Người Khuyết Tật - Barabbas

Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

❊ ❊ ❊

Anh đã đi qua xóm của ông lão, ngay lập tức anh nhận ra ông lão, còn nhớ rất rõ kể từ lần tình cờ gặp ông ta. Và anh nhớ lại, hai người đã đi như thế nào khi ông lão dẫn anh đến bên chiếc quan tài đứa trẻ sơ sinh. Hang ổ của những người hủi khi đó ở phía bên trái họ, còn của đám tu sĩ dở hơi - thì ở phía trước, nhưng hai người còn chưa đi tới. Phải, anh còn nhớ rõ mọi điều, mặc dù lúc này dưới ánh trăng trông mọi thứ có hơi khác. Đây, tại chỗ này họ đã đi xuống núi, còn ông lão thì vẫn kể chuyện về đứa trẻ sơ sinh đã chết rồi bởi vì nó nguyên đã bị nguyền rủa từ lúc nằm trong bụng mẹ, và ông đã an táng ngay lập tức cho đứa trẻ, bởi vì tất cả những gì được sinh ra đã chết rồi thì đều không trong sạch. “Sự nguyền rủa cái thai trong bụng ngươi…” Người mẹ - khi đó không thể đến được, nhưng mà sau đó thường đến ngồi bên cỗ quan tài… Ông lão cứ nói, nói mãi…

Đây rồi sao? Hình như đây rồi… à, nó đây rồi, phiến đá này…

Barabbas đẩy phiến đá ra và đặt cô gái nằm bên cạnh đứa trẻ đã khô khốc. Anh đặt tấm thân bị rách nát - cố gắng sao cho cô gái được thoải mái hơn, và ngắm khuôn mặt cùng vết sẹo ở trên môi trên cô gái một lần nữa, giờ đây mọi cái đều không còn quan trọng. Cuối cùng anh đẩy phiến đá đậy kín lại, ngồi xuống và ngắm nhìn vùng đất trống trải. Vùng đất trống - anh nghĩ - giống như cõi chết, mà nàng thì đã ở nơi đó, anh đã mang nàng tới chốn đó. Và con người sau khi chết nằm ở đâu - điều này hoàn toàn không quan trọng, nhưng nàng đang nằm bên đứa trẻ khô khốc của mình, chứ không phải nơi nào nữa. Anh đã làm tất cả vì nàng, những gì anh có thể, Barabbas nghĩ thế và nhếch mép mỉm cười, tay gãi gãi bộ râu hung.

“Hãy thương yêu nhau…”

Khi Barabbas trở về thành phố, không ai nhận ra anh - con người Barabbas hôm trước nữa, anh đã thay đổi quá nhiều. Hai người khi đó có mặt ở Giêruxalem đã kể rằng, thật vậy, anh trở thành con người kì quặc thế nào đó, mà cũng thật dễ hiểu thôi: bao nhiêu năm trời anh ấy bị đày đọa trong tù ngục và tý nữa thì đã bị hành hình. Có lẽ, sẽ chóng phục hồi thôi. Nhưng không phải, tình trạng ấy không thay đổi, mà đáng lẽ phải qua rồi mới đúng. Chẳng rõ, ở đây có căn nguyên gì, nhưng anh không còn giống con người mình nữa.

Nói chung, anh luôn luôn là người kì quặc, không bao giờ ta có thể hiểu nổi anh đang nghĩ gì, đang mưu mô gì, còn lúc này thì lại là việc khác, lúc này anh trở nên hoàn toàn xa lạ đối với họ và anh nhìn họ cũng thế, hình như, đang nhìn không quen biết, lần đầu tiên nhìn thấy. Họ giảng giải cho anh nghe các kế hoạch của họ - anh không để tai nghe và không bao giờ chêm một lời của mình vào. Cứ tựa như anh chẳng liên quan gì. Tất nhiên, anh đã tham gia các cuộc tấn công những tuyến đường buôn ở thung lũng Gioocđani, nhưng lại không thích thú thế nào đó và chẳng có mấy ý nghĩa. Nếu có gặp nguy hiểm, anh không chỉ không bỏ chạy mà còn tiến lại gần. Có thể, cũng là do sự bàng quan, ai mà biết được. Hầu như anh không muốn gì cả. Chỉ có một lần khi cướp đoàn xe tải cùng cả mẫu đất gồm toàn dân Giêrihôn của đại linh mục, đột nhiên anh trở nên hung bạo vì giận dữ đã chém chết hai tên trong đội bảo vệ đền thờ làm nhiệm vụ bảo vệ đoàn xe này. Vì sao không rõ, hai tên này không hề nghĩ đến việc chống cự, ngay lập tức đầu hàng khi chúng nhìn thấy sự hơn hẳn của đối phương. Rồi sau đó anh còn chửi rủa mãi các xác chết và tất cả đều cho rằng như thế là quá quắt. Tất cả họ cũng đều căm ghét bọn bảo vệ này cùng cả bầy lũ của đại linh mục, song kẻ chết là thành quả của đền thờ, mà đền thờ là thành quả của Thượng Đế. Cả bọn không hề mảy may thấy kiếp đảm về thái độ của anh đối với các xác chết.

Mà nói chung không bao giờ anh tỏ ra hứng thú thực hiện một việc nào đó giống như từng tên trong đội cứ y như là công việc của chúng hoàn toàn không liên quan đến anh. Thậm chí khi chúng tấn công binh lính ở Roma, ở Gioocđani, ở trên đèo, anh cũng không cố gắng cho lắm - mà bọn này thiếu chút nữa đã hành hình anh, khi đó đồng đội đã nổi giận không phải chuyện đùa, họ cắt cổ tất cả bọn lính không sót một tên rồi ném xác xuống sông. Tất nhiên, không một ai dám nghi ngờ lòng căm thù của anh đối với bọn ức hiếp thần dân của Chúa Trời - lòng căm thù đó không thua kém gì những người khác, song, nếu ai ai cũng có thái độ lạnh lùng như vậy thì rõ ràng, đến đó sẽ gặp chuyện chẳng lành.

Một sự thay đổi khó hiểu. Bởi vì giá như có kẻ nào trong số họ là một người thật sự dũng mãnh như Barabbas! Có trường hợp anh tổ chức các cuộc tấn công táo bạo nhất và lúc xung trận anh luôn luôn là người đi đầu. Đối với anh không có gì là không thể được, việc gì anh cũng làm được. Vì lòng dũng cảm và sự thông mình tinh tường của anh, tất cả mọi người đều tin tưởng anh trong mọi việc và đã quen với việc là các kế hoạch của Barabbas đều mang lại thành công. Anh hầu như đã trở thành thủ lĩnh của họ, mặc dù họ không thừa nhận các thủ lĩnh và không có ai yêu quý Barabbas. Có thể vì thế mà xảy ra mọi chuyện. Bởi vì anh là con người kì quặc và dễ cáu bẳn không giống như chính bọn họ. Cũng vì họ không hiểu rõ con người Barabbas như vậy nên anh luôn là con người xa lạ đối với họ. Về bản thân mình họ biết rõ tất cả, ấy vậy mà về Barabbas hầu như họ không biết gì và thật lạ là vì thế họ đặt hy vọng vào Barabbas. Họ thậm chí còn sợ anh và vì thế càng ngấm ngầm hy vọng ở anh. Mặc dù, tất nhiên, không phải, tất cả đều là thành quả của lòng dũng cảm và sự thông minh của anh, của thành công trong mọi việc do anh tổ chức.

Còn lúc này - ai cần đến vị thủ lĩnh - người hoàn toàn không muốn chỉ huy và nói chung không muốn gì hết? Người mà chỉ muốn ngồi bên cửa hang động, mắt chằm chằm nhìn đồng hồ bằng Gioocđani và xa nữa, nhìn biển cả được mệnh danh là Biển Chết? Người mà cứ nhìn bạn bằng cặp mắt khó hiểu tưởng như bị mắc cỡ? Muôn thuở im lặng, còn nếu đã mở miệng nói với bạn, bạn sẽ càng tin hơn: anh là con người mới kỳ quặc làm sao. Tựa hồ như mọi suy nghĩ của anh đang phiêu diêu ở nơi xa xôi nào đó. Thậm chí thấy tởm lợm. Có thể, tất cả chỉ vì anh đã bị giam hãm quá lâu ở Giêruaxalem và thiếu chút nữa đã bị hành hình? Mà hầu như người ta thật sự đã hành hình anh, và chỉ sau đó - sau khi bị hành hình - anh mới trở về với đồng đội.

Tiếp xúc với anh rất khó chịu. Chính họ không vui thích gì về việc anh có mặt ở đây - việc anh trở về đây. Đây không phải chỗ của anh. Anh hoàn toàn không thích hợp với vai thủ lĩnh - mà Barabbas còn có ích gì chứ? Té ra, anh hoàn toàn không có ích gì ư? Đúng, thật kì là, té ra là thế?

Vì nếu như còn nhớ rõ, không phải lúc nào Barabbas cũng là người chỉ huy và quyết định, là Barabbas dũng cảm, quyết đoán, là con người coi thường tất thảy - cả nguy hiểm lẫn chết chóc. Lúc Eliahu chưa gây cho anh vết sẹo dưới mắt, anh không phải là người như vậy. Anh hoàn toàn không dũng cảm tới mức đó, mà thậm chí - ngược lại. Tóm lại, người ta còn nhớ rõ điều đó. Và thế rồi đột nhiên anh là một người đàn ông thực sự. Sau khi Eliahu xảo quyệt tấn công Barabbas và rõ ràng, muốn giết anh, và đôi kình địch lao vào cuộc chiến tàn khốc, và Barabbas đã ném Eliahu đồ sộ, khủng khiếp nhưng đã luống tuổi, nặng nề xuống vực sâu bên cửa hang động. Chàng trai nhanh nhẹn hơn, linh hoạt hơn, còn người chiến binh già với toàn bộ sức lực của mình không thể thắng được Barabbas, thật hoài công mưu mô làm thế. Và vì sao chứ? Vì sao Eliahu luôn luôn căm thù Barabbas? Không ai hiểu được điều đó. Nhưng ai cũng biết ông ta luôn luôn căm thù Barabbas.

Khi đó Barabbas trở thành thủ lĩnh của họ. Mà cho đến giờ con người này vẫn chẳng có gì nổi bật. Anh trở thành người đàn ông thực sự chỉ sau khi kiếm được vết sẹo trên mặt.

Họ đã thì thầm, thì thầm với nhau như vậy.

Nhưng có một điều họ không biết, và không một ai biết là Eliahu - người được họ nhớ rất rõ đó - chính là cha đẻ của Barabbas. Điều đó không có ai biết, không một ai có thể biết. Mẹ của anh người Môavit, bị bắt khi đoàn thương gia bị cướp trên đường đến Giêrihôn, và tất cả đám cướp tha hồ làm nhục bà, sau đó bán bà ở Giêruxalem cho nhà chứa. Khi ở đó nhận ra bà sắp sinh con, chủ chứa không muốn giữ bà ở lại và bà bị đẩy ra ngoài đường: tại đó người ta phát hiện ra bà đã chết. không ai biết đứa trẻ là con ai, và chính bà cũng không nói, có thể chỉ thốt lên là bà nguyền rủa đứa trẻ ở trong bụng và cho nó ra ngoài đời rồi bà căm thù cả bầu trời lẫn mặt đất, cả Đấng Sáng Tạo ra bầu trời và mặt đất.

Không, không một ai biết gì về điều đó. Kể cả những kẻ thì thầm với nhau trong hang động. Cả bản thân Barabbas đang ngồi bên cửa hang và dõi mất nhìn xuống vực thẳm, nhìn rặng núi Môava cháy trụi và nhìn biển cả mênh mông được đặt tên là Biển Chết.

Barabbas cũng không hề nghĩ đến Eliahu, mặc dù anh đang ngồi ở chính nơi anh đã ném ông ta xuống vực hồi nào. Không biết do nguyên nhân nào, mà nói đúng hơn hoàn toàn không có lý do nào - anh đã nhớ tới bà mẹ của Đấng Cứu Thế bị hành hình, tới việc bà đã đứng nhìn đứa con trai của mình bị đóng đinh câu rút ra sao, nhìn con người do bà sinh ra! Barabbas đã nhớ tới đôi mất không rơi lệ của bà, tới khuôn mặt nông dân, thô kệch của bà không hề biết bày tỏ nỗi đau thương của mình, hoặc có thể, bà không muốn bộc lộ nỗi đau của mình trước những người xa lạ? Và anh còn nhớ rõ cái nhìn trách cứ của bà khi đi ngang qua - cái nhìn chiếu thẳng vào anh - Barabbas, tại sao lại chính vào anh? Cứ như là không còn trách cứ ai nữa!

Anh vẫn thường nhớ đến đồi Gongopha, tới những gì đã xảy ra ở đó. Và nhớ đến bà ta - người mẹ của…

Barabbas nhìn và cứ nhìn hoài các ngọn núi ở phía Biển Chết, xem bóng tối đổ xuống các ngọn núi, xuống miền đất Môavit ra sao.

Bọn họ nghĩ nát óc tìm cách loại bỏ con người này. Họ mơ ước tránh khỏi tiếng cười chê, nhục mạ không cần thiết, mơ ước không phải thấy bộ mặt cau có mang lại nỗi buồn và làm chết bất kì niềm vui nào. Nhưng phải xử lý việc này ra sao? Đột nhiên bắt giữ rồi nói rằng anh ta không còn cần thiết cho họ nữa, đã trở thành kẻ thừa, rằng tốt nhất anh ta hãy bỏ đi ư? Ai sẽ nói điều đó với anh ta? Không có ai đặc biệt muốn nhận. Trung thực mà nói, không ai có dũng khí nói. Sự sợ hãi một cách phi lý, ngu dại đã ẩn sâu trong mỗi con người họ, hoặc bạn có gọi tên điều đó là gì gì đi nữa. Và họ vẫn tiếp tục thì thầm to nhỏ rằng họ đã chán ngấy anh ta, rằng họ không yêu quý anh ta, trước đây chưa bao giờ yêu quý, có thể, đó là vì anh ta mà họ không thành công, như vừa rồi họ đã mất hai đồng đội, mà làm sao thành công được khi cạnh anh là kẻ tử tội. Một sự ác cảm ngấm ngầm, dữ dội bao trùm hang động, và hầu như mọi con mắt căm thù đều dõi qua làn ánh sáng mập mờ tới chỗ một con người đang ngồi đơn côi trên miệng vực thẳm, tựa như chiếc đinh chốt số phận đen tối. Làm thế nào thoát khỏi anh ta?

Và thế rồi - một lần lúc rạng đông anh ta biến mất tăm, không thấy anh ta đâu. Lúc đầu, mọi người cho rằng anh ta bị chấn thương não - và đã lao xuống vực chết hoặc có một ác quỷ nhập vào anh ta và đã đẩy anh ta xuống đó. Có thể, đó là linh hồn Eliahu đã lang thang cùng anh ta? Họ sục sạo dưới vực sâu, tại nơi trước đây đã tìm thấy thi thể giập nát của Eliahu, nhưng không tìm thấy Barabbas ở đó. Và không đâu có dấu vết của Barabbas. Anh đã biến mất.

Ngay lập tức họ thấy nhẹ nhõm hẳn, và họ trở về căn cứ của mình trên núi cao vút lúc này nóng bỏng bởi nắng trời.

Không một ai được biết gì một cách chắc chắn về số phận Barabbas sau đó, về việc anh đã bỏ đi đâu và sinh sống ra sao trong lúc còn là một người đàn ông cường tráng. Có vài người nghĩ sau khi biến mất khỏi đồng đội anh bỏ đến vùng đất trống - đến hoang mạc Iuđây hoặc khu Xinai, và ở đó chìm đắm trong những suy tư, đơn độc về thế giới của Chúa Trời và của loài người. Ngược lại, có những người lại nói hinh như anh đến chỗ dân Xamari - tộc người thù ghét đền thờ Giêruxalem và giới mục sư lẫn đám người lắm chữ và đâu như vào dịp lễ hội Cầy Xuân của họ trên ngọn núi thiêng khi giết lợn con tế thần họ đã nhìn thấy anh ta quỳ một gối chờ mặt trời mọc trên dãy núi Garidim.

Có một người còn khẳng định chính xác rằng phần lớn thời gian anh chỉ làm thủ lĩnh băng cướp ở các sườn núi Libăng giáp với Xiri và khủng bố rất tàn bạo người Iuđây, cả những người Thiên Chúa giáo nếu họ rơi vào tay anh ta.

Và, như đã nói, không một ai biết chính xác ở đây cái gì là thật, cái gì không đúng. Tuy nhiên cũng biết đôi điều là ngay từ thập kỉ sáu mươi, sau thời gian mấy năm làm ở các mỏ đồng thuộc một ông lớn người Roma ở Paphốt, anh ta là nô lệ ngay tại nhà của ông lớn đó. Vì sao anh ta bị bắt và bị kết tội phải làm việc trong mỏ - có hình phạt nào khủng khiếp hơn nữa đâu - điều này không ai biết. Nhưng điều kì lạ không phải ở chỗ anh ta đã rơi vào chốn đó, mà là ở chỗ sau lúc hiện diện tại địa ngục này, anh ta đã trở về với cuộc sống, dù chỉ là một tên nô lệ. Tuy nhiên, ở đây có thêm những hoàn cảnh đặc biệt.

