta rõ hơn. Lúc nào bạn cũng sẽ nhìn thấy bà ta như chưa mặc xong quần áo. Bà ta hoàn toàn không quan tâm đến việc mình đang mặc gì và dáng vẻ như thế nào. Ánh mắt bà ta xúc động, căng thẳng, hai má trũng sâu vì bà ta đang hành hạ mình và hầu như tuyệt thực. Cô hầu gái nhà quê ngu ngốc thì nhồi nhét tất cả những gì không thể buộc bà chủ ăn. Cái con bé béo tròn ấy ních tất cả những gì người ta quẳng cho nó. Nó vừa than vãn, vừa ngấu nghiến tất cả thức ăn ngon mà bà chủ từ chối.

Con người tội lỗi này giành phần lớn thời gian để cầu nguyện. Bà ta quỳ xuống và đọc những bài cầu nguyện vô bổ của mình. Trước khi cầu nguyện bao giờ bà ta cũng hướng tới bức tượng chúa bị đóng đinh với bài cầu nguyện đặc biệt, hy vọng để chúa tha thứ cho mình. Lúc chán nản, tuyệt vọng bà ta để tràng hạt sang một bên ngước cái nhìn tức giận vào người mà bà ta tạ lỗi, rồi bắt đầu lẩm bẩm bài cầu nguyện của riêng mình. Nhưng đằng nào thì chúa cũng chẳng nghe thấy lời cầu khẩn của bà. Bà ta đứng lên và cũng chẳng nhận được sự tha thứ như lúc trước khi cầu nguyện. Bình thường bà ta không thể đứng dậy nếu không có người hầu giúp. Người ta kể rằng, bà thường khuỵ xuống vì kiệt sức và nằm tại đó cho tới khi một người hầu đến và dìu bà ta đặt vào ổ rơm.

Bây giờ bà ta tự coi mình là người có lỗi nhất trong tất cả những điều bất hạnh của chúng tôi: không phải lỗi của ai cả mà chỉ có tội lỗi của bà ấy là nguyên nhân của tất cả những nỗi đau và tất cả những điều kinh khủng xảy ra trong thành phố. Chưa chắc bà ta đã hiểu rõ về những điều này. Tuy nhiên có thể thấy rõ rằng tất cả những gì xảy ra xung quanh đã lờ mờ được đoán ra. Trong tất cả những điều đó, tôi có cảm giác rằng, bà ta thờ ơ với cái thế giới này và coi tất cả những cái đã xảy ra chỉ là hư vô. Bà ta sống trong thế giới riêng của mình và bà ta cũng có nhiều mối quan tâm riêng.

Bây giờ bà ta đã hiểu rằng tình yêu đối với Riccardo là tội lỗi lớn nhất trong những tội lỗi mà bà ta mắc phải. Vì cái tình yêu này mà bà ta phải bấu víu vào cuộc sống đến như vậy và tiếp nhận nó như một thứ quà tặng quý giá. Bà ta nói rằng bà yêu ông ta nhiều hơn tất cả, rằng tình cảm đối với ông ta choáng ngợp hết cả sự tồn tại của bà và nó làm cho bà hạnh phúc. Không nên yêu một người say mê vô bờ bến như thế. Tình yêu đó chỉ có thể giành cho chúa mà thôi.

Tôi không biết việc tôi mở mắt cho bà ấy về cuộc sống đầy tội lỗi của bà, về hình phạt mà đang đợi bà ta dưới địa ngục liệu có ảnh hưởng đến việc bà ta đang tự hành hạ mình hay không. Tôi đã mô tả cho bà thấy nỗi đau khổ của những con người không trung thực, và bà ngoan ngoãn nghe lời giảng giải của tôi, thời gian gần đây bà bắt đầu lên án mình.

Bà luôn biết ơn tôi, khi tôi đến thăm bà song tôi cũng thường tránh mặt bà.

Angelica đã bình phục sau trận ốm và lại đi được. Nhưng cô ta không xuất hiện ở bàn ăn và nói chung là cả trong cung điện. Tôi chỉ nhìn thấy cô ta một lần ở khu rừng nhỏ cạnh bờ sông, nơi cô ấy ngồi nhìn chằm chằm xuống dòng nước. Mắt cô nàng mênh mông hơn và có một cái gì đó thật trống trải. Dường như cô ta không hề nhận thấy cái ấn tượng đó.

Tôi để ý trên cổ cô ta đeo một dây chuyền có gắn ảnh của Giovanni bị dính máu. Có lẽ cô ta đã tìm thấy nó ở trên giường và giữ làm kỉ niệm về anh ta.

Tôi chợt nghĩ về một điều. Người mẹ đi lên thiên đường trong lúc đứa con trai đang bị giày vò đau khổ đến tận lúc chết trong giấc mơ tội lỗi mà không được xưng tội, không được sám hối. Họ sẽ không bao giờ có thể gặp nhau. Có lẽ Angelica đang cầu nguyện để cô là người cứu rỗi cho linh hồn của anh ta. Một sự cố gắng vô ích.

Tuy nhiên, ai mà biết được cô đang nghĩ gì. Cô không hề thốt ra một lời nào từ lúc bừng tỉnh trong cái đêm kinh hoành đó, chính xác hơn là từ khoảnh khắc cô ta nói lời cuối cùng với tình nhân của mình.

Đối với tôi, khi đã nghe được cuộc đối thoại của họ thì cũng chẳng khó khăn gì đoán ra được những lời nói sau đó.

Cô đã hình dung là tất cả mọi người sẽ xa lánh cô ta.

Có những người tin rằng dịch hạch và những điều khủng khiếp trên đây là sự trừng phạt của chúa trời và không nên khiếp sợ nó mà ngược lại phải cảm ơn vì quyền năng vĩ đại của người, những con người này hiện giờ đang lang thanh trên các đường phố truyền bá niềm tin và cũng tự hành hạ thân xác mình để giúp thượng đế cứu rỗi tâm hồn họ. Đó là những bộ xương khô di động với những cặp mắt lờ đờ, kiệt sức đến nỗi họ sẽ không thể đứng vững nếu như họ không hưng phấn cao độ, theo sau họ còn có rất nhiều người đã bị lây nhiễm niềm phấn khích đó. Những con người này bỏ công việc, bỏ nhà cửa, bỏ cả người thân, thậm chí là cả những đứa con đang hấp hối và tập trung hướng về chúa. Bỗng nhiên vang lên một tiếng kêu thất thanh, một tiếng la hét hân hoan, một người nhảy lên cầu, chen vào đám đông và hét lên một tiếng gì đó the the và không rõ ràng rồi bắt đầu tự quất vào mình. Tất cả những người này bắt đầu tán tụng chúa trời và những người xem ở dọc hai bên đường cũng quỳ xuống. Trần gian đối với họ đã mất giá trị. Bây giờ họ chỉ quan tâm đến việc cứu rỗi linh hồn.

Theo tin đồn thì các cha đạo khinh rẻ những con người cuồng tín này, vì họ làm cho dân chúng lãng quên nhà thờ, quên những đoàn diễu hành nghiêm trang với thánh giá và những cậu bé trong ban hát của nhà thờ. Họ vung những bình hương thơm giữa mùi hôi của đường phố các cha xứ cho rằng những con người tự hành xác là những tín đồ xấu xa. Vì lòng cuồng tín của mình mà nguồn an ủi do lòng tin chân chính ban tặng đã mất di. Chúa phán rằng, không thể nhìn những con người này một cách vui vẻ và đồng tình. Nhưng tôi cho rằng họ cũng có thể có niềm tin đích thực vì họ coi trọng niềm tin của mình một cách thực sự. Cha sứ không thích để những bài truyền giáo của họ được tiếp nhận nghiêm chỉnh.

Tuy nhiên có những người chịu ảnh hưởng của những điều kinh khủng xảy ra xung quanh họ, theo một cách khác. Những con người này yêu cuộc sống hiện tại hơn trước kia. Nỗi sợ hãi về cái chết buộc họ phải bấu víu vào cuộc sống bằng bất cứ giá nào. Có tin đồn rằng ở một số khu vực trong thành phố nhiều lễ hội không chấm dứt cả ban ngày lẫn ban đêm. Trong đám dân chạy nạn có những người bằng những khả năng có thể tìm mọi cách đắm mình vào tội ác. Họ bấu víu vào cuộc sống đáng thương của mình, họ không muốn xa rời nó, và có lúc bọn họ kéo đến trước cánh cổng lâu đài, người ta cũng bố thí cho họ bánh mỳ và những con người phá hoại này lại giận dữ chia nhau.

Nhưng người ta cũng nói đến những con người hy sinh bản thân mình vì những người thân, hoặc sẵn sàng chăm sóc quan tâm đến những con bệnh, bất chấp những điều này làm họ có thể mắc bệnh. Họ hoàn toàn thờ ơ với cái chết và với bất cứ mối nguy hiểm nào, dường như họ không hiểu là họ đang mạo hiểm. Có thể coi họ như những tín đồ tôn giáo cuồng tín, nhưng chỉ khác ở cách thể hiện mà thôi.

