Người Khuyết Tật - Barabbas

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

❊ ❊ ❊

Đến lần này thì dường như anh ta bị thương khắp người. Đó là sự thật hay không, tôi chẳng rõ, nhưng tôi tự cho phép mình được hoài nghi. Có lẽ mọi sự kinh khủng không đến nỗi ấy. Có thể những vết thương chỉ xoàng xĩnh mà thôi. Bất luận thế nào đi nữa thì cũng từ khi đó, tôi chẳng còn phải gặp anh ta nữa.

Thế nhưng tôi vẫn tin là anh ta có cớ để lâm chiến cùng với những mũ lông của quận công phu nhân mà như người ta nói là chính bà ta đã tặng anh ta trước khi chúng tôi hành quân, điều này có nghĩa là buổi sáng hôm ấy, những cái lông ấy đã phấp phới trên chiếc mũ sắt của Don Riccardo, và anh ta đã công khai chiến đấu vì ý trung nhân của mình. Khi bảo vệ lá cờ của quận công, gan dạ nhường ấy, anh ta đã chiến đấu có lẽ vì người yêu của mình. Và khi cứu mạng sống cho ngài quận công thì chắc anh ta cũng lao vào huyết chiến vì bà ta. Mà anh ta cũng vừa mới ôm người đàn bà khác. Có thể là anh ta ra trận ngay từ giường ngủ của ả, sau khi trang trí cho mình bằng mũ lông do người đàn bà của con tim vừa tặng, ấy là một đồ vật của một tình yêu vĩ đại và nồng cháy. Tình yêu đích thực của anh ta nở ra thành một đóa hoa tươi tốt trên chiếc mũ che mặt để ngỏ của người hiệp sĩ, vả lại khi ấy, cái xác thịt phản bội vẫn còn nồng ấm thứ đam mê nhục dục đầy tội lỗi. Thực sự thì tình yêu giữa mọi người với nhau quả là một ẩn số. Không lạ lùng ngạc nhiên gì việc tình yêu không thể đạt thấu được đối với tôi.

Cũng thật bí ẩn những mối quan hệ giữa hai người đàn ông vốn cùng gắn bó với một người đàn bà. Liệu điều đó có phải đã gây nên những mối ràng buộc bí mật giữa họ với nhau hay không? Đôi khi bắt đầu có cảm giác rằng chính là như vậy. Liệu có phải thực sự như người ta khẳng định rằng Don Riccardo đã cứu mạng cho ngài quận công? Tôi không nghĩ như vậy. Tuy nhiên, có thể lắm chứ - nhưng chỉ trong trường hợp xảy ra do tính hiếu danh để bằng một hành vi hiệp sĩ của mình mà đem ơn trả oán với ngài quận công, người đã mong anh ta chết, để chứng minh cho tất thảy mọi người thấy rằng anh ta cao thượng đến nhường nào. Điều này hoàn toàn phù hợp với khí chất của anh ta. Và cũng có thực sự như người ta muốn cam đoan rằng ngài quận công khi đó đã lao vào cứu sống Don Riccardo, cho dù ngài vừa mới mong cái chết ập đến với anh ta. Tôi không biết rõ. Dầu sao tôi cũng không hiểu được điều này. Liệu một con người có thể đồng thời vừa yêu vừa căm thù không nhỉ?

Tôi nhớ tới cái nhìn chăm chú, lạ lùng của ngài quận công đêm hôm ấy khi ông báo trước cái chết. Nhưng tôi cũng nhớ rằng với ngài có cặp mắt mơ mộng và ướt át đến mức nào khi ngài đang nghe Don Riccardo đọc thơ về ái tình, một tình yêu vĩ đại đang cuốn hút chúng ta bằng ngọn lửa nồng nàn, ngấu nghiến và thiêu đốt hết tất cả thân xác chúng ta. Có thể tình yêu ấy chỉ là những dòng thơ đẹp đẽ không có một nội dung xác định nào, chỉ đơn thuần êm ái cho thính giác nếu đọc to và xúc động hay chăng? Tôi không rõ. Song cũng không loại trừ việc chính tình yêu là như vậy. Con người ta là những kẻ đúc tiền giả đặc biệt.

Cái đêm bên cạnh ả gái điếm cũng khiến tôi ngạc nhiên. Tôi luôn luôn nghĩ rằng ngài không thể suy đồi đến mức như vậy. Tôi vốn đã quen với việc ngài thường tỏ ra khác với những gì tôi vẫn hình dung về ngài. Hôm sau đó tôi dùng lối nói ngụ ý khéo léo, cẩn thận kể lại điều đó cho một người đầy tớ nghe, và tôi đã thật sửng sốt. Anh ta tuyệt chẳng ngạc nhiên chút nào. Anh ta bảo tôi, ngài quận công đã luôn luôn có nhân tình trong số các lệnh bà hay các nữ thị dân, đôi khi là những kĩ nữ nổi tiếng. Bây giờ ngài có một nữ gia nhân của bà quận công Phiametta là người tình. Ngài thay đổi tình nhân như găng tay, anh ta vừa nói vừa cười vì ngạc nhiên với sự kém hiểu biết nơi tôi.

Thật lạ lùng vì lẽ gì lại có thể lọt qua cái nhìn nói chung là tinh tường hiếm có của tôi cơ chứ. Vậy là sự thuần phục vô điều kiện trước ông chủ đã làm tôi mờ mắt đi đến mức độ nào.

Tôi chẳng động lòng khi ngài phản bội quận công phu nhân. Tôi căm ghét bà ta và thậm chí còn vui sướng khi người ta lừa dối bà. Hơn nữa, bà ta còn yêu Don Riccardo. Bà ta đã viết những lời lẽ yêu đương cháy bỏng mà tôi phải giấu trong áo ngực để gửi không phải cho ngài quận công mà là cho anh ta. Trong thâm tâm tôi hi vọng cuối cùng anh ta sẽ bị triệt hạ.

Ơn Chúa, mưa đã tạnh. Khi chúng tôi ra khỏi lều thì mặt trời đã tỏa nắng nóng nực, những đường viền của núi non nom thật rõ ràng và rành rẽ mặc dù đương nhiên tất thảy xung quanh thấm đẫm khí ẩm ướt, khắp nơi là những vùng nước, những dòng nước chảy róc rách. Buổi sáng gieo niềm hưng phấn lạ lùng. Bầu trời quang quẻ, trước tầm mắt hiện ra thành phố của quân cướp bóc xứ Montan nhô cao trên ngọn đồi, chúng tôi đã hơi quên đi hình dạng của nó, song bây giờ nhìn rõ từng căn nhà sàn bức tường thành, những lỗ châu mai nơi những ngọn tháp pháo đài cổ xưa, tất cả đều rõ ràng, cho tới tận những cây thập tự mạ vàng trên nóc các nhà thờ và tháp chuông, sau mưa mọi thứ nom thật rõ ràng đặc biệt. Chẳng còn xa nữa cái ngày thành phố đáng nguyền rủa kia sẽ bị chiếm và sẽ biến mất khỏi mặt đất.

Tất cả mọi người đều vui sướng chui ra khỏi lều và khoan khoái dưới làn không khí tươi mát, thời tiết đẹp và dễ chịu làm người ta khoái hoạt và nâng cao tinh thần chiến đấu. Sự uể oải, hờ hững dường như đã bị gió cuốn đi đâu hết. Tất cả binh sĩ đều mong ra trận. Tôi thật sai lầm khi cho rằng mưa có tác động tai hại tới tinh thần quyết chiến của quân đội. Có lẽ, mưa chỉ ngăn chặn được tinh thần đó trong một khoảng thời gian ngắn mà thôi.

Cuộc sông của chúng tôi ở trong trại sôi nổi. Các binh sĩ râm ran chuyện trò và lau vũ khí. Bọn đầy tớ lau giáp trụ hiệp sĩ đến sáng bóng, đàn ngựa được lùa tới tắm trên những dòng suối chảy xiết giờ đây cuồn cuộn chảy dọc triền dốc giữa những rặng mận chín. Tất cả mọi người đều đang chuẩn bị cho trận đánh sắp tới. Khu trại trở lại dáng vẻ xưa kia vốn có, còn chiến tranh lại trở về với vẻ đẹp và tính chất ngày hội của nó, điều mà dứt khoát phù hợp với cuộc chiến này. Những bộ binh phục rực rỡ, những bộ giáp phục kị sĩ, những bộ yên ngựa đắt tiền bằng bạc - tất thảy đều lấp lánh và long lanh dưới ánh mặt trời.

Tôi đứng hồi lâu lặng ngắm thành phố, cái cứ điểm là mục tiêu cuối cùng của cuộc hành quân. Nom thoạt đầu nó thật vũng chãi, các bức tường và các công trình bố phòng có thể tỏ ra không gì vượt qua nổi. Nhưng chúng tôi sẽ chiếm được nó, và đại sư Bernardo sẽ giúp chúng tôi thật đắc lực trong việc này. Tôi đã thấy những cỗ súng bắn đá, những thiết bị phong tỏa khôn ngoan và những trái đạn to tướng khủng khiếp của ông. Không có lâu đài nào trên thế giới có thể đương đầu được với những vũ khí thế này. Chúng tôi sẽ chọc thủng qua bất cứ những chiến lũy nào, sẽ nghiền nát và đập tan chúng, chúng tôi sẽ làm nổ tung từng đoạn tường bằng cách cho nổ mìn, chúng tôi sẽ giao chiến bằng tất cả các phương tiện có thể nghĩ ra được, sẽ đem vào thực thi tác chiến tất cả những gì mà thiên tài của ông đã sáng chế ra. Và chúng tôi sẽ lao vào thành phố, tiếp bước trên các đường phố và gieo cái chết và hoang tàn khắp mọi nơi. Thành phố sẽ bị đốt cháy, bị tàn phá, bị xóa sạch khỏi mặt đất. Nó sẽ chỉ còn những đống gạch đá vụn mà thôi. Còn cư dân nơi thành phố này, tức là bọn thổ phỉ cướp đường cướp chợ, sẽ chịu nhận trừng phạt đúng tội, sẽ bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh, và chỉ những đống đổ nát tỏa khói là còn gợi nhớ tới sự hùng mạnh xưa kia của đô thị đó mà thôi. Tôi tin chắc ngài quận công sẽ thẳng tay trừng trị kẻ thù. Còn đám lính đánh thuê của Boccaroza thì sẽ thực kinh khủng khi hình dung cảnh chúng kinh hoàng gào thét thế nào. Đó là chiến thắng cuối cùng và trọn vẹn của chúng tôi.

Nhưng trước hết, chúng tôi phải tiêu diệt đám quân lính đang chặn giữa chúng tôi và thành phố. Thật chẳng khó khăn khi nhận thấy rằng số lượng đám lính đó đã tăng lên đáng kể như tôi đã từng tiên liệu. Có ai đó đã khẳng định rằng, đội quân hùng hậu đó hầu như đông đảo như quân đội chúng tôi cũng gồm cả các binh đội của Boccaroza. Đó là một sự phóng đại. Đội quân đấy bây giờ thực sự chiếm một vùng lãnh thổ lớn hơn trước đây, nhưng gọi đó là đội quân hùng hậu thì theo tôi là đánh giá quá cao lực lượng kè thù. Khi ngài quận công thấy đội quân ấy lần đầu tiên ông thoạt đầu dường như nhíu mày, nhưng lập tức ông lại thấy vui vẻ, khoái hoạt như thường thấy do sự khinh bỉ các lực lượng quân địch, ông vui vẻ với ý nghĩ về trận đánh sắp tới, về khả năng được tham gia vào trận đánh quyết định. Đó mới đúng là một chiến binh chân chính! Không giây phút nào ông hoài nghi về chiến thắng của chúng tôi, vả lại, cũng không có ai trong số các tướng lĩnh của chúng tôi lại hoài nghi cả như tôi từng biết từ quan sát và nghe bình luận.

Được tham dự vào trận công phá thành phố quả là vui vẻ. Từ trước tới giờ tôi chưa bao giờ hể hả như thế.

Tôi lặng lẽ ngồi trong mé đằng đông của tòa lâu đài, cái nơi tôi vẫn thường làm công việc viết lách. Trước mặt là một chiếc bàn thâm thấp rất tiện mỗi khi tôi viết lách và tôi lại tiếp tục công việc ghi chép những sự kiện trọng đại có liên quan đến số mệnh của cuộc đời. Các bạn sẽ thắc mắc rằng bằng cách nào tôi lại trở về ở chính trong nhà mình? Đơn giản mọi sự tình sẽ được làm rõ ngay thôi. Chúng tôi thắng trận. Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng tôi thắng không dễ dàng mà phải trả bằng những mất mát đau thương. Dù phía này hay phía kia nạn nhân bị giết hại thế là quá đủ, nhưng mất mát chúng gây ra lớn hơn gấp bội lần. Đến tận bây giờ tất chưa có một sự phản kháng quyết liệt nào như thế. Tôi muốn nói, đối với chúng tôi đó là một trận huyết chiến. Đặc biệt là ngày thứ hai của trận đánh đối với những người lính tham chiến. Chưa có một trận nào hãi hùng như vậy diễn ra cả. Người ta tha hồ mà tán quanh. Lí do đơn giản cho việc chúng tôi ở nhà lúc này là ngài quận công buộc phải trở về chuẩn bị lực lượng để kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh này. Ngoài ra tôi còn nghe cần phải tích trữ những khoản tiền cần thiết cho cuộc chiến trên. Những trận đánh như thế cần đến những khoản tiền kha khá. Người ta nói ngài quận công bây giờ đang tiến hành thỏa thuận với đám thương nhân, đám này đang nắm trong tay vô khối hàng hóa mà ta đang cần, và tất nhiên mọi việc cần phải được giải quyết càng sớm càng tốt. Sau đó, ngay lập tức chúng ta sẽ tiếp tục hành quân.

Boccaroza và những thuộc hạ của ông quả quyết đòi tăng tiền thù lao, không thì họ sẽ chẳng làm gì sất ngay sau lần thỏa thuận đầu tiên. Vì lí do này mà bây giờ họ mới phái người đến chỗ chúng tôi. Tôi phải ông nhận rằng họ có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc chiến vì không có một ai có thể chiến đấu dũng cảm gan dạ như họ. Tôi cho họ thích chiến tranh chỉ đơn thuần là thích chiến tranh thôi, vì cũng như tôi đây. Vả lại có thể đâu cần sự hào hiệp như thế, có lẽ đơn giản họ cũng đã quan tâm đến các khoản thù lao hơn cơ. Nhưng dẫu sao họ cũng đã nhận rồi còn gì. Còn những bất đồng giữa người cầm đầu và ngài quận công nói nữa mà làm gì. Khi quân lính phải chịu tổn thất cộng với mọi việc diễn ra không thuận buồm xuôi gió thì thường họ dễ sinh ra chán nản. Không được việc gì thì họ đổ vấy cho nhau, rồi đổ cho mệt mỏi, sau đó thường họ so sánh những tổn thất giữa họ và phía quân địch. Nói chung là vậy. Còn những quân lính của Boccaroza thì họ là những chiến binh tinh nhuệ, chiến đấu như điên, nhưng rất có thể là họ không hiểu khi thực hiện những toan tính sâu xa của ngài quận công. Cũng rất có khả năng là họ còn có điều gì khác chăng? Nhưng tất cả chỉ là vặt vãnh, hoàn toàn không quan trọng và nhất thời mà thôi.

Nhưng với tôi điều này chẳng hay ho gì sất, trong chuyện này, những khoản tiền thù lao nhờ đánh thuê mà có được hết sức tầm thường, và tôi cũng không có ý định tiếp tục chủ đề này nữa. Quả ngồi ở nhà thì buồn chết khiếp! Đối với một người lính ra sinh vào tử thì sống như vậy quả là trống rỗng và buồn tẻ. Thời gian thì không ngừng trôi, và bạn sẽ chẳng biết làm gì, do vậy, bất kì một hoạt động sống nào cũng cảm thấy như bị tê liệt. Ấy vậy rồi mọi việc sẽ được giải tỏa, và chẳng bao lâu lại lên đường hành quân. Cuộc sống, con người nơi đây quả buồn cười, tôi muốn nói đám gia nhân và tất cả những người khác, những người không tham gia vào cuộc chiến. Họ dường như đang sống trong một thế giới khác, tựa hồ như không nghi ngờ rằng đất nước đang rơi vào cảnh nước sôi lửa bỏng. Khi họ nhìn vào quân phục của tôi đang mặc, họ há hốc mồm đờ đẫn vì ngạc nhiên, cứ như là họ không biết người ta vẫn mặc như thế trên chiến trường, nơi mà đôi khi chỉ loáng một cái bạn có thể bị bắt hay bỏ mạng. Họ nói ở đây không hề chi, chẳng có nguy hiểm gì hết. Nhưng còn chiến tranh thì vẫn cứ nổ ra, và chẳng bao lâu tôi lại lên đường hành quân. Bất cứ thời khắc nào cũng sẵn sàng chờ lệnh ngài quận công ban xuống, và luôn phải ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Đó là lí do tôi luôn mặc binh phục. Còn phải giải thích gì nữa? Lẽ tất nhiên đối với họ, nếu như chưa một lần ra trận, ắt họ chẳng thể nào tưởng tượng tại sao lại như thế, và khi bạn gắng sức tả lại dù là một phần nhỏ cảnh cuộc sống nơi sa trường đầy rẫy những niềm trắc ẩn ngờ nghệch, không thể giấu những tính ghen tỵ bấy lâu họ vẫn giấu kín. Bằng những bộ dạng như thế, dường như họ cũng muốn nói rằng tôi chưa có dịp nếm trải và tham gia vào bất kì trận đánh nào như tôi vẫn kể. Dễ dàng có thể hiểu được rằng họ là những con người luôn bị tính đố kị thường nhật nhất xâm lấn. Họ chưa nếm trải nên họ cũng sẽ không biết rằng lưỡi gươm của tôi vẫn còn rớm vết máu của trận đánh khốc liệt gần đây nhất. Tôi thì tôi không bộc lộ ra đâu bởi lẽ tôi vốn không chịu được cái thói ba hoa chích tốc, thường thì người lính vẫn có thói này, ví như trường hợp Don Riccardo. Tôi chỉ có thể nắm lấy chuôi gươm chặt hơn và quay lưng lại về phía họ mà thôi.

Chuyện là thế này. Trong một trận chiến đấu kéo dài hai ngày gần đây nhất chúng tôi có nhiệm vụ phải chiếm cho được cao điểm nằm giữa một bên là sườn bên phải cánh quân của chúng tôi và một bên là thành phố, và chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Cái giá chúng tôi phải trả không hề rẻ chút nào. Ngay lập tức sau đó tình hình của chúng tôi đã được cải thiện. Cả ngài quận công ngay lúc đấy cũng nhận thấy những lợi thế mà chúng tôi có được nhờ chiếm được cao điểm này. Lẽ tất nhiên là cả tôi đi cùng ông. Ở trên độ cao này chúng tôi có thể nhìn thấy tòa lâu đài ở ngoại ô thành phố của Lodovico. Cao điểm này là điểm đã được lựa chọn đúng vì có thể nhìn thấy tòa lâu đài vốn được bao quanh bởi cánh rừng thông và diệp bách thật ấn tượng. Một vài người lính đã cùng tôi đi thị sát xem ở đó có kẻ thù mai phục chăng, nơi lũ địch có thể phục kích và giáng đòn bất ngờ nhằm ám sát cho được ngài quận công. Tòa lâu đài hoàn toàn trống rỗng nếu như chưa kể nhóm gia nhân già nua bất lực đến nhường nào rõ ràng đã bị bỏ rơi khi rút quân. Ngài quận công để mặc họ. Còn tôi, trong khi còn đang xét đoán, thì rơi ngay xuống một cái hang cáo mà chưa ai kịp phát hiện ra, mặc dù đây có thể là một nơi trú ẩn tuyệt vời. Ở đó bất ngờ tôi đã chạm trán anh lùn - Lodovico giam giữ rất nhiều người lùn. Tên này đã bị bỏ lại mà tôi cũng không rõ lí do tại sao. Anh lùn khiếp đảm và lao thẳng vào lối đằng sườn nửa sáng nửa tối. Đứng lại! Tôi hô vang, anh lùn thấy vậy không dừng lại, vì thế tôi kết luận rằng lương tâm của gã này chẳng sạch sẽ gì cho cam. Tôi không rõ anh có trang bị vũ khí hay không bởi vì việc truy đuổi ở trong những đường ngầm lờ mờ quả là mạo hiểm. Cuối cùng anh lùn lao nhanh đến chỗ có lối thoát để lộ ra ngoài, qua lối đó anh ta nghĩ có thể thoát thân được, nhưng chưa kịp mở cửa thì tôi đã đuổi kịp. Anh lùn thốt lên một cách thảm thương khi thấy mình chẳng thể thoát. Tôi đuổi theo anh lùn cứ như mèo đuổi chuột dọc theo bức tường và biết rằng anh ta không thể thoát khỏi tay tôi. Cuối cùng tôi cũng dồn được anh lùn vào một góc. Bây giờ anh ta là của tôi! Tôi dùng gươm đâm anh lùn, lưỡi gươm đi rất bén. Anh lùn không bận binh phục, chẳng có dáng vẻ của một binh sĩ, anh ta vận một loại áo cam dôn nhung cộc tay màu xanh da trời cùng với đăng ten và kim tuyết ở cổ cứ như là một đứa trẻ vậy. Tôi để mặc anh ta nằm ở chỗ mà anh ta té ngã, còn tôi trở về với thế giới ban ngày, với trận đánh.