Lúc này anh ta đã đầy nếp nhăn và bạc tóc, nhưng sau tất cả những gì đổ lên số phận của anh ta, anh ta vẫn là con người hấp dẫn đến kì lạ. Anh ta phục hồi nhanh chóng đến kì lạ và lại cường tráng gần như trước kia. Lúc thoát khỏi gông xiềng trông anh ta thật giống một thây ma: thân hình khô khốc, cặp mắt không nhìn ai, vô hồn, chẳng khác gì hai cái giếng cạn. Khi cặp mắt lại bắt đầu nhìn ánh sáng trắng, cái nhìn vẫn đầy lo âu, hơn cả trước kia, cảnh giác như mắt chó, như bị truy lùng, song dần dần con người anh ta còn bộc lộ sự căm thù giống như bà mẹ đã nguyền rủa cái tác phẩm của mình khi bà sinh ra Barabbas. Và cái vết sẹo đã hoàn toàn không còn nhận ra dưới mắt lúc này lại đỏ hồng thành một vệt xuống hàng râu bạc.

Giá như anh ta không được nhào nặn bằng loại bột chắc chắn như vậy, vị tất anh ta đã có thể sống sót. Ở đây anh phải cám ơn Eliahu và người phụ nữ Môavít, bởi chính họ đã cho anh cuộc sống. Mà cũng vì cả hai không yêu quý - cả hai cùng căm ghét anh. Hơn nữa hai người họ cũng không yêu nhau. Đấy, tình yêu là cái thứ bé nhỏ như vậy đấy. Song bản thân Barabbas đâu có biết anh nợ gì cả hai con người vừa căm ghét vừa ôm ấp nhau đó.

Anh đã sa vào một ngôi nhà lớn có nhiều nô lệ. Trong số đó có một người tên là Xaac, dân Acmêni cao kều, vụng về và gầy nhom. Do vóc dáng của mình Xaac suốt đời còng lưng. Anh ta có đôi mắt to, hơi trố và mới đen làm sao, luôn mở to, rực lửa khiến con người này như luôn bốc lửa. Vì có bộ tóc trắng cắt ngắn và bộ mặt như bị lửa thiêu nên có cảm giác anh ta là một ông lão, xong trên thực tế Xaac vừa bước qua tuổi bốn mươi.

Anh ta cũng từng bị xích trong suốt bao năm anh ta đã cùng chịu đựng bên Barabbas và đã có thể thoát ra khỏi đó cùng với Barabbas. Ấy vậy mà anh ta lại không thể ra đi được. Bị kiệt sức, râu tóc trắng xóa như mặt trăng, Xaac như bị mang trong mình dấu tích đi đày suốt đời, và bộ mặt anh đen như cột nhà cháy. Có cảm giác là anh đã trải qua một thử thách gì đó Barabbas không hề hay biết. Mà đúng là có như vậy.

Đám nô lệ rất quan tâm đến hai con người này - những kẻ đã thoát ra được khỏi nơi mà thường thường không ai sống sót ra được khỏi đó, họ rất muốn nghe hai người kể chuyện. Song cả hai cùng lặng thinh về dĩ vãng của mình. Nói chung hai con người có thái độ tách biệt nhau và hầu như không nói chuyện với nhau, mà không hiểu cái gì liên kết họ lại với nhau. Và họ lại luôn luôn ở bên nhau. Điều này thật kì lạ. Hai con người ngồi xuống ăn hay nghỉ ngơi đều ở cạnh nhau, kể cả ban đêm nằm trên rơm rạ ngủ cũng cạnh nhau, bởi vì họ bị xích chung một sợi xích.

Họ đã bị xích lại ngay sau khi được đưa từ đại lục tới. Ngay từ đầu nô lệ đã bị xích chung hai người một, và từ đó hai con người này phải làm việc bên nhau trong mỏ. Và họ đã không thể nào xa nhau được nữa, và những nô lệ - cặp sinh đôi này biết rõ về nhau như lòng bàn tay và thường đạt tới mức căm ghét nhau hết mức. Có trường hợp, họ vô duyên vô cớ lao vào đánh nhau như điên dại, cũng chỉ vì họ bị xích chung với nhau trong địa ngục.

Song hai con người này, hình như, lại chấp nhận nhau và thậm chí còn giúp nhau vượt qua gian khổ. Họ thường trò chuyện với nhau và bằng cách đó quên đi cái khốn khổ của kiếp đi đày. Như đã biết, Barabbas là người ít nói, song anh chịu lắng tai nghe những gì người khác nói với anh. Lúc đầu cả hai không bộc lộ về bản thân, họ im lặng về mình, mỗi người đều có những bí mật riêng, không muốn thổ lộ ra, và phải qua nhiều thời gian họ mới biết đôi điều về nhau. Một lần, cũng do tình cờ thôi được biết Barabbas là người Do Thái và gốc thị dân: người Giêruxalem. Xaac sôi nổi hẳn lên và ngay lập tức tuôn ra hàng loạt câu hỏi. Hình như, anh ta khá quen thuộc với thành phố này, mặc dù trong đời còn chưa bao giờ đến gần. Cuối cùng Xaac hỏi liệu Barabbas có biết về vị mục sư đã từng sống và sáng tạo ở đó - về nhà tiên tri vĩ đại được nhiều người tin tưởng. Barabbas hiểu rõ đó là ai, và anh trả lời là có nghe nói về con người đó. Xaac lại hỏi tiếp, song Barabbas trả lời quanh co rằng hầu như không biết gì. Thế Barabbas đã gặp con người đó chưa? Hừm… Nói chung thì có gặp. Xaac hình như ngỡ ngàng trước việc Barabbas nhìn thấy con người đó. Bởi vì một lúc sau anh ta lại hỏi có thật như vậy không. Và Barabbas lại đáp - mặc dù miễn cưỡng, rằng đúng, anh đã thấy con người đó.

Xaac để rơi chiếc choòng. Anh ta đứng trầm ngâm suy nghĩ, đứng như trời trồng bởi điều đã rơi đúng số mệnh anh ta. Mọi cái đối với anh ta giờ đây đột nhiên bị thay đổi, anh ta khó khăn lắm mới nhận thức được tin tức này. Hầm mỏ đã bị thay đổi. Bỗng nhiên mọi cái đều đã thay đổi. Anh ta đã bị xích cùng một xích với con người đã nhìn thấy Chúa.

Đúng lúc đó cái roi của tên cai nện vào anh ta - tên cai vừa đi ngang qua - Xaac cúi gập người xuống vì cú đòn, như muốn bằng cách đó tránh được đòn, bắt đầu nện choòng lia lịa. Tới lúc tên cai bỏ đi xa, Xaac người đầm đìa máu và cái thân hình dài ngoẵng run lẩy bẩy. Mãi anh ta không nói nên lời. Song chỉ ngay sau khi có thể thốt lên lời, anh ta lại hỏi Barabbas là đã thấy vị mục sư ở đâu và khi nào. Có lẽ, ở trong đền thờ, trong thánh đường? Có phải vào lúc Ngài nói về thế giới tương lai của mình không? Hay vào một lần nào khác? Lúc đầu Barabbas im lặng. Nhưng sau đó anh bất đắc dĩ nói rằng anh đã thấy con người đó ở Gongopha.

- Gongopha à? Gongopha là cái xứ sở nào?

Barabbas đáp: Đó là nơi hành hình các tội phạm.

Xaac im lặng. Mắt nhìn xuống đất. Sau đó nói rất khẽ:

- Ra thế, nó là thế…

Đấy là lần đầu tiên hai người nói với nhau về vị mục sư bị hành hình: đề tài này về sau họ thường nhắc đến.

Xaac muốn được nghe nhiều hơn về Ngài, về những lời thiêng liêng Ngài đã nói, về những điều kỳ diệu vĩ đại của Ngài. Chính Xaac cũng được biết là Ngài đã bị hành hình, chứ sao lại không biết. Giá như Barabbas kể cho anh ta nghe điều gì đó khác thì hay biết mấy.

Gongopha… Gongopha… Một cái tên kỳ quặc, xa lạ, bởi vì từ lâu anh ta đã được biết về nó, đã bao lần anh ta được nghe nói Đấng Cứu Thế đã chết trên cây thập ác ra sao và khi đó những điều kỳ diệu vĩ đại gì đã xảy ra. Xaac hỏi là Barabbas có nhìn thấy tấm rèm trong đền thờ sau khi bị rách làm đôi không. Và ngọn núi cũng bị nứt toác ra, có lẽ, anh nhìn thấy thế nếu chính anh đã có mặt nơi đó?

Barabbas trả lời là, có thể, mọi chuyện xảy ra như vậy, nhưng anh không nhìn thấy gì như vậy cả.

- Mà những người chết đã ra khỏi quan tài! Họ đã vùng lên từ cõi chết để chứng thực về Ngài, về sức mạnh và chiến thắng của Ngài!

- Phải… - Barabbas nói.

- Và cả mặt đất đã bị màn đen bao phủ khi Ngài trút hơi thở cuối cùng?

À, điều này thì Barabbas chứng kiến. Anh có nhìn thấy màn đen này.

Hình như, câu trả lời của Barabbas đã làm Xaac vui sướng mặc dù anh ta đang bị đè nén bởi các ý nghĩ về nơi hành hình khủng khiếp; anh ta đã nhìn thấy ngọn núi bị toác ra, trên ngọn núi là cây thập ác, còn trên cây thập ác - là Con Trai Chúa Trời được mang đến đó làm vật hy sinh. Đúng, tất nhiên, Đấng Cứu Thế sẽ phải chịu đau khổ và chịu chết, Ngài phải bị như thế để cứu sống chúng ta. Đúng, tất nhiên rồi, dù cho không thể hiểu được điều đó. Nhưng Xaac hình dung thấy Ngài hân hoan hơn trong chiến thắng, trong thế giới riêng của Ngài, nơi mọi cái đều khác hẳn, không giống như ở nơi đây. Và giá như Barabbas người bị xích chung với anh ta còn nhìn thấy Đấng Cứu Thế ở một nơi nào nữa, không phải ở Gongopha thì tốt hơn nhiều. Mà tại sao anh lại nhìn thấy Ngài ở chính nơi đó?

- Thật kỳ lạ, - anh ta nói với Barabbas, - là cậu đã nhìn thấy Ngài chính tại đó. Và tại sao cậu lại có mặt ở đó?

Về điều này thì Barabbas không trả lời.

Một lần khác Xaac hỏi, có đúng là Barabbas trước kia - trước sự kiện đó - chưa bao giờ thấy Ngài phải không. Barabbas không trả lời. Nhưng sau đó anh nói là mình đã có mặt tại sân Tổng hành dinh khi mục sư bị kết án và kể lại mọi việc đã diễn ra khi đó như thế nào. Anh kể về ánh hào quang kỳ lạ bừng sáng lên cho anh nhìn thấy mục sư. Được nghe về ánh hào quang này, Xaac vui mừng khôn xiết. Và Barabbas lại không giải thích rằng mọi điều đã xảy ra như vậy vì khi đó anh được thoát khỏi ngục tù và mắt anh bị lóa vì nắng trời. Để làm gì chứ? Điều đó có lợi gì cho Xaac? Nói chung điều đó có lợi gì cho ai? Thế là anh không giải thích gì cả và mặc cho Xaac vui mừng, và Xaac đề nghị cứ kể tiếp - kể tiếp về điều kỳ diệu đó. Nét mặt Xaac rạng rỡ, niềm hạnh phúc như truyền sang cho Barabbas, hai con người này như chia sẻ hạnh phúc cho nhau. Và bất cứ lần nào Xaac đề nghị Barabbas, anh cũng đều kể lại lần mình chứng kiến điều kỳ diệu, và lần nào anh cũng như lại nhìn thấy ánh sáng xa xưa và kỳ lạ đó.

Một thời gian sau anh lại kể cho Xaac nghe về việc anh chứng kiến sự phục sinh của Thày Giáo. Không đâu, anh không nhìn thấy Ngài đã phục sinh như thế nào. Không một ai nhìn thấy hiện tượng đó. Nhưng anh đã nhìn thấy thiên thần từ trên trời bay xuống, giơ bàn tay ra như một ngọn giáo và toàn thân rực lửa như khoác áo hoàng bào. Và ngọn giáo đã hất phiến đá ra khỏi quan tài, nó thọc vào giữa phiến đá và vách núi đá, tách chúng ra. Và Barabbas đã nhìn thấy quan tài đá trống rỗng…

Xaac nín thở nghe, cặp mắt to cả tin không rời khỏi Barabbas. Chẳng lẽ thế? Chẳng lẽ tên nô lệ bẩn thỉu, thảm hại này đã nhìn thấy tất cả những điều đó? Chẳng lẽ với sự chứng kiến của hắn đã xảy ra điều kỳ diệu vĩ đại - điều kỳ diệu trong số những điều kỳ diệu? Vậy thì hắn là ai? Và vì sao anh ta - Xaac - lại có được diễm phúc này: - Được xích cùng một sợi với một con người đã trải qua các sự cố như vậy, để được gần Chúa như vậy?

Xaac không còn làm chủ được mình nữa vì niềm hạnh phúc khi được thông tin chuyện này và anh ta hiểu ra rằng đã đến lúc anh ta phải bộc lộ bí mật của mình, không thể nào che giấu được nữa. Anh ta thận trọng đảo mắt nhìn quanh, tin chắc rằng bên cạnh không có ai khác mới thì thầm hứa với Barabbas cho anh xem cái gì đó. Sau đó dẫn anh đến chỗ cây đèn dầu đặt trên gờ mấu của tường đá và dưới ánh lửa rung rinh đã cho Barabbas xem biển số nô lệ của mình - anh vẫn đeo nó trên cổ. Tất cả các nô lệ đều có các biển số tương tự, và trên biển số có khắc dấu của chủ nô. Ở đây, trong gông cùm, trong các biển số của tất cả các nô lệ đều có dấu của Roma, họ là những nô lệ của quốc gia. Song trên biển số của Xaac, ở mặt sau hai người nhận ra các dấu thần bí, kỳ lạ không thể nào hiểu được. Xaac giải thích đó là tên của Đấng Cứu Thế đã bị hành hình - tức Con Trai Chúa Trời. Barabbas thì phân vân ngắm nghía những vết khắc kỳ lạ như trò ảo thuật, mà Xaac lại thì thầm rằng chúng chỉ có một ý nghĩa: anh ta, Xaac thuộc về Con Trai Chúa Trời, anh ta là nô lệ của Ngài, và anh ta cho phép Barabbas sờ vào tấm biển số. Barabbas đứng rất lâu tay nắm tấm biển số.

Bỗng nhiên họ có cảm giác tên cai đang đến. Không phải, họ đã lầm, và cả hai lại cúi xuống xem vệt chữ kỳ lạ. Và Xaac cũng cho Barabbas biết là một người Hy Lạp đã để cho anh ta biển số này. Tay Hy Lạp đó theo đạo Gia tô và cũng là nô lệ, và người đó đã kể cho Xaac nghe về Đấng Cứu Thế, về thế giới của Ngài - cái thể giới sắp được khởi đầu và dạy bảo phải tin vào thế giới đó. Xaac đã kết giao với anh ta lúc ở lò đúc. Ở đó không ai đậu nổi quá một năm. Tay Hy Lạp này chịu đựng không nổi một năm và, khi hắn hấp hối, Xaac nghe thấy tiếng thì thào trong cái nóng của lò rực lửa: “Lạy Chúa Trời, xin đừng bỏ con”. Và sau đó người ta đã chặt chân anh ta đứt ra - Làm thế dễ dàng tháo được cùm - và thân xác được ném vào lò lửa, ở đó ai chết cũng được giải quyết như vậy. Xaac nghĩ là cả anh cũng sẽ chịu số phận như vậy, không còn mong gì khác. Song ít lâu sau một phần đám nô lệ - có cả Xaac được đưa đến đây, ở đây cần rất nhiều nô lệ.

Vậy là, giờ đây Barabbas đã rõ anh ta là người Công giáo, anh ta là nô lệ của Chúa, - Xaac đã kết luận như vậy và cả tin nhìn Barabbas.

Sau đó mấy ngày liền Barabbas lặng thinh và đăm chiêu suy nghĩ. Cuối cùng anh hỏi Xaac bằng một giọng run run kỳ lạ, liệu anh ta sẽ khắc được vệt chữ đó trên tấm của anh chứ.