Như vậy, những người trong thành phố nếu cả tin vào những câu chuyện xảy ra trước đây, thì họ sẽ tiếp tục sống như đã từng sống, mỗi người theo cách riêng của mình, theo khuynh hướng của mình, thế thì kết quả hình phạt của chúa hoàn toàn vô ích. Chính vì thế tôi rất nghi ngờ rằng liệu có phải chúa sắp xếp mọi sự hay không? Chúa có ban cho họ bệnh dịch hạch hay những thử thách ác nghiệt khác nữa không? Hôm nay bà Phiametta đi ngang qua chỗ tôi. Tất nhiên bà ta chẳng ban cho tôi dù chỉ một cái nhìn. Nhưng bà ta trông thật đẹp với cái vẻ điềm đạm của mình. Trong cái cảnh chen lấn tồi tệ, ngột ngạt như hiện nay thì bà ta thật như một luồng gió mát.

Trên khuôn mặt của bà, nơi vẻ kiêu kì có một nhẽ gì đó thật tươi mát, có một sự bình thản không thể diễn tả nổi. Bà ta không cho phép cái hèn hạ bẩn thỉu của cuộc sống tỏa lên mình, bà ta mạnh mẽ hơn sự dơ bẩn ấy. Bà ta biết lợi dụng sự đời. Khó nhận thấy rằng bà ta đã dần chiếm chỗ bà của bà quận công và bắt đầu giữ vai trò là chủ trong cung điện. Tất cả những kẻ hầu người hạ đã hiểu rõ hơn là không còn làm gì được nữa và đã chịu khuất phục. Không thể không khâm phục bà ta được.

Nếu như có người nào khác đi cạnh tôi mà không nhìn tôi thì điều đó làm tôi rất tức giận. Nhưng trong trường hợp này tôi thấy điều đó hoàn toàn bình thường.

Tôi hiểu rất rõ tại sao ngài quận công lại yêu Phiametta. Chính tôi cũng có thể hiểu, nhưng đó lại là chuyện khác. Và nói chung thì liệu tôi có thể yêu ai không? Tôi không biết. Nếu có thể thì có lẽ chỉ là bà quận công. Nhưng thay vì thế tôi lại căm ghét bà ta.

Tôi cảm thấy rằng bà ta là người duy nhất mà tôi có thể yêu. Làm sao điều đó xảy ra được, không thể hiểu nổi, đối với tôi điều đó hoàn toàn không thể hiểu nổi.

Angelica đã trẫm mình xuống dòng sông. Thực tế là không có ai trông thấy bởi vì cô ta phải làm điều tồi tệ này vào tối hoặc đêm hôm qua. Nhưng cô có để lại một bức thư kể rõ rằng cô ta tự tử chính bằng cách đó. Cả ngày người ta đi tìm thi thể của cô ta trên khắp con sông bao quanh thành phố nhưng không có kết quả. Có thể thân xác cô ta đã trôi ra biển như Giovanni rồi.

Cung điện của chúng tôi chìm ngập trong nỗi kinh hoàng, tất cả mọi người đều kinh ngạc và không thể tin rằng cô ta đã chết. Theo tôi, tất cả rất rõ ràng! Tình nhân của cô ta đã chết và cô ta cũng chết theo. Tất cả mọi người đều khóc than, tự xỉ vả mình. Và trội hơn cả là những lời xì xào về bức thư. Họ nói không ngớt với nhau về nội dung của nó và đọc to cho nhau nghe. Mọi người nói rằng bức thư đã gây cho ngài quận công cơn sốc, ông ta xúc động mạnh với những gì vừa xảy ra. Các quý bà nức nở và thở dài, đơn giản họ chảy nước mắt vì cách thể hiện sự xúc động của bức thư. Đối với tôi những giọt nước mắt và những tiếng thở dài thật khó hiểu. Tôi không thể hiểu được có điều gì không bình thường trong bức thư này. Bởi vì bức thư không hề làm thay đổi tội lỗi mà chính họ đã từng bàn tán. Tội lỗi vẫn là tội lỗi. Bức thư chẳng có nội dung gì cả.

Tôi đọc bức thư này hàng trăm lần đến phát chán và tôi còn thuộc làu nữa. Bức thư viết như sau:

“Tôi không thể sống cùng các người được nữa. Các người đã rất tốt với tôi. Nhưng tôi không hiểu các người. Tôi không hiểu tại sao các người có thể cướp đi người yêu của tôi. Người mà đến từ đất nước xa xôi để nói với tôi rằng trên thế gian này có tồn tại tình yêu.

Tôi đã không biết rằng có tồn tại một tình cảm như tình yêu. Nhưng khi tôi nhìn thấy Giovanni tôi hiểu rằng tình yêu đó là điều duy nhất tồn tại trên thế gian này, còn tất cả những thứ khác chẳng là gì cả. Chính giây phút khi gặp anh ấy tôi mới hiểu rằng tại sao cho đến lúc đó tôi đã sống một cuộc sống buồn chán như thế.

Và bây giờ tôi không thể sống thiếu anh ấy. Tôi muốn đi theo anh ấy. Tôi đã cầu chúa và chúa hứa với tôi rằng tôi và Giovanni sẽ gặp nhau và sẽ mãi bên nhau. Nhưng chúa dẫn tôi đi đâu? Chúa không thể nói cho tôi biết được. Tôi chỉ cần ngủ yên dưới nước và chúa sẽ mang tôi đến nơi tôi cần đi.

Vì thế các người không cần nghĩ là tôi đã tự tử. Tôi chỉ làm như chúa nói với tôi. Và tôi không chết mà đơn giản chỉ đi xa để mãi sống với người tôi yêu.

Tôi đeo dây chuyền có ảnh mặc dù anh ấy không thuộc về tôi. Bởi vì tôi đã được chúa trời nói như thế. Tôi mở bức ảnh ra và nhìn vào tấm chân dung và tôi muốn đi khỏi thế giới này.

Tôi muốn nói với các người rằng hãy tha thứ cho tôi. Và từ đáy lòng mình tôi cũng tha thứ cho các người.

Angelica.”

Bà quận công phu nhân tự đập đầu mình và cho rằng bà ta là người có lỗi trong cái chết của Angelica. Tôi thấy đây là lần đầu tiên bà ta thể hiện sự quan tâm nào đó đến đứa con của mình. Bà ta còn tự hành hạ mình nhiều hơn trước kia, kinh khủng hơn trước kia để gột rửa tội lỗi của mình. Bà ta chẳng ăn uống gì cả, bà chỉ cầu nguyện trước chúa bị đóng đinh câu rút về sự tha thứ.

Nhưng chúa không trả lời.

Hôm nay trước bữa ăn tối ngài quận công đã cử tôi mang bức thư đến cho ngài đại sư Bernardo ở Santa Croche. Ông này đã từ lâu không thấy xuất hiện trong triều đình. Có thể nói là tôi đã quên mất sự tồn tại của ông. Tôi vào thành phố với sự miễn cưỡng, bởi chính lúc này đây trong thành phố đang xuất hiện căn bệnh dịch hạch. Tôi không sợ những con bệnh nhưng có những điều mà không thể chỉ đơn thuần thấy được hay đập vào mắt mình. Thậm chí có thể nói rằng, tôi rất sợ nhìn những cảnh rợn người của căn bệnh quái quỷ này. Tôi không muốn nhìn tý nào. Nhưng tôi đành phải nhìn, và thực sự trông rất khủng khiếp. Bên cạnh đó thì tất cả những điều này gây cho tôi một ấn tượng sâu sắc: những điều đã nhìn thấy làm cho tôi bàng hoàng sửng sốt về một thời trần truồng nguyên thủy của con người, gây cho tôi cái cảm giác về một cuộc sống phù du ngắn ngủi trên toàn trái đất. Những con bệnh, những người đang hấp hối nằm la liệt khắp trên con đường tôi đi, còn các lão thầy tu, các thợ đào huyệt đầu đội mũ trùm đen bịt kín mặt chỉ hở mỗi hai con mắt thì đi thu lượm các xác chết với bộ dạng khó chịu. Những thân xác đầy điềm gở của họ dường như vừa từ dưới đất chui lên. Tôi có cảm giác là mình đang đi trên thế giới của xác chết. Thậm chí nếu như có ai đó chưa mắc phải căn bệnh này thì cũng đã rất đau buồn lo sợ sự chết chóc. Những con người kiệt quệ sinh lực này, với đôi mắt sâu hõm đang lê bước trên khắp các đường phố, hồi tưởng về những người đã giã từ thế giới khủng khiếp này. Với một niềm tin rờn rợn của những kẻ mộng du, những con người sống sót lũ lượt kéo nhau đi xung quanh những thi thể đang quằn quại trong những bộ quần áo rách nát, những thân xác mà thậm chí không thể khẳng định là liệu còn sống hay không. Thật khó có thể hình dung ra một cái gì đó thảm thương và ghê tởm hơn những cái xác bệnh hoạn này, và tôi buộc phải quay mặt đi chỗ khác, để không bị nôn mửa ra đấy. Có thể nhìn thấy rất rõ những cái ung nhọt gớm ghiếc lộ ra qua lỗ thủng của những bộ quần áo rách rưới, những chỗ lở loét ở trên da báo hiệu giai đoạn cuối của căn bệnh đang đến gần. Một số kẻ thì gào thét lên để chứng tỏ cho mọi người thấy là bọn họ vẫn còn cỏ thể sống, một số khác thì đang trong tình trạng hôn mê bất tỉnh, mặc dù chưa chết nhưng vẫn co giật quằn quại. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy cái sự khốn nạn đến như vậy của con người. Có những kẻ ẩn chứa trong mắt mình một cái nhìn chòng chọc, cháy lên những suy nghĩ điên rồ, chúng lườm những ai vừa đem nước đến cho những con bệnh, chúng giằng giật gàu múc nước từ tay họ, đổ hết đi những giọt nước quý giá. Thậm chí còn có cả những kẻ bò bằng cả hai tay lẫn hai chân, như những loài ác thú, đến gần những cái giếng, niềm mong muốn tha thiết của tất cả những con người bất hạnh, để thực hiện những hành động bất lương của mình. Những sinh vật đáng khinh bỉ này cũng phải đang bấu víu lấy cuộc sống, bởi vậy chúng đã mất đi nhân tính con người, đánh mất đi những tàn dư cuối cùng trong phẩm chất con người. Tôi không muốn nói về mùi hôi thối bốc ra từ những con bệnh, bởi cứ hình dung đến nó là tôi lại buồn nôn.