Tôi kể tất cả về điều này không phải vì tôi coi hành động của mình như một chiến công nào đó. Đây chỉ là một điều vặt vãnh thường thấy ngoài mặt trận. Tôi không hề khoác lác một chút nào. Tôi chỉ thực hiện nghĩa vụ của một người lính, chỉ vậy thôi. Cũng chẳng có ai biết rằng thanh gươm của tôi đã nhuốm máu kẻ thù, còn tôi thì không bao giờ lau vết máu vì để ghi nhớ tôi có tham gia vào cuộc hành quân. Tôi hơi ân hận vì đã giết hại anh lùn, có lẽ tốt hơn hết là giết bất kì một tên nào mà tôi căm thù khi chạm trán. Hơn nữa, chiến tranh vốn là thế. Nhưng, tôi lại đi căm thù dân tộc của chính mình, tôi căm ghét cả những đồng loại. Và trong cuộc đấu tay đôi nhất là lúc tôi giáng một đòn chí mạng cho đối phương, tôi cảm thấy một sự phấn chấn cao độ bao trùm lấy tôi cứ tựa như tôi vừa tiến hành một lễ nghi tôn giáo, cái cảm giác giống như khi giết Iosaphat ấy là sự khao khát điên cuồng bắn giết đồng loại của mình. Nhưng vì sao lại như vậy và để làm gì tôi cũng không biết nữa, chính bản thân tôi cũng không thể hiểu được. Chẳng lẽ tôi lại đáng bị lên án vì đã giết hại đồng loại của chính mình sao? Anh ta cũng như tất cả đám anh lùn khác có cái giọng the thé, cái giọng của hạng người đê mạt, còn nữa, chính anh ta đã chọc giận làm tôi nổi xung lên đấy chứ. Còn chính tôi giọng đâu có vậy, giọng vừa thấp trầm vừa lại vang to.

Đúng là một tên lùn nữa đáng thương và đê hèn. Sao họ không như tôi nhỉ!

Buổi sáng hôm nay phu nhân quận công toan bắt chuyện cùng tôi đàm đạo về tình yêu. Tôi không hiểu tại sao bà ta cứ ủy mị như thế, nguyên do bà ta nhỏ lệ một thoáng, có lẽ chỉ có bà ấy mới hiểu được thôi, mà bà có hàng đống những lí do để khóc. Sau đó bỗng nhiên bà chuyển giọng, tâm khảm bà thay đổi đôi chút, rất nhanh, bắt đầu vui vẻ nói năng. Ngồi trước gương, cô hầu gái đang sửa đầu tóc cho bà, gợi ra một câu chuyện vui có phần nghiêm túc đôi chút, bà nhẫn nại cố kéo tôi vào câu chuyện của bà, còn tôi thấy chẳng có cái gì gọi là thú vị và hợp lúc. Này, anh thấy không, đừng vội cứ để tôi nói về đề tài này. Tôi lảng tránh bằng mọi cách, nhưng bà ta đâu có dừng ở đấy. Chẳng nhẽ tôi chẳng có một chút duyên dáng nào hay sao? “Chưa, chưa bao giờ!” tôi buông sõng cau có. Bà ngạc nhiên như không muốn tin. Và một lần nữa bà lại quấy rầy tôi, không để tôi yên. Cuối cùng để chấm dứt câu chuyện, tôi nói rằng nếu như có một lúc nào đó tôi chớm yêu hẳn tôi chỉ yêu đàn ông thôi. Bà ta quay lại nhìn tôi và cười khềnh khệch thật trơ trẽn, tiếp theo là cô hầu gái cũng cười. “Đàn ông!” bà thốt lên cười cợt cứ như có một cái gì đó rất ngộ - “Đàn ông? Là ai đấy? Chẳng lẽ lão Boccaroza?”. Cả bà lẫn cô hầu gái lại cười hềnh hệch. Mặt tôi đỏ như gấc chín bởi vì tôi vừa mới đề cập đến ông ấy. Và khi họ nhận thấy tôi đỏ mặt, họ thôi không đùa nữa. Tôi không hiểu có điều gì buồn cười ở đây. Tôi nhìn họ bằng cái nhìn lạnh tanh và khinh bỉ. Cười ư, theo tôi đó là sự quái dị và tầm bậy. Tôi cảm thấy chướng mắt hết nỗi khi thấy vòm miệng của bà toạc ra để lộ toàn những viền lợi đỏ. Và tôi còn có thể làm được gì nếu như đối với ngài Boccaroza tôi luôn dành cho sự khâm phục, tình cảm này chẳng bao giờ mất đi. Trong con mắt tôi ông là một người đàn ông theo đúng nghĩa. Đặc biệt tôi nổi xung với kiểu cười hềnh hệch của người hầu gái kể cả điệu cười bình thường hơn bao giờ hết của người chủ của cô. Tôi còn có thể làm lành nếu như bà quận công cùng tôi đùa đôi chút, dù tôi chẳng có quyền làm bà cụt hứng bông đùa cùng tôi về đề tài này, tôi còn có thể giải đáp câu hỏi của bà về tình yêu, rằng bà có khiếp đảm thì may ra tôi có thể giúp bà sáng mắt về vấn đề ái tình.

Nhưng tôi muốn nói rằng tôi còn có thể dung hòa về vấn đề này. Bà ta chẳng gì cũng là quý bà của tôi, quý bà dòng dõi quận công. Còn để cho bất kì một loại súc sinh hèn kém nào giống như người hầu gái cười thì tôi cứ cười nhạo mình còn hơn. Không đời nào! Đừng hòng! Bà ta luôn luôn xử sự với tôi hoàn toàn quá quắt cố làm ra vẻ quan trọng, bông đùa, và còn chòng ghẹo tôi bởi cái tội rằng tôi không thể mở được vài ô cửa nào đó trong lâu đài. Đó là việc của bà ta! Còn mụ hầu gái quê mùa thô tục và xấc xược cần phải giáo dục. Ở lâu đài này, quý ngài Boccaroza là một người trứ danh, tôi luôn khâm phục ông, chính tôi là con người có tinh thần chiến đấu kiên cường.

Những ngày trôi qua sẽ trong mệt mỏi nếu người ta không biết làm gì.

Hôm qua tôi được phái đến Santa-Croche ủy thác làm việc cùng đại sư Bernardo. Thông thường ông vẫn ẩn dật ở đó để tiếp tục sáng tác bức “Buổi họp mặt kín”. Tôi chưa một lần đặt câu hỏi tại sao ông không ra mặt trận, không xem những chiếc máy của mình hoạt động, những đứa con do chính ông tạo ra. Chẳng nhẽ ông đã hài lòng với những gì mà ông đã chế ra trên đời này sao? Tôi nghĩ ông cũng muốn ngắm nhìn chúng hoạt động. Ở đó ông có thể nghiên cứu bao nhiêu xác chết tùy thích., biết đâu ông có thể đạt được những thành tích lớn lao trong hoạt động khoa học của mình. Tôi bắt gặp ông toàn tâm toàn sức suy ngẫm cho hoạt động sáng tạo cao cả của mình, ông thậm chí cũng không nhận thấy tôi vào. Khi ông ngước mắt lên nhìn tôi, lúc ấy khuôn mặt ông toát ra một cái nhìn vô định. Ông ẩn dật ở đâu vậy? Ông không hề để tâm đến bộ binh phục của tôi, mặc dù trước kia ông chưa bao giờ thấy tôi mặc chúng. Có lẽ ông đã nhận thấy tất cả chăng, tuy nhiên ông không tỏ ra ngạc nhiên hay sự chú tâm đặc biệt nào. Này anh nhóc anh cần gì ở tôi? - Ông ta hỏi, liếc nhìn tôi một cách đầy thân thiện. Tôi trình bày nhiệm vụ của mình mặc dù tôi nổi xung sao ông ta lại gọi tôi như thế. Ngay sau đó tôi xoay người và đi khỏi, còn có cái gì để níu kéo tôi lại ở với ông. Tôi chỉ kịp liếc nhìn thoáng qua bức kiệt tác này của ông, và tôi có cảm tưởng rằng để hoàn thành tác phẩm đó còn quá xa vời, cũng như lần trước tôi gặp mà thôi. Ông ta sẽ chẳng bao giờ làm cho ra hồn một cái gì. Làm sao mà ông ta có thể suy nghĩ lâu la về nó như vậy? Ông ta không hề quan tâm đến chiến tranh mặc dù ông ta biết đâu lại đoán rằng tôi thắng từ mặt trận về đây. Tôi có ấn tượng là ông ta không hề quan tâm gì đến chiến tranh cả.

Đám thương gia từ chối không cho vay bạc, đại diện trong số họ cho hay họ sẽ không trong mong gì sất vào các nguồn lợi nào. Phi lí! Không thể hiểu được. Họ cho rằng chiến tranh là phi nghĩa. Phi nghĩa! Thật là vô liêm sỉ hết mức! Đồi bại ư! Chẳng đi đến đâu ư khi mà chúng tôi chỉ cần xuất quân là giành được chiến thắng! Chúng tôi sẽ tiến sâu vào vương quốc của bọn giặc cỏ, đuổi chúng, dồn chúng đến tận sào huyệt, và chúng tôi đang tiến gần tới một ý định táo bạo là giành lấy và gặt hái những thành công từ những chiến thắng trọng đại của mình. Và chính trong thời khắc này chúng lại gạt đi, chọc gậy bánh xe. Khi thành phố bị thất thủ hoàn toàn, nó sẽ bị xâm chiếm, chia năm xẻ bảy, xóa sổ. Thật tức chết đi được! Đơn giản là họ không tin và để cái đám gian thương bẩn thỉu cản trở chúng ta giành lấy chiến thắng cuối cùng. Và đơn giản là vì chúng không thể nào xa rời được những đồng tiền bẩn thỉu. Không, không thể như thế được! Nhục nhã hết chỗ nói.

Ngài quận công phải chịu trách nhiệm tìm cho ra được lối thoát. Và chắc chắn ông sẽ tìm ra. Phải chăng những đồng tiền cho vay kia lại ngăn cản việc kết thúc một cuộc chiến tranh vĩ đại và đầy vẻ vang? Điều này đã bị loại trừ.

Trong tòa lâu đài không còn lối đi vì chật cứng những người đưa tin hỏa tốc, những vị công sứ ngoại bang, những cố vấn cũng như những nhà cầm quân. Vì những người đưa thư hỏa tốc chạy đôn chạy đáo đó đây.

Tôi đến mất trí vì nôn nóng.

Những người kính đánh thuê của Boccaroza từ chối không đánh đấm gì hết. Họ đòi phải được trả ngay trọn các khoản lương như điều kiện đã thỏa thuận, còn để đánh tiếp họ đòi tăng lên gấp đôi khoản thù lao. Khi họ chưa nhận thì họ không nhúc nhích cho dù một ngón tay. Còn ngài quận công đào đâu ra số tiền để khuyến dụ họ, ông nói rằng khi thành phố bị chiếm, ông sẽ thanh toán sòng phẳng, và từ những chiến lợi phẩm thu được sẽ tha hồ giàu có. Họ cho rằng việc thành phố có chiếm được không còn chưa biết. Cho đến bây giờ điều này còn chưa xảy ra. Công việc trước tiên là phải đập tan quân thù và tiến hành bao vây lâu đài, còn họ không ưa gì cảnh bao vây, họ đã ớn cái trò đó lắm rồi. Bao vây rồi sẽ đi đến đâu, chẳng có một cơ may nào hết cho việc cướp bóc. Chưa tính đến chuyện bao vây thì họ đã phải chịu biết bao mất mát lớn lao. Số người chết còn vượt trên số dự tính. Điều này họ hoàn toàn không tán thành. Họ thích chém giết chứ hoàn toàn không ưa gì cái cảnh chết chóc chẳng khác gì súc vật như thế, và cho dù bất kì trong trường hợp nào phải chuyển cho được những đồng tiền chi trả cho khoản thù lao của binh sĩ. Cách họ đòi hỏi hoàn toàn chẳng có tính chất mềm dẻo trên phương diện ngoại giao nào hết.

Điều gì sẽ xảy ra và mọi sự sẽ đi đến đâu?

Nói vậy thôi chứ nhất định ngài quận công sẽ tìm được cách giải quyết nào đó vì ông là người rất nhanh trí. Ông ta thích phải đối mặt với trở ngại, chính trở ngại mới cho thấy hết tài năng hơn người của ông.

Quân đội của chúng tôi từ trước đến giờ vẫn luôn là đội quân bách chiến bách thắng, chiến đấu vẫn kiên cường, luôn đứng vững. Chúng tôi không quên điều đó.

Thế rồi chiến tranh cũng đi đến hồi kết! Quân đội rút hết qua biên giới mọi sự đâu vào đấy. Xong xuôi tất cả.

Tôi không ngủ mơ đấy chứ! Tất cả hệt như trong mơ ấy! Tôi bừng tỉnh, bây giờ tôi mới hiểu, đó hoàn toàn chỉ là giấc mộng, một giấc mộng khủng khiếp, một giấc mộng kinh dị. Nhưng không! Đấy đâu phải giấc mơ! Tất cả vẫn diễn ra ngay trước mắt đấy thôi. Một thực tế kinh hoàng. Tỉnh ngộ chưa? Tôi tự nhủ trong tuyệt vọng mặc dù không muốn hiểu thêm bất cứ điều gì khác. Tính hám lợi, thói bất lương, sự phản phúc... tất cả những thói xấu luôn đi cùng nhau và có trong mỗi một người lính anh hùng của chúng ta, chúng làm lung lạc tay gươm, tinh thần chiến đấu ở họ. Những người lính tiếng tăm lẫy lừng của chúng ta chưa mảy may nếm mùi bại trận, luôn làm cho kẻ thù khiếp đảm giờ đây phải trở về nhà. Hay ho gì phải trở về nhà, trong khi họ lại muốn hoặc là giành lấy đại thắng hoặc sẵn sàng bỏ mạng nơi chiến trường. Thật là trớ trêu và bi kịch biết chừng nào! Cuộc chiến tranh vĩ đại và hiển hách nhất trong lịch sử của chúng ta đã kết thúc. Toàn thân tôi dường như bị tê dại. Chưa bao giờ trong đời tôi lại phẫn nộ như thế, và cũng chưa bao giờ tôi lại xấu hổ như vậy. Cảm giác trong tôi chưa bao giờ trỗi dậy phản bác mãnh liệt như thế bao giờ. Lúc đó toàn thân tôi như bị tê liệt, tôi cảm giác mình đuối sức vô cùng. Bằng cách nào đó tôi có thể tác động vào cục diện và biến đổi nó? Làm thế nào có thể chấm dứt cảnh bi kịch tăm tối này? Tôi chẳng thể làm gì hơn. Chẳng thể nào!

Tất cả đã mãn cuộc, tất cả đã chấm hết. Hết thật!

Tôi lặng lẽ tránh xa mọi người, quay về phòng mình ở phía trên để khỏi bị quấy rầy khi tôi biết tin đồn về chiến tranh sẽ chấm dứt là có căn cứ, là có cơ sở. Và tôi sợ rằng tôi sẽ không cưỡng lại được những tình cảm bột phát trong tôi, và e rằng tôi sẽ không thể cầm lòng được và như thế chẳng hợp với bộ dạng của một người đàn ông. Vừa vào đến phòng mình tôi bật khóc rưng rức. Tôi chẳng việc gì phải giấu kín. Tôi không thể chịu đựng được nữa. Trong cơn giận dữ như điên như dại tôi xiết chặt nấm đấm ghì sát vào hai hốc mắt rồi nức nở. Nức nở.

Ngài quận xông sẽ không để yên đâu và ông sẽ chẳng muốn tiếp bất kì một ai. Thế rồi ông cũng dùng bữa trưa luôn ở đấy, chỉ một mình thôi. Tôi phục vụ bàn ăn cho ông. Ngoài tôi còn có thêm một tên gia nhân khác để mang thức ăn đến cho ông mỗi khi ông cần. Chẳng ai thấy ngoài hai chúng tôi. Bề ngoài xem ra ngài quận công rất bình thản. Nhưng điều gì ẩn giấu sau cái vẻ mặt nhợt nhạt của ông? Rất khó nói ra. Rồi khuôn mặt của ông được viền bằng một chòm râu đen nhánh, mặt ông lợt lạt đi, còn mắt ông ánh lên một cái nhìn bất động và vô định. Liệu ông có nhận thấy sự có mặt của tôi, và ông không hé răng nói lấy một lời từ cặp môi mỏng trắng bợt cắt không được giọt máu. Tên gia nhân đáng thương sợ ông đến phát hoảng vì hắn rất nhát gan. Khi được tin Venezia khước từ, nước cộng hòa thương mại đáng nguyền rủa gây khó khăn để ông khỏi xuất binh, ông trở nên phẫn nộ vô cùng. Tôi chưa bao giờ chứng kiến thấy ông như thế, toàn thân ông bốc lên cơn tam bành, nom ông đến sợ, đến phát khiếp. Điên tiết ông rút phăng con dao găm ra khỏi bao cắm đánh phập xuống bàn suýt nữa thì đến chuôi. Giá như cái đám thương gia ngay lúc ấy trông thấy ông, tôi tin rằng chỉ một loáng là chúng sẽ phải nôn tiền lên trên bàn cho coi.

Người ra nói rằng chưa bao giờ ông nổi nóng như thế và cho đến lần này ông chưa phải dùng đến sáng chế thiên tài của Bernardo. Nếu như nó ở đây thì ông có lợi biết mấy. Ông tin là với sự trợ giúp của chúng thì chúng tôi biết đâu đó có thể chiếm được thành phố và chiến thắng có thể nằm trong tầm tay của chúng tôi. Và khi ấy mọi việc sẽ ra sao nhỉ? Tôi rất hài lòng xem xem ông ấy nổi xung như thế nào. Ông nổi cơn tam bành cũng ghê đấy chứ. Nhưng sau đó tôi chợt nghĩ có thể ông không phải là con người mạnh mẽ như tôi vẫn nghĩ, tại sao ông lại đi phụ thuộc vào người khác đến vậy? Thậm chí còn lệ thuộc ngay vào những khoản tiền đi vay? Tại làm sao ông không dùng những người lính bách chiến bách thắng của chúng tôi để chống lại, cớ làm sao ông không giành cho thành phố ấy một trận nảy lửa? Vậy thì quân lính để họ làm mõ hay chăng?

Tôi chỉ đơn thuần nêu ra câu hỏi đại loại thế vì tôi không phải là chỉ huy trưởng và cũng có thể tôi hoàn toàn không hiểu được nghệ thuật tác chiến. Nhưng tôi còn canh cánh trong lòng và vẫn lo lắng, cố gắng để hiểu cho được điều gì sẽ xảy tới với số phận của chúng tôi. Tôi cởi bỏ binh phục. Tôi treo lên tường với cảm giác đầy cay đắng ngay trong phòng dành cho người lùn. Binh phục thường được treo ở đó. Trông chúng thảm hại và bất lực chẳng khác con rối nhồi vải được treo dây. Nhục nhã và ê chề vô cùng.

Chúng tôi sống trong cảnh hòa bình dễ gần một tháng rồi còn gì, thế mà cái tâm trạng ảo não bao trùm lên cả tòa lâu đài, cả thành phố, cả đất nước này. Cái lạ ở chỗ là sống trong hòa bình song nói chung ai nấy đều không hài lòng, mà còn sinh chán nản, và ngay lúc này đây cũng thế, bầu không khí bao trùm có phần tồi đi, cộng thêm phần ngột ngạt nhạt hơn nước ốc khiến con người ta không thoát khỏi sự rầu rĩ. Còn những người lính ngoài mặt trận trở về luôn trong trạng thái bất mãn vì mọi điều không chiều theo ý họ, còn những người không ra trận lại nói cạnh khóe, trêu chọc họ chính vì cuộc chiến không mang lại những kết quả như mong muốn. Cuộc sống thường nhật vẫn diễn ra một cách uể oải và buồn bã theo cái lối từ thuở khai thiên lập địa vẫn thế: chẳng niềm hân hoan lẫn mục tiêu nào ở phía trước. Tất cả những gì gắn với cuộc chiến, sự khích lệ, lòng hăng say, sự vui tươi nay không còn nữa.

Lâu đài trở nên tiêu điều. Hầu như chẳng còn ai ra vào qua lối cửa chính ngoài chúng tôi, vả lại chính chúng tôi phần đông, thường vào qua lối khác. Chẳng có ai để báo cáo cũng chẳng còn ai để thiết đãi. Những phòng khánh tiết không người ở, còn những người phục vụ ẩn dật đâu đó không ló mặt ra, ở những lối đi chẳng có ma nào cả, thậm chi không có lấy tiếng chân cất bước quen thuộc. Cảnh vắng tanh vắng ngắt gây cảm giác như rơi vào vương quốc hồn ma. Ngài quận công đi đi lại lại trong những căn phòng bên trong, những căn phòng cổ xưa, hết góc này đến góc khác, lúc lại ngồi vào bàn trầm ngâm, cái bàn vẫn còn hằn lại một vết khoét do dao găm. Ông nhìn một cách rầu rĩ và đầy chăm chú vào một điểm như đang suy tư một cái gì đó hãy còn chưa biết đến. Thời gian trôi thật nặng nề và sầu thảm. Ngày thì dài lê thê, biết bao giờ mặt trời mới lụi tắt. Tôi bây giờ tha hồ rảnh rỗi, tôi muốn viết bao nhiêu tùy thích về cuộc đời, về những dòng suy nghĩ; song mong ước nhỏ nhất mảy may tôi cũng không có. Thường thì tôi ngồi cạnh cửa sổ buông mắt ngắm nhìn những con thằn lằn vòng uốn khúc dưới bờ tường tòa lâu đài, dòng sông êm đềm uốn lượn cùng một dải màu xanh biếc. Chính con sông này trên phần đất của ngày Lodovico đã chứng kiến chiến thắng oanh liệt của chúng tôi. Không, điều này đã mấy ai thấy! Chẳng qua cũng chỉ là điều tồi tệ nhất trong toàn bộ những gì diễn ra trong thời gian khủng khiếp nhất gần đây. Tôi kinh hoàng, liệu còn có thể tin được ai hay bất cứ điều gì sau sự kiện này?!