Xaac sẵn sàng hứa là sẽ cố gắng. Đúng vậy, anh ta không biết các dấu thần bí, song có thể nhìn vào tấm thẻ của mình…

Hai người chờ cho tới lúc viên cai vừa đi qua, bằng cạnh sắc nhọn của một viên đá dưới ánh sáng lờ mờ của cây đèn dầu Xaac bắt tay vào khắc các dấu chữ một cách miệt mài. Bàn tay không thành thạo của Xaac không dễ dàng gì tạo ra được các đường nét khó hiểu, nhưng anh ta rất cần mẫn để chúng hiện ra giống hệt. Nhiều lần anh ta phải ngừng công việc: lúc thì có ai đó lại gần, khi thì họ cảm thấy thế, - tuy vậy cuối cùng các dấu chữ cũng đã khắc xong, và cả hai cùng cho rằng rất đạt. Mỗi người đều nhìn dấu chữ khắc của mình, nhìn dấu chữ thần bí mà cả hai đều không hiểu, song họ biết - đó là tên của người bị hành hình và cả hai là nô lệ của Ngài. Rồi sau đó hai người cùng vội quỳ gối nhiệt thành cầu nguyện Chúa của mình - Đấng Cứu Thế của tất cả những con người bất hạnh - cầu nguyện Thượng đế.

Tên cai đã nhìn thấy họ từ xa, họ nằm gục ở ngay bên cạnh cây đèn dầu và không còn nhận biết được điều gì - chìm đắm trong cầu nguyện. Tên cai lao vào đánh đập họ, tra tấn tới mức thừa sống thiếu chết. Thế rồi cuối cùng hắn cũng bỏ mặc hai người lại, và Xaac ngã gục xuống đất. Nhưng không, tên cai ngục lại đến, lại tra tấn Xaac và buộc anh ta phải đứng dậy. Hai con người chao đảo tựa vào nhau lại tiếp tục làm việc.

Đấy là lần đầu tiên Barabbas bị hạn vì vị mục sư người xanh xao, ngực không một sợi lông đã bị hành hình thay cho anh.

Ngày lại ngày, năm tháng trôi qua. Họ đâu có phân biệt được ngày tháng, nhưng cứ tối tối họ lại bị đẩy vào ngủ cùng nhau - cùng với hàng trăm nô lệ khác, những con người cũng đã kiệt sức hệt như họ vì làm việc quá sức, và họ hiểu ra rằng: đã là đêm tối rồi. Họ không bao giờ được thả tự do. Xanh xao vàng vọt như những bóng đèn, hết năm này sang năm khác họ sống trong cảnh nửa tối nửa sáng, ở dưới hầm sâu, nơi cõi chết - nơi con đường đi chỉ được chiếu sáng bởi những cây đèn dầu và mấy cái lò đúc thưa thớt. Cũng có một luồng ánh sáng yếu ớt xuyên qua cửa hầm lò, và ở nơi đó - ở trên cao - họ có nhìn thấy một cái gì đó, có thể - là bầu trời. Nhưng mặt đất của cái thế giới đó - cái thế giới trước kia của họ - thì không bao giờ họ nhìn thấy. Cũng ở nơi đó, bên cửa hầm lò - người ta thả thức ăn xuống cho họ - đựng trong những chiếc sọt và trong những chiếc máng ăn bẩn thỉu để họ bốc ăn thú vật.

Xaac đang gặp nạn, Barabbas không cầu nguyện cùng anh ta nữa. Có mấy lần cầu nguyện, sau khi đề nghị anh ta khắc tên Đấng Cứu Thế trên tấm biển số của mình, và rồi bỏ luôn. Và anh trở nên càng lặng lẽ hơn, hoàn toàn kỳ quặc thế nào đó, rất khó hiểu. Xaac không hiểu đầu cua tai nheo ra sao. Thế là nát óc suy nghĩ. Chính anh ta vẫn cầu nguyện như trước, song Barabbas chỉ quay mặt đi, tựa hồ như thậm chí không muốn nhìn cảnh tượng này. Thật ra, anh đã đứng, song là để bảo vệ Xaac trong lúc bạn mình cầu nguyện, để không bị quấy phá. Tức là anh muốn giúp đỡ? Nhưng bản thân anh thì không bao giờ cầu nguyện.

Tại sao? Vì cớ gì? Xaac phân vân. Đúng là một câu đố. Anh ta đã nghĩ là như thế tìm hiểu Barabbas sẽ tốt hơn, bởi họ đã có duyên ở bên nhau như thế này ngay tại đây, - dưới lòng đất - trong cái địa ngục này, đặc biệt từ sau khi hai người đã cùng nhau cầu nguyện. Và bỗng nhiên anh ta hiểu ra là hoàn toàn không hay biết gì về Barabbas, không biết tí gì về anh cả dù cho luôn ở bên anh. Và đôi khi con người kỳ lạ đó ở ngay bên Xaac mà Xaac lại cảm thấy đó là một con người hoàn toàn xa lạ.

Vậy thì thực ra anh là ai?

Hai người vẫn nói chuyện với nhau như trước, nhưng đã hoàn toàn không giống như trước, và giờ đây Barabbas quay mặt đi khi họ nói với nhau. Xaac không còn dịp nhìn thấy mắt bạn tù nữa. Thật ra đã bao giờ Xaac nhìn thấy mắt anh ta. Nếu cứ nghĩ mà xem - đã nhìn thấy hay là chưa?

Xaac bị cùm cùng một sợi xích với ai đây?

Barabbas không còn kể lại những gì anh đã chứng kiến. Mà đó là gì đối với Xaac, là sự mất mát gì, thậm chí không thể diễn tả được. Xaac đã thử hình dung mọi chuyện, cố nhớ lại xem thế nào. Có dễ dàng không? Không hề, chẳng ăn thua gì - hay là thế nào khác… Bản thân Xaac còn chưa bao giờ được đứng cạnh con người yêu quý đó, và ánh sáng bao quanh người đó không làm lóa mắt Xaac. Bản thân anh ta không nhìn thấy Chúa.

Và anh ta đành phải thỏa mãn với ký ức về sự kỳ diệu nào đó mà anh ta được nhìn thấy hồi nào qua cặp mắt Barabbas.

Anh ta mê nhất là cảnh tượng buổi sáng lễ hội Cầy Xuân, là thiên thần rực lửa lao từ trên trời xuống để giải cứu Ngài khỏi cõi chết. Khi hình dung thấy rõ điều đó, bạn sẽ biết chính xác rằng tất nhiên Ngài đã phục sinh, rằng Ngài vẫn đang còn sống. Và chẳng bao lâu nữa Ngài sẽ trở về và thiết lập thế giới của mình trên mặt đất như đã từng hứa hẹn. Điều đó Xaac không mảy may nghi ngờ, anh ta hoàn toàn tin như vậy. Và khi đó tất thảy - tất cả những ai đang bị đày ải trong hầm lò sẽ được trả lại tự do. Và chính Chúa Trời sẽ có mặt ở cửa hầm lò, Ngài sẽ tiếp đón các nô lệ, tháo xiềng xích cho họ, và tất cả sẽ ngay lập tức gia nhập thế giới của Ngài.

Xaac đã từng mơ ước về một thế giới như vậy! Và bao giờ cũng thế, khi được gọi đến để ăn, Xaac cũng từ giếng lò nhìn lên trên - có điều kỳ diệu xảy ra không! Nhưng lẽ nào từ nơi đây bạn nhìn thấy được thế giới? Không thể biết được nơi đó diễn biến ra sao. Ở đó mọi cái có thể xảy ra, mà bạn không biết được. Nếu như đúng là có xảy ra điều đó, nếu như Ngài cũng xuất hiện, tất nhiên, Ngài sẽ gọi họ lại. Ngài sẽ không quên họ, Ngài sẽ không quên người mình, sẽ cứu họ ra khỏi cõi chết.

Một lần, khi Xaac quỳ gối và cầu nguyện trên một mỏm đá đã xảy ra một hiện tượng rất lạ lùng.

Viên cai - một gã hoàn toàn mới trong mỏ đến thay chỗ của tên đao phủ trước tiến lại bên Xaac từ phía sau khiến anh ta không nhìn thấy và nghe thấy hắn. Nhưng đứng bên người bạn đang cầu nguyện, mà bản thân lại không cầu nguyện, Barabbas đã nhận ra hắn từ trong màn tranh tối tranh sáng và nói nhỏ với Xaac rằng có người đang đi tới. Ngay lập tức Xaac ngừng cầu nguyện, bật dậy và cầm lấy chiếc choòng. Tuy vậy, anh ta vẫn chờ đón cái tồi tệ hơn và toàn thân cúi gập xuống, chuẩn bị sẵn lưng đón roi vụt. Song cả hai cùng rất đỗi ngạc nhiên: không hề có sự trừng phạt. Gã cai dừng lại, tất nhiên, nhưng chỉ thân thiện hỏi Xaac tại sao anh ta lại còng lưng như vậy, điều đó có nghĩa gì? Mãi Xaac mới thốt nên lời rằng anh ta cầu nguyện Chúa của mình.

- Chúa nào? Tên cai hỏi.

Xaac nói với gã là Chúa nào, và tên cai lặng lẽ gật đầu như ra hiệu hiểu rằng gã cũng nghĩ như vậy. Và rồi gã hỏi Xaac về “Đấng Cứu Thế” bị hành hình. Gã đã được nghe nhiều chuyện kỳ lạ về con người đó. Có đúng là Ngài đã tình nguyện chịu hành hình? Và đã chết cái chết nhục nhã của một tên nô lệ? Và sau sự kiện đó - Ngài được tôn kính gọi là Chúa? Đúng là kỳ diệu, nói thật - rất kỳ diệu… Và vì sao gọi Ngài là Đấng Cứu Thế. Một cái tên kỳ lạ đối với Chúa… Nó có nghĩa là gì?... Ngài cứu vớt chúng ta ư? Cứu vớt linh hồn chúng ta ư? Sao lại kỳ lạ thế?... Thế còn vì sao?

Xaac đã cố gắng giải thích cho hắn rõ. Và gã cai đã chăm chú nghe, mặc dù qua những lời nói lầm lẫn, khó hiểu của một nô lệ ngu đần thì chỉ có thể lượm được không nhiều. Đôi lúc gã cai chỉ lắc đầu. Nhưng gã luôn luôn nghe một cách chăm chú tựa như những lời nói chất phác này đối với gã là cực kỳ quan trọng. Cuối cùng gã nói rằng - thật là tai họa vì có nhiều loại Chúa lắm - không trốn đâu cho thoát được. Và vì sự bình yên của mình tất thảy mọi người được đều phải chịu hy sinh.

Xaac đáp rằng - Người bị hành hình không đòi hỏi có hy sinh. Ngài chỉ đòi hỏi bạn hãy hy sinh chính bản thân mình.

- Chính mình ư? Vậy nó thế nào? Điều đó nghĩa là gì?

- Để anh hy sinh bản thân mình trong lò lửa vĩ đại của Ngài.

- Trong lò lửa của ông ta?...

Gã cai lắc đầu.

- Mày là một tên nô lệ ngu dốt, - sau đó gã nói, - và mày nói theo suy nghĩ của mình. Sao lại có những trò viển vông đó? Mày kiếm đâu ra những trò nhảm nhí đó?

- Tôi đã được nghe những lời đó của gã nô lệ người Hy Lạp, - Xaac nói. - Gã lúc nào cũng nói như thế. Còn chính tôi thì không biết chính xác nó nghĩa là gì…

- Ra thế. Vậy không một ai biết. Hy sinh thân mình… trong lò lửa của ông ta… trong lò lửa của ông ta…

Và, làu bàu gì đó mà cả hai người đều không nghe rõ, gã mất hút trong làn ánh sáng mờ ảo giữa những cây đèn dầu thưa thớt như chìm nghỉm trong lòng đất.

Xaac cùng Barabbas cứ suy nghĩ mãi về sự kiện khó hiểu này. Tất cả đều kỳ lạ tới mức không thể hiểu nổi. Làm thế nào mà con người đó lại hiện diện nơi đây? Chẳng lẽ gã là một tên cai bình thường? Mà còn gặng hỏi về người bị hành hình - về Đấng Cứu Thế nữa? Không, không thể tin được. Song, tất nhiên, cả hai cùng vui mừng vì đã gặp chuyện đó.

Từ đó gã thường hay dừng lại nói chuyện với Xaac. Gã không bao giờ nói với Barabbas. Còn Xaac thì gã cứ liên tục đề nghị kể chuyện về Chúa của mình, về cuộc sống của Ngài, về những điều kỳ diệu và về học thuyết kỳ lạ đó: phải thương yêu nhau. Và một lần gã nói:

- Từ lâu tao có ý nghĩ là tao có nên cùng một lúc tin vào cả Chúa này lẫn Chúa kia hay không. Song làm sao tao có thể tin được ông ta? Làm sao có thể tin được tất cả những điều kỳ lạ đó? Và làm sao một ông cai như tao lại có thể cúi lạy một tên nô lệ bị hành hình?

Xaac đáp rằng, đúng thế, Chúa của anh ta đã chết cái chết của một nô lệ, nhưng trên thực tế Ngài là Chúa đích thực. Là Chúa duy nhất. Và nếu tin vào Người, ta sẽ không còn tin vào ai khác nữa.

- Chúa duy nhất! Và đã bị hành hình như một tên nô lệ! Làm sao có thể được! Một Chúa duy nhất - và lại bị hành hình!

- Phải, - Xaac nói. - Đúng là có như thế.

Gã cai nhìn anh ta lòng vô cùng phân vân và không nói được gì. Và theo thói quen gã lắc đầu bỏ đi và lại mất hút trong màn đen của hầm lò.

Hai người cứ đứng yên và nhìn theo bóng gã. Kia, gã thấp thoáng bên cây đuốc gần nhất rồi hoàn toàn biến mất trong đêm tối.

Còn tên cai thì cứ đi và nghĩ hoài về vị Chúa không hay biết gì - càng nghĩ đến người càng thấy xa vời hơn. Thế nhỡ đột nhiên Ngài là vị Chúa duy nhất? Và chỉ phải cầu nguyện có Ngài thôi - duy nhất có Ngài? Thế nhỡ đột nhiên cả thế gian chỉ có một Chúa duy nhất toàn năng - vị Chúa Tể của bầu trời và mặt đất truyền bá luật lệ của mình ở khắp mọi nơi, thậm chí ngay tại trong lòng đất này? Luật lệ kỳ diệu tới mức không thể nào hiểu nổi… “Hãy thương yêu nhau”… “Hãy thương yêu nhau”… Không, không có khả năng hiểu được…

Gã dừng lại trong khoảng tối giữa hai cây đèn dầu để ngẫm nghĩ đến nơi đến chốn. Vừa đúng lúc gã nảy ra ý nghĩ gã cần phải làm gì. Cần phải giải thoát tên nô lệ có lòng tin vào Đấng Chúa Trời xa lạ, đưa nó ra khỏi hầm lò - nơi tất cả sẽ bị chết dần chết mòn và đưa sang làm một công việc khác, trên mặt đất, dưới bóng mặt trời. Gã không hiểu được cả vị Chúa này, cả học thuyết của Ngài, không thể nào hiểu nổi những điều đó, song gã sẽ giải thoát tên nô lệ. Chẳng khác gì Chúa đã sai khiến gã làm như vậy.

Và ngay trong lần đầu tiên lên mặt đất, gã đến thẳng chỗ tên cai quản lý toàn bộ nô lệ làm việc trên các vùng đất thuộc khu mỏ. Tên này, một người có bộ mặt nông dân sáng sủa nhưng đôi môi dày ướt nhèm, - sau khi nghe xong, ra hiệu cho thấy gã không mong chờ điều đó, gã không cần một tên nô lệ từ hầm lò lên. Thực ra gã đang rất thiếu nô lệ, đặc biệt vào giai đoạn phải cày bừa, bởi vì không đủ bò kéo. Tuy thế, không được, gã sẽ không nhận kẻ nào từ dưới lòng đất lên. Bọn đó chẳng có ích lợi gì, không chờ đợi được gì ở chúng, hơn nữa các nô lệ khác không muốn giao thiệp với chúng, vậy trên mặt đất này chúng có thể làm được gì. Và dù sao cuối cùng gã cũng nhượng bộ tên đàn anh - thật lạ là tên này có thể sắp xếp mọi việc theo ý mình. Và tên cai lớn tuổi trở lại hầm lò.

Ngày hôm sau gã nói chuyện với Xaac về Chúa của anh ta lâu hơn bình thường. Rồi sau đó nói với Xaac về quyết định của gã đối với anh ta. Xaac chỉ cần đến gặp viên gác đứng ở cửa hầm lò, và anh ta sẽ được tháo gông và giải thoát khỏi người nô lệ thứ hai. Sau đó Xaac sẽ được đưa lên mặt đất và dẫn tới gặp viên cai từ nay sẽ chỉ huy công việc của Xaac.

Xaac chằm chằm nhìn tên cai không tin vào tai mình. Chẳng lẽ đây là sự thật chính Chúa của Xaac đã ra lệnh như vậy để thực thi ý nguyện của Ngài.

Xaac áp hai tay vào ngực và đứng ngây ra không thốt nên lời. Nhưng sau đó anh ta nói rằng không thể xa rời người bạn tù - bởi vì họ có chung một Chúa, một niềm tin.

Tên cai rất sửng sốt và nhìn Barabbas.