Tôi đã bắt gặp đại sư Bernardo đang đắm mình chiêm ngưỡng “Buổi họp mặt kín” của ông, thực ra trước đây tôi chưa từng bắt gặp ông như vậy. Ông ta ngồi, hơi chúc mái đầu tóc bạc về phía trước, và tôi có cẩm giác là ông ta đang ngày càng già đi. Khi ngồi vào bàn ăn, chúa Giê su lấy bánh mỳ cho các học trò. Trên đầu chúa là vầng hào quang thần thánh. Những li rượu vang bầy đầy xung quanh chiếc bàn được trải bằng một chiếc khăn vải lanh trắng tinh. Ở đây thì không có những con người đói và khát. Chỉ có ông già bên cạnh bảng màu và các cây cọ vẽ đang đầm mình trong những suy nghĩ u sầu.

Ông ta chẳng trả lời khi tôi nói rằng tôi chuyển đến ông bức thư của ngài quận công, ông ta chỉ giơ tay ra rồi nói rằng tôi muốn đi đâu thì đi. Ông ta không muốn để cho người ta lôi ông đi khỏi thế giới của ông. Nhưng thế giới nào đây?

Tôi rời khỏi Santa Croche mà lòng vẫn đầy thắc mắc.

Trên đường trở về tôi đi ngang qua ngôi tháp chuông, chính ngôi tháp chuông nhô cao hơn tất cả mọi tháp khác. Trong thời chiến tranh tất nhiên người ta thôi mọi công việc xây cất, và tất cả đã quên đi ngôi tháp này. Bởi vậy ngọn tháp vẫn chưa được hoàn tất, phần phía trên ngôi tháp xây rất gồ ghề và không vuông vắn, bởi vì người ta đã bỏ dở công việc hoàn thiện nó. Ngôi tháp giống như đống phế thải, mặc dù những hình chạm khắc bằng đồng ở chân ngôi tháp vẫn thể hiện được cảnh trong cuộc đời của chúa cứu thế, phần chạm khắc này đã hoàn tất và rất thành công. Tôi biết trước sự việc sẽ như vậy.

Lâu đài của chúng tôi chìm trong tang tóc. Nhưng bức tường và các đồ đạc được bao phủ toàn màu đen, tất cả mọi người phải nói chuyên nhỏ và đi kiễng chân. Các quý bà trong triều đình mặc áo choàng đen bằng vải satanh. Còn các quý ông thì mặc bộ lễ phục may bằng vải nhung đen và đi những đôi găng tay màu đen.

Tất cả mọi người đều có lỗi trong cái chết của Angelica. Khi còn sống cô chưa bao giờ làm ai bận lòng. Còn trong triều đình thì cũng rất đau buồn. Sự tiếc thương Don Riccardo giờ được thay bằng sự thương tiếc Angelica. Điều đó có nghĩa là Don Riccardo đã đến lúc chết thực sự. Nhưng người ta cũng chẳng buồn nhớ, xem cái người vừa mới chết kia là con người như thế nào lúc sống, bởi vì cũng chẳng có gì đặc biệt, chẳng có gì là thú vị trong con người cô cả, nhưng cũng cần phải nói rằng, không ai biết cô là người như thế nào. Chỉ đơn giản là người ta khóc thương cô. Tất cả đều thở dài trước số phận bất hạnh của cô con gái trẻ nhà quận công và thậm chí là họ cũng cảm thương với số phận của Giovanni mặc dù hắn ta thuộc về phe kẻ thù, một con người đáng căm ghét nhất trong tất cả mọi người. Họ thở dài trước tình yêu của đôi trai gái, không có ai nghi ngờ về điều là họ đã chết vì tình yêu. Tình yêu và sự chết chóc đó là những đề tài luôn thu hút sự quan tâm của mọi người bởi vì người ta luôn than khóc rất ngọt ngào để thương xót cho tình yêu và cái chết, đặc biệt là khi chúng hòa quyện vào nhau.

Rõ ràng là ngài quận công đau khổ thực sự. Rồi mọi người cũng cảm nhận được sự đau khổ đó: ông ta hoàn toàn tách biệt và chẳng chia sẻ cùng ai cả. Trong bất kỳ trường hợp nào, dù có chuyện gì xảy ra ông ta đều chia sẻ với tôi và làm tôi vui nhờ sự tin tưởng của ông. Nhưng lần này, thì hoàn toàn khác. Giờ đây thì ngược lại, tôi có cảm giác là ông lẩn tránh tôi. Ông ta không cần sự phục vụ của tôi như trước kia nữa. Ông sai tôi chuyển bức thư cho ngài Bernardo, nhưng không đưa trực tiếp cho tôi mà lại đưa qua một người trong triều.

Đôi khi tôi có cảm tưởng rằng ông ta bắt đầu sợ tôi.

Một con bé nhà quê có đôi má ửng đỏ, con hầu phòng của bà quận công đã bị ốm. Mặt con bé trở nên tái mét. Có chuyện gì xảy ra với nó?

Thật lạ là tôi không hề cảm thấy sợ cái dịch bệnh đang hoành hành xung quanh tôi. Tôi có cảm tưởng là tôi không có khả năng nhiễm bệnh, tôi không mắc phải bệnh đó. Tại sao như vậy? Đơn giản tôi chỉ cảm thấy vậy.

Đại dịch này nguy hiểm đối với tất cả mọi người, nó nguy hiểm cả trong tiềm thức của họ, nhưng không nguy hiểm đối với tôi.

Bà quận công buông xuôi tất cả.

Một điều duy nhất có thể nhắc đến, đó là nguồn gốc cao sang của bà và một phẩm chất đạo đức trước kia của bà, ấy là tính kiên trì, với phẩm chất này bà đã đi suốt trên con đường của mình, không cho phép bất kì ai cản trở.

Ngay sau khi con bé hầu phòng ốm, thì không ai được phép vào phòng của bà quận công, và căn phòng trở nên bẩn thỉu không thể tả nổi. Bà ta chẳng ăn cái gì, nôn mửa đến nỗi mà tôi không thể hiểu tại sao bà ấy vẫn chưa bị tàn lụi.

Tôi là người duy nhất được phép vào thăm bà ấy. Bà ta quỳ gối và tụng kinh, chờ tôi đến giúp bà ấy trong nỗi bất hạnh của chính bà và cho phép bà ấy xưng tội.

Tôi không thể yên lòng được. Tôi cảm thấy rất sợ hãi về cái quyền mà đôi khi tôi có được trước những con người. Tôi sẽ mô tả chuyến viếng thăm của tôi.

Ngay lúc đầu tiên khi tôi bước vào, như thường lệ thì tôi chẳng nhìn thấy cái gì cả. Sau đó thì căn phòng cũng sáng dần lên, mặc dù những tấm rèm vẫn che kín các cửa sổ, sau đó tôi nhận ra bà quận công đang ngồi trước tượng chúa, lẩm nhẩm những lời cầu nguyện không ngớt. Bà ta đã chìm đắm trong bài cầu nguyện của mình mà không nghe thấy tiếng tôi mở cửa.

Tôi cảm thấy không thể thở được trong căn phòng đầy ngột ngạt. Tôi bắt đầu khó chịu với cái mùi bốc lên với các thứ ánh sáng mờ mờ ảo ảo, và cái thân hình giờ đây gầy khô đét của bà, đôi vai trần thô tục, gân guốc nổi đầy trên cổ, mái tóc xù như cái tổ của loài chim ác già, đó là toàn bộ cái cơ thể thảm thương của bà ta, thế mà đã có lúc cái cơ thể này lại mang đầy giá trị của tình yêu. Tôi cảm thấy cái gì đó giống như là một sự phát khùng, phát điên. Mặc dù tôi căm ghét những con người như vậy, nhưng tôi không thể nhìn họ hạ mình xuống.

Bỗng nhiên tôi nghe thất một tiếng kêu như điên dại phát ra từ cái bóng mờ ảo, trước khi bà ta kịp nhận ra tôi.