Có thể hình dung thế này, ngài quận công cho rằng ông và dòng họ Montan cần phải hòa hoãn và tiến hành kí kết một hiệp định để không bao giờ dấy lên cảnh binh đao. Nói là vậy chứ điều gì có thể đảm bảo chấm dứt những cuộc chiến tranh liên miên này? Rằng cả hai dòng họ cần phải long trọng cam kết cùng một lúc chấm dứt cuộc chiến và sẽ không bao giờ xâm phạm lẫn nhau nữa. Ngài quận công thoạt đầu xem ra không tán thành, còn cho là bị mạo phạm, là lời khiêu khích cuối cùng. Tuy nhiên, ngài quận công sẽ vẫn theo đuổi lời yêu cầu của mình cho đến cùng. Ông còn nói chúng tôi lấy lẽ gì mà chém giết lẫn nhau, rồi những cuộc chiến tranh phi nghĩa này sẽ đi đến đâu? Cớ gì chiến tranh nổ ra liên miên và kéo dài đến vài trăm năm, chẳng bên nào thắng, chẳng bên nào thua mà cả hai đều phải chịu tổn thất. Có biết bao nhiêu tai họa giáng lên đầu chúng tôi? Thật là tốt biết mấy khi chúng tôi cùng chung sống trong hòa bình, trong hòa ước, có như thế đất nước của chúng tôi mới thịnh vượng và phát đạt! Xem ra Lodovico cũng nhận thấy những lí lẽ mà ngài quận công viện cũng có lí. Và bây giờ ông mới đưa ra câu trả lời rằng ông đồng tình với lời đề nghị của ngài quận công, ông chấp nhận lời mời đến tham dự diễn thuyết về một nền hòa bình “vĩnh cửu” và kí kết một “hiệp định trọng thể”.

Rõ ràng tất cả bọn họ đã mất trí! Một nền hòa bình “vĩnh cửu” ư? Sẽ chẳng bao giờ xảy ra chiến tranh ư? Thật vớ vẩn và ấu trĩ hết sức! Chẳng nhẽ họ cho rằng những quyền lực mà họ có thể thay đổi được trật tự thế giới hiện hữu? Thật là tự kiêu tự đại quá mức! Quá khứ cũng như tất cả những truyền thống tốt đẹp đều có sự đổi thay đấy thôi! Không có nạn binh đao ư? Chắc sẽ không có cảnh đổ máu! Khi ấy cả danh dự lẫn chủ nghĩa anh hùng đều không được người đời coi trọng! Sẽ chẳng còn cảnh kị sĩ vác thương xung trận, sẽ chẳng còn phải giáp mặt với kẻ thù và hy sinh oanh liệt trên sa trường! Lẽ tất nhiên sẽ chẳng có cái gì để đem ra làm thước đo cho cái gọi là niềm tự hào của loài người. Sẽ chẳng còn nảy ra một Boccaroza điềm nhiên và tàn bạo nào khác vung gươm nhắc nhở một bột tộc chuyên dương dương tự đắc rằng trên đầu họ nào còn có ai! Và liệu chính những nền tảng của cuộc sống có bị tiêu vong hay không? Dàn hòa ư! Chẳng gì hơn ngoài sự ô nhục! Làm sao có thể bắt tay hòa ước với kẻ thù không đội trời chung! Đúng là sự sỉ nhục hết cấp! Sự xuyên tạc bỉ ổi các quy luật của tạo hóa! Đê mạt! Đối với chúng ta đó là sự thóa mạ, thóa mạ đối với cả những người đang sống và chiến đấu, với cả những người đã hy sinh. Lăng mạ chính các vị anh hùng đã ngã xuống của chúng tôi, những người đã hy sinh giờ đây là vô ích! Tôi sẽ phanh phui các thói đớn hèn này. Cái điều mà ông đang toan tính khiến tôi không tài nào hiểu được. Song mọi lẽ lại thay đổi. Bây giờ tâm trạng ông khá lên rõ rệt, ông lại trò chuyện với mọi người, lại trở nên tinh anh và hài lòng với chính mình. Ông muốn nói rằng ông đã nghĩ tới một điều thông minh khác thường, hẳn là một tư tưởng “vĩ đại”.

Với tôi chẳng có lời nào tả sự khinh rẻ khôn cùng của tôi. Niềm tin tôi giành trọn vẹn cho ngài quận công cho quý ngài của tôi đã bị đổ vỡ khó lòng có thể lấy lại được. Ông ta đớn hèn cũng như bao kẻ cầm quyền khác. Hòa bình “vĩnh cửu” ư! Có mà ngưng chiến thì có! Thế kỉ này kế tiếp thế kỉ kia, cuộc chiến này nối tiếp cuộc chiến kia! Đâu chỉ đơn thuần hòa bình có tồn tại!

Quả thực, làm một anh lùn cho quý ngài đây cũng không dễ dãi gì. Sau cuộc binh biến, mọi thứ trong lâu đài đảo lộn tất cả. Bạn có thể té ngã do vấp phải mỗi khi bước phải những cái máng giặt vứt ngổn ngang, những chiếc chổi vứt lộn xộn. Khắp nơi đâu đâu cũng thấy giẻ rách, và khi người ta trút bỏ chúng để lau các ô cửa sổ, cơ man biết bao nhiêu là bụi bặm. Từ trên tít trần thượng người ta bố trí treo rất nhiều những bức thảm ghép cổ, thảm được trải khắp nơi, trải trên lối ra vào, rồi thảm cũng được treo trên tường để trang hoàng chuẩn bị cho ngày lễ hòa bình và hòa ước đê tiện này. Những căn phòng để tiếp đãi khách được chuẩn bị hàng tháng trời mau chóng được đưa vào sử dụng đâu ra đấy, còn đám nô bộc chạy đi chạy lại cứ như chong chóng, chạy mãi không hề biết mệt. Tất cả bọn họ trong thâm tâm nguyền rủa công việc thù địch dở hơi này của ngài quận công.

Đám tay chân cũng sẽ phải lau chùi và quét dọn khu cung điện Geraldi, chỗ đó sẽ bố trí nơi ăn chốn ở cho đoàn tùy tùng của Lodovico. Người ta kháo nhau rằng Boccaroza cùng đám lính đánh thuê của y đã để lại cái chuồng heo này. Các kho đầy ắp lương thực thực phẩm có vô vàn thịt bò, thịt bê, những súc thịt cừu nguyên con, tất cả được lão quản gia bố trí sắp xếp đâu ra đấy. Đây toàn là những vật phẩm do người nghèo cống nộp. Ngũ cốc trong kho chất cao như núi, có cả thức ăn cho ngựa. Nông dân, những người đen đủi hẩm hiu, đều lấy làm bất bình. Tôi đồ rằng nếu như họ có thể họ sẽ nổi loạn chống lại ngài quận công vì cái lễ kí kết hòa bình ngốc nghếch đó. Cái họ phải cống phẩm là công sức săn bắn ở rừng, ở những triền núi mới có được. Nào hươu nai, nào gà lôi, nào lợn rừng. Đám gia nhân chẳng mất gì chỉ việc đem chế biến nấu nướng những món chim cút, món thịt gà gô, món thịt chim rừng. Đám đầy tớ chuẩn bị món chim câu gà quay béo ngậy, lựa những con công ngon nhất, lông đẹp cho bữa tiệc kí kết. Đám thợ may có trách nhiệm chuẩn bị y phục thật sang cho ngài quận công và cả phu nhân quận công. Để làm được họ phải đi vay giật, tất nhiên sẽ không phục vụ cho mục đích chiến tranh. Họ đi hỏi vay tất cả giới quý tộc trọng vọng của thành phố. Họ tất bật ngược xuôi để vay được khoản tiền cần thiết. Khải hoàn môn nằm ở phía trước lâu đài lùi xa về phía vệ đường nơi Lodovico cùng đám tháp tùng phải đi ngang qua. Người ta bày tán lọng khắp nơi, những tôi đòi tớ mượn giũ sạch những tấm thảm, những tiết học được thêu thùa để trang điểm cho các khung cửa sổ. Các nhạc công thì cử nhạc từ sáng cho đến tối, vì vậy đám người này được bố trí riêng, còn đám thơ phú phục vụ cung đình theo phiên thì ứng tác ra những điều nhăng cuội, sau đó những người dàn dựng dùng để họ phục vụ cung đình! Người ra kháo nhau về những gì họ biết. Rất khẩn trương, rất sôi động! Chẳng một ngóc ngách nào yên ắng! Mỗi một bước đi bạn nên cẩn trọng kẻo va đụng hay vấp ngã. Cái cảnh kẻ chạy ngược người chạy xuôi bận rộn không kể xiết. Tôi không để đâu cho hết tức. Bọn giặc cỏ rùm beng tiến vào đô thành chúng tôi. Đô thành chưa bao giờ được trang hoàng và tô điểm đẹp như thế để chào đón chúng. Đi trước là một toán khoảng ba mươi tên cưỡi ngựa chơi kèn sáo, bao quanh là những viên kị sĩ cận vệ trong trang phục đen và xanh, tay nhăm nhăm binh khí. Tiếp đến là Lodovico cùng gã con trai miệng còn hôi mùi sữa, theo sau họ là những trang hiệp sĩ danh nổi như cồn, đám con dòng cháu dõi và cả hai trăm xạ thủ hậu quân. Lodovico cưỡi một con ngựa chiến màu quạ khoang, trên đầu ông là một chiếc tán nhung màu xanh thẫm được viền chỉ bạc. Nhân dân hoan hỉ đón chào ông. Nhân dân răm rắp chấp hành mỗi khi ông ban lệnh, đấy là ông còn đương chức. Bằng không ông chả là cái gì sất. Hiện giờ họ nghĩ họ là những người hạnh phúc vì hòa bình sẽ mãi mãi bền chặt.

Ngài quận công phái ba công sứ ra đón tiếp họ, loan báo về việc Lodovico đã tới và lí do của chuyến viếng thăm, và thế là khắp các nhà thờ thành phố đổ chuông. Đó là khúc nhạc dạo đầu hùng tráng, còn chúng tôi cảm thấy sự nhục nhã ê chề đang kề cạnh. Tiếp theo là tràng đại bác bắn lên trời. Theo tôi nên dùng chúng vào đám rước thì tốt hơn. Con ngựa của con trai Lodovico phát hoảng né mình sang một bên, tí nữa thì con trai ngài văng người ra khỏi yên, nhưng cậu ta kịp cầm cương riết lấy và tiếp tục thúc ngựa chạy tiếp. Cậu thẹn đến đỏ cả mặt. Chẳng khác một đứa trẻ, hẳn cậu ta cũng chỉ mười bảy tuổi là cùng. Dù bao cặp mắt xung quanh cậu chứng kiến, nhưng họ không hề cho rằng cậu ta kém cỏi. Họ luôn tìm thấy ở cậu những ưu việt và cho đó là những dấu hiệu tốt lành, nhất là trong những dịp trọng đại thế này. Nay thế nữa, họ không bao giờ bỏ qua những cơ hội minh chứng cho sự sắc sảo tinh tường của mình. Gần đến cổng lâu đài, Lodovico xuống ngựa và được ngài quận công tiếp đón một cách cầu kì đầy hoa mĩ. Lodovico là một tay khỏe như vâm, vừa lùn, vừa mập, bên hai má lộ những đường gân hồng nhằng nhịt chạy xuống cái cổ vừa ngắn lại vừa mập tròn như cổ bò. Ông chỉ có râu cằm, đã thế lại lưa thưa, hoàn toàn chẳng tôn khuôn mặt ông một chút nào, vả cả cái bộ dạng vốn chẳng ưa nhìn gì của ông. Cặp mắt đen và sắc như dao cứ vờ như niềm nở khiến người ta chẳng thể nào tin vì tất cả đều biết ông chỉ là một tên cáo già. Theo tôi ông ta là một con người bẳn tính, kể cả nay lúc điềm đạm, bất kì lúc nào ông ta cũng có thể cho bạn ăn đòn. Một ngày chỉ toàn tiệc tùng, tiếp đón, nghi lễ và thương thuyết liên quan đến sự hiệp định giữa hai quốc gia. Tối đến người ta tổ chức buổi trình diễn bằng tiếng La tinh cực kì buồn tẻ. Tôi chẳng hiểu gì, còn mọi người khác thì theo tôi cũng thế. Sau đó người ta diễn một vở hài kịch dung tục mà ai cũng đã hiểu rõ hơn nhiều và bắt đầu nói những lời bông đùa tục tĩu, thô bỉ. Với tôi đó là một vở diễn gây lợm giọng.

Thế rồi tất cả nghi thức trong ngày cũng kết thúc. Tôi ngồi trong phòng và lấy làm vui mừng chỉ còn lại một mình. Còn gì thú vị hơn thế nữa? Cũng thật buồn cười, tất cả cái đám khách khứa đông thế mà nhét vào phòng dành cho người lùn trong khi trần nhà chỉ và đủ cao để cho họ lom khom đi vào, như thế quả là ngố hết mức!

Cậu con trai này của ngài Lodovico được người ta vẫn hay gọi là một “gã đẹp trai” bởi vì cậu ta không giống cha mình. Đi cạnh người cha, ngồi trên lưng ngựa, dưới cái tán nhung màu da trời, cậu ta vận trang phục đồng mầu với tán che khiến mọi người xung quanh cứ gọi cậu là trang giai nhân của ông ấy. Chuyện như thế có thể xảy ra lắm chứ. Theo nhận định của tôi, cậu ta hầu như chẳng có nét gì của người đàn ông. Từ cặp mắt lá răm mái tóc đen dài cho đến làn da tố nữ… Chẳng khác gì đám con gái, cậu hay thẹn thùng chỉ vì những chuyện vặt vãnh và nhầm lẫn về việc vẫn thường xảy ra. Tôi có thói quen xét nét, tôi không thể chịu được cái vẻ bề ngoài như thế… Theo tôi, đàn ông phải ra dáng đàn ông. Người ta nói cậu ấy giống mẹ, một trang thiên sắc, một mĩ nhân Beatriche. Người ta đồn rằng bà từ địa ngục được cứu rỗi lên thiên đàng, bà ta bỏ bố con cậu mà đi dễ tròn đến mười năm rồi còn gì.

Lúc chiều tà tôi thấy cậu ấy đi dạo cùng Angelica ở vườn ươm hoa. Sau đó tôi lại thấy họ dạo bước phía gần bờ sông, ném những mẩu bánh vụn cho lũ thiên nga. Thỉnh thoảng tôi còn nhận thấy họ đàm đạo về một điều gì đó. Tôi không rõ cậu ta lại nói chuyện với cô bé con. Ắt hẳn cậu ta không nhận thấy, mà cô ấy có xinh đẹp gì đâu, biết đâu cô ta lại muốn chạy trốn khỏi cái xã hội của cô? So với cô ấy, chắc gì cậu sáng dạ hơn, hay chỉ như người nguyên thủy. Don Riccardo tham gia vào các nghi lễ, thường ông len lỏi về phía trước mỗi khi có dịp thuận lợi. Vết thương của ông chắc đã lành lại. Tôi nói gì nhỉ? Những vết thương nào cơ? Sức khỏe ông chắc chẳng có gì tiến triển, một tay dường như không cử động được. Các bạn thấy đấy, ông là một con người có thừa lòng quả cảm! Đã tới ngày thứ ba tính từ khi quân giặc tiến vào thành phố chúng tôi. Các nghi lễ tiếp đón vẫn cứ diễn ra tuần tự, thành phố chưa có lấy một phút yên ắng nào. Tôi hoàn toàn kiệt sức vì cả ngày tôi cứ phải ngồi ghi chép. Sáng nay, chính lúc này đây, tôi vật vã lấy lại sức lực đã tiêu hao. Tôi kể lại vắn tắt chuyện diễn ra ngày hôm qua và những ấn tượng của tôi.

Cả hai ngài quận công ra khỏi lâu đài từ rất sớm đi về hướng tây thành phố, chỗ họ sẽ dành vài tiếng để đi săn trên đồng cỏ bằng chim ưng. Ngài Lodovico là người rất thích đi săn bằng chim ưng, còn ngài quận công của chúng tôi có nuôi loại chim ưng trác tuyệt, trong số đó một vài con là loại hiếm quý được vị hoàng đế Pháp ban tặng, và tất nhiên ông không vội gì để bộc bạch về chúng. Từ bãi săn trở về, họ ngồi ngay vào bàn ăn uống, uống rồi lại ăn cứ liên miên không dứt. Sau đó âm nhạc được cử lên, dù muốn hay không bạn cũng phải nghe. Theo tôi chẳng có một loại nhạc nào tồi tệ hơn thế kể từ lúc cha sinh mẹ đẻ! Tiếp đó là các tiết mục múa hát lèng phèng, và sau đó là tiết mục tung hứng, một trong những tiết mục làm người xem phấn khích. Và đây chính là tiết mục đáng xem nhất. Ngay sau khi tiết mục này chấm dứt, một lần nữa họ lại ngồi vào bàn ăn uống cho đến tận đêm khuya. Một màn kịch câm hết sức gợi tình đã được thể hiện qua sự biểu diễn của những nam nữ diễn viên trong những trang phục bó chặt lấy thân chẳng khác gì màn trình diễn thoát y. Đến thời điểm này đa số bọn họ đã say xỉn. Và thế là một ngày đã hoàn tất, cuối cùng tất cả công việc của tôi chấm dứt và tôi được thiếp đi và ngủ say như chết. Vào thời gian này ngài quận công trở nên sôi nổi, lịch thiệp và cũng rất say mê. Ông cũng chẳng hiểu ông đãi khách ra sao, nhưng những gì ông làm, thái độ nhún nhường trước họ thật quả đáng phải ngạc nhiên. Tôi nhìn ông không thể không ngỡ ngàng. Có thể, đám khách khứa đều là những chiến hữu chí thân đối với ngài Lodovico. Còn ngài quận công ít nhất cũng làm hết sức mình tỏ ra là người bạn chân thành. Ngài quận công Lodovico mới đầu rất dè dặt và có phần thận trọng, nhưng rồi cái cảm giác ấy cũng qua mau. Vả lại ông đến đây đâu chỉ có đám vệ sĩ mà còn hàng trăm binh lính hộ tống. Hơn nữa đi kí kết một hiệp định hòa bình cần chừng đấy binh lính đi theo để làm gì? Mặc dù hoàn cảnh buộc ngài quận công phải xử sự như thế, nhưng có lẽ, ông cũng không đủ can đảm để tiếp đón đám quân thần ngoại bang mà không có sự hộ tống của đội quân cận vệ đặc biệt. Tôi biết quá rõ điều này hơn ai hết. Bao giờ chả thế! Nhưng dù sao tôi cũng không thể khoanh tay đứng nhìn thấy bọn giặc ngoại bang này, tôi muốn nện cho chúng một trận. Còn bây giờ không được manh động. Tình hình lúc này là tình huống ngàn cân treo sợi tóc!

Nhất cử nhất động của ngài quận công đều trở nên bí ẩn đối với tôi. Tôi hoàn toàn không thể hiểu tại sao ông lại xử sự không thỏa đáng đối với lũ giặc không đội trời chung. Quả là bí ẩn! Tôi không tài nào hiểu được. Hay đơn giản người ta vẫn nói mưu sự tại nhân thành sự tại thiên! Tôi không muốn đề cập về điều này, như thế là quá đủ! Sự xem thường ông trong tôi vẫn là vô hạn định.

Tôi vẫn thấy Giovanni và Angelica hôm qua thường quấn quýt bên nhau. Cả hai xem ra rầu rĩ. Lúc chạng vạng tôi vẫn thấy họ ngồi bên bờ sông, nhưng lần này không cho đám thiên nga ăn, chẳng chuyện trò, đơn giản chỉ ngồi yên lặng bên nhau, thả tầm nhìn lên dòng nước. Có thể chẳng chuyện trò gì hơn.

Còn gì nữa chăng? Có lẽ chẳng còn gì hơn. Ngày hôm nay lễ kí kết hiệp định hòa bình sẽ được tiến hành, sau đó là một bữa tiệc thịnh soạn có lẽ sẽ kéo dài đến sáng. Nghe mà khiếp! Tất cả đối với tôi trở nên chán ngắt.