- Một niềm tin à? Với tên này? Nhưng mà nó không bao giờ quỳ gối, không cầu nguyện!

- Vâng, - Xaac đáp. - Có thể là như thế. Nhưng anh ấy còn thân thiết hơn với Chúa đấy. Anh ấy đã được đứng bên Ngài, bên cây thập ác khi Ngài chịu đau khổ rồi qua đời. Và đã nhìn thấy vầng hào quang bao bọc Ngài, đã nhìn thấy thiên thần lửa hất phiến đá khỏi quan tài để cứu Chúa ra khỏi cõi chết. Đó là anh ta đã mở mắt cho tôi thấy chiến thắng của Ngài.

Tên cai chỉ lắc đầu và liếc nhìn Barabbas - con người có vết sẹo trên má, kẻ không bao giờ nhìn thẳng vào mặt người khác, và bây giờ cũng quay mặt đi. Chẳng lẽ tên này cũng thuộc về Chúa của Xaac? Có thể thế không? Không được, gã không thích tay Barabbas này.

Và gã hoàn toàn không muốn giải thoát tên nô lệ này khỏi mỏ. Nhưng Xaac đã nhắc lại:

- Tôi không thể rời xa anh ấy.

Tên cai làu bàu điều gì đó và liếc mắt nhìn Barabbas rất lâu. Cuối cùng gã bất đắc dĩ đồng ý để mọi việc diễn ra như mong muốn của Xaac: để hai người được ở bên nhau. Còn gã thì bỏ đi, về với sự cô đơn của gã.

Và thế rồi vào thời khắc quy ước Xaac cùng Barabbas đến chỗ tên gác cửa, họ được tháo khỏi gông xiềng và đưa ra khỏi hầm lò. Và khi lên tới mặt đất, họ nhìn thấy mặt trời đang tỏa sáng trên các dãy núi - từ đó thoang thoảng mùi hoa lavan[1] và mia[2], nhìn thấy màu xanh của mùa xuân trên các thung lũng và cả biển cả xa, Xaac quỳ xuống và kêu to lên hết cỡ vì sung sướng:

- Ngài đã ở nơi đây! Ngài ở nơi đây! Hãu nhìn xem - kia kìa, đó là thế giới của Ngài!

Gã hầu được phái đến đón họ thắc mắc nhìn Xaac rồi khẽ đạp chân thúc anh đứng dậy rồi nói:

- Nào, đi thôi.

***

Hai người được ghép vào một chiếc cày vì trước đó đã bị cùm với nhau và, giống như hai con bò thiến đã quen với nhau rồi. Hai con người gày còm, thảm thương tóc bị cạo một nửa, họ thật sự là mẫu chế nhạo đối với các nô lệ khác. Ngay lập tức thấy rõ họ từ đâu tới. Song một trong số họ đã nhanh chóng lại sức, bẩm sinh anh là người khỏe mạnh, và hai con người này đã bắt đầu làm tốt công việc. Gã cai không phàn nàn về họ: còn đòi hỏi gì hơn ở lũ từ dưới lòng đất lên.

Bản thân họ cũng đầy lòng biết ơn vì đã được như vậy. Mặc dù họ buộc phải lao động như gia súc canh tác, từ sáng đến tối, song tất cả đã không còn như trước đây. Nhìn thấy ánh sáng trời, được thở bầu không khí tự do, chỉ điều đó thôi cũng là niềm vui rồi. Và họ không thể không vui sướng khôn xiết dưới nắng trời, mặc dù những tấm thân còm nhom của họ đầm đìa mồ hôi vì nắng mà còn bị đối xử như súc vật và, nói chung, cũng không khá hơn trước kia. Chiếc roi da vẫn vun vút trên đầu họ hệt như dưới hầm lò, và đặc biệt vút vào Xaac - sức anh ta kém hơn Barabbas. Dù sao họ cũng đã trở về với cuộc sống, họ được sống như mọi sinh linh đang sống trên mặt đất chứ không phải trong lòng đất - nơi màn đêm là vĩnh cửu. Hết sáng lại tới chiều, ngày qua rồi đêm tới, và họ đã được nhìn thấy tất cả và vui mừng với tất cả.

Tuy nhiên cái thế giới của Chúa còn chưa xuất hiện - điều này thì họ hiểu.

Dần dần các nô lệ khác cũng quen với họ, không còn con mắt coi họ như những con thú hoang dại nào đó. Tóc họ đã mọc dài, họ đã trở nên cũng như mọi người khác, không còn bị những người khác chú ý. Mà nói chung - điều tuyệt vời ở họ không phải là vì họ đã từng ở dưới địa ngục mà là đã có thể thoát khỏi đó. Vì điều đó ngay từ đầu đã làm những người khác tò mò và thậm chí khâm phục một cách bất đắc dĩ - không ai muốn thừa nhận điều này. Nhưng mọi người đã uổng công cố tìm hiểu xem họ đã thoát khỏi địa ngục như thế nào. Và luôn luôn im lặng, cả hai dứt khoát khước từ giãi bày về sự kiện kỳ diệu xảy ra với họ. Họ là những con người kỳ lạ, xa lánh tất cả và bao giờ cũng chỉ có hai người với nhau.

Mà giờ đây không cần thiết phải như vậy. Chiếc xích chung không còn giam giữ họ lại. Giờ đây họ có thể kết giao với ai tùy ý, họ hoàn toàn không cần phải nằm ngủ cạnh nhau và cùng ăn bên nhau. Vậy mà, vẫn như trước kia, họ luôn đi bên nhau như không thể tách rời nhau được.

Và điều đó còn kỳ lạ hơn ở chỗ họ đã thấy khốn khổ vì nhau, thấy rất khó nói chuyện với nhau. Họ cư xử như không tách rời nhau mặc cho có nhiều cái đã chia rẽ họ.

Thật vậy, lúc lao động họ buộc phải ở cạnh nhau, cùng vai kéo cày. Song khi công việc kết thúc họ có thể giao tiếp với những người khác. Mặc dù, nếu nhớ lại, họ đã từng cảm thấy mình là những con người xa lạ giữa đám nô lệ này, có thể, cũng không thật lạ lùng đến như vậy khi họ tỏ ra tách biệt… Mà họ thì đã quá quen với nhau, quen với xiềng xích dù nó không còn ràng buộc họ. Khi tỉnh giấc giữa đêm khuya, phát hiện ra không còn bị xích nữa mỗi người gần như thấy hoảng sợ khi chưa thấy bạn mình ở bên cạnh. Và khi thấy bạn rồi thì mới yên tâm.

Thử ngẫm xem Barabbas đã trải qua những gì! Khiến anh gặp phải chuyện này! Hết sức khó hiểu! Với ai thì tùy, riêng với Barabbas thì hoàn toàn không cần phải kết giao chặt chẽ với ai nữa. Mà anh thì đã được ràng buộc - không cần hỏi - bằng một loại trụ sắt. Và dù cho trụ sắt này không còn nữa - nó như vẫn còn bám trong con người anh. Mà anh đã giật nó ra, tất nhiên, anh muốn thoát khỏi nó…

Xaac thì lại không muốn thoát ra. Ngược lại, anh ta đau khổ vì hai người không còn thân thiết như trước. Và tại sao? Chuyện gì đã xảy ra chứ?

Họ không bao giờ đả động đến chuyện họ thoát khỏi hầm lò một cách kỳ diệu - thoát khỏi cõi chết. Những ngày đầu có nói qua quýt, sau đó im bặt. Khi đó Xaac nói rằng Chúa Cứu Thế - Con Trai Chúa Trời đã giải thoát họ. Đó là điều hiển nhiên… Vấn đề thật rõ ràng… mặc dù, nói chung, té ra đúng là Chúa Cứu Thế - Con Trai Chúa Trời đã giải thoát Xaac, và Xaac đã cứu Barabbas. Đúng thế? Đúng sự việc là như thế ư?

Phải, tốt nhất không nghĩ đến chuyện đó nữa.

Tất nhiên, Barabbas đã cám ơn Xaac về việc anh ta đã cứu thoát anh. Thế còn Chúa anh đã cám ơn rồi? Có lẽ, đã cám ơn rồi ư? Nhưng không thể nói gì chính xác được. Ai biết được anh ta, Barabbas…

Xaac thấy buồn là hoàn toàn không biết về Barabbas, con người anh ta đã yêu quý. Anh ta thấy đau khổ vì không còn được cầu nguyện chung với anh nữa như hồi ở nơi đó trong hầm lò, ở cõi âm ty. Mà Xaac lại muốn có điều đó biết bao! Song anh ta không trách cứ Barabbas. Chỉ đơn giản anh ta không thể hiểu gì hết.

Mà trong con người Barabbas đầy rẫy những cái khó hiểu. Tuy nhiên Barabbas đã chứng kiến Chúa Cứu Thế đã chết ra sao và Ngài đã phục sinh từ cõi chết ra sao. Và đã nhìn thấy vầng ánh sáng từ ngoài trái đất bao quanh Ngài. Dù cho hai người không bao giờ còn đề cập đến chuyện này…

Xaac đau khổ - nhưng không vì bản thân mình. Cái bộ mặt khô khốc đen nhẻm đen nhèm vì nắng dưới mái tóc trắng như tuyết của anh ta đầy những vết loang lổ vì bị các tia lửa lò đúc bắn vào, cái thân hình còm nhom đầy vết hằn roi vọt của tên cai. Tuy thế anh ta không đau khổ vì bản thân. Ngược lại, anh ta là con người hạnh phúc. Đặc biệt sau khi Chúa sáng tạo ra điều kỳ diệu đó cho anh, cứu thoát lên mặt đất, được thấy mặt trời và đến với những cây hoa kèn đồng nội mà chính Ngài hồi nào đó đã nói đến một cách đẹp đẽ.

Và anh ta đã sáng tạo điều kỳ diệu như thế cho Barabbas. Nhưng Barabbas lại nhìn cái thế giới hiện tại bằng con mắt lo âu và không ai biết được anh đang nghĩ gì.

Thời gian đầu ở trên mặt đất hai người đã sống như vậy.

Khi kết thúc vụ cầy xuân, họ được đưa tới làm việc nơi bánh xe nước - nó phải được đưa vào hoạt động khi mùa nóng bắt đầu để không đâu bị khô cạn. Cũng là một công việc nặng nhọc. Về sau, khi mùa gặt kết thúc họ được đưa tới máy xay bột cách không xa ngôi nhà của ông chủ Roma trong cùng một dãy với các công trình khác - tất cả cùng với xóm thổ dân thưa thớt tạo nên gần như một thị trấn sát cảng biển. Thế là họ đã ở ngay bờ biển.

Ở nơi đó, chỗ máy xay bột, họ đã kết giao với một người lùn một mắt.

Đó là một nô lệ người lùn, chắc nịch, đầu cạo trọc, bộ mặt đen xạm đầy nếp nhăn và cặp môi khô khốc. Một con mắt lành của anh ta nhìn vẻ lấm lét, mắt kia bị khoét vì anh ta đã lấy trộm mấy túi bột. Cũng vì tội lỗi đó anh ta phải đeo trên cổ một chiếc ách to bằng gỗ. Anh ta có nhiệm vụ làm đầy các túi bột rồi vác tới kho chứa, và cả trong cái công việc giản đơn này, cả cái mặt chuột đen xạm lẫn cái thân hình ngắn ngủi đều không có nét gì đáng chú ý. Ấy vậy mà mọi người lại để ý đến anh ta nhiều hơn so với các nô lệ khác, không rõ vì sao, có thể vì cứ thấy anh ta là tất thảy đều trở nên lúng túng và ghê tởm. Bất cứ lúc nào cũng có thể nói ngay rằng có mặt anh ta hay không có tại đó, và bằng tấm lưng bạn có thể cảm nhận được cái nhìn một mắt của anh ta. Ít ai bắt gặp được cái nhìn của anh ta.

Anh ta không hề để ý đến hai “lính mới”, có lẽ là không nhìn thấy họ. Cũng không ai nhận ra nụ cười khinh miệt lúc anh ta quan sát hai con người này bị đặt vào kéo chiếc cối xay nặng nhất. Cũng có thể, đơn giản là không ai hiểu làn môi khô khốc xám xịt đó méo xệch đi biểu thị một nụ cười. Cối xay đá có bốn chiếc, và mỗi cái có hai nô lệ làm việc. Ở đây con người làm thay cho lừa, bởi vì không có nhiều lừa mà người thì lại dư thừa, nuôi sống cũng rẻ hơn nhiều. Nhưng Xaac và Barabbas cho rằng ăn uống ở đây hầu như phong phú hơn so với mức hai người được nuôi trước kia, và nói chung ở đây họ sống “sướng” hơn nhiều mặc dù làm việc vẫn nặng nhọc. Tên cai - một gã béo mập và uể oải cư xử với hai người không tồi tệ, cơ bản gã chỉ đi đi lại roi vắt qua vai, ít khi dùng nó đánh người. Chỉ có ông già mù chân đứng không vững là đôi khi bị gã vụt.

Bên trong nhà xay bột tất cả đều trắng một màu bột, qua thời gian bột đã bám đọng khắp các chỗ: trên nền, trên tường, cả trên mạng nhện bám dưới trần. Ngay không khí cũng sặc bột xay cùng tiếng ầm ầm nặng nề của cối đá khi cả bốn chiếc cùng hoạt động. Tất cả đều làm việc không quần áo che thân, chỉ có gã một mắt được cuốn mảnh bao tải che kín đùi là sục sạo trong nhà xay như con chuột cống. Vì chiếc ách gỗ mà có cảm giác gã đã bị tóm cổ, vậy mà lại thoát ra được. Mọi người nói, gã ăn bột luôn từ bao tải khi chỉ còn một mình gã trong kho, mặc dù cái ách rõ ràng cản trở gã. Và hầu như gã ăn bột xay không phải vì đói, mà vì tính ngang ngạnh, bởi vì - nếu bị bắt gã sẽ bị khoét lỗ mắt còn lại và sẽ bị đưa vào làm ở cối xay giống như ông già mù nọ, mà công việc này thì sức gã không cho phép và còn khủng khiếp hơn cả màn đêm vĩnh cửu đang chờ đợi gã, nếu như gã lại bị sa lưới vì tội ăn cắp. Có điều - đúng là thế hay không - ai là người biết gã…

Không đâu, hai “lính mới” không làm gã bận tâm cho lắm. Gã chỉ liếc mắt theo dõi hai con người này - giống như lúc nào cũng theo dõi những người khác, và gã chờ đợi điều gì sẽ xảy ra tiếp đó, nhưng gã không có gì đặc biệt chống lại hai người. Đặc biệt không có gì. Gã nghe nói, hai con người này từ dưới lòng đất lên, mà gã thì cho tới nay chưa gặp một ai từ nơi đó tới. Tuy nhiên gã không có gì đặc biệt chống đối những người ở trong lòng đất. Không có gì đặc biệt chống đối ai hết.

Hai con người đó đã bị xích - có nghĩa là bị những tội rất nặng, mặc dù một người hoàn toàn không hề giống loại tội phạm như vậy. Còn người kia thì rất giống và, rõ ràng, đang lo sợ rằng điều đó ngay lập tức nhận thấy. Con người đó trông thật thảm hại, còn người kia, rõ ràng, là loại đại ngốc, và làm sao họ có thể thoát khỏi hầm lò chứ? Khỏi cái địa ngục đó? Ai đã cứu họ? Đó mới là vấn đề.

Song đâu có đơn giản giải đáp được câu hỏi này. Không sao, chỉ cần biết chờ đợi, rồi mọi điều sẽ được sáng tỏ. Dù thế này hay thế khác, nhưng bao giờ cũng sẽ tìm được lời giải thích. Như người ta vẫn nói, mọi điều tự nó sẽ được sáng tỏ. Ở đây chỉ cần để mắt nhìn, thật dễ hiểu. Mà mắt thì gã vẫn có.

Và vì vậy gã đã nhận thấy cái tay gầy còm dài ngoằng có cặp mắt bò cứ tối đến lại quỳ gối cầu nguyện trong bóng tối. Vì sao lại thế? Tất nhiên, cầu nguyện Chúa, nhưng là Chúa nào? Đó là Chúa nào mà con người này phải cầu nguyện?

Gã lùn một mắt biết có nhiều loại Chúa, mặc dù gã chẳng bao giờ nghĩ tới việc cầu nguyện các vị. Còn nếu như bỗng nhiên đầu óc gã nảy ra ý nghĩ đó, tất nhiên, gã sẽ cầu nguyện như mọi người, trước các thần tượng, trong đền thờ, ở đúng chỗ của các vị. Còn tay ngốc này, hình như, nghĩ rằng Chúa của mình đang ở trong màn đêm - ngay trước mắt. Và nói với Ngài hệt như nói với ai đó đang sống - Ngài biết rõ và nhìn thấy anh ta. Thật kỳ diệu. Miệng lẩm bẩm - lẩm bẩm trong bóng tối, chân thành cầu nguyện, mà ai cũng rõ ở đây không hề có Chúa nào cả. Chỉ là sự tưởng tượng, trống rỗng.