Bà ta đang lẩm bẩm cái gì đấy? Chẳng lẽ tôi chưa nói với bà là không cần phải cầu nguyện nữa! Tôi chán ngấy những lời cầu xin của bà rồi!

Bà ta quay mặt đi, không hề tỏ ra hoảng sợ, mà chỉ khóc lóc rên rỉ, và nhìn tôi bằng ánh mắt khuất phục. Những người đàn ông thường bớt tức giận khi gặp ánh mắt như vậy. Tôi vẫn tiếp tục một cách không hề thương xót.

Bà tưởng là ông ấy cần những lời cầu xin của bà hay sao? Bà nghĩ là ông ấy sẽ tha thứ cho bà, nếu như bà quỳ sụp xuống chân ông ấy nài nỉ và thú tội ư? Đừng dùng thủ đoạn để tỏ ra hối hận! Bà cho là bà lừa được ông ấy à? Bà tưởng ông ấy không nhìn thấy được con người bà hay sao?

Bà yêu Don Riccardo, chứ không yêu ông nhà! Bà tưởng, tôi không biết sao! Bà nghĩ, bà lừa được tôi à, bà định làm bộ làm tịch à, nào là ăn chay, nào là những trận roi đòn lên tấm thân trụy lạc ư? Bà chỉ xót thương người tình của bà, chứ bà chẳng hoàn toàn yêu gì chúa! Bà mà yêu chúa ư!

Bà ta nhìn tôi với nỗi khiếp sợ. Đôi môi tái mét đã run lên. Sau đó bà ta quỳ sụp xuống chân tôi và kêu.

- Đấy là sự thật! Sự thật! Hãy cứu giúp tôi! Hãy cứu giúp tôi với!

Khi nghe lời thừa nhận của bà ta, tôi như hết chịu nổi nữa.

- Đồ dâm dục!, tôi hét lên. Bà đang thể hiện tình yêu của mình với đấng cứu thế, thế mà chính bà lại thông dâm lén lút với một con người trụy lạc từ địa ngục. Bà đã lừa chúa trời của mình, vậy thì ngài sẽ quẳng bà xuống bảy tầng địa ngục! Bà là con quỷ cái đáng nguyền rủa, hãy ngoan ngoãn nhìn vào đức chúa, và hiến dâng cho người tình yêu nồng nhiệt của mình, thế mà bà thì tận hưởng vòng tay âu yếm của người khác! Bà không hiểu là ông nhà căm ghét bà à? Bà không hiểu sao!

- Tôi hiểu! Tôi hiểu! Bà ta rên rỉ, quằn quại như con giun bị dẫm dưới chân tôi. Tôi cảm thấy ghê tởm khi nhìn thấy bà ta đang cúi rạp mình xuống, nhưng tôi chẳng thấy làm lạ với hành động này, và tôi thực sự không hài lòng khi thấy bà ta như vậy. Bà ta nắm lấy tay tôi: Hãy trừng phạt tôi đi, hãy trừng phạt tôi đi, ông hãy thay chúa trừng phạt! Bà ta gào lên. Và bà lấy cái roi, bắt tôi cầm nó đánh vào người bà như một con chó. Tôi chộp lấy cái roi với một cảm giác hỗn tạp của cả sự gớm ghiếc, sự điên dại và bắt đầu quất lên cái cơ thể đáng ghét của bà ta, tôi còn nghe thấy cả tiếng hét của chính mình.

- Đó là Đức chúa trời! Chúa chính là người được treo ở trên tường đấy, người sẽ giáng tai họa xuống con người bà, bởi bà đã hôn bao nhiêu người bằng đôi môi điêu toa, giả dối, nồng cháy của mình, và bà nói là bà yêu họ! Liệu bà có biết tình yêu là gì không? Liệu bà có biết đàn ông muốn gì ở bà không? Tôi đau khổ vì bà đấy, còn bà thì không nghĩ về điều đó! Bà hãy hiểu đau khổ là gì nhé!

Tôi đã hoàn toàn mất bình tĩnh, liệu tôi có biết là tôi đang làm gì không. Không biết à? Không thể như thế được! Tôi biết rất rõ! Tôi đã hoàn tất sự báo thù của mình, tôi đã trừng phạt vì tất cả mọi điều! Tôi đã thực hiện quyền xét xử! Tôi đã hoàn tất cái quyền hành khủng khiếp của mình trước con người! Nhưng mặc dù thế, tôi cảm thấy thực sự vui vẻ.

Bà ta chẳng hề rên rỉ vì tất cả những gì xảy ra. Ngược lại bà ta còn cảm thấy yên lòng và nguôi ngoai. Và khi tất cả mọi việc đã xong xuôi, bà ta nằm lại, sau khi đã được tôi giải thoát khỏi những nỗi thống khổ. Hãy tự thiêu cháy mình trong ngọn lửa đi! Và hãy để cho ngọn lửa liếm hết con người ti tiện của bà, vì những tội lỗi của ái tình mà bà đã gây ra!

Sau khi tuyên bố bản án, tôi đi khỏi, để bà ta nằm lại trong phòng vật vã nửa tỉnh nửa mê.

Tôi đi về phòng mình. Tim tôi đập thình thịch và tôi trở về căn phòng dành cho người lùn và khóa trái cửa lại, giờ đây tạm thời tôi không viết gì cả, cảm xúc của tôi đã lắng xuống và tôi chỉ cảm thấy một sự trống trải vô tận, chán ngấy. Tim của tôi không rộn ràng nữa, tôi chẳng cảm thấy gì cả. Tôi lại ngắm khoảng không, khuôn mặt cứng đờ của tôi đang khô héo và thiểu não. Có thể là bà quận công đã nói đúng khi tôi nói rằng tôi là sự trừng phạt của thượng đế.

Bây giờ vào buổi chiều hằng ngày tôi thường ngồi và nhìn ra thành phố nằm trải dài xa xa dưới chân tôi. Khi hoàng hôn buông xuống, cũng là lúc tiếng chuông tang lễ đã dứt, những ngôi đền thờ và những khu nhà dân đang chìm dần vào bóng tối. Tôi nhận thấy những luồng khói của đám cháy trong các đống lửa tang lễ đang len lỏi giữa các ngôi nhà, mùi hôi thối ở đây xông lên mũi tôi. Như một chiếc khăn voan dày đặc đang che phủ mặt đất, bóng tối đã tràn ngập không gian.

Cuộc sống ư! Ta cần nó để làm gì, nó đem lại lợi ích gì, nó có ý nghĩa gì đây khi mà ta đang tiếp tục sống trong vô vọng và trống rỗng?

Tôi trở ngược bó đuốc, dập nó xuống đất và bóng đêm ập tới. Cô hầu gái đã chết. Đôi má tươi như hoa nở của cô đã không ngăn được thần chết. Lưỡi hái của thần chết dịch hạch đã đưa cô xuống địa ngục, mặc dù người ta đã đoán được việc đó từ lâu rồi nên cô ta không bị đau khổ như những người khác.

Bà Phiametta cũng đã chết. Bà ta đã ốm vào buổi sáng ngày hôm qua, và chỉ sau vài giờ bà ta đã qua đời. Tôi nhìn thấy bà ta, khi những thầy tu như những bóng ma đi vào liệm xác. Thật khủng khiếp khi nhìn bà ấy, khuôn mặt bà ta sưng phồng lên và biến dạng, hình như là cả thân xác cũng vậy. Trông bà ta chẳng còn gì vẻ kiêu sa nữa. Chỉ là một xác chết gớm ghiếc, không hơn. Họ đã che khuôn mặt rùng rợn của bà rồi mang đi.

Trong triều đình của chúng tôi người ta khiếp sợ dịch bệnh truyền nhiễm khủng khiếp này và chỉ cố gắng nhanh nhanh chóng chóng thoát khỏi những con người xấu số. Nhưng chiều ngày hôm nay, người ta sẽ mai táng bà với nghi thức đặc biệt, đó là ý chỉ của ngài quận công. Thật có khác gì đâu bởi đằng nào bà ta cũng đã chết rồi. Không một ai thương xót bà ta cả.

Ngài quận công có thể là cũng đau buồn. Nhưng rồi đâu cũng lại vào đấy. Hoặc là ngài cảm thấy nhẹ nhõm không ai hiểu vì sao ngài quận công chẳng trò chuyện với ai cả. Mặt ông tái nhợt vẻ kiệt sức, ông ta không giống trước đây một tí nào. Vầng trán của ông đầy nếp nhăn. Cái nhìn u ám ánh lên một ánh sáng kì lạ và và nặng trĩu lo âu.

Tôi thấy ông hôm nay rất tầm thường. Bởi từ lâu rồi tôi hiếm khi gặp ông. Tôi không còn phục vụ ông nhiều ở bàn ăn nữa. Từ cái lần xảy ra chuyện đó tôi cũng không đến chỗ bà quận công. Người ta nói rằng bà ta nằm nửa tỉnh nửa mê. Ngài quận công thường đến thăm bà, ngồi suốt đêm bên cạnh giường bà vì dẫu sao thì Phiametta cũng đã chết rồi.

Những con người này là những sinh vật lạ. Tôi không bao giờ có thể hiểu được tình yêu mà họ dành cho nhau.