Tôi hoàn toàn tin cậy ở ngài quận công. Đầu óc tôi quay cuồng. Tôi không thể tiết lộ những nhiệm vụ mà ông đã giao không được hé dù là nửa lời! Đây là bí mật. Tôi không hiểu chúng tôi sẽ phải đợi bao lâu nữa! Tôi vô cùng hạnh phúc. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói. Hôm nay vào lúc sáu giờ, bữa tiệc long trọng sẽ được tổ chức. Đấy là sự kiện quan trọng nhất trong tất cả các nghi thức đón tiếp, tôi chỉ biết nếu như trót lọt thì đây chính là niềm vinh quang trọng đại nhất. Tôi đợi giây phút này từng khắc. Ngài quận công quả thực là nhà lãnh đạo trù tính vẹn toàn và vĩ đại. Ngay bây giờ tôi sẽ kể ngày cuối cùng diễn ra như thế nào, và điều chính yếu đó là về bữa tiệc, nó đã khép lại tất cả những nghi thức có liên quan đến việc kí kết giữa hai dòng họ, một bên là dòng quận công chúng tôi và bên kia là dòng họ quận công xứ Montan, thậm chí cả về những sự kiện có liên quan tới lễ kí kết hiệp định hòa bình này. Thoạt đầu chúng tôi tụ tập trong phòng khánh tiết, nơi bản hiệp định về nền hòa bình bất khả xâm phạm sẽ được công bố giữa hai nhà nước. Bản hiệp định được soạn rất trọng thể, trong đó có đề cập đến việc bãi bỏ xây dựng những pháo đài kiên cố ở biên giới, thực hiện tự do hóa thương mại giữa hai nước, và những vấn đề thúc đẩy giao thông. Sau khi đọc xong là thời điểm của lễ kí kết. Cả hai vị quận công cùng với thuộc hạ tiến đến bàn và kí tên mình lên hai bản cam kết khổ to bố trí sẵn ở đấy. Tất cả diễn ra một cách long trọng. Ngay lúc đó vang lên một hồi kèn lệnh, do người nhạc công bố trí dọc theo tường, cách hai bức lại có một người. Họ vận trang phục màu của ngài quận công của chúng tôi và của ngài quận công xứ Montan. Họ đứng xen kẽ, sau đó là cả một đám rước, người đứng đầu là ngài thái sư tiến vào dưới làn điệu đặc trưng cho thứ âm nhạc trọng thể phục vụ cho lễ kí kết. Căn phòng rộng lớn được chìm trong ánh sáng của năm mươi giá nến bằng bạc và hai trăm ngọn đuốc do đám tôi tới mặc đồng phục nắm giữ. Ngoài đám tôi tớ trên có nhiều trẻ em lang thang ngoài phố quần áo rách bươm trông đến thảm thương, đi chân đất nhơ nhớp, nếu bạn tiến gần chúng một chút thì mùi xộc lên mũi đến kinh. Một dãy năm chiếc bàn liền trong phòng đã bị gẫy do bị chất chồng lên quá nhiều, nào đĩa bạc, đĩa sứ đựng hàng núi thức ăn, rồi hoa rồi quả, rồi cơ man biết bao nhiêu bánh ngọt được làm theo những hình thù kì dị như người ta nói với tôi, đó là những cảnh trong thần thoại Hy Lạp, chính xác là một loại hình tượng giáo, cái mà tôi chưa hề được biết đến. Ở giữa mọi thứ đều được làm bằng vàng từ giá để nến, đĩa đựng hoa quả, đĩa để ăn, bình chứa rượu vang cho đến cốc chén dành cho hai vị quận công cùng những thành viên trong gia đình hoàng tộc, kể cả những kẻ thân tín danh nổi như cồn. Ngài quận công ngồi đối diện với Lodovico, còn phía bên phải ông là bà quận công vận trong trang phục váy thắm tay xẻ tà được làm bằng lụa có hình hoa văn màu trắng có đính những viên đá quý phía trước bộ ngực đẫy đà có thêu kim tuyến óng ánh. Phía sau gáy tóc bà được vén lên bằng một loại lưới vén tóc màu trắng bạc, ở phía dưới có đính những viên đá quý, ít nhiều cũng giấu đi cái mớ tóc màu hạt dẻ nhợt nhạt xấu xí của bà. Có lẽ bà phải mất hàng giờ để điểm trang, nom bà rạng rỡ hơn ngày thường, cái mặt ngày thường phúng phính, nhưng hoàn toàn dịu dàng, giờ thì hoàn toàn xinh xắn. Bà cười nói rất thoải mái. Ngài quận công ăn vận chẳng cầu kì chút nào. Ông mặc bộ y phục nhung đen, tay xẻ để lộ ra thứ vải lụa màu vàng. Ông có dáng người cân đối, nom chẳng khác một chàng trai. Ông đâu có dấu hiệu của tuổi già, ông còn năng nổ và hoạt bát lắm. Ông ngồi yên trong giây lát chẳng hé lấy nửa lời, người ta còn thấy thi thoảng ông chìa tay ra vuốt vuốt mớ tóc ngắn đen nhánh của mình, trong thâm tâm tôi cho ông lúc này chẳng có thói quen làm như thế. Rồi tôi bỗng thấy mình trung thành tận tụy với ông đến nhường nào. Ngài Lodovico mặc một cái áo choàng rộng nhưng ngắn cũng được may bằng loại vải màu sẫm tối rất sang trọng được làm từ lông điểu hắc tử, bên trong còn mặc một chiếc áo chẽn cộc tay màu đỏ sáng, điểm thêm bằng một chiếc vòng cổ bằng vàng vừa to vừa nặng trễ xuống dưới ngực. Ăn vận như thế ông xem ra trông càng béo hơn và càng lùn đi. Cái cổ vốn đã to như cổ bỏ đực lại càng cộn lên bằng áo lông điểu hắc tử càng làm cho cổ ông bè ngang hơn, trông như lật đật không đầu. Khuôn mặt ông ánh lên sự nhiệt thành và đầy thiện chí, nhưng chỉ riêng khuôn mặt thôi làm sao nói lên tất cả?

Don Riccardo dường như ngồi đâu đó gần đây, một trong những chỗ danh giá nhất này, mặc dầu lẽ ra ông phải ngồi xa xa đâu đó. Ông bao giờ chả ngoi lên trước, còn ngài quận công chả làm gì ra hồn nếu như không có ông ta, thậm chí cả bà phu nhân nữa. Ông bắt đầu huyên thuyên trên giời dưới bể và làm cho tất cả mọi người xung quanh phát ngấy bởi cái bộ dạng kiêu căng, cả việc vân vê cái mớ râu cằm đen xì và quăn tít. Tôi ném cho ông ta cái nhìn lạnh lùng với ẩn ý đến trời cũng chẳng thể biết. Vả lại việc nói lúc này đối với tôi là không phải lúc.

Chắc mọi sự vẫn thế! Tôi muốn nói cái cặp chim bồ câu Giovanni và Angelica kia chắc lại ngồi đâu đó kề cận cùng nhau, cũng có thể ở dãy bàn chung kia chăng? Mà họ ngồi gần nhau thì có sao đâu vì cô cậu gần như đồng lứa, lẽ tất nhiên là ngang hàng, là môn đăng hộ đối và cả hai đều xuất thân từ dòng dõi quận công. Giovanni ắt hẳn một trăm phần trăm rồi, còn Angelica thì biết đâu cô ta chỉ là một đứa con nuôi. Trong số khách khứa dự tiệc họ là những nam thanh nữ tú duy nhất nhưng nom họ còn trẻ con hơn là có nét của người lớn. Biết đâu họ đến dự tiệc chỉ là sự bắt buộc. Với cô Angelica đáng thương, đây là lần xuất hiện đầu tiên trước một thế giới đầy choáng ngợp. Cô ta vận một chiếc váy lụa tay dài và hẹp được may từ một loại gấm vàng. Tóc có vẻ sáng, cô đội một chiếc mũ nhỏ nhắn có đính ngọc và vàng, cô ta nom cứ ngồ ngộ thế nào đó. Bất kì ai trông thấy đều cho cô ăn mặc thật sơ sài và có phần tồi tội thế nào đó. - Cô ta lúc nào cũng mấp máy, má ửng đỏ chắc vì lúng túng, ngượng ngùng. Đôi mắt bồ câu to đen và tràn sáng lên vì thán phục tựa như cô vừa mới chứng kiến một điều kì diệu nào đó. Vả lại, Giovanni chắc đã hơn gì cô, giữa cái chốn toàn những nhân vật tai mắt, thỉnh thoảng chính cậu cũng len lét nhìn họ đấy thôi. Nhưng cậu thì đã quen với cái giới thượng lưu này rồi, sự rụt rè nhút nhát đó là bản tính của cậu. Cậu mặc bộ trang phục màu xanh da trời được làm từ vải nhung cùng với đường thêu kim tuyến ở cổ. Cái cổ mảnh khảnh đeo cái lắc bằng vàng hình ôvan trong đó có gắn chân dung mẹ cậu, mẹ cậu người ta kháo nhau rằng bà đang được an hưởng trên cõi cực lạc. Do đâu mà họ biết được? Biết đâu, cũng có thể bà ta đang phải chịu cảnh tủi nhục dưới địa ngục! Tầm phào! Khách khứa vẫn có cảm giác cậu là một “trang thanh tú”, chính tai tôi nghe thấy họ thì thầm to nhỏ cùng nhau, tuy nhiên một số khác thì không thế, họ cho cô cậu là một cặp “đẹp đôi”, đến đây tôi mới chợt nhận thấy quan niệm về cái đẹp của họ đến thật là lạ! Nói chung, tôi chẳng ưa gì loại đàn ông như cậu, theo tôi đàn ông phải ra dáng đàn ông. Thậm chí tôi không thể tin cậu ấy là con trai một quận công dòng dõi Montan, làm sao cậu ta có thể trị vì đất nước, cai quản nhân dân một khi cậu chính thức kế vị? Tôi không cho cậu có đủ năng lực để gánh vác trọng trách này.

Hai cô cậu đâu có nô giỡn cùng nhau, mà rất chăm chú theo dõi những người quanh bàn tiệc, thậm chí họ chẳng nói với nhau lấy một lời! Còn tôi, tôi nhận thấy cả hai cứ đau đáu con mắt theo dõi, nhìn nhau rồi nhoẻn những nụ cười quái dị. Tôi lấy làm lạ cô gái ấy, không biết cô cười về cái gì. Tôi chỉ mang máng nụ cười lần ấy cho thấy tâm hồn cô đã thực sự trưởng thành, cô đã thoát thai khỏi cái ngưỡng trẻ con để trở thành một thiếu nữ. Nụ cười của cô toát ra một cái gì đó tự nhiên, e dè và gượng gạo. Có thể cô ý thức được rằng cô cười không được duyên gì cho lắm, mà theo tôi loài người vẫn cười như vậy đó thôi. Ai mà chả thế!

Càng quan sát cô cậu, tôi càng cảm thấy ngạc nhiên giữa cô cậu này chắc có uẩn khuất gì đây? Cả cô lẫn cậu đều không đụng đũa và chỉ ngồi mặc kệ những người xung quanh. Bỗng tôi nhận ra cô cậu đang nắm tay nhau ở dưới mép bàn. Nếu như lúc ấy mọi người xung quanh bàn tiệc phát hiện ra tôi ra hiệu cho người bên cạnh họ cùng nhìn chắc cô cậu sẽ ngượng ngùng lắm, thẹn chín mặt hoặc cô cậu cũng có thể bông đùa nhau sôi nổi hơn là đằng khác. Cuối cùng tôi cũng hiểu ra giữa hai người có những tình cảm đặc biệt giành cho nhau, những tình cảm này còn gì khác ngoài tình yêu. Thú vị gớm nhỉ! Còn tôi, tôi cũng chẳng hiểu tại sao điều này khiến mình sôi máu đến vậy. Cơn bực tức dồn lên cổ làm tôi cứng hết cả họng, chẳng biết do đâu?

Tình yêu giữa con người khác giới giành cho nhau bao giờ chả mang nặng sự nhục dục. Còn tình yêu giữa cô cậu này bề ngoài có vẻ trong sáng lắm nhưng kì thực còn đòi hỏi nhục dục gấp đôi. Toàn thân tôi lúc đó nóng hừng hực như hòn than sắp sửa hóa điên, hóa điên vì bực dọc, và hóa điên lên vì phải chứng kiến cảnh chướng tai gai mắt. Nói như vậy là quá đủ. Tôi đã quá sa đà vào cái đôi lứa oắt con mà hoàn toàn chưa động chạm đến những nhân vật quan trọng trên bàn tiệc long trọng. Tôi xin được phép tiếp tục mô tả! Ngay sau khi khách dùng xong món ăn nguội, tôi muốn nói là còn vô khối lượng thức ăn ở trên bàn thì ngài thống đốc xuất hiện trước cửa chính. Ông ngồi trên lưng một con bạch mã yên màu huyết dụ, ông gọi mười hai món nóng sốt bằng một giọng oang oang. Có ngay thưa ngài! Ngay lúc đó biết bao gia nhân, hầu bàn mang thức ăn vào cùng một lúc. Hai tên chuyên thổi kèn trận, một tay nắm lấy cương ngựa, còn tay kia giữ lấy kèn mà thổi đồng thanh. Những món ăn đang bốc khói nghi ngút phả ra nồng nặc mùi thịt kèm mùi mỡ ngậy, còn tôi do phát khiếp với cái mùi này mà suýt nữa phát nôn. Người phục vụ với dáng vẻ quan trọng kì cục thường ngày né đầu rồi nhoai người về phía bàn quận công, ông ta dùng bàn tay trái để giữ đồ ăn, còn tay phải dùng dao thái nhỏ các miếng thịt lợn, thịt vịt và cả gà trống tây trông như một võ môn kiếm đạo cao cường ban ra những miếng đòn nguy hiểm chết người. Mỡ nhỏ từng giọt từ tay kia, cái tay ông dùng để giữ. Khách khứa đổ xô vào bàn và ăn ngấu nghiến. Tôi có cảm giác cứ chương chướng, thế rồi cái cảm giác ghê tởm trỗi dậy. Luôn choán lấy tôi mỗi khi nhìn thấy họ nhai ngấu nghiến, nhất là đám ăn tục. Để tống được những miếng to hơn, miệng họ phải ngoác ra, hàm nhai liên tục, lưỡi họ búng tóp tép ở trong miệng. Ngài quận công ăn uống rất từ tốn. Thậm chí ông còn ăn ít hơn thường ngày, còn rượu ông ta không đụng lấy một giọt. Có một lần tôi thấy ông nhấc cốc lên, mải mê suy tưởng, hướng tầm nhìn qua ô cửa kính xanh xanh để quan sát mọi vật. Còn những người khác uống vô tội vạ. Những người tôi tớ chạy đi chạy lại mang lên những món cá chiên, cá chép và cá măng kìm được đựng trên các đĩa sứ to và rộng, những món này được tất cả khách khứa đều trầm trồ thán phục rằng chúng được chế biến khéo thế, ngon thế. Rồi đến món thịt đông được đựng trong các đĩa to tướng, bên trên được điểm thêm những họa tiết vàng rộm tỉ mỉ đến nỗi người ta không biết được đấy là món gì. Sau đó là món patê hình đầu hươu và đầu lợn rừng, món thịt lợn sữa thuần khiết được quay giòn, món thịt gà tẩm đường và nhiều món ăn khác sực nức mùi thơm được chế biến từ thịt chim cút, thịt lợn rừng và thịt chim. Cuối cùng một nhóm thanh niên choai choai được phân công khuân cả một con lợn rừng quay vàng, cái mõm toác ra bị lửa thiêu xạm, vì thế nên mới có mùi khen khét bốc ra đến là khiếp. Ngay lúc ấy các thiếu nữ hóa trang giả những vị thần trong truyền thuyết Hy Lạp, trông họ cứ như là những người thoát y, rắc tung những bụi phấn thêm lên sàn làm phép, không khí trở nên tồi tệ. Ngột ngạt đến tắc thở. Ngài Lodovico tham lam nhai ngấu nghiến món thịt lợn nóng giòn tựa hồ trước đó ông chưa được ăn gì cả.

Số còn lại đều được chia phần, phần của họ là một miếng thịt to nửa sống nửa chín, bên trong máu còn đỏ thẫm. Có hề gì, ai nấy đều hân hoan. Tôi nhìn họ mà phát tởm, họ nhai, còn môi và râu họ vấy đầy nước xốt mỡ bóng nhoáng, còn tôi, tôi đến phát nôn phát ọe vì phải chứng kiến cảnh tượng hãi hùng. Tóm lại, tôi chẳng muốn ăn cùng với họ chút nào, chỉ khi nào không thể đừng được. Tôi ớn đến tận cổ và thật chướng mắt mỗi khi bắt gặp họ, những con người quá khổ da đỏ hồng lúc nào cũng vùi đầu vào ăn uống tiệc tùng, những người đều mắc một chứng, đó là họ háu ăn như nhau. Tôi không thể chịu được khi phải chứng kiến cảnh tên bồi bàn phanh bụng con lợn ra để cắt nốt những mẩu thịt nhuốm máu tươi bên trong cho đến khi chỉ còn lại bộ xương cùng những mẩu thịt bèo nhèo còn lưu lại.

Don Riccardo dùng tay trái để ăn cùng với sự trợ giúp của tên hầu bàn, tên này giúp ông cắt thịt thành nhiều miếng nhỏ và ông chỉ việc bỏ chúng vào mồm hết miếng này đến miếng khác. Ông vừa nhai chúng vừa uống những ngụm rượu to tướng. Khuôn mặt ông luôn nhoẻn những nụ cười không mấy sáng sủa. Chốc chốc ông lại dùng cánh tay không bị thương tật để nâng cốc đổ từng ngụm rượu một ừng ực vào mồm. Ông vận một chiếc áo chẽn cộc tay bằng nhung màu đỏ thẫm, màu tượng trưng cho niềm đam mê. Ông ăn mặc như thế bởi lẽ ông luôn muốn giành sự quan tâm cho quý bà, người ông hằng thổn thức. Chưa bao giờ ông nhìn rực lửa như thế, ngọn lửa tình trong ông đang bùng cháy, rồi bỗng nhiên ông khua tay và bắt đầu đọc những vần thơ nào đó, ông hướng về bất kì ai muốn nghe, trừ bà quận công. Rượu ông uống vào bao nhiêu ông lại nhả ra ngần đấy những câu thơ. Đó là những mĩ từ nói về tình yêu dành cho phụ nữ và tình yêu dành cho cuộc sống. Những câu thơ cứ tuôn thành dòng. Thỉnh thoảng ông liếc nhìn bà quận công, ông thấy mắt bà rực sáng, còn bà đáp lại bằng nụ cười đầy ẩn ý. Thời gian còn lại bà ta nhấp nhổm chạy đi chạy lại như bà ta vẫn thường làm thế vào các dịp lễ. Ngoài ra thỉnh thoảng họ cũng lén nhìn trộm nhau và họ nghĩ rằng sẽ chẳng có ai nhận thấy, những lúc như thế đôi mắt bà toát ra sự ướt át và hoàn toàn yếu ớt. Tôi nhận thấy tất cả. Không một giây phút nào tôi dời mắt khỏi họ, còn họ, họ chẳng hay biết gì. Họ cũng chẳng biết những điều gì được giấu kín trong sâu thẳm tâm hồn tôi. Mà ai có thể biết được? Ai có thể hiểu được những điều thầm kín, tôi, một anh lùn, đang suy tư trong sâu thẳm tâm hồn, nơi chẳng ai có thể xâm nhập? Chẳng ai! Chỉ có số phận! Thậm chí chẳng một ai biết tôi đang tồn tại trên cõi đời này! Họ cũng chẳng hay biết đến chính hạnh phúc của họ. Giá như họ có biết, có nhận thấy họ sẽ trở nên khiếp đảm và nụ cười sẽ chẳng thể ánh trên đôi môi họ, nó sẽ tan biến, bờ môi họ sẽ tàn tạ và héo úa ngàn đời. Khi đó tất cả loại rượu trên thế gian cũng chẳng thể làm nó hồi sinh và tươi tắn trở lại. Và bạn thấy đấy liệu còn có một loại rượu trên thế gian này có thể giúp họ lấy lại được sự tươi trẻ và nụ cười?

