Tất cả mọi người đều biết rõ khi đó họ đã bị đóng đinh câu rút trên các cây thập ác ra sao và những ai đã có mặt bên ông ta - đó là bà Maria - mẹ ông ta, cả Maria Macdalina, cả Veronica, cả Simon Kirieianin, cả Iôxip người Arimaphây - người sau đó đã dùng tấm áo lá cọ bọc ông ta lại. Nhưng ở phía dưới sườn đồi, hơi xa nơi đó một chút còn có một người vẫn đứng và không rời mắt theo dõi cảnh tượng con người bị đóng đinh câu rút trên cây thập ác và đang chết dần, theo dõi từ đầu đến cuối những nỗi khổ ải chết người mà con người đó phải chịu. Người đàn ông này tên là Barabbas. Và quyển sách này viết về anh ta.
Khi đó anh ta ở độ tuổi ba mươi, là một người khỏe khoắn nhưng có bộ mặt bủng beo, còn cặp mắt thì bị trũng tựa hồ như để che giấu tốt hơn ánh mắt của mình. Ớ phía dưới một bên mắt có một vết sẹo sâu kéo dài xuống phía dưới rồi mất hút trong đám râu ria. Nhưng vẻ ngoài con người này không thật quan trọng cho lắm.
Anh ta đã đi theo đoàn người qua các đường phố bắt đầu từ dinh thống lĩnh nhưng ở tụt lại phía sau những người khác, và khi phạm nhân bị tra tấn kiệt sức đổ vật xuống cùng với cây thập ác, anh ta bèn đi chậm lại và chờ đợi để tránh đuổi kịp đoàn người và tới lúc chính ông Simon đó bị bắt phải vác cây thập ác. Trong đoàn người chỉ có rất ít đàn ông, tất nhiên, không kể số binh lính của triều đình Roma, đi tiễn người bị hành hình phần lớn là phụ nữ cùng đám trẻ con - lũ trẻ rách rưới này đâu mà chẳng có mặt nhất là khi một ai đó bị giải trên phố đến nơi hành hình. Miễn là chúng sẽ không quậy phá. Tuy nhiên, chúng nhanh chóng bị mỏi chân và thế là trở về với những trò chơi thường ngày, liếc nhìn người đàn ông đang đi ở phía sau đoàn người - con người có vết sẹo trên má.
Và thế rồi anh ta đứng ở trên pháp trường và chằm chằm nhìn con người bị đóng đinh câu rút trên cây thập ác ở giữa, không rời mắt được khỏi phạm nhân. Anh ta thật không muốn lên nơi này, ở đây mọi cái đều ô uế, tất cả đều chất chứa bệnh tật, thiên hạ đã từng nói rằng bất kỳ ai bước chân tới cái nơi đáng nguyền rủa này sẽ để lại nơi này một phần linh hồn của mình và khi nào trở lại chốn này sẽ ở lại nơi đây vĩnh viễn. Những chiếc xương sọ và xương người vương vãi khắp pháp trường cùng những cây thập ác mục nát - chúng chẳng còn có ích lợi gì nữa nhưng lại không được dọn sạch để không mất công mất sức. Anh ta đứng ở nơi đây để làm gì? Anh ta không hề quen biết con người đó, anh ta chẳng hề có quan hệ gì với con người đó. Tại sao Barabbas lại đến Gongopha bởi lẽ anh ta đã được thả rồi cơ mà?
Người bị hành hình đầu ngoẹo về một bên, hơi thở nặng nề. Có nghĩa là chẳng còn sống được bao lâu nữa. Không thể coi ông ta là một con người khỏe mạnh. Thân hình thì còm nhom, hầu như chỉ có da bọc xương, đôi tay khẳng khiu tựa hồ như chưa bao giờ phải làm việc. Một con người kỳ lạ. Bộ râu quai nón không dày, bộ ngực không một sợi lông như ngực một đứa trẻ. Barabbas không ưa con người này.