Kẻ thù xâm lược đã ngừng phong tỏa và rút khỏi thành phố ngay sau khi căn bệnh dịch hạch hoành hành trong binh lính. Những tên lính đánh thuê của Boccaroza cũng không muốn chiến đấu với kẻ thù như thế này. Thật vậy, căn bệnh dịch hạch đã làm cho chiến tranh chấm dứt. Đương nhiên không có cái gì có đủ sức mạnh để làm được điều này. Cả hai nước đều bị tàn phá, đặc biệt là nước chúng tôi, và cả hai dân tộc rất có thể sợ bị tiêu hao nếu cuộc chiến tiếp diễn. Người Montan cũng chẳng làm gì. Rất có thể, quân lính của họ sẽ mang dịch bệnh truyền nhiễm về nhà mình.

Trong triều đình của chúng tôi ngày càng có nhiều người chết. Những vật trang hoàng trong đám tang của Angelia vẫn còn nguyên đấy và chúng đã có ảnh hưởng mạnh đến tâm trạng tang tóc của mọi người. Tôi hoàn toàn không còn phục vụ trong triều nữa, không ai gọi đến tôi, không ai cần đến tôi. Ngài quận công cũng ít nhớ đến bọn người hầu. Nói chung tôi cũng không gặp ông ta nhiều.

Tôi nhận thấy với triều đình có cái gì đó không ổn. Nhưng tôi không hiểu đó là lẽ gì và nguyên nhân vì sao. Liệu người ta có nói gì về tôi không, tôi đã trở về căn phòng nhỏ của mình, sống ở đó một mình. Tôi không xuống ăn tối, tôi có giữ lại mấy mẩu bánh mỳ, và tôi đã ăn nốt. Đối với tôi như vậy là hoàn toàn đủ, nhu cầu đòi hỏi của tôi thực cũng không cao lắm. Cô đơn, tôi ngồi một mình dưới trần nhà thấp, đắm chìm trong suy nghĩ.

Và tôi ngày càng trở nên thích thú với sự cô đơn mà không bị ai xâm phạm và quấy rầy này. Đã từ lâu rồi tôi chẳng viết gì cả. Điều này còn liên quan đến các sự kiện mà đột nhiên xâm phạm vào cuộc sống của tôi và cản trở không cho tôi tiếp tục viết thậm chí tôi cũng không được phép thăm ngài quận công.

Tôi đã bị xích vào chân tường trong một căn phòng dưới tầng hầm của tòa lâu đài. Cách đó không lâu tay của tôi cũng bị xích lại, tôi không hiểu người ta làm như thế với mục đích gì, bởi dù thế nào thì tôi cũng không thể chạy thoát được. Chắc có lẽ là để gia tăng thêm hình phạt. Nhưng bây giờ thì cuối cùng họ cũng đã tháo cùm ra cho tôi, tôi không biết là tại sao, tôi không hỏi về điều này, nói chung là tôi chẳng hỏi gì cả. Không có cái cùm thì tôi cũng cảm thấy tiện hơn một chút, mặc dù là chẳng có cái gì thay đổi cả và khi đó tôi đã thuyết phục Anselmo, viên cai ngục của tôi, lấy hộ cho tôi một vật dụng viết lách và tập ghi chép của tôi ở căn buồng dành cho những tên lùn, để tôi thỉnh thoảng giải khuây. Khi lấy hộ tôi những thứ yêu cầu, anh chàng cai ngục cũng cảm thấy lo ngại, bởi vì mặc dù họ đã tháo cùm tay cho tôi nhưng chắc gì họ đã đồng ý để cho anh ta làm việc này, chính bản thân anh chàng đã nói rằng mình không có quyền cho phép tôi làm bất cứ cái gì. Nhưng anh cai ngục là một chàng trai tốt và rất sẵn lòng giúp đỡ người khác, nên cuối cùng tôi đã thuyết phục được anh ta.

Tôi đã đọc lại bản ghi chép của mình từ đầu. Mỗi ngày tôi đọc một chút, và tôi cảm thấy hài lòng khi mình đang trải qua cuộc sống của chính mình và cuộc sống của nhiều người khác nữa, và đây cũng là lần đầu tiên tôi có thời gian rảnh rỗi để suy nghĩ về tất cả mọi việc. Bây giờ tôi đang cố thử viết tiếp tục từ cái chỗ mà tôi đã dừng lại, để đưa vào cái sự tồn tại đơn điệu của tôi một chút gì đó độc đáo. Thành thật mà nói thì tôi thậm chí cũng không biết tôi đã ngồi ở đây bao lâu rồi, bởi ngày nào cũng giống như ngày nào, tôi giờ đây không thể tính thời gian và hoàn toàn không theo dõi được tiến trình của nó. Nhưng cái thời điểm người ta dẫn tôi vào chỗ hẻo lánh này và cùm tôi vào bức tường này thì tôi hoàn toàn không nhớ rõ. Một lần vào buổi sáng, khi tôi đang ngồi trầm tư trong căn phòng của mình thì đột nhiên ở cánh cửa xuất hiện một người thuộc hạ của đao phủ, hắn bắt tôi phải đi theo hắn. Hắn không hề đưa ra cho tôi một lời giải thích nào, còn tôi thì chẳng hỏi gì hắn cả, bởi tôi coi hắn là một người không đáng để tôi nói chuyện. Hắn dẫn tôi vào phòng tra tấn, nơi mà đã có một tên đao phủ to lớn, mặt đỏ, mình trần đang ngồi đợi sẵn. Ở đây có quan tòa, và sau đó người ta chỉ cho tôi những dụng cụ tra tấn, vị quan tòa ra lệnh cho tôi phải kể lại trung thực tất cả những gì xảy ra trong những lần tôi đến thăm bà quận công và tại sao bây giờ bà ta lại lâm vào tình trạng thảm hại đến vậy. Dĩ nhiên là tôi từ chối trả lời câu hỏi này, quan tòa đã hai lần buộc tôi phải công nhận, nhưng vô ích, lúc đó tên đao phủ túm lấy tôi và trói tôi vào con ngựa gỗ để chuẩn bị nhục hình. Xong hình như cái con ngựa gỗ này không thích hợp đối với một cơ thể có kích cỡ như tôi, và tôi buộc phải đợi bọn chúng khớp lại cho vừa với tôi. Tôi đã nghe thấy những lời nói thô tục và đùa giỡn kệch cỡm của bọn chúng, chúng nói rằng chúng sẽ biến tôi thành một chàng trai dài, và cao lớn. Sau đó bọ chúng lôi tôi lên con ngựa gỗ và bắt đầu tra tấn tôi bằng một cực hình khủng khiếp nhất. Mặc dù đau nhưng tôi không để lộ ra một tiếng kêu nào, mà chỉ nhìn bọn người này một cách đầy chế giễu, bởi chúng đã sử dụng một thủ đoạn thật hèn hạ. Còn người đại diện cho luật pháp thì đứng đấy để nghe những lời thú tội của tôi, nhưng chẳng có một lời nào phát ra từ đôi môi của tôi cả. Tôi không hề mấp máy môi. Tôi không muốn để cho bọn chúng biết được sự nhục nhã của bà quận công phu nhân.

Tại sao tôi lại như vậy? Tôi không biết. Nhưng tôi có một suy nghĩ là không công nhận bất cứ cái gì làm hạ phẩm giá của bà quận công, tôi sẵn sàng chịu đựng hơn thế. Kể cả khi bị vặn răng, tôi cũng chịu nhục hình vì người đàn bà mà tôi căm ghét. Tại sao lại thế? Có thể là tôi thích đau khổ vì bà ta.

Cuối cùng thì bọn họ cũng đành phải thả tôi ra, bọn chúng vừa chửi rủa, vừa cởi dây trói. Chúng dẫn tôi xuống tầng hầm và xích tôi bằng những cái cùm đã được chuẩn bị sẵn. Nhưng một vài ngày sau chúng lại dẫn tôi đi, và tôi lại trải qua một sự đau đớn. Nhưng lần này tôi trở nên vô ích, không một sức mạnh nào trên trái đất này buộc tôi nói ra. Trước sau như một tôi sẽ giữ bí mật vì bà quận công trong trái tim mình.

Một thời gian sau tôi đã trình diện trước tòa, họ công nhận tôi là tên tội phạm kinh khủng nhất trên thế giới và là người có lỗi trong cái chết của bà quận công. Tôi không biết rằng, bà quận công đã chết, nhưng tôi tin mặt tôi cũng chẳng biểu lộ gì khi nghe thấy tin này. Bà ta đã chết, nhưng vẫn chưa thoát khỏi tình trạng nửa mê nửa tỉnh.

Người ta hỏi tôi liệu có muốn nói gì để bảo vệ mình không? Tôi không phản kháng lại họ dù chỉ một lời. Lúc đó người ta đã tuyên bố bản án. Vì tất cả những hành vi tàn bạo của tôi, trở thành nguyên nhân của những sự bất hạnh, bởi vậy tôi phải bị giam cầm suốt đời trong căn phòng hầm tối nhất của tòa lâu đài, ở đó tôi sẽ bị cùm xích vào chân tường. Liệu các vị có thấy tôi là một con rắn độc, một ông thần ác của quý ngài quận công đáng kính hay không, và nếu tôi làm theo mệnh lệnh của ông thì tôi phải vô hại chứ.