Tôi đồng thời cũng lia tầm mắt về phía người hầu gái của quận công phu nhân, cô Phiametta. Mặc dù cô không ngồi vào bàn dành cho những người thuộc dòng dõi quận công, nhưng nói chung cô ta ngồi ở một nơi rất tốt, tốt hơn so với địa vị xã hội của cô. Cô ta vừa mới đến đây ít phút, nhưng trước đó tôi vẫn chưa nhận ra. Với tôi điều này vẫn chưa lời giải đáp. Cô ta có cái đẹp nổi trội, thân hình đẫy đà, trẻ trung và đã trưởng thành trưởng thành thực sự. Cô có khuôn mặt dữ dội, đôi mắt đen láy nhìn lâu mới thấy ánh sáng toát ra. Tôi nhận thấy thỉnh thoảng ngài quận công lén nhìn cô, tựa hồ như muốn đọc lên ý nghĩa và dò đoán tâm trạng cô qua khuôn mặt rất kín đáo này. Cô chẳng thèm để mắt tới ông ta. Đâu đó văng vẳng điệu nhạc gấp gáp. Mười hai nữ vũ công người Môrô mồm ngậm đuốc, ùa vào trong bóng tối. Họ bắt đầu nhảy thật sôi nổi. Tất cả đều nín thở ngắm nhìn. Lúc thì họ xoay đuốc tạo thành những vệt sáng bao quanh lấy đầu, lúc thì tung đuốc từ tay này sang tay kia. Sau đó, quăng mạnh lên không trung, đoạn dùng răng bắt lấy, những lúc như thế răng họ trắng lập lòe trong bóng tối. Họ đang đùa với lửa, loại kẻ thù nguy hiểm, và tất cả đều ngắm nhìn hân hoan rồi sợ sệt, điệu nhảy vốn lạ tai lạ mắt này có phần mách bảo về một điểm gở sắp xảy ra. Đám vũ công này chỉ nhảy quanh chỗ hai ngài quận công ngồi và khi ấy họ tung lên, những đốm lửa bay lả tả xuống sàn. Khi họ dùng răng để bắt lấy, những khuôn mặt nhọ lem nhọ thỉu bị biến dạng bởi những đường nét gớm ghiếc, trông họ tựa hồ như lũ quỷ dữ vừa lồng ra khỏi địa ngục, tay mang theo những ngọn đuốc. Và dưới địa ngục chắc gì đã có lửa? Mà lũ quỷ không dùng lửa ở địa ngục để đốt đuốc thì chúng lấy lửa từ đâu? Tôi đứng khuất trong bóng tối, bóng tối khiến gương mặt anh lùn tôi vốn già nua chẳng thể nhìn rõ, còn tôi, tôi lại thấy hết những gương mặt quái dị rồi điệu nhảy chưa thấy từ thời cha sinh mẹ đẻ đến giờ, cái điệu nhảy nhót toát ra một điềm dữ có lẽ chỉ có ở lũ quỷ satăng mới có. Tất cả bọn họ đồng loạt lộn chiều đuốc chúc xuống phía dưới chạm tới sàn, tất cả đều tắt ngấm ngay lập tức và họ biến mất cứ như độn thổ. Tất cả những động tác trên tựa hồ muốn khẳng định một điều là sự ngự trị thế giới bên kia là vĩnh hằng, thế giới này là thế giới thuộc về lũ quỷ satăng, chúng luôn dang tay rộng mở đón chào tất cả những người trên thế giới dương gian. Trong bóng tối trước khi căn phòng được ánh nến rọi chiếu trở lại tận mắt anh lùn tôi đã chứng kiến rõ, tinh tường là đằng khác, những vị khách khứa tay xiết chặt chuôi dao sẵn sàng đối phó với bất kì bất trắc nào xảy ra. Vì nhẽ gì cơ chứ, đó hoàn toàn chỉ là màn trình diễn của những diễn viên múa được ngài quận công thuê từ xứ Venezia để mua vui cho khách. Khi căn phòng vừa bừng sáng trở lại một lẫn nữa ngài thống đốc cưỡi trên lưng con bạch mã xuất hiện trước cửa, miệng nói oang oang về sự kiện hôm qua, rằng họ được thưởng thức các món cao lương mĩ vị, những món ăn ngon nhất trần đời, ngay lúc đó những tôi tớ phục vụ tản ra mọi phía đổ dồn về các bàn, cả thảy bọn họ dễ phải hơn năm mươi người, đầu đội những đĩa to được làm từ những phiến đá quý bằng bạc bên trên đựng đầy ắp thịt công được rán giòn vàng sẫm cùng những chiếc đuôi rủ xuống ánh lên những ánh sắc muôn màu. Sự xuất hiện của họ đã gây nên sự khoái trá kì lạ. Nỗi sợ vừa rồi, những ngọn đuốc chúc đầu gợi nhớ tới cái chết, tất thảy đều tan biến dường như chưa hề tồn tại. Người lớn cũng như trẻ con thường họ quên ngay một tiết mục nào đó vì đằng sau còn vô khối tiết mục khác. Họ, chắc họ sẽ còn nhớ như in cái tiết mục mà tôi cùng tham gia biểu diễn với họ. Tất cả bọn họ trố mắt ra nhìn một món ăn lạ hoắc, họ nhai ngấu nhai nghiến với một sự thèm thuồng y như sự thèm khát khi họ ăn ngấu nghiến bất kì một món ăn nào khác. Và tất cả lại được bắt đầu, nhờ có món thịt chim gớm ghiếc này, cái món luôn làm tôi phát tởm, những cảnh tượng người ta ăn ngốn ngấu lại hiện về trong trí não tôi. Rõ ràng họ rất thích những món đó và còn lấy làm tâm đắc. Sau món thịt công quay giòn là món gà lôi, món gà trống tơ, món chim cút, món vịt, món cá tằm, cá chép và món thú rừng quay vẫn còn rỉ máu. Một đống thức ăn cao như núi khiến họ tha hồ mà ăn tống ăn táng đến nỗi tôi suýt nữa phát nôn ọe vì ghê tởm. Sau đó không biết cơ man nào bánh bích quy, các loại kẹo, và các thức khác sực nức mùi thơm… tất cả được ngốn sạch nhanh đến mức cứ như là suốt buổi tối trước đó, tất cả khách khứa ngồi như phỗng phải chịu cảnh kiến bò bụng. Gần cuối buổi tiệc họ ăn ngấu nghiến các loại bánh nướng mô phỏng các vị thần trong truyền thuyết Hy Lạp mà theo như lời họ thì đó là món bánh ngon nhất. Họ cắt thành các miếng nhỏ rồi vội vàng đút vào mồm cho đến khi chỉ còn lại trên bàn những mẩu vụn. Các bàn ăn cứ như vừa trải qua cảnh cướp bóc của những người man rợ, cảnh tượng này tôi chỉ thấy toàn những người nhễ nhại mồ hôi mặt ửng hồng, trông phát khiếp.

Đúng lúc đó ngài thống đốc bước lên phía trước và yêu cầu “đề nghị” yên lặng! Ông tuyên bố bây giờ sẽ là màn kịch phóng dụ được các nhà thơ cung đình sáng tác theo yêu cầu gắt gao nhất của ngài quận công để mua vui và làm hài lòng các vị khách kính mến! Họ gầy gò ốm yếu ngồi ở tít góc đằng xa sau cái bàn trống trơ, dỏng tai nghe những câu chữ thô thiển đầy tâm đắc. Họ nóng lòng muốn thấy sự trình diễn tác phẩm đầy thâm thúy của mình. Do nội dung có tính chất ngụ ý và ý nghĩa sâu xa nên việc thể hiện tác phẩm của họ sẽ góp phần làm tăng thêm sự long trọng của ngày lễ. Trên sân khấu được dựng sát bìa tường, vị thần Mars, vị thần chiến tranh bỗng xuất hiện chói lòa trong bộ binh phục. Ông tuyên bố rằng ông ta quyết định dẫn hai binh lính khỏe mạnh nhất, là Selephon và Kalist tham gia trận đánh làm vẻ vang cả thế giới và sẽ lưu danh tên họ muôn thuở. Nhưng cái chính là trận đánh thuyết phục loài người tin vào ông - vị thần chiến tranh, tin vào sức mạnh toàn năng của ông cùng sự vĩ đại: hãy để mọi người thấy hai chiến binh cao thượng được khuất phục ý chí của ông đã tham gia vào trận chiến anh hùng và đã đổ máu vì danh dự. Lòng quả cảm và tinh thần trọng nghĩa sẽ mãi mãi ngự trị thế gian. Những phẩm hạnh vô giá trên sẽ luôn phụng sự ông, cũng như bất kì một ai. Ông nói như vậy rồi lui gót.

Ngay sau đó, cùng một lúc cả hai người lính đều bước ra sàn diễn. Và như thế họ nhận thấy nhau từ xa, cả hai lao vào trận đấu và trong cái màn diễn khá dài này họ cho thấy nghệ thuật kiếm đạo cao siêu đến nỗi cả các vị khách, những người biết đánh giá thấu đáo các cuộc đấu tay đôi đều rất phấn khích. Tôi cũng còn phải thừa nhận là kiếm pháp họ thật trác tuyệt và tôi rất hài lòng với màn biểu diễn này. Họ làm ra vẻ cứ như là họ bị trọng thương. Đến hồi kết, họ tuồng như kiệt sức vì mất máu và bị thương tật, cả hai khuỵu xuống sàn và bất tỉnh nhân sự. Một lần nữa vị thần chiến tranh bước lên phía trước và bắt đầu dùng những mĩ từ để nói về trận đánh vinh quang của họ, họ đã hi sinh anh dũng, nói về quyền lực vạn năng thống trị loài người, ông nói về chính mình, vị thần cao hơn tất cả các vị thần khác trên đỉnh Olimp về quyền lực. Sau đó ông lại biến mất và để lại một âm thanh êm ái và ngọt dịu. Một lát sau trên sân khấu, Thần Vệ Nữ hiện ra cùng ba tiên nữ đồng hành, họ trông thấy hai chàng lính bất động trong bộ dạng quần áo hoàn toàn rách bươm, ngập ngụa trong máu, theo như lời Thần Vệ Nữ mô tả. Ba tiên nữ khom mình và bắt đầu than khóc rằng thật khủng khiếp cho những người đàn ông tuyệt vời, họ hi sinh sức lực và mạng sống của mình một cách uổng phí. Trong khi họ than khóc cho số phận cay đắng của những người lính, chủ nhân của họ giải thích điều này: chính là do vị thần chiến tranh tàn ác đã dụ dỗ họ, bắt họ lao vào cuộc chiến tranh phi nghĩa. Cả ba nàng tiên nữ đều tán thành, nhưng họ cũng không quên nhắc nhở Thần Vệ Nữ rằng thần Mars, thần chiến tranh, là nhân tình của bà, người bà ôm chầm lấy bất chấp sự thùy mị bấy lâu không cho phép bà làm. Nhưng về phần bà, bà giải thích rằng đó là một lời ru không bịa đặt thấp hèn. Liệu một Thần Vệ Nữ như bà lại đi yêu vị thần man rợ và khát máu, tất thảy đều căm phẫn và phỉ báng, kể cả phụ thân của ông ta, vị thần Jupiter vĩ đại? Bà vừa nói vừa làm phép bằng một cây gậy thần, chạm vào thân của những người chiến binh đã chết. Ngay lập tức họ bật dậy, họ vẫn còn sống và khỏe mạnh. Họ giang rộng hai tay ôm nhau để bày tỏ một nền hòa bình vĩnh cửu và để tỏ rõ tình hữu nghị, họ hứa sẽ không bao giờ để cho vị thần Mars mê hoặc họ, dẫn dắt họ vào cuộc chiến đẫm máu và chết chóc. Sau đó, nữ thần còn nói một thôi một hồi dài và đầy cảm động về tình yêu, ca ngợi rằng ái tình có sức mạnh huyền diệu nhất và êm ái nhất trong tất cả các sức mạnh ngự trị chúng ta. Tình yêu là ngọn nguồn của cuộc sống và là khởi đầu của mọi khởi đầu. Bà còn tán rất lâu về sức mạnh vô song của tình yêu, và bà muốn nói cái tạo nên sức mạnh ấy không gì khác ngoài sự dịu dàng, nó có thể chế ngự mọi quy luật thiên tạo đối với tất cả chúng ta và tất cả sinh linh trên thế gian này, điều ấy có khả năng khiến tất cả phải chịu khuất phục. Tình yêu có thể giúp người ta sửa chữa cũng như cải hóa những mặt xấu như thói thô tục, sự đê tiện, uốn nắn những hành vi của các đấng vương giả và quán xuyến những tập tục của những lớp người bình dân và rằng tình yêu và lòng nhân đạo bắt đầu thắng thế đối với một thế giới hoang tàn luôn phải chịu cảnh máu chảy đầu rơi, tình yêu luôn coi trọng tính hào hiệp và tinh thần chuộng nghĩa và ban phát cho loài người nhiều phẩm hạnh khác nữa hơn là chỉ biết tới danh dự người lính và niềm vinh dự nhà binh. Bà giơ cây gậy thần lên và tuyên bố rằng chính bà mới là đấng toàn năng có quyền lực vô hạn, bà kêu gọi cải hóa dương gian vốn đầy tội lỗi, biến nó thành nơi ngự trị của tình yêu và của nền hòa bình vĩnh cửu.

Giá như khuôn mặt tôi lúc đó có thể cười thì tôi đã cười rồi sau khi nghe thấy lời kết thật ngây thơ của bà. Tuy nhiên, sự giãi bày tình cảm của Thần Vệ Nữ lại được khách khứa tán dương nhiệt liệt, nhiều người trong số họ xao xuyến và xúc động bởi những lời vàng ý ngọc họ đã thực sự nghe thấy, có thể nói là họ nín thở để lắng nghe. Nếu xét theo diện mạo đầy tự đắc của nhà sáng tác văn chương trên thì việc họ sinh ra trên cõi đời này đã là sự sáng tạo và tất cả thành công họ tạo ra là để cho chính họ, mặc dù bản thân họ cũng chẳng nhớ. Tôi tin họ sẽ coi vở kịch phúng dụ của mình vốn được minh họa bằng các thủ pháp nghệ thuật cũng như ngôn từ trang trọng là một tiết mục quan trọng nhất trong số những nghi lễ chào mừng việc kí kết hiệp định hòa bình giữa dòng họ quận công chúng tôi và dòng họ quận công Montan. Còn tôi không thế, tôi dám chắc rằng những gì diễn ra sau màn kịch phúng dụ mới là quan trọng nhất.

Tôi thường ngồi sau quý ngài tôn kính của mình, vì như thế tôi mới quan sát ông được tốt hơn và có thể đoán ra những gì ông sẽ nói và thậm chí những gì ông còn đang suy tư, vả lại còn thực hiện việc truyền những mệnh lệnh mà ông ban xuống cứ y như là tôi ban ra vậy. Ông ra hiệu cho tôi, chính tôi chứ không ai khác, hầu rượu ngài Lodovico, con trai ông ấy và cả những người tháp tùng nữa cái loại rượu tôi vẫn chịu trách nhiệm quản lí, cách pha chế chỉ có tôi mới biết. Tôi đưa tay với lấy cái bình rượu bằng vàng và trước hết là rót cho ngài quận công xứ Montan. Ngài quận công này cởi bỏ áo choàng lông thú ra từ lâu vì toàn thân ông nóng bừng, lúc này ông chỉ còn vận một chiếc áo chẽn cộc tay màu đỏ thẫm để lộ ra cả một cây thịt núng nính, mặt ông đỏ lừ vì máu dồn lên đầu quá nhiều. Chiếc vòng vàng bao lấy cổ ông còn xộc xệch khiến ông cứ như kẻ tù nhân đang bị xích. Không khí xung quanh chỗ ông, một người đã béo trục béo tròn lại còn bị ép ăn, lúc thì nồng nặc khói thuốc, lúc thì đầy hơi rượu phả ra. Đứng cạnh con người như thú vật này, tôi cảm thấy rùng mình, có thú gì hơn lũ người súc sinh này - tôi nghĩ bụng và bắt đầu tiến về phía những người xung quanh ông ta, rót rượu lần lượt mời họ, những người danh nổi như cồn, và cả những người ngồi cùng bàn ăn nữa. Sau đó tôi rót đầy cốc vàng và đưa cho Giovanni. Nhận thấy điều này Angelica chằm chặp nhìn tôi bằng đôi mắt bồ câu to tròn, để lộ ra sự ngạc nhiên hết sức ngây ngô nom như là một đứa trẻ. Và lúc ấy, cô mới hiểu ra rằng tôi không muốn đánh bạn với cô qua khuôn mặt già nua và trơ như đá của tôi. Khi tôi tiến đến gần tôi phát giác thấy cô buông tay Giovanni ra và bỗng chốc mặt cô tái xanh đi vì khiếp sợ, liệu tôi có thấu cái bí mật xấu hổ giữa cô và Giovanni. Và cô đã đúng. Tôi phát tởm vì đã chứng kiến thấy cảnh họ đầu gối má kề, quả còn hơn cả phạm tội, rằng cô và cậu thuộc về hai dòng họ thù địch nhau, rằng họ hãy còn là trẻ con, ấy thế mà họ đã lún sâu vũng bùn nhơ nhuốc của tình yêu. Tôi thấy má họ ửng hồng, thứ màu sắc vẫn xuất hiện lên mỗi khi người ta xấu hổ, tất cả cứ rõ mồn một, một cảnh tượng thật gớm ghiếc. Tôi không thể chịu đựng được cái sự pha trộn giữa bản chất trong trắng và thói dâm đãng này, chính xác đây là kiểu tình yêu xác thịt của con người vào độ tuổi cô cậu này, cái thứ tình yêu hoàn toàn mang nặng dục tính. Tôi rót thêm vào cốc cho cậu, cái cốc cậu đã nốc cạn một nửa. Rượu với chè có quan trọng gì, với tôi như thế là đủ!

Sau đó tôi lại gần Don Riccardo và rót tràn đến miệng cốc. Đây không phải là nhiệm vụ của tôi, nhưng tôi có những nhiệm vụ riêng tự mình đặt ra. Chợt tôi thấy ngài quận công nhìn tôi bằng cái nhìn lạ lùng. Tôi mặc kệ! Rồi những người khác cũng nhìn tôi với bộ dạng như thế, chỉ riêng có đám người lùn thì không. Tuồng như có một cái gì đó thầm kín được giấu đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn ngài quận công phút chốc nổi lên cùng với sự sợ hãi và thói hiếu sắc. Một ước vọng thầm kín nào đó chợt ngoi lên từ bóng tối sâu thẳm cứ như một con thủy quái đang uốn khúc. Anh lùn già nua như tôi chẳng bao giờ có kiểu nhìn như vậy. Tôi nhìn thẳng vào mắt ông và hi vọng rằng ông sẽ nhìn thấy rằng tay tôi không hề run rẩy. Tôi biết ông muốn gì. Tôi còn biết ông là một trang hiệp sĩ, còn tôi thì không, tôi đơn thuần chỉ là một anh lùn phụng sự cho ông, gia nhân của ông. Tôi đang đoán những trù tính của ngài trước khi ngài sắp nói ra hoặc đang suy ngẫm. Là tay chân của ông, tôi sẵn sàng phụng sự bất kì mệnh lệnh nào ông ban xuống. Có một anh lùn nhỏ nhắn như tôi bên mình, một tên sát thủ, thì tốt biết mấy. Anh lùn tôi có thể làm thay những công việc cho chính ông chủ. Mỗi khi tôi rót đầy cốc cho Don Riccardo, hắn lại nốc cạn, hắn cười mãn nguyện, ngửa người ra phía sau, vì thế râu cằm hắn dựng đứng lên, miệng hắn với hai hàm răng trắng nhởn ngoác ra hết cỡ tạo thành một cái hố to tướng đến nỗi tôi có nhìn thấy cả cuống họng. Theo tôi chẳng thú gì khi phải nhìn thấy một ai đó đang cười. Nhìn tay hề này cười hềnh hệch, cái điệu cười lỗ mãng, xem ra “yêu đời” và coi cuộc sống này thi vị đến nhường nào quả là chịu hết nổi. Lợi và răng hắn ướt mèm, còn từ khóe mắt nổi lên những vân máu nhỏ li ti bao quanh cầu mắt kéo dài đến cặp đồng tử sáng quắc và rộng. Chỗ khóe mắt, nước mắt thường vẫn đổ dồn về đấy làm cho mắt hắn cứ ươn ướt. Xuống phía dưới cằm một chút là yết hầu. Trên bàn tay trái của hắn tôi nhận thấy có một chiếc nhẫn nạm hồng ngọc do bà quận công tặng cho vào một dịp nào đó trước kia khi hắn đổ bệnh, khi đó tôi giấu nó vào túi áo ngựa, bọc nó bằng một trong những bức thư tình đầy dâm đãng của bà. Hắn cười vì nhẽ gì tôi cũng không hiểu, vả lại nó có hay ho gì. Tôi dám chắc rằng dẫu sao cũng chẳng có cái gì gọi là vui thú. Cứ để cho hắn cười, dù sao đi chăng nữa đây là lần cuối cùng.

Thế là tôi đã làm xong bổn phận của mình và bây giờ đợi kết quả. Tôi đứng cạnh gã hề yêu đời này, một gã dâm đãng và hít phải cái mùi nhung từ áo chẽn cộc tay màu đỏ thẫm của hắn, thứ mầu vẫn tượng trưng cho dục vọng.

Và kìa ngài quận công, đấng tôn kính của tôi, nâng cốc màu xanh nhạt của mình, nở nụ cười thân thiện với mọi quan khách, với Lodovico. Khuôn mặt nhợt nhạt, khuôn mặt dòng dõi của ngài quận công tạo nên một ấn tượng hào hiệp và thanh tao khác xa tất cả những người còn lại với khuôn mặt đỏ au phúng phính. Bằng giọng mềm mại dễ nghe lúc trầm lúc bổng, giọng của một người đàn ông đích thực, ngài quận công tuyên bố xây dựng một khu an dưỡng để kỉ niệm cho một nền hòa bình vĩnh cửu để từ nai, hai quốc gia, hai dòng họ và nhân dân hai nước sẽ được hưởng và cũng kể từ nay sẽ không còn nổ ra những cuộc chiến tranh liên miên phi nghĩa, và bắt đầu một thời kì mới, thời kì chúng tôi sống một cuộc sống hạnh phúc và sung sướng. Cuối cùng, bài ca ngợi ca về nền hòa bình trên thế gian được cất lên. Ngài quận công cạn chén bằng những lời lẽ như vậy. Ngay sau đó, những vị khách tôn quý cũng cạn chén cùng ông trong sự yên lặng đầy long trọng. Ngài quận công của tôi ngồi và ngồi rất lâu với chiếc chén trên tay, ông suy tư, chính xác là ông ngắm nhìn mọi vật qua ô cửa kính. Buổi lễ lại tiếp tục sôi nổi trở lại và tôi rất khó nói nó sẽ kéo dài bao lâu, có những lúc cảm giác về thời gian dường như bị mất đi, có những lúc sự căng thẳng trong tôi dâng cao tột độ hầu như tôi không thể chịu đựng được, rồi cả nỗi lo lắng về Giovanni, mặc dù cậu ấy không đụng lấy một giọt. Tôi bực tức nhìn Angelica nở nụ cười nhạt nhẽo và kéo cái cốc về phía mình, làm ra vẻ như cô ấy muốn uống cạn. Tôi hi vọng rằng cả cô cả cậu sẽ cùng nếm rượu, của tôi và nếu như họ yêu nhau thì họ muốn cùng nhau uống chung một cốc. Nhưng chẳng ai động vào cốc cả. Hoặc là con bé chết tiệt kia ngờ vực điều gì hoặc là họ say bằng chính thứ men tình chứ say đâu vì rượu. Bọn chúng sống thì có ích gì? Quỷ tha ma bắt chúng đi!