Bạn sẽ không lưu tâm tới gì không tồn tại, tuy nhiên, từ khi gã nhìn thấy Xaac cầu nguyện, gã liền hỏi Xaac về vị Chúa đặc biệt của anh. Và Xaac đã giải thích rõ ngọn ngành cho gã. Anh ta nói rằng Chúa của anh ta ở khắp mọi nơi, có trong bóng tối cũng thế. Có thể đề nghị Ngài tới nếu muốn, và bạn sẽ cảm thấy rằng đấy - Ngài ở bên bạn. Đúng thế, tới khi thậm chí bạn còn cảm thấy Ngài ở trong tâm khảm bạn - và điều đó còn hạnh phúc hơn tất cả. Gã một mắt đáp rằng Chúa của Xaac đúng là một vị đặc biệt thế nào ấy.

- Đúng vậy, - Xaac nói:

Gã một mắt như đã cân nhắc kỹ điều Xaac nói với gã về vị Chúa vô hình nhưng có lẽ, rất mạnh mẽ, sau đó lại hỏi, liệu có phải vị Chúa đó đã đưa hai người thoát khỏi hầm lò không.

- Đúng, - Xaac nói. - Chính là Ngài.

Và còn nói thêm rằng Ngài là Chúa của tất cả những người bị áp bức và Ngài sẽ giải thoát tất cả nô lệ khỏi xiềng xích. Xaac cũng muốn thuyết giáo về niềm tin của mình, và vì giờ đây mọi người đã há hốc miệng nghe anh ta nói.

- Vậy sao? - gã một mắt hỏi.

Xaac càng thấy tin tưởng hơn về việc gã nô lệ lùn tịt này - một kẻ không cần cho ai hết, kẻ đã bị khoét một mắt - cần phải được nghe về chuyện anh ta được giải thoát ra sao - kể cả mọi người nữa, rằng anh ta - Xaac - có nhiệm vụ khai trí cho gã - đó là ý muốn của Chúa. Và anh ta nói hoài nói mãi với gã lùn về Chúa, mặc dù Barabbas đã liếc mắt nhìn họ và, hình như, có ý phê phán. Và thế rồi một hôm, khi đã làm xong công việc, họ ngồi với nhau nơi cối xay, Xaac đã thổ lộ cho gã một mắt về bí mật của mình, cho gã xem dấu chữ trên tấm thẻ. Nói chung, gã một mắt đã đề nghị gọi tên vị Chúa vô hình cho gã - tất nhiên, nếu như anh ta được phép nói, - và thế là Xaac đã nói tên, và để chứng minh sức mạnh và sự vĩ đại của Chúa anh ta đã cho gã xem những dấu chữ bí mật chỉ tên Chúa thiêng liêng. Gã một mắt rất thích thú ngắm nghía dấu chữ và nghe Xaac kể chuyện về gã nô lệ người Hy Lạp đã khắc các dấu chữ đó và hiểu rõ nổi nét chữ có nghĩa gì. Cần phải hiểu các dấu hiệu của Chúa!

Xaac còn một lần nữa nhìn dấu chữ và lật lại mặt tấm thẻ. Rồi, áp tấm thẻ vào ngực, hoàn toàn sung sướng, anh ta nói rằng anh ta là nô lệ của Chúa, rằng anh ta thuộc về Chúa!

- Ra thế, - gã một mắt nói.

Sau đó gã hỏi Xaac về người bạn thoát khỏi hầm lò. Mặc dù trên thực tế gã thấy kỳ lạ về việc họ có chung một Chúa và một niềm tin, vậy mà gã tội phạm có vết sẹo ở má lại không bao giờ cầu nguyện. Xaac và gã chột còn nói chuyện mãi về vị Chúa kỳ diệu, và Xaac cảm thấy mình và gã một mắt đã hiểu nhau. Rất hay là anh ta đã bộc lộ cho gã một mắt biết bí mật lớn lao của mình, rõ ràng, đó là chính Đức Chúa Trời đã khuyên bảo anh ta.

Ở nhà xay bột tất thảy mọi người đều sửng sốt về việc một buổi sáng nọ tay cai công bố rằng ngày hôm đó, vào giờ quy định đích thân Ngài thống sứ gọi Xaac và Barabbas lên gặp. Hiện tượng này chưa hề xảy ra, ít nhất theo trí nhớ của tay cai, và y cũng sửng sốt không kém gì những kẻ khác và không thể hiểu ra làm sao cả. Hai tên nô lệ thảm thương được gọi tên gặp chính Ngài thống sứ Roma! Tên cai được lệnh dẫn họ đi, và thậm chí y thấy run run: trước đó chưa bao giờ y được nhìn thấy Ngài thống sứ ở gần như vậy. Mặc dù trong việc này y - viên cai - chẳng là cái thớ gì hết, y chỉ có nhiệm vụ dẫn họ đến nơi cần thiết.

Tới giờ quy định họ lên đường, cả nhà xay bột nhìn theo gót ba người, kể cả gã lùn giống con chuột cống không hề biết mỉm cười - môi gã đã khô khốc - gã cũng nhìn theo gót ba người kia bằng con mắt duy nhất của mình.

Giá như không có người dẫn đường Xaac và Barabbas tất nhiên đã lạc lõng trong các ngõ ngách chật hẹp, bởi họ không hề biết nơi này. Và họ đã đi theo viên cai, cố giữ cự ly gần, cạnh nhau như trước kia. Tựa như hai con người này lại được cùm chung một dây xích.

Tên nô lệ da đen cao to một chân bị xích bên ô cửa gỗ tuyết tùng chạm trổ để cho họ đi vào ngôi nhà lớn. Ngay sau cánh cửa tại hành lang cột có mái che y chuyển giao họ cho viên bảo vệ - viên này dẫn họ qua khoảng sân đầy nắng đến một phòng kích thước trung bình cửa nhìn ra khoảng sân này. Và tại đó bỗng nhiên họ dừng lại ngay trước Ngài thống sứ Roma.

Cả ba cùng quỳ rạp xuống, trán chạm sàn nhà - gã cai đã căn dặn kỹ Xaac và Barabbas như vậy, mặc dù hai người cho rằng quỵ lụy như vậy trước một kẻ cũng chỉ vẻn vẹn là một con người thì không tốt. Và chỉ khi được ra lệnh họ mới dám đứng lên. Ngài thống sứ Roma ngã người thoải mái trên chiếc ghế đệm ở đầu kia căn phòng ra hiệu gọi họ tiến sát lại, và họ sợ sệt tiến lại gần ông ta vừa đi vừa quan sát Ngài thống sứ. Ông ta người chắc khoẻ, tuổi độ sáu mươi, bộ mặt to bự nhưng cương quyết, cằm bạnh và ngay lập tức thấy rõ, có cái miệng quen ra lệnh. Cặp mắt nhìn sắc sảo, đeo bám không bộc lộ sự hận thù trực diện. Lạ thật, nhưng con người Roma này không có nét gì đe doạ cả.

Trước hết ông ta hỏi tỉ mỉ viên cai những tên nô lệ này sống thế nào, có hài lòng về bọn chúng không. Viên cai ngắc ngứ đáp rằng có, gã hài lòng về hai tên nô lệ này, và còn bổ sung phòng mọi trường hợp rằng nói chung gã không dung thứ cho bọn nô lệ. Không hiểu Ngài chỉ huy cao cấp có đánh giá đúng sự mẫn cán đó hay không, Ngài chỉ khẽ liếc nhanh tấm thân phì nộn và khẽ hất tay ra hiệu cho viên cai lui. Viên cai không phải chờ lần thứ hai và nhanh chóng lui ra. Gã vui mừng đến mức do vội vã thậm chí quay lưng về phía Ngài thống sứ.

Còn ông ta thì bận với Xaac và Barabbas - bắt đầu xét hỏi họ, xuất xứ từ đâu, vì tội lỗi gì bị kết án và đã thoát khỏi hầm lò như thế nào, ai ra lệnh đó. Và ông ta luôn luôn thân thiện nói với họ. Sau đó ông ta đứng dậy và đi đi lại lại trong phòng, và thật kỳ lạ - ông ta là người to cao. Ông ta tiến lại bên Xaac, cầm lấy tấm thẻ của anh ta, ngắm nghía rồi hỏi Xaac: có biết tấm thẻ này khắc gì không. Xaac đáp: đó là dấu của nhà nước Roma.

Ngài chỉ huy gật đầu, nói rằng đúng thế, và như vậy, Xaac là người của quốc gia. Sau đó ông ta lật mặt kia tấm thẻ lên xem đầy vẻ thích thú, mặc dù không hề đặc biệt sững sốt, quan sát kỹ các dấu chữ bí mật trên mặt tấm thẻ.

- Giêsu Kitô... - ông ta đọc, và Xaac cùng Barabbas hết sức ngạc nhiên về việc ông ta đã hiểu được các dấu chữ thần bí và cái tên thiêng liêng của Chúa.

- Người đó là ai? - ông ta hỏi.

- Chúa của tôi ạ, - Xaac đáp, giọng anh ta hơi run.

- Ra thế. Hình như, ta chưa hề được nghe thấy tên ông ta. Nhưng có nhiều Chúa, nhớ sao hết được. Ông ta là Chúa của quê mày à?

- Không phải, - Xaac đáp, - Ngài là Chúa của tất cả mọi người ạ!

- Của tất cả à? Sao lại thế? Cũng hay đấy. Ấy vậy mà ta chẳng hạn, ta không hề nghe nói về ông ta. Có thể nói, ông ta biết che giấu danh tiếng của mình một cách khôn khéo đấy.

- Dạ, - Xaac nói.

- Chúa của tất cả mọi người. Nghĩa là, ông ta có sức mạnh không nhỏ. Sức mạnh của ông ta thể hiện ở đâu?

- Trong tình yêu ạ.

- Trong tình yêu ư?... Hừm, mà tại sao lại không! Thôi được, ta không can thiệp vào, cứ việc tin như mày muốn. Có điều mày phải trả lời, tại sao mày mang tên ông ta trên tấm thẻ của mày?

- Bởi vì tôi thuộc về Chúa ạ, - Xaac đáp và giọng lại hơi run.

- Sao lại thế? Thuộc về ông ta? Bằng cách nào? Chẳng lẽ mày không phải là người của quốc gia như đã ghi bằng dấu này? Chẳng lẽ mày không phải là nô lệ quốc gia à?

Xaac không nói gì, chỉ đứng nhìn sàn nhà.

Cuối cùng Ngài thống sứ nói - mà hoàn toàn không giận dữ:

- Nhưng mày phải trả lời. Ta cần phải làm sáng tỏ, mày hiểu chứ! Vậy là, mày có phải thuộc quốc gia không? Nói!

- Tôi thuộc về Đức Chúa của tôi ạ, - Xaac đáp mặt không ngẩng lên.

Ngài thống sứ đứng nhìn anh ta. Sau đó Ngài nâng cằm anh ta lên và ngắm nghía bộ mặt xạm đen vì lửa lò đúc. Ông ta không nói gì và sau khi nhìn thấy cái mình muốn, bỏ tay nơi cằm Xaac ra.

Rồi ông ta tiến đến bên Barabbas và, lúc này sau khi lật tấm thẻ của anh, hỏi:

- Còn mày? Mày cũng tin vào ông Chúa yêu thương đó chứ?

Barabbas không nói gì.

- Thế nào? Mày có tin hay không?

Barabbas lắc đầu.

- Không à? Vậy tại sao mày để tên ông ta trên tấm thẻ của mày?

Và Barabbas lại im lặng.

- Ông ta có phải là Chúa của mày hay không? Có phải dấu chữ nghĩa là thế không?

- Tôi không có Chúa, - cuối cùng Barabbas nói khẽ tới mức hầu như không nghe rõ. Nhưng Ngài thống sứ Roma và cả Xaac đều nghe thấy.

Và sau những lời không thể tưởng tượng nổi đó Xaac nhìn Barabbas đầy vẻ chán chường, đau đớn và băn khoăn, và cặp mắt Xaac đã đâm thẳng vào nội tâm Barabbas, xuyên suốt qua con người anh, mặc dù lúc đó anh lại không hề nhìn Xaac.

Ngài thống sứ Roma cũng ngạc nhiên.

- Ta không hiểu, - ông ta nói, - Vậy thì “Giêsu Kitô” trên tấm thẻ của mày dùng để làm gì?

- Bởi vì tôi cũng muốn có niềm tin, - Barabbas đáp mắt vẫn không ngẩng lên.

Ông ta nhìn anh, nhìn khuôn mặt trống trơn có vết sẹo dưới mắt, khoé miệng thô kệch cứng cỏi vẫn còn giữ nguyên được sức mạnh trước đây của Barabbas. Khuôn mặt không còn biểu cảm, mà vị tất đã phát hiện ra sự biểu cảm đó trên khuôn mặt Barabbas nếu cũng nâng cằm anh lên mà nhìn. Tuy nhiên, ông ta còn chưa có ý nghĩ đó đối với tên nô lệ này. Tại sao? Chính ông ta cũng không biết.

Ông ta lại quay sang phía Xaac:

- Mày có hiểu thấu những gì mày vừa nói dối hay không? Vì mày dám chống lại Kêxa, hả? Mày có hiểu không, là Kêxa cũng là Chúa, mà mày thuộc về Ngài, dấu của Ngài có trong tấm thẻ của mày không? Vậy mà mày dám mở miệng nói là mày lại thuộc về một Chúa vô hình khác, mà lại còn khắc tên ông ta trên tấm thẻ của mình để chứng tỏ mày là của ông ta, chứ không thuộc về Kêxa. Thế nào, đúng vậy không?

- Vâng ạ, - giọng không tự tin Xaac đáp, nhưng đã bớt run.

- Và mày vẫn giữ nguyên quan điểm đó?

- Vâng ạ.

- Thế mày có hiểu vì tội đó mày sẽ đón cái gì không?

- Vâng. Tôi hiểu ạ.

Ngài thống sứ im lặng. Ngài suy ngẫm về vị Chúa đó của lũ nô lệ, phải nói thật - Ngài đã được nghe về ông ta, thiên hạ bàn tán rất nhiều về vị Chúa này trong thời gian qua - một kẻ điên cuồng người Giêruxalem đã chấp nhận cái chết nhục nhã của một tên nô lệ. “... Phá tan mọi xiềng xích...”, “... Nô lệ của Chúa, và Người sẽ giải phóng con”... Tất thảy những điều đó không tội lỗi cho lắm nếu cân nhắc kỹ... Và những bộ mặt - như của tên này vị tất có hợp gu với một chủ nô nào đó...

- Nếu mày từ bỏ niềm tin của mình, mày sẽ sống, hiểu không? - ông ta nói.

- Không, tôi không thể, - Xaac đáp.

- Vì sao nào?

- Tôi không thể từ bỏ Chúa của tôi.

- Tội nghiệp... Ta hy vọng, mày hiểu, ta sẽ buộc phải kết tội mày ra sao chứ? Chẳng lẽ mày thật sự dũng cảm tới mức sẵn sàng chấp nhận cái chết vì lòng tin của mày?

- Điều đó không do tôi quyết định, - Xaac khẽ khàng đáp.

- Nghe không được dũng cảm cho lắm. Chẳng lẽ mày cũng không tiếc thương sinh mạng ư?

- Tiếc chứ ạ, - Xaac đáp.

- Nhưng nếu mày không từ bỏ vị Chúa đó của mày thì sẽ không có gì cứu được mày. Và mày sẽ phải giã từ cuộc sống.

- Tôi không thể từ bỏ Đức Chúa của tôi.

Ngài thống sứ nhún vai.

- Mà ta lại không thể làm được gì giúp mày, - ông ta nói rồi tiền lại bên chiếc bàn Ngài đã ngồi bên khi dẫn họ đến đây. Và Ngài khẽ nện chiếc búa nhỏ bằng ngà voi vào cái bàn thấm bằng đá hoa cương. - Mày cũng là tên điên khùng như Chúa của mình... - ông ta nói thêm, không thèm quay mặt về phía Xaac.

Trong lúc chờ tên bảo vệ tới, Ngài thống sứ đến bên Barabbas, lật tấm thẻ của anh, rút dao găm ra và dùng mũi dao cạo sạch chữ Giêsu Kitô trên tấm thẻ.

- Vì nó không cần cho mày một khi mày không tin ông ta, - Ngài nói.

Còn Xaac lúc đó lại nhìn Barabbas bằng con mắt như muốn thiêu huỷ anh bằng lửa và Barabbas không bao giờ có thể quên được cái nhìn đó.

Và thế là Xaac bị đưa đi, còn Barabbas được ở lại. Ngài thống sứ có lời khen anh về hành động có lý trí và nói rằng sẽ phải khen thưởng cho anh. Hãy đến gặp viên tổ trưởng và anh sẽ được bố trí làm công việc khác, nhẹ nhàng hơn.

Barabbas liếc nhìn nhanh Ngài thống sứ, và ông ta nhận thấy - thì ra - bộ mặt anh cũng biểu cảm, cũng có cặp mắt nhìn và cái nhìn không nguy hiểm. Lòng căm thù vẫn chất chứa trong anh và đang rung lên như đuôi mũi tên còn chưa bao giờ được bắn đi khỏi dây cung.