Tôi hoàn toàn điềm tĩnh khi nghe bản án này, và khuôn mặt xa xưa của một người lùn như tôi đã thể hiện sự chế giễu và sự khinh mạn đối với ngài vương công, và tôi nhận thấy bọn họ nhìn tôi đầy hoảng sợ. Chúng dẫn tôi đi, và từ đó tôi không nhìn thấy bất kì ai trong cái đám người hèn mạt đó, ngoại trừ Anselmo, một con người mà tôi rất khó có thể khinh bỉ.

Ôi, đồ rắn độc!

Đúng, tôi độc ác, nhưng ai đã ra lệnh cho tôi làm điều đó? Đúng, tôi đã buộc Don Riccardo phải chết? Đúng, tôi đã trừng phạt bà quận công, nhưng ai đã yêu cầu và van xin tôi làm điều này?

Con người rất hèn yếu và rất xa rời thực tế, bởi vậy khó có thể trở nên khác số phận mình bằng chính sức mình.

Tưởng là người ta sẽ phải tuyên phạt tôi tội chết vì tất cả những tội ác kinh khủng mà người ta đã nêu ra. Nhưng chỉ có những kẻ đần độn hoặc là những kẻ không biết được gốc gác cao quý của tôi, thì mới ngạc nhiên là bản án không phải như vậy. Tôi đã hiểu rất rõ ông ta chẳng có quyền hành gì đối với tôi cả.

Quyền hành đối với tôi ư! Có nghĩa gì đâu khi mà tôi đang ngồi trong cảnh tù tội này! Có ích gì đâu khi mà tôi đang bị cùm trong xiềng xích! Dù thế nào thì tôi cũng không thể thoát khỏi tòa lâu đài! Chính bản thân bọn họ cũng đã chứng minh điều này khi giam hãm tôi trong tòa tháp. Tôi đã bị trói buộc với ngài quận công, và ông ta cũng bị trói buộc vào tôi. Không, chúng tôi không thể thoát khỏi nhau, ấy là quý ngài đáng kính của tôi và tôi. Tôi bị giam cầm và ngài quận công cũng bị giam cầm. Chúng tôi ràng buộc nhau. Gắn kết thành một chuỗi.

Tôi đang sống một cuộc đời ngắn ngủi trong cái hang của mình, sống trong sự tăm tối, vậy mà lúc này quý ngài đáng kính của tôi lại đang thoải mái dạo chơi khắp cái gian phòng sang trọng của mình. Nhưng đây là cuộc sống của tôi, còn đó là cuộc sống “của ông ấy”. Cuộc sống cao sang, mĩ lệ “của ông ấy” xét về bản chất cũng chính là cuộc sống của tôi.

Tôi cần không phải là một ngày để viết tất cả những điều này. Tôi chỉ có thể viết trong vài phút ngắn ngủi. Khi mà tia sáng mặt trời từ ô cửa sổ hẹp dọi xuống trang giấy, lúc đó tôi cần phải viết nhanh chóng. Chỉ sau một tiếng thì ánh sáng sẽ chuyển xuống sàn nhà, nơi mà cái xích của tôi không cho phép tôi đến được đó. Sự di chuyển của tôi rất bị hạn chế. Chính vì nguyên nhân này nên tôi không cần nhiều thời gian để đọc lại những điều ghi chép của tôi trước đây, và như vậy thì thật tốt. Bởi tôi có thể kéo dài sự giải khuây của mình bằng cách này.

Cả ngày còn lại tôi ngồi và chỉ ngồi trong xiềng xích, tôi hoàn toàn không làm cái gì cả. Đêm của tôi bắt đầu từ lúc ba giờ, phần lớn thời gian một ngày chìm trong đêm tối hoàn toàn. Cùng với đêm tối là sự xuất hiện của lũ chuột, chúng bắt đầu lùng sục xung quanh, giương những cặp mắt đầy tham lam chòng chọc nhìn tôi. Tôi lập tức nhận ra chúng, dẫu sao thì tôi nhìn trong bóng đêm cũng không tồi hơn chúng, mà thật vậy, cũng như chúng, tôi đã biến thành một loài sinh vật nào đó dưới lòng đất. Tôi rất ghét những con vật bẩn thỉu và quái đản này, tôi săn lùng chúng, tôi phải ngồi bất động và cố gắng tới gần chúng và dùng chân giẫm đạp lên chúng. Đó là một trong những biểu hiện của cuộc sống hợp với tôi nhất. Sáng ngày hôm sau tôi đã yêu cầu Anselmo dọn chúng đi ngay lập tức. Tôi không hiểu chúng chui ra từ đâu. Rõ ràng là dưới cánh cửa có một khe hở.

Nhưng bức tường ẩm ướt, một bầu không khí ẩm thấp, ngột ngạt làm tôi khó chịu, có thể bởi vì tôi không quen với cái mùi như thế này. Sân bằng đất mà biết bao tù nhân đã giẫm đạp lên, những con người đã bị đầy đọa ở đây trước tôi có lẽ họ đã không bị xích vào chân tường như tôi. Ban đêm tôi ngủ trong đống rơm cũng giống như bà quận công. Nhưng ổ rơm của tôi không bẩn và bốc mùi giống như bà ta, tôi yêu cầu Anselmo thay nó cho tôi hàng tuần.

Tôi không phải là con người tội lỗi đang sám hối. Mà tôi là người tự do. Tôi không thể hạ mình.

Sự tồn tại của tôi trong căn hầm tù tội là như vậy. Với khuôn mặt hóa đá tôi đang ngồi đây và suy ngẫm về cuộc sống và con người như trước kia, cũng như bây giờ tôi không hề thay đổi.

Nếu như họ nghĩ rằng, họ đánh quỵ được tôi thì họ nhầm!

Dẫu sao thì tôi vẫn duy trì một mối liên hệ nào đó với thế giới bên ngoài thông qua người cai tù tốt bụng của tôi. Khi mang thức ăn vào cho tôi, anh ta rất thật thà kể hết cho tôi nghe những gì đang xẩy ra ở bên ngoài, rồi anh giải thích các sự kiện theo cách mình. Anh ta rất quan tâm đến mọi cái xẩy ra trên thế giới này, và anh thích nói lên ý kiến của mình về vấn đề đó, việc này buộc anh phải mất không ít sức lực để suy nghĩ. Anh ta nhìn mọi điều rất đơn giản, mọi sự không hề làm cho anh lo lắng, anh cho rằng có thể mọi nhẽ do chúa trời sắp đặt như thế này hoặc như thế khác, song với sự lão luyện tinh thông về mọi vấn đề của toàn thế giới, tôi cũng buộc phải đặt ra cho mình một sự hình dung áng chừng về tất cả những sự kiện đang xảy ra bên ngoài. Bằng cách như vậy tôi cũng dần hiểu được những sự kiện xảy ra trong những ngày gần đây, về cái chết của bà quận công, và về nhiều việc khác đã xảy ra kể từ khi tôi bị giam cầm trong ngục tối. Ngài quận công đã giành trọn nhiều ngày để ngồi bên giường bà, quan sát khuôn mặt bà đang dần trở nên trong sáng, và như trong triều người ta vẫn đồn đại, là trở nên phấn chấn lạ thường. Bà ta đẹp như Đức Mẹ Đồng Trinh. Anselmo đã khẳng định như thể chính anh ta đã nhìn thấy bà ấy, còn tôi đã tận mắt nhìn thấy bà ấy nên tôi biết thực sự bà ta như thế nào.

Nhưng tôi cũng rất tin là ngài quận công đã ngồi bên giường bà ấy suốt cả ngày lẫn đêm, giành hết tâm trí cho người vợ đã giã từ ông ra đi. Có thể là ông ta đang muốn sống lại với tình yêu thời tuổi trẻ của họ, trong lúc cô đơn khi bà ấy đã rời cuộc đời. Tất nhiên ông ta đã xúc động rất nhiều khi nhìn thấy sự siêu thoát của bà ấy, nhìn thấy khuôn mặt của bà ấy trên thiên đường, tôi hiểu ông ta ở lẽ ấy. Bên cạnh đó, có thể ông ta cũng rất bối rối về sự thay đổi khó hiểu của bà mà ông không hề dính dáng gì, và ông thành thật muốn bà trở lại với cuộc sống. Nhưng bà ta không nhận thấy điều này và biến mất khỏi ông ta không một lời giải thích, chắc có lẽ điều đó đã tăng thêm sức mạnh cho tình yêu của ông, bởi vì sự đời là luôn như vậy.

Do ở trong tâm trạng như thế, nên ông đã bắt tôi phải chịu nhục hình và tù tội. Ông ấy yêu bà quận công và bà ấy là một con người khó hiểu, cũng chính vì điều này mà ông bắt tôi phải đau khổ. Điều này không làm tôi ngạc nhiên, và tôi cũng sẽ chẳng ngạc nhiên vì cái gì cả.