Sau đó Don Riccardo uống một hơi hết cốc của mình, có lẽ đây là cốc cuối cùng trong đời mình, hắn nốc cạn, biết đâu lại vì sức khỏe quận công phu nhân, người mà gã ta vẫn thầm yêu trộm nhớ, vẫn luôn lịch thiệp. Chết đến nơi rồi mà gã vẫn cứ làm trò! Bằng một động tác khôi hài hắn chỉ vào cánh tay phải vô dụng, hắn dùng tay trái nâng món rượu quý do tôi khoản đãi, ngay lúc ấy hắn nở một nụ cười đầy đắc thắng nhưng trên thực tế đó chỉ là một nụ cười ngốc nghếch, lần nào hắn chả cười hết cỡ. Bà quận công cũng nhoẻn nụ cười với hắn, mới đầu là đôi chút âu yếm, sau đó bà cười với ánh mắt ướt át và đầy dâm tính, tôi không thể nhìn mà không phát tởm. Tôi không hiểu tại sao họ lại trơ trẽn đến thế là cùng!

Bỗng nhiên ngài quận công Lodovico thét lên một tiếng kêu man dại, mắt của ông cứ đờ ra. Một vài người lính tháp tùng ngồi cùng phía với ông thấy thế liền bật dậy, nhưng họ không thể đứng vững, họ tóm lấy mép bàn rồi ngã quỵ xuống ghế, miệng kêu oai oái, quằn quại vì đau bụng và lẩm bẩm “rượu có độc!”. Họ thốt không thành lời nên nghe không rõ, nhưng ai đó trong số họ khi thuốc còn chưa kịp ngấm đã kêu toáng lên, nên cả phòng nghe thấy. “Rượu có độc!” Tất cả nhao ra khỏi chỗ, một cảnh kinh hoàng chưa từng thấy xảy ra. Quân lính của Lodovico ai nấy tay rút dao găm cùng những vũ khí khác và lao bổ đi các phía các ngả của căn phòng để tới bàn tiệc, chính họ bắt đầu đâm chém người của chúng tôi để hòng lấy cho được mạng vị quận công. Còn những người lính của chúng tôi cũng bật dậy ra khỏi chỗ để bảo vệ lấy mình và ngài quận công.

Cảnh nước sôi lửa bỏng bắt đầu. Cả hai bên vô số người chết và bị thương, máu chảy thành vũng. Cảnh tượng giống hệt như ngoài chiến trường, những người lính say xỉn, mặt đỏ như gấc chín ban nãy vẫn còn ngồi ăn uống cùng nhau như các bậc chiến hữu thì bây giờ họ mặt giáp mặt tham gia vào trận giáp lá cà sống mái này trong bốc bức tường và giữa các bàn tiệc ngổn ngang. Mọi phía chỉ toàn tiếng la hét kêu gào inh ỏi làm át đi những tiếng rên ư ử cùng những tiếng thở khò khè của những người đang hấp hối. Những tiếng chửi rủa kinh hãi nhằm kêu gọi tất cả đám quỷ sứ này đến ngay nơi xảy ra tội ác khủng khiếp nhất này. Tôi trèo lên ghế để quan sát được tốt hơn. Tôi phấn khích vô cùng vì chứng kiến thấy công việc tôi làm có hiệu quả, thấy cảnh quân địch đổ như ngả rạ. Cái lũ quân đê mạt này đáng phải đền tội! Lưỡi gươm của tôi lại có dịp tung hoành ngang dọc chém đầu giặc như chém chuối, không thương tiếc, thỏa chí mà báo thù mà trừng phạt. Tôi băm vằm chúng thành muôn mảnh và tống chúng vào hỏa ngục. Cứ để cho hỏa dưới đó thiêu trụi lũ chúng. Tất cả đám súc sinh này, chúng là một lũ đểu cáng và đê mạt! Để chúng tồn tại trên cõi đời này để làm gì? Để chúng ngấu nghiến, ăn hết của của thiên hạ rồi lại cười hô hố, rồi làm tình và sinh sôi nảy nở trên thế gian này, phải giết hết chém hết lũ quân đê mạt này. Những tên chuyên khoác lác, những tên đạo đức giả mình ngập ngụa đầy tội lỗi, thói hư tật xấu, một lũ trơ trẽn tục tĩu, chúng có ích gì trên đời này? Chém hết, giết bằng hết. Cứ để lửa hỏa ngục thiêu rụi chúng, thiêu chúng ra tro cả một lũ! Tôi cứ ngỡ chính mình là quỷ satăng, satăng đích thực để tống khứ tất cả đám vào ngục tối. Tôi cùng đám người khác tự mệnh danh mình là quỷ dữ tụ tập từng đoàn bao quanh lấy bọn chúng, những nét mặt dữ tợn gớm ghiếc, kéo chúng xuống địa ngục, những khuôn mặt tươi tỉnh trước kia của chúng giờ chỉ còn là những cái xác vô hồn, mặt xanh nanh vàng. Tôi chưa bao giờ khoái trá như thế, cái cảm giác khoái trá tột độ gần như mất trí của tôi khiến tôi có cảm giác tôi có quyền lực chế ngự thế gian. Cũng nhờ có tôi mà cái thế giới ban nãy còn là ngày hội, tiệc tùng say sưa giờ đã chuyển màu thành thế giới của tử thần cả sự sợ hãi và hủy diệt. Chính tôi đã bỏ thuốc độc vào rượu. Ngài quận công cùng những nhà quý tộc cao quý trước khi sắp lâm chung còn rên lên trong đau đớn, thân mình họ dúm dó lại trên sàn, ngập ngụa trong máu. Tôi đã khoản đãi tất cả các vị khách tôn kính trên bàn tiệc sang trọng bằng thứ rượu có pha độc tố. Và bây giờ sẽ chẳng còn ai cười được nữa, tất cả họ mặt tái nhợt đi. Họ chẳng còn đủ sức để nâng cốc cũng như ba hoa chích chòe với phụ nữ về tình yêu, thứ tình yêu trai gái, rồi tình yêu cuộc sống. Rượu độc của tôi đã bắt họ ngậm miệng, quên tất cả cái cuộc sống đầy thú vị và đẹp tuyệt. Tất cả chỉ còn lại bống tối trống rỗng bao phủ. Mắt họ khép lại và ánh sáng cũng chẳng còn. Tôi lộn ngược tất cả các cây đuốc rồi tắt chúng và thế là tối om. Và ở đây tôi là chủ, tôi gom tất cả xác bọn họ đem nộp cho vị thần Bóng đêm ma quái, nơi bọn họ sẽ vĩnh viễn mù lòa và câm lặng, họ đã nếm được cái thứ máu sục sôi nơi tôi mà ngày ngày tôi nung nấu. Với họ, cái chết sẽ chấm hết tất cả. Ngài quận công Lodovico ngồi bất động, khuôn mặt y tái bệch đi, còn hàm dưới chỗ râu cằm thưa thớt trễ xuống, ngoác ra cứ như định cắn ai đó bằng những chiếc răng vừa hà vừa sâu, hai mắt y cứ như sắp lòi ra khỏi hốc mắt, vàng khè và đẫm máu trông đến sợ. Bỗng nhiên ông ta giật mạnh cái vòng vàng ép xuống cổ làm ông nghẹt thở, mạnh đến nỗi dường như làm cho cổ ông bị sái đi, cái đầu nặng nề của ông thõng sang một bên. Cái thân hình ngắn ngủn to như bò thiến trông cái xác cứ như không đầu của ông uốn cong rung bên bần bật tựa như ông bị một nhát dao đâm. Ông ta tắt thở. Còn những người thân tín của ông ta ngay lúc đó đang rên rỉ thống thiết, nhưng chẳng bao lâu sau tất cả họ lịm đi và chẳng còn dấu hiệu của sự sống. Còn về phần Don Riccardo thì ông ta đã chết, ngửa người ra đằng sau, mắt nửa đóng nửa mở cứ như là còn đang thưởng thức rượu do tôi pha chế. (Đây là tư thế mà ông ta thích khi uống rượu ngon). Sau đó hai tay ông ta dang rộng ra cứ như muốn ôm trọn lấy cả thế giới này, và gieo đánh uỵch xuống sàn. Thế là hết.

Trong cuộc ẩu đả ác liệt và cảnh nhốn nháo, tất cả chẳng còn gì, chỉ còn cậu con trai lao tới Lodovico phụ thân của cậu, cúi xuống cái xác trông đến là gớm ghiếc cứ như thể nâng ông dậy. Đúng lúc ấy, cái lão già vô lại đã tắt thở. Một thằng bé con chạy vù tới chỗ Giovanni vung lên những nắm đấm nện thùm thụp cứ như thợ lò rèn quai búa, nó ôm lấy Giovanni kéo xềnh xệch tới chỗ cửa. Tên nhát như thỏ đế này đã tiếp tay cho Giovanni thoát khỏi vụ ẩu đả. Và như thế là hắn lủi mất. Quỷ tha ma bắt hắn đi!

Chiếc bàn bị lật và tất cả những gì trên đó đã biến thành một đám vỡ nát dưới chân của những kẻ đang gào thét đánh nhau, họ đã điên lên vì cuồng mộ và khao khát đối phương đổ máu. Đám phụ nữ đã hoảng loạn gào rú chạy tản đi hết, song giữa lúc lộn xộn thì tôi nom thấy quận công phu nhân đứng sững như trời trồng trong đám quân lính đánh nhau dữ dội, bà ta đứng chết lặng với khuôn mặt đờ đẫn và cái nhìn vô hồn đọng trên nét mặt. Bộ mặt như mặt nạ nhợt nhạt nom thật trớ trêu vào lúc lộn xộn ấy. Cuối cùng, bọn gia nhân cũng lôi được bà ta ra khỏi gian phòng khủng khiếp đó, bà ta đi theo họ như cái máy mà chẳng hề biết mình đang ở đâu và bị dẫn đi đâu.

Quân Montan bị những lực lượng vượt trội của chúng tôi chèn ép đã bắt đầu lui về cửa ra, nhưng dẫu sao chúng kháng cự cũng thật điên cuồng mặc dầu rõ ràng là thiếu vũ khí. Trận đánh tiếp diễn trên cầu thang, chúng bị truy kích tới tận quảng trường. Song tại đó được sự yểm hộ của đội vệ binh nên chúng chạy thoát khỏi thành phố. Nếu không như thế thì chúng chắc hẳn bị giết hết không còn một mống.

Tôi đứng một mình giữa căn phòng trống rỗng trong cảnh nhập nhòa vì tất cả đèn treo đã bị rơi vỡ dưới sàn. Chỉ có những thằng bé lang thang rách rưới đói khát đã lọt vào đây và tìm kiếm đồ ăn vương vãi giữa đám xác chết, chúng tọng vào miệng thật thèm khát, sung sướng. Đồng thời chúng không quên trộm luôn các đồ bát đĩa bằng bạc và giấu ngay dưới lớp giẻ rách gọi là quần áo kia. Sau đó, do sợ ở lâu mà bị bắt giữ nên chúng vứt đuốc đi và chuồn hết, còn tôi ở lại trơ trọi trong gian phòng mênh mông. Giờ đây tôi bình lặng ngắm nhìn và suy nghĩ.

Ánh sáng chập chờn từ những ngọn đuốc cháy dở vứt trên sàn soi tỏ những cái xác chẳng còn hình dạng người ngổn ngang, cả quân ta lẫn quân thù, giữa những vũng máu và khăn trải bàn nhầu nát cùng các đồ ăn thức uống đổ lỏng chỏng. Những sắc phục đại lễ của họ bị rách bươm và vấy bẩn, còn những khuôn mặt tái nhợt nơi họ bị méo xệch đi vì vẻ mặt giận dữ, ấy là do họ chết đi trong trận đánh khốc liệt giữa lúc hăng say điên cuồng mà. Tôi đứng và ngắm tất cả với cái nhìn xa xưa của mình. Ấy là tình yêu của con người. Là hòa bình vĩnh cửu.

Khi nói về bản thân mình và về cuộc đời mình, những con người đó không thể nào thành công nếu không nói những lời nói đao to búa lớn và hết sức đẹp đẽ.

Có một lần vào buổi sáng ngày hôm sau, như thường lệ tôi xuất hiện trong buồng ngủ của bà quận công, bà ta nằm trên giường bàng quan với mọi thứ xung quanh với một cái nhìn ráo hoảnh và đôi môi khô héo. Cái miệng bà dường như sẽ chẳng bao giờ nói thêm gì nữa, cứ lặng im như tờ nhìn sợi tóc bạc màu, rối bời của bà đang xõa ra thành mớ dày đặc. Đôi bàn tay yếu ớt đặt bên trên cái chăn. Tôi chắc mẩm là thậm chí bà ta cũng không nhận thấy rằng tôi đã ở đó, mặc dù tôi đứng ở giữa phòng và nhìn thẳng vào bà ta, chờ đợi xem bà ta có sai bảo gì không. Tôi đã có thể tha hồ quan sát bà ta. Đôi má của bà, một minh chứng duy nhất cho những niềm vui trong quá khứ thì nay đang phai nhạt dần đi sắc hồng của nó, làn da mặt đã trở nên tàn tạ và khô héo, còn cái cổ thì mặc dù vẫn giữ được vẻ đẫy đà nhưng đã đầy nếp nhăn. Đôi con mắt mà trước kia biểu cảm là vậy thì nay đã đờ ra bất động. Toàn bộ sự tinh nhanh của đôi mắt đã biến đi mất rồi. Không ai có thể tin nổi là bà từng là một người đàn bà đẹp khiến cho ai đó phải thương yêu và ôm ấp trong lòng. Cái ý nghĩ về một cái gì đó tương tự dường như trở nên vô nghĩa. Giờ đây đang nằm trên giường là một người đàn bà già nua và quái gở.

Rốt cuộc thì mọi sự cũng là như thế. Trong triều đình của chúng tôi có một cái tang khi triều đình đã bị mất đi một lão hề. Hôm nay là đám tang của lão. Toàn bộ triều đình, tất cả các kị sĩ và các giáo trưởng của thành phố đều đi tiễn lão, và tất nhiên cả toàn bộ gia quyến nhà lão, mà tôi có cảm tưởng đã khóc than thương xót lão rất thực sự - thú vị là ở chỗ lão hề phục vụ cho một ông cha xa xỉ và cẩu thả. Đám đông dân đen ùa cả ra đường để xem đám tang - người ta nói rằng những con người nghèo khổ này lại thích cái ông chủ nông nổi, nhẹ dạ của lão hề. Thật kì lạ khi họ lại yêu quý con người như vậy. Bản thân họ đã phải sống một cuộc sống bữa rau bữa cháo, vậy mà họ lại thích thú khi nghe những câu chuyện hay về một cuộc sống hoang phí cẩu thả của ai đó. Người ta nói rằng, họ biết và thuộc làu làu tất cả những câu chuyện tiếu lâm, khôi hài về cái ông bự xa xỉ kia, về những “chiến công của ông ta” và về những “trò đùa nghịch ngợm”, và họ còn truyền tai nhau những câu chuyện về ông ta trong các túp lều tồi tàn nằm ngay cạnh cung điện của ông. Còn giờ đây ông lại một lần nữa làm cho họ thấy sung sướng, khi được chứng kiến buổi tang lễ sang trọng do ông tổ chức cho lão hề của mình.

Ngài quận công đi đầu đoàn đưa tiễn, ông ta cúi rạp đầu xuống và dường như rất đau xót và buồn bã. Khi mà phải cần giả bộ, thì ông ta quả là một người khác thường. Mặc dù người ta có thể cảm thấy kinh ngạc, nhưng cũng không sao bởi bản chất của ngài quận công là một con người nhiều mặt.

Không ai dám cả gan thì thầm to nhỏ. Nhưng sau đó trong cái túp lều tồi tàn và ở cung điện họ sẽ nói gì đây - thực cũng chẳng ảnh hưởng gì. Sự việc xảy ra được người ta giải thích là một sự nhầm lẫn tai hại. Don Riccardo đã vô tình uống cạn hết cốc rượu có thuốc độc mà chỉ giành cho các vị khách quý. Dù sao thì cũng đã rõ là ông ta đã bị khát nước kinh khủng, và thật đáng tiếc khi chính ông là người có lỗi trong cái chết bi thảm của mình. Tuy nhiên bất kì người nào tùy tiện cũng có thể nghĩ rằng ông ta muốn thế. Người ta đã phái Lodovico cùng với đoàn hầu cận của ông đến đấy và họ nói rằng họ cảm thấy vui thích với hành trình của mình.

Bà quận công đã không có mặt trong buổi đưa tang. Bà nằm bất động, thờ ơ với tất cả và chẳng muốn ăn uống gì hết. Đúng ra thì bà chẳng muốn gì hết, bởi vậy bà chẳng nói chẳng rằng, nên bọn người hầu cũng không thể nhồi nhét được cái gì cho bà cả. Một con hầu phòng ngu ngốc thì cứ lăng xăng quanh bà, lúng ta lúng túng với đôi con mắt đỏ au lau những giọt nước mắt trên đôi má phì nộn của bà.

Chẳng có ai nghi ngờ để ý đến tôi cả. Bởi lẽ không ai biết được tôi là gì ở đây.

Rất có thể là ngài quận công thực sự đau buồn thương xót cho ông ta với bản chất con người như vậy thì điều này cũng không có gì đặc biệt. Tôi thì lại nghĩ rằng ông ta thích tỏ ra thương cảm, điều đó dường như làm cho ông ta trở nên đẹp đẽ và cao cả hơn. Một sự xót thương đầy tính hiệp sĩ và không hề vụ lợi - một thứ tình cảm đáng được biểu dương và đầy khoái trá. Thực tế thì ông cũng đúng như vậy và đã gắn bó với Don Riccardo mặc dù luôn mong cho ông ta chết. Giờ đây khi Riccardo không còn nữa thì ông ta trở nên đắt giá gấp hai lần so với ngài quận công. Trước kia luôn tồn tại một cái gì đó làm bó buộc tình cảm của ông với con người này. Và khi đã đạt được mục đích của mình, thì ngài quận công lại cảm thấy tất cả mọi người càng trở nên quyến luyến với ông ta hơn.

Có thể liệt kê ra hàng loạt các câu chuyện về Don Riccardo. Người ta nói rằng ông ta là một con người như vậy, đã sống như thế, đã chết như vậy, đã nói những điều gì đó, đã khoan dung độ lượng trong các tình huống của cuộc đời. Ông ta là một tráng sĩ tuyệt vời, là một người đàn ông vui vẻ và can đảm biết bao. Dường như giờ đây ông ta còn trở nên sống động hơn so với lúc ông còn sống. Nhưng sự đời luôn như vậy, chỉ khi con người ta đã chết. Điều đó sẽ trôi qua nhanh thôi. Một sự thật hiển nhiên là rồi người ta sẽ quên những người đã quá cố.

Dân chúng thì cứ nhất nhất là họ sẽ không bao giờ quên ông ta. Họ đã nghĩ ra tất cả các câu chuyện bịa đặt về địa vị độc tôn và tính cách dị thường của ông, họ mong muốn làm cho ông trở nên bất tử. Một điều thật lạ thường, họ căm ghét cái chết xảy đến với ông, đặc biệt là khi điều đó lại ảnh hưởng đến với người mà họ ưa chuộng. Thật vậy, từ thuở khai thiên lập địa đang trong cái lúc sôi nổi nhất thì ai mà biết được toàn bộ sự thật về cái kẻ suốt ngày chè chén lu bù này, nếu có biết thì họ chỉ có nước vung tay lên mà ngạc nhiên khi nghe những câu chuyện bịa đặt của dân chúng. Họ không một chút băn khoăn ngượng ngùng bởi tất cả những điều đó chẳng thể hiện một thái độ nào dù chỉ nhỏ nhặt về một chân lí, mà theo lời họ, thì lão hề chính là niềm vui, chính là tác phẩm thơ ca do Chúa trời ban tặng, và thế giới không có lão hề thì chắc chẳng bao giờ có họ, than ôi, nếu không được nghe thấy tiếng cười dễ lôi cuốn người khác của lão, và những trò đùa nghịch vui vẻ của lão giờ cũng không còn, thì tất cả bọn họ sẽ trở nên cô đơn, khổ đau sẽ dằn vặt họ.

Ngài quận công thì lại tỏ ra đại lượng khi tham gia vào cuộc đưa tiễn. Ông ta buồn rầu nghe những lời tán tụng rồi chốc chốc lại xen vào vài lời nhận xét dường như là rất cao thượng bởi nó xuất phát từ chính ông.