Và Barabbas đi thực hiện những gì được ra lệnh.

***

Khi Xaac bị tra tấn, Barabbas đứng sau bụi cây cách đó không xa để bạn anh ở trên cây thập ác không nhìn thấy. Nhưng Xaac đã bị sơ bộ tra tấn khủng khiếp tới mức chẳng còn bụng dạ nào nghĩ đến Barabbas. Anh ta bị tra tấn theo thói quen và bởi vì đám đao phủ cho rằng Ngài thống sứ như đã quên phát lệnh về việc này. Thực tế thì ông ta cũng không có lệnh tra tấn nào, mặc dù cũng không hề có ý nghĩ bãi lệnh tra tấn. Và dù sao thì mọi chuyện cũng đã diễn ra như thông lệ. Vì cớ gì tên nô lệ này bị lệnh hành hình - họ không biết, mà cũng không muốn biết cho lắm. Họ đã quen với công việc của mình.

Xaac lại bị cạo trọc nửa đầu, và tóc trắng đã nhuốm đầy máu. Bộ mặt nói chung không hề biểu cảm, nhưng Barabbas biết quá rõ con người này và anh hiểu bộ mặt đó biểu lộ cái gì nếu như còn đủ sức. Barabbas cứ nhìn và nhìn hoài bộ mặt đó bằng cặp mắt rực lửa, nếu như có thể coi cặp mắt Barabbas là rực lửa - nhưng lúc này có thể coi cặp mắt của anh là rực lửa. Và anh nhìn cái thân hình bị tra tấn rách nát - nhìn không chớp mắt, giá như anh thật muốn, không thể rời mắt nhìn, song Barabbas lại không muốn. Một thân xác còm nhom, kiệt sức, cái thân xác đó thật không hiểu làm sao có thể chất chứa sự tàn ác. Trên bộ ngực có thể đếm đủ các xương sườn bị đóng dấu lửa - dấu ấn quốc gia để biểu thị anh ta bị hành hình về tội phản bội nhà nước. Tấm thẻ đã bị tước bỏ - dù nó bằng kim loại - nhưng đã không còn cần đến nữa.

Anh ta bị hành hình ở ngoài thành phố, trên một sườn đồi nhỏ thưa thớt các khóm cây dại. Và Barabbas đứng nấp sau một khóm cây dại. Ngoại trừ Barabbas và những kẻ làm nhiệm vụ hành hình, quanh đồi không có một bóng người, không ai liên quan đến cái chết của Xaac. Thông thường nơi đây người tụ tập rất đông, đặc biệt nếu xử tội một kẻ có tội lớn. Nhưng Xaac lại không giết người, không trộm cướp, và không có ai biết anh ta là ai và đã gây ra chuyện gì.

Rồi mùa xuân lại đến, hoàn toàn giống như khi anh cùng Xaac được thoát khỏi hầm lò và Xaac đã quỳ xuống, kêu tướng lên: “Ngài đã ở đây! Ngài ở đây rồi!”

Xung quanh là những cánh đồng xanh mướt, và thậm chí trên ngọn đồi - nơi đã hành hình Xaac cũng rực rỡ hoa. Mặt trời rực chiếu trên các ngọn núi và trên biển xanh gần gần kia. Song đang là giữa trưa, nóng như thiêu đốt, và lũ ruồi lượn lờ bay thành tiếng vo ve nếu có ai xuất hiện trên ngọn đồi nhơ nhớp. Ruồi bâu lấy toàn bộ thân xác Xaac, mà anh ta thì không thể động đậy được để xua đuổi ruồi. Không, không thể coi cái chết này là cao thượng hay đáng học tập.

Ấy vậy mà không hiểu tại sao nó lại thu hút được Barabbas đến như vậy. Nó đã khống chế được anh. Cặp mắt Barabbas đã thu lấy tất thảy để ghi nhớ mãi mãi: những giọt mồ hôi lăn từ trên trán xuống và từ nách còm nhom xấu hoắm tứa ra, bộ ngực có dấu ấn cháy của Roma khẽ đung đưa như quả lắc đồng hồ, và lũ ruồi nhặng không có ai xua đuổi. Đầu ngoẹo đi, kẻ hấp hối rên rỉ rất nặng nề, đứng sau bụi cây Barabbas nghe thấy rõ từng âm thanh. Chính anh cũng đang thở rất nặng nề, ngắt quãng, và miệng cũng há hốc như người bạn từ trên cây thập ác. Thậm chí anh thấy khát nước, tất nhiên, giống như Xaac lúc này thèm uống nước. Đúng, tất thảy đều khó hiểu. Song vì hai người đã từng bị xích chung với nhau quá lâu mà. Và bỗng nhiên Barabbas có cảm giác là tất thảy đều đã bị lật tung lên, là anh lại bị xích chung với người bị hành hình.

Thế là Xaac định nói điều gì đó kia, có lẽ, để được uống nước, nhưng không ai hiểu gì hết. Ngay cả Barabbas cũng không nghe thấy dù đã căng tai ra nghe. Sự thật là anh đứng hơi xa. Nói chung, cũng có thể chạy lên đồi, - lại gần cây thập ác, gọi bạn hỏi xem anh ta muốn gì và anh - Barabbas - có thể giúp gì được không, - thêm nữa kết hợp xua đuổi ruồi. Nhưng Barabbas đã không làm gì cả. Anh vẫn đứng sau bụi cây. Anh không làm gì hết. Chỉ có đôi mắt rực lửa của anh là luôn luôn nhìn Xaac, và miệng anh cũng hé mở vì sự đau đớn của kẻ bị hành hình.

Ngay sau đó đã thấy rõ là Xaac không còn chịu đựng được lâu nữa. Anh ta thở đã yếu hơn, ngực đã không còn đung đưa và Barabbas đã không còn nghe thấy tiếng anh ta thở. Rồi tiếp đó cái bộ ngực còm nhom đã hoàn toàn bất động - có nghĩa là - Xaac đã chết. Không hề có vầng mây đen nào giữa thanh thiên bạch nhật, không có điều kỳ diệu nào hết, anh ta đã trút hơi thở cuối cùng một cách lặng lẽ, nhẹ nhàng. Những ai phải theo dõi Xaac - đều không nhận biết được gì, họ đang bận nằm và chơi xúc xắc, hệt như mọi lần - từ xửa từ xưa. Song lần này họ không bất động, không hoảng sợ vì kẻ bị câu rút trên cây thập ác đã chết. Chỉ đơn giản họ không nhận biết được gì. Chỉ một mình Barabbas nhận thấy. Và sau khi hiểu điều gì đã xảy ra, Barabbas thở hổn hển và ngã quỵ xuống như để cầu nguyện.

Chuyện lạ thật. Và tựa như Xaac đã vui mừng vì kéo được Barabbas đến chứng kiến sự kiện này. Nhưng Xaac đã chết.

Đúng là Barabbas dù có ngã quỵ xuống nhưng anh không thể cầu nguyện được. Có ai đâu chứ! Anh chỉ quỳ gối giây lát, rồi úp mặt - bộ mặt đau khổ, râu bạc trắng vào lòng bàn tay, và, có lẽ, khóc oà lên.

Đột nhiên một tên lính chửi thề sau khi nhận ra nạn nhân đã chết, cần phải hạ xác anh ta khỏi cây thập ác rồi có thể chuồn. Và họ đã tháo Xaac khỏi cây thập ác rồi bỏ đi.

Xaac đã bị hành hình như vậy và Barabbas - người được tha đã đứng và chứng kiến sự kiện này.

***

Khi Ngài thống sứ rời nhiệm sở của mình và trở về Roma để sống nốt những năm tháng cuối đời của mình, tài sản của ông ta lớn hơn của tất thảy những người cầm quyền trước ông ta trên hòn đảo, tuy nhiên những hầm mỏ và nói chung - toàn bộ tỉnh này dưới quyền ông ta đã mang lại cho quốc gia khoản thu nhập lớn chưa từng thấy. Lũ cai nhiều không đếm nổi bằng sự hăng hái, nghiêm khắc và - có lẽ, cả sự tàn bạo - đã tạo điều kiện thuận lợi đáng kể cho việc đó, nhờ thế đã giúp Ngài thống sứ lấy được tất cả những gì có thể từ thiên nhiên và vắt kiệt mọi sức lực của dân cư và nô lệ. Vậy mà bản thân Ngài thống sứ lại hoàn toàn không tàn bạo. Chính quyền của ông ta hà khắc chứ không phải bản thân ông ta. Và nếu như kết tội ông ta tàn bạo thì chỉ vì do sự dốt nát, đơn giản vì không biết ông ta. Do hoàn toàn không hay biết về ông ta, có nhiều lời đồn đại phỏng đoán về ông ta. Hàng ngàn những con người đáng thương ở dưới sâu trong các hầm lò hoặc kéo cày trên các cánh đồng kiệt sức dưới nắng trời đã cảm ơn số phận khi nghe tin ông ta chuẩn bị từ bỏ họ ra đi, do sự ngu dốt của mình họ hy vọng rằng người cầm quyền mới sẽ tốt hơn. Ngài thống sứ đã rời bỏ hòn đảo với vẻ buồn buồn và tiếc rẻ. Ông ta dã sống những năm tháng ở đây thật huy hoàng.

Ông ta đặc biệt không muốn chia tay với các công việc của mình, vì đang còn tràn trề sức lực. Song ông ta vốn là một người mẫu thanh lịch về việc này, và đã hài lòng chờ đón những niềm vui sướng đầy đủ mà Roma cùng cái xã hội tinh tế của những người bình đẳng đã hứa hẹn với ông ta. Và trong lúc bình yên nằm trên ghế đệm thoải mái trên boong thuyền có mái che ông ta thả mình trong những mơ ước nhẹ nhàng.

Ông ta có đưa đi theo mình những tên nô lệ có thể có ích cho ông ta trong các công việc riêng, và trong số này có Barabbas. Thật ra Barabbas được ông ta đưa vào danh sách chủ yếu vì tấm lòng nhân hậu, bởi lẽ một tên nô lệ ở lứa tuổi Barabbas thì lợi lộc đáng là bao. Nhưng ông thống sứ vẫn nhớ rất rõ tên nô lệ dễ thương, biết vâng lời. Đã khôn ngoan cho phép xoá tên Chúa của mình, và thế là ông ta đã quyết định đưa hắn đi theo. Ai mà có thể nghĩ rằng Barabbas sẽ lại có một người bảo trợ nhớ dai và quan tâm đến như thế.

Con tàu bơi dài ngày hơn bình thường nhiều, mãi vẫn không có gió cùng chiều, nhưng sau nhiều tuần lễ chèo thuyền không nghỉ các tay bơi chèo người đẫm máu đã đưa được con tàu đến Ôxtia, và ngày hôm sau Ngài Thống sử đã có mặt ở Roma. Ngay sau đó, cả tài sản lẫn người hầu của ông ta cũng tới đây.

Toà lâu đài mà ông ta đã ra lệnh mua nằm chính trung tâm thành phố, tại khu giàu có nhất của Roma. Lâu đài gồm mấy tầng lầu, toàn bộ được ốp lát bằng đá hoa cương nhiều màu sắc và trang trí nội thất sang chưa từng nghe thấy. Sống trong tầng hầm cùng với các nô lệ khác, Barabbas chỉ nhìn thấy toà nhà vẻn vẹn có tầng hầm này, song anh hiểu rằng ngôi nhà của ông chủ vừa giàu có lại lộng lẫy. Và điều đó đối với anh cũng hoàn toàn chẳng có nghĩa lý gì. Công việc anh được giao không nặng nhọc, những nhiệm vụ nhỏ nhặt dễ thực hiện, và sáng nào anh cũng cùng với các nô lệ khác hộ tống một người quan trọng được trả tự do điều hành nhà bếp khi người này đi mua thực phẩm. Vì thế Barabbas được ngắm Roma thỏa sức.

Nhưng có khả năng, nói đúng hơn, anh hoàn toàn không nhìn thấy Roma. Roma chỉ lấp loáng qua con mắt Baiabbas. Do phải lách qua những dòng người dày đặc theo các đường phố nhỏ chật hẹp, qua quảng trường chợ ồn ào, Barabbas nhìn thấy mọi thứ hầu như từ phía xa, như xuyên qua làn sương mù. Cái kinh đô khổng lồ ồn ào đối với anh hầu như không có thật, và anh di chuyển trên đó như mình không hiện hữu, đang đắm chìm trong những suy tư riêng. Nơi đây có những người đàn ông và đàn bà thuộc các chủng tộc khác nhau, từ các nước khác đến, và bất kể người nào khác - ngoại trừ Barabbas - đều sẽ phải sửng sốt bởi tổ kiến - người này, sự giàu có và lộng lẫy, những toà nhà khổng lồ và vô vàn các đền đài thờ đủ các Chúa - Thần, vào đó có các nhân vật nổi tiếng được khiêng bằng cáng để mỗi người cầu nguyện Chúa của mình vào giờ quy định - khi họ không bị thu hút bởi những cám dỗ được mời chào trong các quán sang trọng của các thương gia trên phố Via Xacra, hoặc là tiện nghi của các nhà tắm sang trọng. Bất kỳ người nào khác mắt cũng phải long lên ghi nhận tất cả những cảnh tuyệt diệu đó. Nhưng cặp mắt Barabbas không ghi nhận được gì, có thể là vì mắt anh ẩn nấp quá sâu, còn tất thảy những gì mắt anh nhìn đều trượt qua, đều không cần thiết và xa lạ. Đúng, tất cả những cái đó chẳng có nghĩa lý gì, với Barabbas không quan trọng. Ít nhất thì anh cũng có ý nghĩ như vậy.

Nhưng không phải cái thế giới này vô can với Barabbas đến như vậy. Bởi vì anh căm ghét nó.

Đối với Barabbas mọi cái chuyển động trên các đường phố tựa hồ như không hiện hữu: từ những nhà tư tế, những con chiên lẫn các biểu tượng linh thiêng. Là một kẻ không có Chúa, anh thấy lạ lùng là thi thoảng trên đường đi gặp họ anh phải nhường đường cho họ. Barabbas áp người vào tường và nhìn theo gót họ, liếc nhìn trộm. Có một lần anh đi theo họ và đến một đền thờ kỳ lạ thế nào đó, trước đây chưa hề thấy và anh đi vào, rồi cũng như mọi người anh đứng trước một bức tượng bà mẹ bế đứa trẻ, và khi anh hỏi bà ta là ai thì người ta nói với anh: đó là Idit ban phước cùng con trai Gor. Nhưng sau đó họ bắt đầu quan sát anh vẻ ngờ vực: kẻ này là ai mà lại không biết tên Đức Thánh Mẫu, và viên bảo vệ đền thờ đã đuổi anh ra ngoài và bên ô cửa đúc bằng đồng y làm dấu thần bí nhằm bảo vệ bản thân và đền thờ khỏi tên ngoại đạo Barabbas. Tựa hồ như y đã đoán ra là Barabbas đã được thụ thai và ra đời trong sự căm ghét tất thảy mọi sáng tạo trên mặt đất và bầu trời và căm ghét cả đấng Sáng Tạo ra bầu trời và trái đất!

Vết sẹo dưới mắt anh lại ửng đỏ, lòng căm thù run lên trong cặp mắt hoang dại, ẩn sâu như mũi tên sẵn sàng vút bay đi, và Barabbas bỏ chạy theo các đường phố, ngõ ngách. “Hãy cút đi, đồ bất lương!” Anh lầm đường, lạc lõng, và rồi cuối cùng về được tới nhà, người ta muốn trừng phạt anh, nhưng không đụng vào anh vì biết ông chủ có thiện cảm với anh. Mà họ cũng tin vào lời giải thích lắp bắp của Barabbas rằng anh đã bị lạc trong một thành phố lạ. Anh đi vào góc trong của hầm nhà dành cho nô lệ, nằm xuống đó trong bóng tối, ngực đau thắt lại, và cái tên “Giêsu Kitô” đã bị xoá như ngọn lửa đốt cháy ngực anh.

Và đêm hôm đó Barabbas mơ thấy mình bị xích chung với một gã nô lệ khác, và tên này đang nằm phủ phục ngay bên cạnh và cầu nguyện, vậy mà Barabbas lại không nhìn thấy gã.

- Mày cầu nguyện cái gì đấy? - Anh hỏi - để làm gì?

- Tao cầu nguyện cho mày, - gã nô lệ đáp từ trong bóng tối, và giọng nói của gã nghe rất quen thuộc.

Và Barabbas nằm im hơi lặng tiếng để không làm phiền gã cầu nguyện, và cặp mắt già nua của Barabbas nhòa lệ. Nhưng khi anh thức giấc và giơ tay quờ quạng quanh mình tìm dây xích thì không có dây xích nào ở bên cạnh, cũng không hề có gã nô lệ nọ. Barabbas không bị cùm chung với ai, không bị ràng buộc với ai trong thế giới này.