Bernardo và nhiều người khác cũng đến thăm bà. Vị đại sự già đã nói rằng khuôn mặt của bà quận công rất khác thường, và chỉ có bây giờ ông ta mới hiểu được nó. Hình như ông ta mới bắt đầu nhận rõ chân dung của bà ấy. Còn một điều chưa rõ, liệu thực tế lúc đấy ông ta có rõ điều gì về bà ta không, giờ đây bà ta không còn giống ông ấy. Ông ta nên nghĩ khi nói mọi điều.

Sau đó các vị cha đạo lên sân khấu đọc lời rửa tội. Tôi hình dung là họ đang phải chạy ngược, chạy xuôi ở đấy. Họ tuyên bố bà quận công đã đi vào thế giới vĩnh hằng, một cảnh tượng tuyệt đẹp làm xao xuyến tâm hồn. Dĩ nhiên là vị cha sứ phải kể bà ta đã là một con chiên ngoan đạo như thế nào. Khi bà ta đã ra đi, thì vị tổng giám mục tự tay mình làm lễ thánh và xức dầu thơm cho bà lúc đó trong phòng đầy các vị tu sĩ đủ cấp bậc khác nhau. Nhưng dù sao thì bà ta đã chết trong tình trạng hoàn toàn đơn độc, không có ai ở bên cạnh.

Sau khi bà ta đã chết người ta đã tìm thấy mấy dòng chữ viết trên một mẩu giấy nhàu nát, bẩn thỉu,... Trong đó bà ta nói rằng bà muốn để cái thân thể hèn hạ của bà bị thiêu cháy, như là người ta đốt tử thi của các con bệnh, sau đó thì cái xác tro tàn của bà sẽ bị rắc khắp các đường phố, để cho mọi người dầy xéo nó. Rõ ràng là bà ta đã viết điều này không phải trong tâm trạng sáng suốt, chắc chắn là thế nhưng cũng chẳng có ai quan tâm đến suy nghĩ cuối cùng này của bà, mặc dù những lời bà nói ra là hoàn toàn nghiêm túc. Khác hẳn với mong muốn của bà thì người ta lại chọn một phương án thông dụng: họ ướp xác của bà, nhưng lại đặt nó vào một cái quan tài bằng đất đơn giản, không trang trí gì cả, sau đó họ mang xuống hầm mộ giành cho dòng tộc quận công ở một nhà thờ lớn. Những người dân đen như bộ xương bất hạnh biết đi còn sót lại trong thành phố đã nín thở để dõi theo buổi tang lễ hết sức khiêm tốn trong giới hạn dành cho người quá cố có chức tước quận công. Và khi miêu tả cuộc diễu hành u ám đi qua thành phố đầy những con người bệnh tật, anh chàng Anselmo đã nói rằng đó là một cảnh tượng lâm li, thống thiếu. Có lẽ, đúng là như vậy.

Dĩ nhiên thì giờ đây dân chúng đang hình dung về tất cả những gì họ đã biết: bà ta là con người như thế nào, rồi thời gian gần đây bà đã sống ra sao, và họ bắt đầu đối xử với bà ta như một vật sở hữu hợp pháp của mình, họ đã suy nghĩ khác đi về những điều họ nghe thấy theo cách của mình. Đương nhiên là trong tâm trí họ đang thôi thúc một sự tưởng tượng về một cỗ quan tài xấu xí, nghèo hèn đặt bên cạnh với cái cỗ quan tài vương giả lộng lẫy làm bằng bạc đặt trong hầm mộ làm bằng đá cẩm thạch rất sang trọng. Nhưng cỗ quan tài đơn giản này dường như làm cho bà quận công trở nên gần gũi với họ, gần gũi với những con người bình thường, làm cho bà trở thành một người trong số họ. Cái con bé hầu phòng thì cũng kịp nói lộ ra cho tất cả mọi người biết về những bữa ăn chay và những trận roi đòn bà phải chịu, những câu chuyện từ mồm con bé này thì chỉ làm thêm nhiều người đau khổ, bởi vì mặc dù có hạ mình, thì dẫu sao bà ta cũng là một bậc quý tộc. Điều này cũng giống như Chúa Giêsu đã đau khổ hơn tất cả chỉ bởi vì người là con trai của Chúa trời, rồi Giêsu đã trở thành một vị thánh, mà nhiều người thậm trí phải cúi đầu, và đau đớn hơn người nhiều. Liệu dần dần bà quận công có biến thành là một vị thánh, người đã phủ nhận, chối bỏ, khinh miệt cuộc sống này đến mức độ chính tay mình hủy hoại thân xác mình hay không? Nhưng bọn dân đen đâu có quan tâm đến chân lí, bọn họ sẽ không yên lòng cho đến tận khi họ sáng tác ra những chuyện tưởng tượng khiến cho người ta thỏa mãn cả! Anh chàng Anselmo trong trường hợp này lại hoàn toàn tin tưởng vào phép nhiệm màu. Anh ta khẳng định rằng, cứ vào buổi đêm thì xung quanh ngôi mộ của bà ấy lại phát ra ánh hào quang. Lại cái gì đây? Bởi vì vào ban đêm thì nhà thờ đóng cửa, không ai có thể vào đấy để hoàn toàn khẳng định điều này đúng hay sai. Và khi con người đã trở nên quá tin tưởng thì buộc phải lựa chọn giữa cái đúng và cái sai, anh chàng Anselmo luôn lựa chọn cái thứ hai. Sự dối trá thường gây ra tình cảm nhiều hơn gây ra một sự thật không bình thường, và cũng bởi vì anh chàng này luôn thích sự thật.

Khi nghe câu chuyện của anh chàng này, tôi không thể không tự nhủ rằng chính bản thân tôi đã vô tình tạo nên những điều thần bí. Khó hiểu đối với bà quận công, và trong tình huống này thì ít nhiều tôi cũng đã làm tăng sự rực sáng trong ánh hào quang của vị thánh và cũng chỉ vì điều này mà giờ đây tôi đang phải ngồi trong gông cùm. Dĩ nhiên là bọn họ chẳng biết gì về điều đó, mà nếu có biết thì chắc chắn sẽ chẳng có ai quan tâm đến cực hình của tôi. Thật vậy, tôi cũng không hề mong muốn có được vầng hào quang của một kẻ chịu cực hình. Nhưng tôi cũng hơi ngạc nhiên bởi một con người vô thần như tôi, lại được chọn là công cụ trong chuyện này.

Trước đây, tôi không nhớ đó là khi nào, anh chàng Anselmo bắt đầu kể cho tôi nghe rằng ông Bernardo dáng vẻ Đức Ala đã truyền tải cho bức chân dung những nét giống với bà quận công. Ngài quận công và cả triều đình đều rất ngạc nhiên theo dõi công việc của ông ta, và tất cả đều cảm thấy hạnh phúc. Vị đại sư già tuyên bố rằng ông ta muốn truyền đạt bản chất bên trong của bà quận công, và tất cả những cái đó được ông ta mơ hồ đoán ra, vì khi đó ông không nhìn thấy bà ta trong lúc lâm chung. Tôi không biết được là ông ta có làm được điều này không, nhưng anh chàng Anselmo tin rằng, tất cả mọi người đều khẳng định đó sẽ là một kiệt tác, vả lại nếu ông ta không làm được như thế, thì tất cả bọn họ vẫn gọi là kiệt tác.

Ông ta vẽ nó khá lâu, nhưng cuối cùng thì cũng xong. Bức họa “Buổi họp mặt kín” với hình ảnh Chúa Kitô đang ăn bánh mỳ vẫn chưa được hoàn tất, chắc có lẽ là ông ta đang vẽ dở. Nhưng bức tranh này thì ông đã hoàn thành, có thể là nó dễ hơn. Người ta treo bức tranh trong nhà thờ lớn, trước bàn thờ ở bên trái, và anh chàng Anselmo, sau khi xem bức tranh, đã khoái trá, phấn chấn như một đứa trẻ con. Anh ta mô tả nó cho tôi nghe với một bộ dạng rất ngây thơ và nói rằng tất cả mọi người đều cho là không có ai và không bao giờ có thể tạo ra được một hình ảnh Đức Mẹ đẹp và nhân hậu đến vậy. Đặc biệt mọi người đều cảm thấy phấn chấn với nụ cười khó hiểu và đầy bí hiểm của bà. Nụ cười này đã làm cho tất cả mọi người phải xúc động, họ nói rằng nó gây nên sự hào hứng đến ngạc nhiên và rất khó giải thích. Tôi hiểu rõ là người họa sĩ đã sao chép lại nụ cười này từ bức chân dung trước đó của bà quận công.