Nhưng dù thế nào thì tôi cũng hy vọng ông ta hài lòng với tiếng hoan hô nhỏ bé của mình. Mặc dù lẽ đương nhiên là ông ta không thể hiện ra ngoài. Ngài quận công chẳng nói với tôi một lời nào về chuyện đã xảy ra, chẳng tỏ ý tán thành, cũng chẳng một lời trách móc. Ông ta chẳng chú ý gì đến đám hầu cận của mình nếu điều đó là thuận tiện đối với ông.

Ông ta lẩn tránh tôi. Điều này luôn xảy ra trong mọi trường hợp tương tự.

Sự xót thương của bà quận công chẳng thể hiện ở cái gì cả. Tôi không biết giải thích điều này như thế nào, cũng có thể là bà ta rất đau khổ. Bà ta chỉ nằm trên giường và nhìn chằm chằm vào một chỗ, đó là tất cả.

Không phải ai khác, mà tôi chính là nguyên nhân trong nỗi đau khổ của bà. Nếu bà ta có ủ ê sầu não thì cũng chỉ vì tôi. Nếu bà ta thay đổi hẳn và không bao giờ trở lại như trước kia thì cũng chỉ vì tôi. Và nếu bà ta chỉ nằm mãi trên giường già nua và xấu xí, không quan tâm đến vẻ bề ngoài của mình, thì tất cả điều đó cũng chỉ vì tôi.

Và ngay cả tôi cũng chẳng nghi kị rằng tôi có một cái quyền nào đấy đối với bà ta.

Vụ giết người này đã làm cho ngài quận công nổi tiếng. Tất cả mọi người chỉ lặp đi lặp lại một giọng điệu rằng ông ta là một nhà cầm quyền lỗi lạc. Còn sự thắng lợi của ông trước kẻ thù chẳng bao giờ là đủ và cũng chưa bao giờ lại có được sự tôn kính nào đối với cá nhân ông như vậy. Dân chúng chỉ tự hào khi cho rằng ngài quận công thể hiện là một con người rất nhanh trí và quyết đoán.

Một số người nghi ngờ rằng liệu tất cả những điều đó có mang lại một cái gì tốt đẹp không. Họ nói rằng, họ linh cảm thấy một điều chẳng tốt lành gì. Nhưng mọi cái luôn bị phát hiện ra. Đa phần mọi người cảm thấy khoái trá và khi ngài quận công buộc phải xuất hiện thì dân chúng chào đón ông ta với niềm sung sướng, hoan hỉ. Ai trong đám đông có thể cưỡng lại được sự lôi cuốn hấp dẫn của một nhà cầm quyền, con người không biết đến trở ngại nào để thực hiện mục đích của mình!

Dân chúng thì mong muốn rằng cuối cùng sẽ có được một cuộc sống hạnh phúc yên bình. Họ hài lòng bởi dân hàng xóm của họ đã bị mất thủ lĩnh. Giờ đây hắn sẽ không thể quấy nhiễu họ thêm nữa, và hắn cũng không thể phá rối hạnh phúc của họ.

Dân chúng thì chỉ có một mối quan tâm đó là hạnh phúc. Thật là thú vị nếu biết được, giờ đây ông ta đang lập ra những kế hoạch nào. Liệu ông ta có nghĩ đến việc lại tấn công dân chúng, xông thẳng vào thành phố của họ, chiếm giữ họ và toàn bộ đất nước hay không? Điều đó sẽ trở nên thật dễ dàng sau khi tất cả các vị thủ lĩnh của họ, tất cả con người xuất sắc bị phế bỏ.

Còn cậu Giovanni thì không cần đếm xỉa tới. Anh ta không hề làm cho chúng tôi bận tâm, thật là một đồ nhát gan xỉ mũi không sạch, hắn có thể ngay lập tức tẩu thoát khi khó khăn. Đúng là cần phải dạy cho hắn một bài học, để hắn trở nên xứng đáng là một người đàn ông.

Tôi không hề nghi ngờ rằng quý ông kia đang dự định hưởng thụ thành quả của một vụ tàn sát. Điều đó là đương nhiên. Ông ta luôn không hài lòng với những gì mình có. Nếu như ông ta đã gieo gió thì đương nhiên phải gánh chịu bão tố.

Có nhiều tin đồn nhảm nhí cho rằng dường như dân chúng Montan đã giận dữ đứng lên cầm vũ khí, nguyện thề báo thù cho quận công của mình và gia quyến của ông ta. Tất nhiên đó là chuyện vớ vẩn. Nhưng hoàn toàn có thể tin rằng dân chúng thực sự tức giận. Vậy chẳng nhẽ họ lại cầm vũ khí định bụng báo thù cho cái kẻ cầm quyền không đáng tin cậy. Còn thậm chí nếu đúng là như vậy, thì ta cũng không nên xem trọng ý nghĩa của hành động này, bởi dẫu sao dân chúng mà thiếu nhà lãnh đạo như bầy cừu mất con đầu đàn.

Tôi còn nghe nói rằng hình như người bác của chàng trai Giovanni, anh trai của Lodovico đứng lên cầm đầu. Ông ta cũng thề rằng sẽ báo thù. Dưới con mắt của tất cả mọi người ông ta cũng sống khốn khổ như thế, ông ta chỉ vui mừng khi thoát khỏi dù chỉ là một người trong số những kẻ hành hạ mình.

Người ta nói rằng ông ta là một con người có bản chất cũng như ông Lodovico quá cố, nhưng cả lúc người ta chèn ép ông ta, thì ông ta cũng chẳng tỏ ra có một vai trò gì đáng kể. Ông ta tên là Ercol xứ Montan, và xét một cách toàn diện thì ông ta là một con người nguy hiểm mặc dù không phải là một chiến binh. Dân chúng bàn tán rằng, giờ đây ông ta nắm chính quyền trong tay mình cũng là để thể hiện mình cứu đất nước trong phút lâm nguy, và bên cạnh đó, ông ta cũng định hất cẳng chàng thanh niên vốn được thừa kế ngai vàng. Theo ý kiến của ông ta, anh thanh niên này không có đủ sức lực để đảm nhiệm vai trò của một quận công, chính lúc này thì chỉ có ông ta mới là người xứng đáng kế tục dòng họ Montan. Theo quan điểm của ông thì ông hoàn toàn phù hợp với vai trò một nhà cầm quyền. Vâng, điều đó hoàn toàn giống như thật. Bởi những chuyện như vậy thường xảy ra trên thế giới này.

Dường như tất cả lời tiên đoán của tôi đang trở thành hiện thực, bởi vì chàng trai trẻ có đôi mắt nai và một cái mề đay giống ở trên ngực thì chẳng bao giờ ngồi lên ngai vàng đâu.

Người ta nói rằng khi mà trong triều đình các phe phái đang tập trung sức lực hòng chiếm được ngôi vị thì hình như kẻ địch đã tràn vào đất nước, chúng đã tiến quân vào thung lũng dọc theo bờ sông. Cầm đầu đạo quân này là Boccaroza, người lãnh đạo một lực lượng quân đội nhiều gấp hai lần so với chúng tôi, hắn tình nguyện sống chết cùng với những lính đánh thuê của mình vì một xứ Montan mới. Chúng gây ra những hành động táo bạo, đốt và phá hoại tất cả những sinh vật chúng gặp trên đường đi, hình như chúng hoàn toàn không có ý định chết, mà chỉ muốn những người khác chết.

Các vị tướng soái của chúng tôi cũng vội vã tập trung quân để ngăn chặn hành động tiến công của chúng. Trong thành phố lại tràn ngập lính tráng được cử ra ngoài trận mạc để thực hiện xứ mệnh của mình.

Sự thực thì ngài quận công cũng chẳng quyết định được gì.

Với người dân chúng tôi thì cũng cần phải nói rằng đây là điều khó khăn thật dễ hiểu thôi. Vì cũng đã có bao nhiêu người phải hy sinh trong cuộc chiến trước. Bởi vậy không dễ dàng gì để chiêu mộ một số lượng cần thiết những người đàn ông ở vùng núi, những người mà không giữ nổi vũ khí trong tay. Song người ta cũng cố gắng nhặt nhạnh để số lượng không ít hơn so với ở Montan. Một phần cũng bởi vì họ đã chịu nhiều tổn thất và đã bị vắt kiệt sức. Giờ đây không còn nhận thấy sự khích lệ như trước kia, tất cả đã sẵn sàng chịu khuất phục, vì họ hiểu rằng đó là điều không thể tránh khỏi. Tất cả đều hiểu rằng cần phải an bài với số phận của mình và không nên sống chỉ vì hạnh phúc mà thôi.

Quân xâm lược đang thèm khát đánh chiếm thành phố, và không thể ngăn được chúng. Binh lính của chúng ta dồn vào tình trạng không giữ được vị trí và cứ mỗi lần như vậy thì lại lùi bước. Từ phía nhà hát mọi người đã chán ngấy mỗi khi nghe tình báo đưa tin về sự rút lui và những tổn thất.

Quân địch cứ đi đến đâu là chúng phá hủy sạch sành sanh mọi thứ. Tàn phá, đốt cháy làng mạc và sát hại dân lành. Chúng cướp gia súc, giết thịt và nướng ăn no say ở các trại lửa của chúng, số gia súc còn lại thì chúng buộc lên xe và chở đi để dự trữ. Chúng còn đốt cả lúa mỳ trên các cánh đồng. Những tên lính đánh thuê của Boccaroza sẵn sàng làm tất cả những gì chúng muốn ở trên đường chúng đi. Chúng không để lại một cái gì sống sót đằng sau lưng mình.

Trong thành phố tấp nập đám đông những người chạy nạn, họ đi đi lại lại qua các cánh cổng của thành phố với những chiếc xe ba gác mà chỉ có quỷ sứ mới biết được là chở cái gì: nào là nồi niêu, chăn màn, quần áo cũ bẩn, rồi cả những đồ cũ đáng bỏ đi, cả những vật dụng khiến cho tất cả mọi người phải chế nhạo họ. Có ai đó còn mang theo cả cái sừng của con dê hoặc dắt theo một con bò gầy còm, bộ dạng của tất cả bọn họ trông đều rất hoảng sợ. Còn người dân thành phố thì gầm gừ giận dữ. Và họ cho rằng những kẻ chạy nạn thì cần cái gì ở đây, và chúng dẫn xác đến đây để làm gì. Chúng chỉ làm phiền người khác. Những người chạy nạn thì ngủ trên các khoảng đất cạnh với đàn gia súc của mình, và thành phố trở nên giống như một làng mạc bẩn thỉu, nơi những kẻ chạy nạn nằm thì bốc lên một cái mùi thật kinh tởm.

Binh sĩ của chúng tôi thì chỉ có làm mỗi một việc, đó là rút lui. Theo tin tức báo về thì kẻ thù đã ở cách thành phố không xa, nhưng tôi không biết là chính xác ở đây, nhưng nguồn tin đưa về thì mâu thuẫn, không đáng tin. Và cuối cùng thì đã có một số nguồn tin não nề báo rằng binh lính đã phản kháng, nhưng đã buộc phải rút lui. Còn lúc nãy có kẻ nói rằng họ đang cố gắng giữ vững, sau đó thì lại có người thông báo rằng họ đã phải rời khỏi vị trí của mình. Dòng người tị nạn thì không ngớt, họ làm tràn ngập thành phố với những đàn gia súc, những đống quần áo rách nát và cùng với những tiếng rên rỉ kêu than.

Một cuộc chiến khủng khiếp.

Phải công nhận rằng tôi hoàn toàn có thể hiểu được thái độ dửng dưng của ngài quận công và tại sao ông ta lại giao tất cả mọi việc cho các vị thống lĩnh của mình. Ông ta không quan tâm đến việc phòng ngự và điều đó cũng chẳng cuốn hút ông ta. Ông ta cũng như tôi, ông thích tấn công. Tinh thần của cuộc tấn công, đấy chính là tinh thần của chúng tôi. Nhưng phòng vệ để thỏa mãn sự hài lòng ư, tất cả đều đơn điệu, không có vẻ huy hoàng, không có sự khích lệ cho trận đánh, thế thì vì cái gì đây? Rõ ràng là một điều phi lí. Điều này thì làm cho ai thích đây? Một cuộc chiến buồn tẻ.

Binh sĩ của Montan và Boccaroza chỉ có cách bức tường thành là nhìn thấy nhau. Bây giờ đã là xế chiều, từ cửa sổ trong căn buồng nhỏ của mình trên tòa tháp cao, tôi nhận ra những ánh lửa chiếu sáng của các trại trên thảo nguyên. Trong bóng đêm thì quang cảnh này thật đẹp.

Tôi hình dung rất rõ ràng những khuôn mặt của các binh lính đánh thuê, giờ đây đang ngồi quanh ngọn lửa và nhớ lại những chiến công ngày hôm nay của mình. Họ ném vào đống lửa những rễ cây ôliu, những ánh lửa như đang nhảy múa soi sáng tính khí cương quyết khô khan của họ. Đây là những người đàn ông thực sự, họ đã tự quyết định số phận của mình, họ không phải sống trong nỗi kinh hoàng hiện nay trước các sự việc đang diễn ra. Họ đốt đống lửa của mình trên bất kì mảnh đất nào, họ không hề mảy may suy nghĩ trước cái điều là người dân sẽ sống ra sao. Họ không hỏi là mình đang phục vụ cho ông chủ nào, hay là chỉ luôn phục vụ cho chính họ. Mệt mỏi họ nằm xõng xoài ngay trên mặt đất và nghỉ ngơi để tiếp tục cho một cuộc tàn sát của ngày mai. Đó là những con người không có tổ quốc, nhưng toàn bộ đất đai đều thuộc về họ.

Buổi chiều thật là tuyệt diệu. Bầu không khí của mùa xuân trong sáng và mát lành mang hơi gió từ các đỉnh núi, còn bầu trời thì đầy sao. Tôi ngồi lâu bên cửa sổ và nhìn ra vô vàn những đốm lửa nhỏ. Đã đến lúc tôi cũng cần phải đi nghỉ.

Thật kì lạ, rõ ràng là tôi nhận ra được những đống lửa nằm cách xa, vậy mà những ngôi sao trên trời thì tôi không nhìn thấy, không bao giờ có thể nhìn thấy. Mắt của tôi không như mắt của những người khác, nhưng điều đó không có nghĩa là thị giác của tôi kém, mà tôi có thể nhìn thấy rất rõ ràng tất cả những gì xảy ra trên trái đất.

Tôi thường nghĩ về Boccaroza. Hắn ta hiện ra trước mắt tôi, to lớn, nhưng không vĩ đại lắm, hắn có một khuôn mặt rỗ, cái xương hàm của loài mãnh thú và sâu tận trong đáy mắt là một cái nhìn giấu kín. Hắn đeo một cái mõm sư tử ở trên ngực, cái mõm của loài ác thú nhe răng dữ tợn cho cả thế giới xem cái lưỡi của mình.

Lính tráng của chúng tôi cũng trở thành kẻ chạy nạn vào thành phố ngay sau trận đánh nổ ra dưới các bức tường thành. Một cuộc chiến đẫm máu và hàng trăm người chết, đây là chưa kể những người bị thương với số lượng đông bò ngổn ngang qua các cánh cổng của thành phố trong sự giúp đỡ của những người phụ nữ vốn sẵn sàng lao ra bãi chiến trường để tìm xác chồng và con mình. Đến lúc này thì binh lính của chúng tôi đã đành phải chấm dứt trận chiến đấu, họ chạy lui vào trú ẩn dưới các bức tường, họ đã lâm vào tình trạng thảm hại. Thành phố giờ đây trở nên hỗn loạn vì họ, thành phố dường như sắp nổ tung vì đầy lính tráng, những người bị thương, những kẻ chạy nạn từ khắp các làng mạc. Một sự lộn xộn khủng khiếp chưa từng thấy. Dân chạy nạn ngủ ngay trên các đường phố, mặc cho vào thời điểm hiện giờ đã là những đêm đông lạnh giá, người ta nói rằng thậm chí cả ban ngày cũng vấp phải những con người khốn khổ đang nằm ngủ, hoặc cả những người bị thương nhưng chỉ được băng bó qua loa, còn những người qua lại thì cũng chẳng đoái hoài gì đến những con người này.

Liệu quân thù có làm được gì để chống chọi lại một người như Boccaroza đây? Riêng bản thân tôi thì không bao giờ tin vào thắng lợi của cuộc chiến này.

Xong người ta cứ khẳng định rằng thành phố sẽ được bảo vệ đến giọt máu cuối cùng. Rằng thành phố sẽ được củng cố tốt và có thể giữ vững rất lâu, nói chung là có vẻ rất ngạo mạn. Tất cả người dân thành phố đều ngạo mạn bởi hiện nay kẻ địch vẫn chưa tấn công. Bản thân tôi cũng có quan điểm về sự ngạo mạn này.

Ngài quận công đột nhiên lại tỉnh ra và hình như đang nắm giữ công việc phòng vệ trong tay mình. Giờ đây dân chúng nhìn ông với con mắt hằn học. Và chẳng chào đón ông bằng tâm trạng vui sướng hoan hỉ như trước nữa. Hoàn toàn khác hẳn. Người ta cho rằng vụ ám sát thủ lĩnh xứ Montan cùng với đám hầu cận của ông ta trong căn buồng là một hành động thiếu suy nghĩ, vụ tàn sát này chẳng mang lại cái gì ngoài một cuộc chiến mới và những tai họa mới.

Bà quận công đã ngồi dậy và bắt đầu ăn được chút ít, nhưng không như trước kia. Bà ta rất gầy, da mặt bà đã trở nên khô héo và hiện ra màu xam xám. Cứ như là bà bị ai đánh đổi người mình rồi. Bà ta mặc trên mình chiếc áo choàng nhung tựa như là mượn của người khác. Bà ta luôn mặc trang phục đen. Nếu như bà ta có thốt ra lời nào đó, thì cũng rất khẽ và rất nhỏ. Cái miệng của bà so với trước kia thì giờ đã trở nên khô héo, sự gầy gò thể hiện rất rõ trên khuôn mặt bà, đôi mắt trũng xuống, thâm quầng, một cái nhìn rất căng thẳng.

Bà ta cứ tụng kinh hàng giờ trước bức tượng chúa bị đóng đinh, bà cứ quỳ cho đến lúc gối bị tê đi không thể nhấc dậy nổi. Bà ta đang cầu nguyện cái gì, tất nhiên là tôi không hề biết, nhưng những lời cầu nguyện của bà vẳng đến mỗi ngày. Và cứ mỗi ngày như thế bà ta lại bắt đầu lại tất cả.

Bà chẳng khi nào rời khỏi căn buồng ngủ của mình.

Tôi nghe nói rằng hình như đại sư Bernarđo đang giúp ngài quận công củng cố lại thành lũy phòng vệ và nghĩ ra các thủ thuật tiểu xảo vô cùng quý báu nhằm bảo vệ thành phố đang bị phong tỏa. Họ bàn tán và công việc đang rất sôi sục không bị đình trệ dù chỉ một ngày hay một đêm.

Tôi không một chút nghi ngờ về tài năng của đại sư Bernarđo. Nhưng tôi thiết nghĩ để đối chọi với Boccaroza thì ông này chưa đủ sức. Đại sư đã già nhưng cũng không thể phủ nhận sức mạnh tinh thần của ông ta, sự suy nghĩ dày dặn, chín chắn, nhưng đó không phải là tất cả. Ở ông hội tụ những bản năng dũng mãnh, chinh phục cả thiên nhiên đất trời, và ông cũng rất cam chịu với bản năng tự có này mặc dù nó đối lập với ý chí cá nhân trong con người ông. Còn Boccaroza thì bản thân hắn cũng là sự kết tinh của một bản năng nào đấy, và bản năng thì luôn sẵn sàng và sẵn sàng phục vụ cho hắn. Tôi cảm thấy hắn đúng là đứa con của thiên nhiên.

Bernarđo là một con người luôn làm trái với người mẹ thiên nhiên, và tính cách kiêu ngạo, quý tộc của ông ta luôn khiến cho tôi nghi ngờ.

Theo tôi thì đây sẽ là một cuộc đấu tay đôi không cân sức.

Nếu ai đó cùng nhìn vào cả hai con người này, Bernarđo người đàn ông có cái trán của một nhà tư tưởng, còn Boccaroza con người có cái quai hàm của loài ác thú hùng mạnh, thì cũng không khỏi nghi ngờ xem ai là người mạnh nhất trong số họ.