Một lần, khi chỉ có một mình trong căn hầm hình vòm của lâu đài, anh nhìn thấy hình một con cá được cạo vạch tại một góc sâu. Nó được tạo nên bởi một bàn tay vụng về, nhưng nó mô tả cái gì và ý nghĩa ra sao thì không còn nghi ngờ gì cả. Anh đứng và suy ngẫm, kẻ đó trong đám nô lệ ở đây là một tín đồ Kitô giáo. Sau đó anh còn suy nghĩ rất lâu về điều này và để mắt theo dõi tất cả đám nô lệ - từng tên một, cố gắng tìm ra lời giải đáp. Nhưng anh không hỏi han một tên nào hết. Không dò hỏi, không tiến hành bất cứ cuộc tìm kiếm nào. Và điều này phỏng có khó khăn gì! Nhưng anh đã không hỏi một ai cả.

Barabbas không giao tiếp với đám nô lệ còn lại, chính xác là chỉ trong trường hợp cần thiết mới tiếp xúc. Không bao giờ anh nói chuyện với ai, và vì thế anh không hề biết về chúng. Cũng vì thế không kẻ nào biết về anh và cũng chẳng kẻ nào có liên quan gì tới anh.

Ở Roma có rất nhiều tín đồ Kitô giáo, Barabbas biết rõ điều đó. Anh được biết họ tụ tập trong các nhà cầu nguyện của mình, theo các hội huynh đệ, ở nhiều nơi khác nhau trong thành phố. Nhưng anh không đến gặp họ. Thậm chí có vài lần nghĩ là nên đi, nhưng rồi không đi đâu hết. Anh đã từng mang tên Chúa của họ trên tấm thẻ nô lệ của mình, song tên Ngài đã bị xoá đi rồi.

Thời gian gần đây tất nhiên họ bắt đầu lẩn trốn, tụ họp một cách bí mật, ở những địa điểm khác: sợ bị truy lùng. Lúc đi mua hàng anh được nghe nói như thế, ở đó có người đã chống lại họ bằng bàn tay xòe năm ngón ra, hệt như tay bảo vệ trong đền thờ Đức Thánh Mẫu chống lại Barabbas hôm nào. Họ là những kẻ nguy hiểm và đê tiện, có khả năng làm ma thuật - Mà họ thì có khả năng làm tất cả! Hơn nữa Chúa của họ lại là một tội phạm khủng khiếp và đã bị treo cổ từ lâu. Tốt nhất nên lánh xa họ.

Một hôm vào buổi tối Barabbas tình cờ nghe thấy, hai gã nô lệ thì thầm với nhau trong hầm nhà tối đen, chúng không nhìn thấy Barabbas và tưởng rằng xung quanh không có ai. Barabbas cũng không nhìn thấy chúng, nhưng nhận ra qua giọng nói. Chúng mới đến đây không lâu, mới được mua về mấy tuần trước.

Họ nói với nhau về cuộc họp huynh đệ được ấn định vào tối ngày mai ở vườn Mác Lutxi bên đường Appia. Song chỉ ngay sau đó Barabbas hiểu ra là cuộc họp sẽ không ở trong vườn và ở khu hầm mộ Do Thái được bắt đầu ở đó.

Một địa điểm họp mặt mới kỳ lạ làm sao... Giữa những người chết... Làm sao mà nghĩ ra được...

Chiều hôm sau, trước khi cửa hầm nhà bị đóng lại về ban đêm Barabbas đã liều mạng kịp trốn ra khỏi lâu đài.

Khi anh ra tới phố Appia, trời đã chập choạng tối, và anh hầu như không gặp một ai cả. Anh đã hỏi người chăn cừu đang lùa gia súc về nhà đường đi tới vườn cây.

Sau khi đi vào dưới các tán lá xanh, Barabbas phải mò mẫm đi theo con đường nhỏ hẹp hơi dốc. Ánh sáng trời còn lờ mờ xuyên qua các tán lá xuống và đã nhìn thấy là dãy mộ đầu tiên chạy dài tối khoảng bóng tối. Vừa đi Barabbas vừa rờ mó hai tay vào những bức tường lạnh lẽo, ẩm ướt. Họ sẽ họp mặt ở hành lang lớn đầu tiên - hai gã nô lệ kia đã nói thế. Barabbas cứ đi và đi mãi.

Kia rồi, hình như, có tiếng nói. Anh đứng im lắng nghe - không, không nghe thấy gì hết, anh lại đi tiếp. Chân anh bước thận trọng, chốc chốc lại gặp các bậc thang trên đường, chỗ một bậc, chỗ vài bậc và chúng hướng tối vực sâu mỗi lúc một xa.

Vậy mà vẫn chưa thấy hành lang đâu cả. Chỉ có một lối đi hẹp giữa các chiếc quan tài. Cuối cùng lối đi tỏa về hai phía và Barabbas không biết giờ đây đi về phía nào. Và anh dừng lại đắn đo, hoàn toàn lúng túng. Nhưng vừa lúc đó ở một nơi xa có thấp thoáng ánh lửa - ở một nơi rất xa. Được rồi, ánh lửa! Barabbas bổ nhào về phía đó. Nghĩa là - ở đó!

Rồi đột nhiên ánh lửa biến mất. Biến mất hoàn toàn. Có thể, anh đã vô tình đi vào một con đường khác? Anh lao ngược trở lại để lại nhìn thấy ánh lửa.

Song không còn ánh lửa nữa, không nơi nào có!

Barabbas không hiểu gì hết. Vậy họ ở đâu? Làm thế nào tìm được họ? Bởi lẽ họ ở đây mà!

Nhưng tự mình anh đã mò mẫm đi đâu? Thôi được, không sao hết, anh vẫn nhớ rõ mình đi như thế nào, kiểu gì cũng có thể mò mẫm ra được cửa. Và anh quyết định bỏ về.

Nhưng khi anh dò dẫm theo chính con đường cũ về phía sau - con đường anh nhớ rõ từng chỗ lồi lõm - đột nhiên anh lại nhìn thấy ánh lửa. Một vầng sáng mạnh, rõ ràng ở lối đi phía hông, có thể lúc trước anh không nhìn thấy lối đi này, và giờ đây ánh lửa đó di động sang một hướng khác. Dù sao thì, có lẽ, đó vẫn chính là ánh lửa nọ, và Barabbas bổ nhào về phía đó. Và ánh sáng mỗi lúc một rõ hơn... Và rồi đột nhiên tắt. Tắt hoàn toàn.

Barabbas ôm đầu. Tay anh sờ mắt. Đó là ánh sáng gì? Và nói chung có ánh sáng không? Nhỡ bỗng nhiên đó là do anh tưởng tượng ra? Hoặc giả lại có vấn đề với cặp mắt của anh... như hồi nào, hồi nào, lâu lắm rồi... Anh dụi mắt và rồi bất lực nhìn...

Không có ánh sáng nào cả! Không nơi nào, không ở đâu! Xung quanh chỉ là màu đen giá lạnh, và mình anh ở giữa màu đen này, nơi đây không còn một ai khác, không một người nào, chỉ có những xác chết!...

Những xác chết! Xung quanh chỉ toàn những xác chết.

Khắp nơi, khắp mọi chỗ, khắp các phía, trên mọi lối đi... Đi đâu nào? Anh không còn biết mình phải đi đâu để thoát ra, ra khỏi nơi này, ra khỏi cõi chết...

Cõi chết!... Anh đã lạc đường đi vào cõi chết! Anh đang bị nhốt trong cõi chết!

Barabbas hoảng sợ. Một nỗi hoảng sợ hết hồn. Rồi đột nhiên anh lao chạy bừa đi, người anh lướt trên các khúc đường nối, vấp vào các bậc không nhìn thấy, chạy bừa lúc sang chỗ này, lúc sang chỗ kia cố tìm cách thoát ra ngoài, thoát ra ngoài trời... Anh lướt đi lung tung như kẻ mất trí, thở hồng hộc... Người chao đảo, va đập vào tường - nơi đặt thi hài những người chết, anh đã mất hết hy vọng thoát ra khỏi nơi đây...

Và rồi đột nhiên một làn gió ấm phả vào anh, luồng gió từ phía trên - từ thế giới khác... Hầu như không còn nhận ra mình, Barabbas leo lên theo sườn dốc và lọt vào một vườn nho. Tới đây anh nằm xuống nền đất, cứ nằm và ngắm bầu trời đen trống trải.

Khắp nơi trời đã tối mù mịt. Cả mặt đất, cả bầu trời. Khắp mọi nơi.

***

Khi Barabbas trở về thành phố theo đường phố đêm Appia anh cảm thấy vô cùng cô đơn. Cô đơn không phải vì không có ai cùng đi bên anh, và anh không gặp một ai, mà bởi vì chỉ có anh - một mình bé nhỏ trong đêm đen vô tận bao phủ khắp mặt đất, và anh không hề có một ai dù trên mặt đất hay trên bầu trời, không có một ai giữa những người sống và những người đã chết. Mà anh thì lúc nào cũng đơn côi, song chỉ lúc này anh mới hiểu ra điều đó. Anh lết chân trong đêm tối tựa hồ như bị chôn vùi trong đó, và bộ mặt cô đơn già nua của anh bị cắt ngang bởi vết sẹo - thương tích cha anh để lại. Và trên bộ ngực đầy nếp nhăn già nua có tấm biển nô lệ lẫn trong đám lông bạc trắng - tấm biển đã bị xoá tên Chúa. Đúng, anh chỉ có một mình - đơn côi, không có một ai khác trên mặt đất cũng như trên bầu trời.

Anh đã bị nhốt kín trong bản thân mình, thế giới những người đã chết của mình. Và làm thế nào thoát khỏi chốn đó?

Có một lần - lần duy nhất anh đã được giao kết với một người khác. Mà lại bằng sợi xích sắt. Chỉ bằng xích sắt, không gì hơn, không bao giờ.

Anh lắng nghe tiếng bước chân mình tắt dần khỏi con đường đá. Ngoài ra là hoàn toàn im ắng tựa như cả thế gian ngoài anh ra không còn một ai. Bóng tối bao quanh Barabbas từ mọi phía. Không một ánh lửa nhỏ. Không đâu có lấy một ánh lửa nhỏ nhoi. Và cũng không có sao trên trời cao, và tất cả đã bị bỏ quên, trống trải.

Anh thở mệt mỏi, không khí nồng nặc và oi bức như đang cơn sốt. Hoặc giả đó là bản thân Barabbas đang bị sốt, có thể anh đã bị cảm sốt, có thể ở đó, dưới hầm mộ cái chết đã thâm nhập vào anh? Cái chết! Anh luôn luôn mang nó trong người, nó lúc nào cũng ở trong con người anh, kể từ khi anh có mặt trên trần gian. Cái chết đã rượt đuổi anh theo những con đường tối tăm, những con đường đen tối chuột chũi đi của lý trí riêng anh, đã phủ ngập anh bằng sự khiếp sợ. Dù cho lúc này Barabbas đã già và không còn muốn sống nữa, nhưng nó vẫn phủ ngập anh bằng sự khiếp sợ. Vì thậm chí anh còn thấy vui mừng... Đơn giản là vui mừng...

Không, không được, chỉ không phải chết thôi! Không phải chết!...

Còn bọn họ lại đang tụ họp nơi thế giới của những người đã chết để cầu nguyện Chúa của họ, liên kết với Ngài và với nhau. Bọn họ không sợ chết, đã chiến thắng cái chết. Họ cùng nhau tới dự cuộc gặp mặt huynh đệ của mình, đến dự cuộc gặp mặt yêu thương... “Hãy thương yêu nhau”... “Hãy thương yêu nhau”...

Nhưng anh đã đến với họ đó thôi, vậy mà không có họ ở đó, không có một ai trong số họ ở đó. Anh đã lạc lõng trong đêm tối, giữa những con đường chuột chạy của mình...

Vậy thì họ biến đi đâu? Những con người đó - những con người như thương yêu nhau ấy đã biến mất đâu?

Họ biến đi đâu mất, vì xung quanh là đêm tối, là màn đêm ngột ngạt (ở đây, trên đường phố rồi mà anh vẫn còn thấy ngột ngạt hơn), - màn đêm bao phủ toàn bộ mặt đất, màn đêm oi bức, và chẳng có gì để thở, màn đêm đã đè bẹp, đã làm Barabbas nghẹt thở...

Anh quay sang một góc phố, và mùi khói đập vào lỗ mũi anh. Khói bốc lên từ tầng hầm ngôi nhà gần đó, thoát ra ngoài từ tầng một và những lưỡi lửa luồn lách ra qua các khe hở nào đó nơi cửa sổ nhỏ... Barabbas bổ nhào tới đó!

Lúc chạy anh nghe thấy tiếng hô hoán của những người cũng đang chạy:

- Cháy nhà! Cháy nhà!...

Tới ngã tư anh nhìn thấy ở một phố khác cũng đang bị cháy, thậm chí còn cháy to hơn. Anh không thể hiểu được đầu cua tai nheo ra sao... Rồi đột nhiên từ đâu đó vang lên:

- Đó là bọn Kitô giáo! Đó là bọn Kitô giáo!

Và ngay lập tức - đồng loạt từ khắp nơi:

- Đó là bọn Kitô giáo! Đó là bọn Kitô giáo!

Thoạt tiên Barabbas lặng người đi tại chỗ, anh không thể hiểu được người ta nói gì, không thể hình dung nổi. Bọn Kitô giáo?... Rồi đột nhiên anh hiểu tất cả.

Đúng rồi! Đấy là những người Kitô giáo! Đấy là họ đã thiêu huỷ Roma! Họ đã thiêu huỷ cả thế giới!

Lúc này thì đã rõ vì sao họ không có mặt ở khu hầm mộ! Họ đã ở lại nơi đây để trao thành Roma đáng nguyền rủa cho thần lửa, để trao cả cái thế giới đáng nguyền rủa này cho thần lửa! Giờ của họ đã điểm! Đấng Cứu Thế của họ đã xuất hiện!

Người bị hành hình đã trở về, từ Gongopha trở về. Để cứu vớt mọi người, đế huỷ diệt thế giới này. Ngài đã hứa hẹn mà! Phải huỷ diệt, tiêu diệt nó trong lửa. Ngài đã hứa như thế. Cuối cùng thì Ngài cũng phô trương sức mạnh của mình. Và Barabbas phải hỗ trợ Ngài. Anh chàng Barabbas vô dụng, người anh em vô dụng của Ngài ở Gongopha, giờ đây anh sẽ không giở trò! Giờ đây anh sẽ không lừa dối Ngài!

Barabbas chạy tới ngôi nhà đang cháy ở gần, cầm lấy mẩu gỗ đang cháy ném vào cửa sổ ngôi nhà bên cạnh. Barabbas cứ cầm lấy các mẩu gỗ đang cháy rồi ném vào các hầm nhà, vào các ngôi nhà. Anh sẽ không phản thùng! Barabbas giờ sẽ không phản thùng! Anh ném chính xác. Và ngọn lửa bốc lên mới ghê gớm làm sao! Ngọn lửa đã nhảy từ ngôi nhà này sang ngôi nhà khác, liếm gọn các bức tường nhà, tất thảy đều chìm trong lửa! Vậy mà Barabbas vẫn chạy, để cho lửa cháy càng lớn hơn, anh chạy, thở hổn hển, và cái tên Chúa bị xoá đi đang như mũi kim đâm vào sát con tim anh. Anh đã không phản bội. Anh đã không phản lại Chúa của mình khi thực tại Ngài cần đến anh, khi tới giờ - cái giờ phút vĩ đại - cái thời khắc tất thảy phải bị huỷ diệt đã điểm! Lửa cứ lan đi, lan đi mãi! Tất cả mọi thứ đều biến thành biển lửa mênh mông, cả thế gian chìm trong lửa!

Nó đấy! Hãy nhìn xem - nó đấy, cái thế giới của Ngài!

***

Tất cả những tín đồ Kitô bị kết tội đốt thành Roma - trong đó có cả Barabbas - bị nhốt trong nhà tù ở ngoại ô Capitôli. Barabbas bị bắt tại nơi gây tội, bị hỏi cung rồi đưa tới đây cùng với họ. Giờ đây anh đã ở bên họ.

Nhà tù được khoét sâu ngay trong núi đá và hơi nước rò rỉ ra trên tường. Trong cảnh mập mờ tối không thể nhận ra mặt người, và điều này làm Barabbas thấy mừng. Anh ngồi trên đám rơm rạ mục nát, tách riêng ra, không quay mặt về phía người nào.

Các bạn tù đang nói với nhau chỉ toàn chuyện đám cháy nọ, và về số phận họ rồi sẽ ra sao. Tất nhiên, kết tội gây hỏa hoạn chỉ là cái cớ đế người ta bắt họ. Chính quan toà cũng quá rõ họ không hề đốt gì hết. Không có một ai trong số họ có mặt ở đó - nơi bị cháy - Không ai ra khỏi nhà mình mà, vì họ đã được biết người ta đã chuẩn bị sẵn cuộc vây bắt họ: có kẻ nào đó đã khai báo về địa điểm họp mặt tại khu hầm mộ. Họ không có tội. Nhưng có gì khác biệt? Tất cả mọi người đều muốn họ có tội. Tất cả đều phải tin vào tiếng hô hoán “Đấy là bọn Kitô giáo! Đấy là bọn Kitô giáo!”... của tên đốn mạt bị mua chuộc.