Thật khó có thể tưởng tượng ra bức tranh qua sự mô tả của một con người tối tăm như Anselmo, nhưng dẫu sao thì tôi cũng hiểu một sự thật là vị đại sư đã chạm được vào trái tim của những con chiên ngoan đạo. Mặc dù chính bản thân ông ta chưa chắc đã tin vào Đức Mẹ, nhưng rõ ràng là ông ta đã thành công khi truyền tải một tình cảm tôn giáo chân thực vào hình ảnh mà ông ta đã tạo ra, ông làm cho cái hình ảnh đó tràn đầy nội dung tôn giáo đích thực, buộc người xem phải ngất ngây sung sướng khi ngắm nhìn nó. Dân chúng đổ xô đi xem một vị chúa mới xuất hiện, họ mang theo cả nến và quỳ gối bái phục trước bà. Người ta quỳ gối lạy ở đây nhiều hơn bất kì ở bàn thờ nào, nhưng ngọn nến đang cháy đặt trước bức chân dung bà quận công quá cố đập ngay vào mặt họ khi họ bước chân vào nhà thờ. Đặc biệt ở đấy tập trung rất nhiều người nghèo, họ cầu nguyện và mong tìm được nguồn an ủi cho nỗi đau khổ của mình. Tất cả những con người bất hạnh, bị áp bức thường đến đây để giải tỏa những thời khắc khó khăn của cuộc sống. Bà quận công đã trở thành Đức Mẹ yêu thích nhất của họ, người biết kiên trì lắng nghe những lời than thở của họ, mang đến cho họ sự an ủi khích lệ, mặc dù tôi biết rõ rằng khi còn sống bà ta chẳng bao giờ quan tâm đến những người nghèo khổ. Hóa ra chỉ có chúng tôi và Bernardo đánh thức được những tình cảm tôn giáo chân thành và sâu sắc trong dân chúng.

Cho đến tận bây giờ tôi vẫn còn suy ngẫm về câu chuyện này. Ai mà có thể nghĩ rằng, người đàn bà đó sẽ trở nên nổi bật trong nhà thờ, một Đức Mẹ nhân hậu biết an ủi người khác, bà trở thành biểu tượng cho tình yêu cuồng nhiệt của lũ dân đen. Rằng bà là một con người trong trắng, anh minh, sẽ dõi theo tất cả mọi người từ trên cao, trong vầng hào quang của vô vàn ngọn nến, đang dâng hiến cho bà vì sự thanh bạch và nhân hậu của bà. Còn trong lâu đài người ta treo bức chân dung khác của bà, ngài quận công đã cho nó vào khung và đóng lên tường, mặc dù đại sư Bernardo không hài lòng với nó lắm.

Cả hai bức diễn hình mặc dù có sự khác nhau theo cách riêng của mình, nhưng cả hai đều có một nụ cười như nhau rất khó nhận ra - những con chiên đến cúng lễ ở nhà thờ gọi nụ cười đó là một sự thiêng liêng bí hiểm.

Người ta rất thích nhìn vào gương mặt mờ ảo này.

Giờ đây khi tôi đã mô tả tất cả mọi điều, tất cả những sự việc xảy ra sau khi tôi bị giam cầm ở đây, tôi nhận thấy không nên viết nhiều thêm nữa. Sự thật là, Anselmo vẫn tiếp tục kể cho tôi nghe tất cả những chuyện khác nữa trong thành phố và trong triều đình, nhưng cũng chẳng có gì đặc biệt xảy ra. Căn bệnh dịch hạch cũng đã dịu đi, mặc dù nó đã cướp đi mạng sống của một phần không nhỏ dân cư, căn bệnh biến đi như nó đột ngột ập đến, sau khi làm cho con người ốm rồi chết. Cuộc sống đang trở lại bình thường, đi vào nếp sống quen thuộc, thành phố đã qua cơn thử thách, đang dần dần lấy lại vẻ trước kia của mình. Những người dân trở về với đồng ruộng, sân vườn đã bị đốt cháy, họ đã phải xây dựng lại. Đất nước đã được phục hồi mặc dù vẫn còn rất nghèo. Số nợ do cuộc chiến tranh vẫn còn khá lớn, ngân khố quốc gia thì trống rỗng, và theo như Anselmo nói với tôi thì nhân dân đang phải chịu một gánh nặng thuế khóa. Nhưng dù sao thì hòa bình cũng đã trở lại, mọi chuyện đã ổn. Anselmo nói rằng, dân chúng không còn buồn nữa, vẻ mặt của họ đã phấn khởi đôi chút.

Anh chàng cai ngục thu hút tôi bằng câu chuyện ba hoa không ngớt của anh, và tôi nghe anh ta nói bởi vì tôi chẳng có ai khác để nói chuyện, mặc dù câu chuyện rỗng tuếch của anh ta làm tôi chán phè. Nhưng cách đây không lâu anh ta lại đến nói với tôi rằng số nợ lớn đối với nước Venezia cuối cùng đã được trả, giờ đây đất nước chúng tôi đã thoát khỏi gánh nặng khủng khiếp. Anh ta nói rằng đã nhận ra một sự phồn thịnh nào đó, sau những thử thách ghê gớm. Lúc này đã có nhiều chuyển biến tốt đẹp. Giờ đây không còn gì đặc biệt xảy ra cả.

Tôi ngồi trong tầng hầm và chờ đợi đến sốt cả ruột một tia nắng mặt trời, nhưng khi nó xuất hiện thì tôi lại chẳng muốn sờ đến tờ giấy đang được chiếu sáng. Ngòi bút của tôi bị hỏng, vậy mà tôi lười đến nỗi không muốn động chân tay.

Công việc viết lách của tôi làm tôi chán ngấy, bởi tuy ngồi tù nhưng tôi không bỏ qua một sự kiện nào.

Ngày mai người ta sẽ tổ chức làm lễ thánh cho quả chuông mới, và lần đầu tiên người ta nghe thấy tiếng chuông vang lên. Quả chuông được làm bằng bạc do nhân dân đóng góp. Theo dân chúng thì tiếng của quả chuông này nghe hay hơn.

Ngài quận công và cả triều đình sẽ có mặt trong buổi lễ.

Buổi lễ diễn ra, và Anselmo lại kể cho tôi đủ mọi chuyện mà anh ta nghe được từ những người chứng kiến buổi lễ. Anh ta khẳng định, đây là một sự kiện kì lạ và khó quên, dân chúng tập trung khá đông, nhưng không phải cả thành phố. Ngài quận công đi bộ trên khắp đường phố dẫn đầu triều đình, theo sau ông là các đám đông dân chúng, bởi vì tất cả mọi người đều muốn xem mặt ngài quận công, và họ cũng muốn có mặt trong sự kiện long trọng này. Ngài quận công trông rất nghiêm túc, gọn gàng và lanh lẹ y như trước kia, và dường như ông ta rất vui với cái ngày trọng đại này. Ông và cả đoàn tùy tùng của mình đều mặc những bộ lễ phục lộng lẫy.

Khi ông ta đến gần nhà thờ, việc đầu tiên ông làm là bước vào bên trong và quỳ gối bên quan tài của bà quận công, sau đó thì đến quỳ bên bàn thờ, nơi treo bức chân dung của bà, tất cả những người khác cũng đều đến quỳ gối. Sau khi cầu nguyện, họ lại đi ra ngoài sân nhà thờ, và đánh chuông. Thật tuyệt vời, tất cả đi im như chết tại chỗ và lắng nghe tiếng chuông kì diệu, vút cao trên không trung. Tiếng chuông vang vọng khắp thành phố và tất cả mọi người cảm thấy rất hạnh phúc khi nghe nó. Toàn bộ dân chúng tập trung trên quảng trường xung quanh ngài quận công, tất cả bọn họ đều nói rằng đây là giây phút hạnh phúc nhất trong đời họ. Anselmo kể cho tôi nghe như vậy.

Chính bản thân anh ta cũng rất tiếc vì không thể có mặt vì vào đúng lúc đó, anh ta phải cho các tù nhân ăn, nhưng anh cũng rất hài lòng vì đã nghe được tiếng chuông từ quảng trường. Khi tiếng chuông đầu tiên vang lên, anh chàng đã mừng quýnh lên và chạy đến chỗ tôi để thông báo, buổi lễ đã bắt đầu. Anh ta đã phấn chấn hồ hởi đến nỗi mở cả cửa ra để cho tôi nghe. Tôi cảm thấy xúc động đến rơi nước mắt khi ở bên con người tốt bụng này, anh ta giải thích là tiếng chuông vút lên trên bầu trời cao xanh. Nhưng tôi thì cho là tiếng chuông vẫn chỉ là tiếng chuông, không có gì đặc biệt cả. Tôi đã rất vui mừng khi cuối cùng anh ta đã để tôi yên lại trong căn hầm.

Tôi vẫn ngồi ở đây trong gông cùm, ngày qua ngày và chẳng bao giờ còn có cái gì xẩy ra nữa. Cuộc sống của tôi trống rỗng và buồn tẻ, nhưng tôi không hề nuối tiếc. Tôi đợi một lúc nào đó tất nhiên bọn họ sẽ đến, và thực tế là họ đã không thể giam cầm tôi ở trong đây mãi được. Và tôi sẽ có thể tiếp tục với cuốn biên niên sử của mình về những điều xảy ra trên thế giới, tôi vẫn còn muốn như vậy. Nếu tôi hiểu đúng quý ngài đáng kính của tôi, thì ông ta sẽ không thể làm tốt mọi việc mà thiếu lão người lùn như tôi. Không, tôi không hề buồn chán. Tôi nghĩ đến một ngày khi mà người ta sẽ đến chỗ tôi, tháo xiềng xích cho tôi, bởi vì ngài quận công, rồi sẽ tặc lưỡi bỏ qua cho tôi.

Dịch giả: Nguyễn Thái Hà & Dương Cầm
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.