Thành phố đang trở nên khó khăn với vấn đề thực phẩm. Ở đây, trong cung điện, dĩ nhiên tôi không cảm thấy điều này, nhưng người ta nói rằng dân chúng đang bị chết đói. Trong tình trạng quá đông dân cư như vậy, và có quá nhiều người ở nơi khác đến, thì quả thật điều này chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả. Tất cả cư dân thành phố thì nhìn bọn người chạy nạn với một ác cảm rất lớn, bọn họ coi lũ người chạy nạn chính là nguyên nhân làm thiếu thức ăn trong thành phố. Quả thật là những người chạy nạn đã trở thành gánh nặng đối với dân thành phố. Họ tức giận với những đứa trẻ con bẩn thỉu, quấy nhiễu chạy lăng xăng khắp nơi để van xin của bố thí. Người ta nói rằng có những trường hợp bọn trẻ này còn đi ăn cắp. Bánh mỳ chỉ được phân phát từ hai đến ba lần trong một tuần, với số lượng rất ít, bởi vì chẳng có ai chuẩn bị và dự trữ bánh mỳ cho cuộc phong tỏa này. Rõ ràng là, họ sắp chết. Một vài người trong đám chạy nạn cũng mang theo mình con bò hoặc con dê và đầu tiên thì cố gắng nuôi để lấy sữa ăn, nhưng sau đó họ buộc phải giết thịt các con gia súc gầy còm của mình đang ngắc ngoải chết đói bởi chẳng nơi đâu có thức ăn cho chúng cả. Những người chạy nạn thì cũng đã duy trì sự sống của mình được một thời gian ngắn bằng cách ăn những loại thịt gia súc này hoặc đổi chúng lấy bột mỳ, hay một cái gì đó có thể ăn được. Giờ đây thì bọn họ chẳng còn gì, nhưng người dân thành phố thì cho rằng bọn họ đã giấu bánh mỳ để có thể sống tốt hơn những người khác, tôi thì tôi không tin lắm bởi nhìn bộ dạng của họ thì không nên nói như vậy. Họ gầy kinh khủng và rõ ràng đã bị chết đói. Tôi hoàn toàn không nói như vậy, bởi tôi cũng trải qua cái cảm giác nào đó với những con người này. Tôi hoàn toàn tán đồng với sự ác cảm của cư dân thành phố. Những kẻ chạy nạn thì ngây ngô, đần độn, đúng là những người nhà quê, họ ngồi xuống cả ngày chống tay trố mắt nhìn mọi phía. Họ chẳng trò chuyện với ai và cũng chẳng có ai trò chuyện với họ, họ chia nhau những mẩu bánh mỳ, nhưng chỉ với những người đồng hương, và khi cảm thấy trời đã tối thì họ kéo nhau về những nơi trú ngụ bẩn thỉu của mình, ở một khoảng đất nào đó mà họ đã lựa chọn từ trước, nơi cất giữ những đống quần áo rách của họ, và họ nằm lê la như ở nhà của mình.

Cứ chiều chiều họ ngồi quanh bếp lửa, nếu như may mắn kiếm được cái gì để đốt, họ trò chuyện với nhau bằng tiếng thổ dân, và ta cũng chẳng hiểu là họ đang nói cái gì.

Sự bẩn thỉu và mùi hôi thối bốc ra từ những đám người nằm trên các đường phố và quảng trường thật kinh tởm. Tôi là người sạch sẽ ngăn nắp và tôi có cảm giác không thể chịu được khi hình dung ra sự bẩn thỉu của những con người này. Những con người nguyên thủy này cũng giống như đàn gia súc trong nhà, họ có thể đặt lưng nằm bất kì ở đâu khi cần. Một tình trạng bẩn thỉu đến kinh tởm. Dường như bầu không khí đang trở nên ngột ngạt hôi thối, các đường phố, quảng trường tởm lợm đến nỗi, tôi cố gắng càng hạn chế bước chân ra ngoài thành phố càng tốt. Tôi cũng không phải lo lắng với những công việc được sai bảo phải đi ra phố, bởi vì quận công đã thay đổi, còn Don Riccardo thì cũng đã chết.

Tất cả những con người vô gia cư này đều ngủ đêm ngay trên đường phố, còn giờ đây khi mùa đông đổ ập tới, một mùa đông khắc nghiệt, và họ cũng không đủ ấm với tình trạng thiếu quần áo như hiện nay. Người ta nói rằng buổi sáng thức dậy người ta tìm thấy một số người đã bị chết cóng. Một số khác chỉ có những bộ quần áo rách nát để che thân thì qua một đêm cũng không thể dậy nổi, và khi mọi người tìm đến thì đã chẳng còn giấu hiệu của sự sống. Nhưng những người này chết vì đói nhiều hơn là vì rét, và đó chỉ là những người già, họ đã kiệt sức vì đói, máu thì lạnh ngắt. Dẫu sao thì cũng cứ để cho họ chết, bởi vì họ sống chỉ là gánh nặng cho những người khác, còn trong thành phố kể cả không có họ thì cũng quá đông dân rồi.

Những tên lính đánh thuê của Boccaroza chẳng phải chịu thiếu thốn thứ gì. Cả nước phải tuân lệnh chúng, chúng muốn cướp bóc bao nhiêu cũng được, và thực tế chúng đã làm như vậy, chúng càng tiến sâu vào bao nhiêu thì càng vơ vét nhiều bấy nhiêu. Sau khi đã cướp bóc những làng mạc thì chúng đốt trụi, và cứ vào ban đêm người ta lại nhìn thấy bầu trời những ánh lửa xa tít mù tắp của các đám cháy. Tất cả các vùng lân cận thành phố đã bị cướp bóc và tàn phá.

Nhưng có một điều kì lạ, ấy là hiện nay bọn xâm lược vẫn chưa tiến công vào thành phố. Điều này làm tôi ngạc nhiên, bởi vì giờ đây chiếm giữ thành phố là một việc hết sức đơn giản. Có lẽ chúng cho rằng không phải bận tâm nhiều về việc bắt thành phố chúng tôi quy hàng, còn trong lúc đó chúng có thể cướp phá đất nước bao nhiêu tùy thích.

Cô nàng Angelica chỉ biết mỗi việc ăn không ngồi rồi. Trước kia cô ta còn làm các công việc may vá thêu thùa. Nhưng giờ đây cô ta chỉ sử dụng thời gian, dĩ nhiên là không phải tất cả để ngồi bên bờ sông cho thiên nga ăn hoặc đơn giản chỉ ngồi ngắm dòng nước chảy qua. Thỉnh thoảng vào buổi chiều cô ta ngồi bên cửa sổ đưa mắt nhìn những đống lửa và lều trại của kẻ thù ở phía xa xa bên dưới, chạy dài trên thảo nguyên. Tất cả đều nghi ngại, chắc có lẽ là cô ta đang nghĩ về vị thái tử của mình.

Kì lạ thay khi người ta yêu, thì họ thường trở nên ngu ngốc, đặc biệt nếu như đấy là một tình yêu vô vọng. Sự thể hiện qua khuôn mặt hết sức ngố, và tôi thì không hiểu tại sao người ta có thể khẳng định dường như tình yêu làm cho con người trở nên đẹp hơn. Đôi mắt của cô ta như sâu hơn và vô cảm hơn so với trước kia, còn đôi má thì xanh xao vàng vọt. Cái miệng trở nên rộng hơn, đôi môi trở nên sưng phù.

Tôi có cảm giác rằng chỉ có tôi là người duy nhất biết được điều bí mật tội lỗi của cô ta.

Tôi thật ngạc nhiên khi hôm nay bà quận công hỏi tôi, liệu tôi có nghĩ là chúa trời căm ghét bà ta. Rất tự nhiên tôi trả lời rằng tôi không rõ về việc này lắm. Bà ta nhìn tôi với cái nhìn nảy lửa gây xúc động mạnh, dường như bà ta rất lo lắng. Tất nhiên là ông ta căm ghét bà ấy rồi, ông ta chưa một lần để cho bà ấy yên ổn. Ông ta buộc phải căm thù bà vì tất cả những tội lỗi của bà ấy. Tôi nói rằng, tôi có thể hoàn toàn hiểu được ông ta. Dường như ý kiến của tôi cũng an ủi bà ta phần nào, bà ta thở dài và ngồi thõng mình xuống ghế. Tôi nán lại thêm chút nữa mặc dù bà ta chẳng sai bảo gì tôi, bình thường thì tôi không như vậy. Khi tôi hỏi, liệu tôi có thể đi được chưa, thì bà ta trả lời rằng bà ta không có quyền để sai bảo tôi, rồi nhìn tôi khẩn khoản dường như đang chờ đợi sự giúp đỡ nào đó ở tôi. Song tôi cảm thấy rất bất tiện, và tôi muốn đi ra khỏi phòng. Tôi ngoái cổ nhìn qua khe cửa, và nhìn thấy bà ta đang quỳ gối trước bức tượng chúa bị đóng đinh, bà ta đau khổ đọc kinh sám hối, lần tràng hạt bằng những ngón tay gầy guộc, co giật.

Tất cả những điều này đã gây cho tôi một ấn tượng rất lạ.

Điều gì đã xảy ra với người đàn bà ngu ngốc già nua này?

Không còn nghi ngờ gì nữa, bà ta hoàn toàn nghĩ rằng chúa Giê su căm ghét bà ta. Hôm nay bà ta lại nói đến vấn đề này. Bà ta bảo tất cả những lời cầu nguyện sám hối của bà chẳng đi đến đâu cả. Chúa cứu thế chẳng bao giờ tha thứ cho bà. Đơn giản là ông ta chẳng bao giờ nghe thấy những gì bà nói và thậm chí cũng chẳng tỏ ra quan tâm đến sự tồn tại của bà. Chẳng nhẽ chỉ vì điều gì đấy mà ông ta lại để cho bà không một phút yên ổn ư? Thật là khủng khiếp, bà không thể chịu đựng nổi điều này. Tôi nói rằng, theo tôi thì bà nên đến cầu xin sự giúp đỡ của cha xứ, bởi con người này luôn có một sự thông cảm rất nhiệt huyết đối với người đau khổ trong tâm hồn như bà. Bà ta lắc đầu, bà ta đã thử rồi, nhưng vị cha sứ cũng chẳng thể giúp gì được cho bà, thậm chí ông ta còn chẳng hiểu gì nữa. Ông ta cho rằng bà là người vô tội. Tôi đã cười vẻ rất châm chọc đối với những lời nói của thằng thầy tu nịnh bợ kia. Thật thú vị, khi đúng lúc đó bà ta lại hỏi là tôi nghĩ gì về bà ấy. Tôi nói rằng, tôi coi bà ta là một người đàn bà tội lỗi, và tôi tin bà sẽ bị thiêu cháy trong một ngọn lửa dữ dội. Ngay lúc đó bà ta đã quỳ gối trước mặt tôi, và nắm lấy tay tôi, kêu gào thảm thiết, cầu xin tôi cứu giúp và tha thứ cho bà ấy, nom thật bất hạnh. Nhưng tôi thản nhiên nhìn bà ta quằn quại dưới chân mình. Thứ nhất tôi cho là tôi chẳng thể giúp gì được bà ấy, còn điều thứ hai là tôi nghĩ bà ta cần phải bị đầy đọa một cách thích đáng. Bà cứ níu lấy tay tôi, lau nước mắt, thậm chí lại còn định hôn tay của tôi, nhưng tôi đã rụt tay lại và không cho phép bà làm điều đó. Thế là bà ta lại bắt đầu gào thét, khóc than to hơn và trở nên điên loạn. “Hãy thú nhận tất cả tội lỗi của mình”, tôi nói và tự cảm thấy dường như khuôn mặt của tôi đang trở nên rất nghiêm nghị. Và bà ta bắt đầu thú nhận tất cả những tội ác của mình, về một cuộc sống trụy lạc, về những mối quan hệ bất chính với những người đàn ông mà bà ta đã ăn nằm, về tất cả những khoái cảm thấp hèn mà bà ta đã trải qua, để rồi phải rơi vào mớ tơ vò của đau khổ. Tôi bắt bà phải mô tả chi tiết tội ác mà bà ta đã mắc phải, những khoái cảm kinh tởm mà bà ta đã hưởng thụ, rồi cả tên của tất cả những con người cấu kết với bà trong mối quan hệ tội lỗi này. Bà ta ngoan ngoãn làm tất cả, tôi buộc bà ta phải nói ra, và giờ đây trước mắt tôi hiện ra một bức tranh thật khủng khiếp về cuộc sống nhục nhã của bà ấy. Song tôi nhận thấy là bà ta chẳng nói một lời nào về Don Riccardo. Bà ấy nhìn tôi đầy thắc mắc, mà hình như cũng chẳng thể hiểu được, tôi muốn gì ở bà. Về Don Riccardo ư? Chẳng nhẽ đấy cũng là tội ác! Tôi giải thích cho bà ấy biết, đó là tội ác kinh khủng nhất trong tất cả các tội lỗi của bà. Dường như bà ta cũng không thể làm sáng tỏ điều này và … ngạc nhiên nhìn tôi, thậm chí lại còn nghi ngờ. Nhưng sau đó tôi đã nói ra tất cả những suy nghĩ của mình, đối với những gì đã xảy ra với bà ấy, rõ ràng là bà ta đã rất hoảng sợ. Tôi hỏi, chẳng lẽ không phải là bà yêu Don Riccardo nhiều hơn tất cả ư? “Đúng”, bà ta trả lời rất khẽ, và lại bắt đầu khóc, nhưng không gào thét như lúc trước, mà khóc như những người bình thường. Bà ta không thể ngừng khóc, tôi thì cũng quá mệt mỏi và chán nản, rồi tôi bảo rằng tôi cần phải đi. Bà nhìn tôi khẩn khoản và vô vọng, bà hỏi tôi liệu tôi có thể an ủi bà ta bằng một cái gì đó được không? Rằng bà ta phải làm gì để chúa trời động lòng thương hại với bà đây? Tôi trả lời rằng do thái độ xấc xược của bà khi bà cầu xin Thượng đế thứ tội, cũng như những tội lỗi của bà chồng chất nhiều đến nỗi không có gì ngạc nhiên nếu Thượng đế không nghe thấy những lời cầu xin của bà. Ông ấy sẽ không thể tha thứ cho những tội lỗi của một con người đầy tội ác như bà. Bà ta đã tỏ ra rất cam chịu lắng nghe tôi và bà cũng nói rằng chính bản thân bà cũng cảm nhận được điều đó. Bà ta không xứng đáng được thấu hiểu. Trong tận đáy tâm hồn mình bà ta luôn cảm thấy điều như vậy, khi quỳ gối tụng kinh trước tượng chúa. Bà lại thở dài, tất cả vẫn chẳng ăn thua gì, bà ta ngồi thõng xuống ghế và lại bắt đầu kể lể về mình như là một con người đầy tội ác nhất trên thế giới, một con người ham muốn nhất trong số những con người ham muốn, và thật tiếc là bà ta sẽ chẳng bao giờ nhận được sự cảm thông của đất trời cả. “Tôi đã yêu nhiều”, bà ta nói. “Nhưng tôi đã không yêu chúa và con trai của người, bởi vậy một lẽ công bằng, là tôi phải bị trừng phạt.”

Sau đó bà ta đã cảm ơn tôi vì tôi đã đối xử tốt với bà. Bà ta cảm thấy nhẹ nhõm hơn khi thú tội, mặc dù chính bản thân bà cũng hiểu rằng, bà không thể trốn tránh được những tội lỗi của mình. Hôm nay là lần đầu tiên bà ta có thể bật khóc.

Tôi đi khỏi, chỉ còn mình bà ta ngồi lại, một bà già còng lưng, hai mắt đỏ hoe, mái tóc rối bù như cái tổ của một loài chim ác.

Ngài quận công và Phiametta có nhiều thời gian ở cùng nhau. Họ thường ngồi lại cùng nhau chỉ có hai người sau bữa ăn tối, và tôi thì cũng phải ở lại để hầu hạ họ. Họ cũng thỉnh thoảng ngồi cùng với quận công phu nhân vào các buổi chiều, nhưng đó là điều rất hiếm. Phiametta, một người đàn bà khác kiểu, lạnh lùng, giữ kẽ, rất khó gần, nhưng bà ta thật sự là một người đàn bà đẹp. Khuôn mặt sạm đen của bà ta trông khắt khe hơn bất kì người phụ nữ nào mà tôi đã từng nhìn thấy, khuôn mặt đó không đẹp lắm, nhưng có một sự thu hút. Cái nhìn trong đôi con mắt đen nhánh của bà ta ẩn chứa một ngọn lửa sâu thẳm đầy sức mạnh chinh phục và đắm đuối.

Tôi đoán bà ta cũng là con người lạnh lùng trong tình yêu, bà ta không dâng hiến mà chỉ biết giữ, yêu cầu người ta phải yêu bà và đòi hỏi sự phục tùng quá đáng. Dường như ngài quận công lại thích điều này, ông ta thích chinh phục. Theo tôi được biết, thì sự lạnh lùng trong tình yêu chẳng thua kém gì sự đắm đuối say mê.

Cá nhân tôi thì chẳng có gì phản đối bà ta. Thế nhưng tất cả những người khác thì khó chịu người hầu chẳng coi bà ta ra gì, bởi theo lời của họ, thì họ không có thói quen đó, hơn thế nữa, bà ta không phải là bà chủ của họ, dẫu sao thì cũng chỉ là người thiếp của ngài quận công. Ngay cả đối với những người trong triều đình bà ta cũng như vậy, bà ta vẫn coi mình cao hơn, tôi nghĩ trước đến giờ bà ta vẫn vậy, nói chung là bà ta chẳng bao giờ coi ai đó ngang hàng với mình cả. Đây không chỉ đơn giản là thói kênh kiệu, mà đúng hơn đó là sự kiêu ngạo bẩm sinh. Đương nhiên, mọi người đều phát khùng lên vì tính cách này của bà ta. Nhưng có một điều chắc chắn có thể đoán ra, ấy là bà ta sẽ chiếm vị trí của bà quận công phu nhân, nếu như mà quý bà của chúng tôi không ngay lập tức bắt đức ông chồng quay về với mình.

Toàn bộ triều đình đều nói rằng, bà Phiametta đang quyến rũ quận công chỉ vì một chút danh lợi, rằng bà ta có dòng máu của loài cá, và đây là một việc làm vô đạo đức. Tôi không hiểu là họ có biết rằng, khác với tất cả những người từng dính vào việc làm trơ trẽn như thế này, bà lại hoàn toàn chẳng quan tâm gì đến tư cách đạo đức cả.

Không còn nghi ngờ gì nữa, quận công rất say mê bà ta, luôn cố gắng tìm đủ mọi cách tỏ ra nhã nhặn và hấp dẫn trước mặt bà ta. Mặc dù ông ta là một người rất dễ bực tức và cáu bẳn, ông ta có thể đột nhiên phát khùng vì một cái gì đấy và nhảy bổ vào đám đầy tớ, từ trước đến nay ông ta luôn như vậy, không chỉ với đám người hầu, mà còn cả với những quyền cao, chức trọng hơn ông ta. Người ta nói rằng, ông ta là người rất dễ bực tức, người dân cũng không hài lòng về ông ấy. Hàng ngày những con người đói khổ đến quấy nhiễu ông ta, họ đi dưới cửa sổ, kêu gào đòi ông cung cấp bánh mỳ cho họ.

Tôi cho rằng, ngài quận công cũng chẳng chú ý gì đến việc này cả, cứ kệ thây cho lũ dân đen xung quanh ông kêu gào và phẫn uất. Thực tế đám dân đen luôn tìm ra cớ để kêu gào. Nếu như muốn buộc ông ta nghĩ về tất cả những điều dân chúng đang gào thét thì chỉ có cách làm vừa lòng ông ta thôi.

Người ta nói rằng ông ta đã bí mật dùng roi để trừng phạt nhà chiêm tinh của triều đình, ông Nicodemux và nhiều vị bô lão khác vì những điều tiên đoán đặc biệt thú vị của họ. Điều này rất có thể lắm chứ. Bởi vì ngay cả bố của ông ta cũng xử sự vậy, mặc dù nguyên nhân khi đó là khác: những nhà chiêm tinh đã tiên đoán những điều không đúng như ông ta đã mong muốn.

Không phải dễ dàng gì để mà suy đoán theo các ngôi sao trên bầu trời. Và nếu có đoán định được thì cũng phải làm sao để người khác hài lòng.

Tình hình trong thành phố ngày càng trở nên xấu đi. Có thể nói rằng giờ đây nạn đói đang thực sự hoành hành. Hàng ngày người dân phải chết vì đói, hoặc có thể cả vì đói và rét. Trên các đường phố và các quảng trường có nhiều người đã bị ngã quỵ, đã không còn sức để đứng, và dường như họ đang bàng hoàng với tất cả mọi thứ. Một số người khác như những bộ xương còn sống đang lang thang vất vưởng trên khắp thành phố để tìm kiếm một cái gì đó làm dịu bớt cơn đói. Thật là khủng khiếp khi giờ đây người ta còn săn lùng cả những con mèo, con chó, và chuột cống để ăn, chúng thực sự trở thành thức ăn ngon đối với họ lúc này. Chuột cống, một loài mà trước đây đã trở thành tai họa trong những túp lều của những người chạy nạn, lũ chuột hoành hành lùng sục trong các đống rác giờ được coi là một loại thịt ăn ngon. Nhưng người ta nói rằng, chuột đang dần biến mất và ngày càng trở nên khó khăn mới tìm được chúng. Rõ ràng là chúng đã mắc căn bệnh gì đó, ở đâu người ta cũng gặp phải xác của chúng, chúng đã ra đi đúng vào cái thời điểm khi người ta cần chúng.

Tôi không hề ngạc nhiên, khi mà loài chuột cống lại không muốn làm hàng xóm với những con người khốn khổ kia.

Một cái gì đó chưa từng nghe thấy đã xảy ra. Và tôi định kể về nó một cách thật bình tĩnh, dè dặt theo trật tự, và theo sự tiến triển của sự kiện. Điều này thật không dễ dàng gì, bởi chính tôi là người tham gia, đóng một vai trò khá quan trọng trong việc này, và cho đến tận bây giờ tôi vẫn còn rợn tóc gáy vì cái cảm giác đã nếm trải. Giờ đây, khi mọi việc đã kết thúc và lùi vào quá khứ, thì tôi có thể nói rằng, tôi hoàn toàn hài lòng với kết quả của nó, chính bản thân tôi cũng muốn giành một phần của đêm nay để mô tả thật ngắn gọn tất cả những gì đã xảy ra.

Dịch giả: Nguyễn Thái Hà & Dương Cầm
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.