- Kẻ nào đã thuê chúng? - từ trong màn đêm một giọng nói cất lên. Song không một ai thèm để ý đến.

... Làm sao mà họ, những môn đồ của Thày Giáo - lại có thể gây ra vụ hỏa hoạn, thiêu huỷ thành Roma chứ? Liệu có thể tin được chuyện đó không? Thày Giáo đốt cháy tâm hồn con người bằng lửa chứ không phải đốt cháy các thành phố của con người. Ngài là Chúa của chúng ta và là Chúa của cả bầu trời lẫn mặt đất, Ngài không phải là tội phạm.

Rồi họ bắt đầu nói về Ngài, về vấn đề ai là Ánh Sáng và Tình Yêu, và về thế giới của Ngài - cái thế giới họ hằng mong đợi như Ngài hứa hẹn. Rồi họ bắt đầu ca vang các bài Thánh ca với những lời ca vừa đẹp vừa lạ lẫm trước đây Barabbas chưa hề nghe thấy. Anh cứ ngồi và lắng nghe họ, đầu gục xuống.

Vừa lúc này từ bên ngoài người ta mở then cửa sắt, bản lề cửa kêu ken két, giám ngục bước vào. Y đế cửa hé mở cho đôi chút ánh sáng lọt vào trong lúc y cho tù nhân ăn. Rõ ràng là chính y vừa ăn căng bụng và uống cũng không ít rượu bởi lẽ mặt mày đỏ ửng, lại nói huyên thuyên. Miệng chửi rủa tục tĩu, gã quăng cho tù nhân thứ thực phẩm hầu như không thể ăn được. Thật ra - y không muốn nhục mạ ai bằng lời chửi rủa của mình, đó chỉ là ngôn ngữ thông thường của y - thứ ngôn từ vốn có của những kẻ làm nghề này: tất cả bọn cai ngục của mọi thời đại đều nói năng như thế. Nói chung, y còn là người thân thiện nữa. Đột nhiên y nhận ra Barabbas đúng vào lúc vệt sáng từ ô cửa hé mở đổ vào người anh, và gã cất tiếng cười hô hố.

- Té ra thằng bẻm mép này cũng ở đây! - y nói tướng lên. - Bỏ chạy, rồi thiêu hủy Roma! Đồ ngốc! Vậy mà mày còn nói láo là không phải mày châm lửa đốt! Nó đã bị tóm cổ đúng lúc nó cầm thanh gỗ đang cháy nhào tới kho nhiên liệu - tới kho của Kai Xecvi!

Barabbas không ngước mắt lên. Bộ mặt anh lạnh băng và không hề biểu lộ gì, chỉ có vết sẹo dưới mắt ửng đỏ thôi.

Các tù nhân khác nhìn anh đầy vẻ sửng sốt. Ở đây không có ai biết về anh. Họ cũng có ý nghĩ anh là kẻ phạm tội, một kẻ xa lạ thế nào đó, bị hỏi cung cũng riêng biệt.

- Không thể thế được, - họ thì thầm với nhau.

- Không thể... cái gì? - viên giám ngục ngạc nhiên hỏi.

- Nó không thể là tín đồ Kitô giáo, - họ đáp. - Nếu tất cả đúng như ông đã nói về nó.

- Không phải à? Không thể ư? Nhưng đây là do chính nó nói. Người ta đã nói với tao như thế - những người đã bắt nó ấy. Khi bị hỏi cung nó cũng thừa nhận như vậy.

- Chúng tôi không biết nó, - họ bối rối làu bàu. - Giá như nó là người của chúng tôi, chúng tôi đã biết nó. Vậy mà lần đầu tiên chúng tôi nhìn thấy nó.

- Chúng mày cứ việc giả vờ giả vịt! Lại đây, hãy mở mắt ra mà xem! - và y đến bên Barabbas, lật ngược tấm thẻ nô lệ đeo trên cổ anh. - Đây! Nhìn xem! Đây là cái gì - không phải tên Chúa của bọn bay, hả? Tao không hiểu được những nét chữ loằng ngoằng này, nhưng lẽ nào không phải như thế? Hãy đọc xem!

Đám tù bao vây viên giám ngục và Barabbas, rồi choáng váng khi xem kỹ dấu chữ có trên mặt sau của tấm thẻ. Đa số họ không thể đọc được những nét chữ này, nhưng đã có người thốt lên nho nhỏ vẻ lo lắng:

- Giêsu Kitô... Giêsu Kitô...

Viên giám ngục đảo ngược tấm thẻ như cũ rồi đầy vẻ chiến thắng nhìn những bộ mặt ở xung quanh:

- Nào, bây giờ chúng mày sẽ nói gì, hả? Theo chúng mày, nó không phải tên Kitô giáo chứ? Bởi chính nó đã cho quan toà xem, lại còn tuyên bố rằng nó không phải là nô lệ của Kêxa, mà là của Chúa nọ - kẻ được chúng mày cầu nguyện ấy và đã từ lâu bị hành hình ấy. Và rồi chính nó cũng sẽ bị hành hình, chuyện này thì tao có thể đủ sức làm được. Hơn nữa, cả toàn bộ bọn mày nữa, cũng thế! Dù cho chúng mày có khôn ngoan hơn, chỉ có điều chúng mày không gặp may rồi, để cho tên ngốc này lọt vào, tự nộp mình cho chúng tao lại còn tuyên bố rằng nó là môn đồ Kitô giáo nữa chứ!

Y nhếch mép cười khinh miệt, đảo mắt nhìn khắp các bộ mặt đang bị choáng rồi bỏ đi, sau khi ra khoá cửa lại.

Bọn họ lại bao vây Barabbas và đặt ra cho anh đủ các câu hỏi. Anh là ai? Chẳng lẽ là tín đồ Kitô giáo? Vậy thì anh thuộc xứ đạo nào? Và chẳng lẽ anh thật sự đã đốt ư?

Barabbas không hề trả lời. Bộ mặt anh hoàn toàn xám xịt, và đôi mắt già nua ẩn giấu sâu kín cái nhìn.

- Tín đồ Kitô giáo đấy! Thì các người đã chẳng nhìn thấy là gì, nét chữ bị xóa đi thôi!

- Đã bị xóa ư? Tên của Chúa đã bị xóa!

- Phải! Chính các người đã nhìn thấy đấy!

Đúng là có người đã nhận thấy mọi điều, song họ lại không hề nghĩ nó có thể có nghĩa gì. Vậy nó có nghĩa gì?

Thế là một người cầm lấy tấm thẻ vả lại xem xét kỹ, rồi, mặc dù ánh sáng hoàn toàn mờ tối họ cũng đã nhận ra - không còn tranh cãi gì nữa - có ai đó với bàn tay khoẻ khoắn đã dùng mũi dao cạo sạch, bừa bãi cái tên đó.

- Vì sao lại xóa tên của Chúa? - Họ hỏi: để làm gì? Thế nghĩa là gì? Mày sao thế - Không nghe thấy à? Thế nghĩa là gì?

Nhưng Barabbas không đáp một lời nào. Anh cứ ngồi đầu gục xuống cho phép đám bạn tù muốn làm gì với tấm biển nô lệ của anh cũng mặc, không đáp lại dù chỉ một lời. Con người này mỗi lúc càng làm họ ngạc nhiên và công phẫn hơn. Tự nhận mình là tín đồ Kitô, nhưng không thể có loại tín đồ Kitô như vậy! Có đời thưở nhà ai lại như vậy không! Cuối cùng có ai đó đến gặp ông già - lão đang ngồi ở góc xa trong khoảng tối nhà tù và không hề tham gia vào cảnh hỗn loạn chung. Lão nghe người ta nói, ngay sau đó lão đứng dậy và tiến đến bên Barabbas.

Lão người chắc khoẻ và mặc dù lưng đã hơi còng song vẫn rất cao lớn. Tóc lão để dài nhưng đã thưa và bạc trắng, cả bộ râu dài phủ kín ngực cũng bạc trắng. Mọi nét trên con người ông đều có vẻ đáng kính trọng, nhưng ông lại hiền dịu và cặp mắt xanh nhìn mở to gần như mắt trẻ thơ, dù bên trong vẫn thể hiện rõ sự thông thái của tuổi già.

Thoạt tiên lão để mắt hồi lâu ngắm nghía Barabbas, ngắm nghía bộ mặt già nua vô hồn của anh. Sau đó như nhớ ra điều gì và lão lắc đầu.

- Chuyện đó lâu lắm rồi, - lão nói để biện bạch rồi ngồi xuống đám rơm rạ cạnh anh.

Những người khác đứng xung quanh rất đỗi sửng sốt. Chẳng lẽ bố già khả kính có quen biết con người này?

Còn lão thì chắc chắn là biết rõ anh rồi, có thể thấy rõ điều này ngay khi lão lên tiếng nói với Barabbas. Lão hỏi Barabbas anh đã sống ra sao. Và Barabbas đã kể cho lão nghe những gì số phận anh đã hứng chịu. Tất nhiên, không phải tất cả, sao mà kể hết được, nhưng đủ để lão hiểu rõ nhiều điều và có thể đoán ra nhiều điều khác. Khi lão hiểu điều gì đó mà Barabbas không đá động tới, lão chỉ đăm chiêu gật đầu. Hai người nói với nhau khá lâu, mặc dù Barabbas không có thói quen tin cậy ai, mà ở đây anh cũng chỉ phần nào tin ông già. Song anh trả lời giọng khẽ khàng, mệt mỏi cho các câu hỏi của ông già và thậm chí thi thoảng còn nhìn vào cặp mắt thông minh ngây thơ của lão, nhìn bộ mặt già nua đầy nếp nhăn của lão cũng đã phải trả giá cho những tháng năm đã trải qua, nhưng nó hoàn toàn khác với bộ mặt Barabbas. Mặt lão hằn những nếp nhăn sâu, song dù sao vẫn khác hẳn - như lộ rõ vẻ thanh thản, da mặt gần như trắng trẻo, và hai má hóp lại, có thể vì răng đã rụng khá nhiều. Vậy mà nói chung lão hầu như không thay đổi. Và lão nói vẫn hệt như hồi nào, và giọng lão vẫn thế - giản dị, không mảy may láu lỉnh.

Dần dần ông lão khả kính đã biết rõ vì sao tên của Chúa bị xoá đi, và vì sao Barabbas đã góp sức đốt thành Roma - anh muốn giúp đỡ họ, giúp Đấng Cứu Thế thiêu thủy thành tro cái thế giới này. Nghe thấy thế ông lão chỉ lắc đầu đầy đau khổ. Và lão đã hỏi Barabbas làm sao anh có thể tin rằng đó là họ - những tín đồ Kitô đã gây nên đám cháy. Mọi điều đó là do chính Kêxa đã ra lệnh, và Barabbas đã giúp tay cho ông ta.

- Anh đã tiếp tay cho kẻ thống trị thế giới này. - Lão nói. - đã giúp kẻ có dấu chữ trên tấm biển nô lệ của anh; đó là chủ nhân của anh, chứ hoàn toàn không phải giúp Chúa có tên đã bị xoá trong tấm biển của anh. Do bản thân không hay biết chuyện đó, anh đã phục vụ cho chủ nô hợp pháp của mình. Chúa của chúng ta là Tình Thương Yêu, - lão nói thêm giọng khe khẽ. Và lão cầm tấm biển đang lơ lửng trên bộ ngực đầy lông bạc trắng của Barabbas, buồn rầu nhìn cái tên bị xoá của Chúa - Thày Giáo mình.

Rồi lão buông nó ra và thở dài đau khổ. Lão đã hiểu rõ Barabbas phải chấp nhận cái vệt đó, và phải mang theo nó cho tới chết, không gì - không còn làm được gì nữa. Và lão cũng thấy rõ là Barabbas cũng hiểu ra điều đó, lão đọc thấy điều đó trong cặp mắt cô đơn, rụt rè của anh.

- Đó là kẻ nào? Nó là ai? - khi ông già đứng dậy tất cả đều hỏi tới tấp. Lão không muốn trả lời, lão muốn lảng tránh. Song đám tù o ép tới mức lão buộc phải nhượng bộ.

- Đây là Barabbas, kẻ đã được phóng thích thay cho Thày. Giáo, - lão nói.

Bọn họ hoàn toàn bối rối nhìn con người kỳ quặc. Không gì có thể làm họ sửng sốt và công phẫn hơn thế này.

- Barabbas, - họ lẩm bẩm. - Barabbas - kẻ được phóng thích!

Đầu óc họ hoàn toàn không ngờ như vậy. Và mắt họ rực vẻ căm giận trong màn đêm.

Nhưng ông già đã vỗ về họ.

- Đây là con người bất hạnh, - lão nói. - Và chúng ta không có quyền lên án hắn. Chính chúng ta cũng đầy những khiếm khuyết và thói xấu, và nếu Chúa thương yêu chúng ta thì đó không phải là công lao của chúng ta. Chúng ta không có quyền lên án một con người vì lẽ anh ta không có Chúa.

Họ đứng cúi gằm xuống và hầu như không dám nhìn Barabbas. Sau khi nghe những lời đó - những lời lẽ khủng khiếp đó, họ lặng lẽ bỏ đi và lại ngồi xuống chỗ trước đó đã ngồi. Và ông già cũng bất đắc dĩ thở dài đi theo họ.

Và Barabbas lại được ở một mình.

Anh cứ ngồi một mình như thế suốt những ngày sau đó trong ngục tù, một mình cách xa tất cả các bạn tù. Anh nghe thấy họ hát ca ngợi Chúa, thổ lộ với nhau những suy nghĩ về cái chết và về sự sống vĩnh hằng đang chờ đón họ. Và khi bản án được tuyên đọc, họ càng nói nhiều hơn về điều đó. Họ tin, và không ai trong họ có chút ngờ vực nào.

Barabbas lắng nghe họ nói, nhưng hết sức đăm chiêu. Anh cũng từng có ý nghĩ cái gì sẽ chờ đón anh. Anh cũng đã nhớ đến người anh gặp trên núi Ôliu - người khi đó đã chia cho anh bánh mì và muối và đã bị chết và từ lâu răng đã nghiến chặt bởi chiếc sọ chết chìm trong màn đêm vĩnh cửu.

Sự sống vĩnh hằng...

Thế còn cuộc sống mà Barabbas đã trải qua liệu có chút ý nghĩ gì không? Vị tất đã có. Nhưng vì anh không hề biết gì về điều này. Và đó không phải việc anh quyết định.

Ở nơi hơi xa anh, ông già râu tóc bạc đang ngồi giữa những người cùng hội cùng thuyền. Lão lắng nghe họ nói và trò chuyện với họ bằng thứ thổ ngữ Galilây đặc biệt của mình. Và rồi đột nhiên lão im lặng, lòng bàn tay đỡ lấy cái đầu to nặng. Có thể, lão đã nhớ đến miền bờ biển quê hương, Ghênnixaret - nơi ông muốn được yên nghỉ sau khi chết. Song điều đó không do ông quyết định. Trên đường đi lão đã được gặp Thày Giáo, và Ngài đã nói với lão: “Hãy theo ta...” và lão đã không còn gì khác để lại. Cặp mắt trẻ thơ của lão nhìn thẳng về phía trước, và khuôn mặt già nua đầy nếp nhăn toả sáng một sự bình thản mênh mông.

Và thế rồi họ bị dẫn đi hành hình. Họ bị xích chân hai người một, nhưng Barabbas không có bạn cùng cặp, và anh đi cuối cùng, không bị xích chung với ai. Đó là do ngẫu nhiên thôi. Và cũng thật ngẫu nhiên anh bị hành hình trên cây thập ác ở ngoài cùng.

Có rất nhiều người tụ tập xem, và tới khi mọi chuyện kết thúc thời gian trôi qua cũng khá nhiều. Và trong suốt thời gian đó những người bị hành hình vẫn gieo hy vọng và yên ủi nhau. Song không một ai yên ủi Barabbas.

Trời đã dần tối, và những người đến xem đã ra về, quá mệt mỏi vì đứng lâu. Mà tất cả đã chết rồi. Chỉ có một mình Barabbas vẫn còn sống trên cây thập ác. Khi anh cảm nhận thấy thần chết - cái thứ luôn luôn làm anh khiếp đảm - đã đến, anh nói vọng vào màn đêm, như muốn nói với thần chết:

- Ta trao linh hồn ta cho ngươi đây.

Rồi anh tắt thở.

❀ ❀ ❀

[1] Một loại cây con hoa nhỏ màu xanh sẫm hoặc xanh lơ có mùi thơm.

[2] Một loại cây phía Nam quanh năm xanh tốt, hoa trắng rất thơm. (ND)

Dịch giả: Nguyễn Thái Hà & Dương Cầm
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.