Từ lúc Barabbas nhìn thấy ông ta ở nơi đó - bên dinh thống lĩnh, ngay lập tức anh ta hiểu rằng con người đó không hề giống như tất cả mọi người. Vì sao ư? Anh ta không thể nói ra được, chỉ đơn giản - anh ta đã hiểu là như vậy. Anh ta còn chưa bao giờ gặp một con người như vậy. Nhưng có thể, anh ta cảm thấy thế vì lẽ anh ta mới được ra khỏi nhà tù và cặp mắt anh ta còn chưa quen với ánh sáng trời. Thế là anh ta đã nhìn thấy con người này lần đầu tiên tựa hồ như trong một ánh hào quang nào đó. Tất nhiên, ánh hào quang không tắt ngay tức thì, cặp mắt Barabbas lại trở nên tinh tường như mọi khi, lại nhìn thấy rõ ràng mọi cái ở xung quanh chứ không phải chỉ thấy rõ con người đứng đơn côi trên dinh thống lĩnh. Nhưng dù sao thì con người đó cũng kỳ lạ thế nào đó, chẳng hề giống một ai cả. Và Barabbas không thể hiểu nổi làm sao người ta lại tống con người đó vào nhà tù, rồi kết án tử hình, chẳng khác gì bản thân Barabbas. Điều đó quấy rầy đầu óc Barabbas. Tất nhiên, anh ta thì có quan hệ gì, nhưng làm sao người ta lại có thể kết án một con người như vậy? Rõ ràng là con người đó vô tội.
Đúng thế, và con người đó đã bị đưa đi hành hình - còn Barabbas thì được tháo gông xiềng và được trả lại tự do. Trong chuyện này anh ta chẳng có trách nhiệm gì. Chính người ta đã quyết định. Người ta muốn thả ai thì người ta thả người đó, và thế là người ta đã thả Barabbas. Người ta đã kết án tử hình hai người, và cần phải thả một người. Barabbas chỉ thấy ngạc nhiên thôi. Trong lúc người ta tháo gông xiềng cho Barabbas, anh ta đứng nhìn bọn lính dẫn người này rồi người kia đi qua dưới cổng vòm, và trên lưng đã phải cõng một cây thập ác.
Barabbas cứ đứng và nhìn mãi về phía chiếc cổng vòm trống trải. Sau đó, viên lính vệ binh huých vào người anh ta và quát:
Thế nào, sao mày lại cứ đứng há hốc miệng ra, hử? Hãy cút xéo cho mau, mày được thả rồi!
Và Barabbas bừng tỉnh, và đã đi qua dưới cổng vòm và ở đó đã nhìn thấy con người nọ tha cái thập ác đi ra sao, và anh ta liền bước theo trên đường phố. Barabbas cũng không biết vì sao mình lại đi theo con người đó. Và vì sao anh ta đứng hàng giờ liền nhìn những cảnh tra tấn chết người dài đằng đẵng, bởi lẽ anh ta chẳng hề có liên quan gì đến điều này.
Còn những người chen lấn nhau sát tận cây thập ác thì liệu họ cần đến đó để làm gì? Rõ ràng là chỉ do ý thích cá nhân! Không ai ép buộc họ tới đó, chuốc vào thân những mầm mống độc hại. Cần phải nghĩ, đó là những bạn bè thân và người ruột thịt. Thật kỳ lạ, hình như họ không sợ bị lây bệnh tí nào.
Ở kia, chắc người đàn bà đó là mẹ nạn nhân. Mặc dù hoàn toàn không giống. Nhưng con người đó thì giống ai chứ? Bà ta có bộ mặt nông dân, thô kệch, khắc khổ, và bà ta cứ luôn lau môi và mũi bằng lòng bàn tay, bởi lẽ nước mũi bà ta cứ chảy hoài và bà ta đang cố kìm nước mắt. Nhưng bà ta không khóc. Bà ta đau khổ không như những người khác, cặp mắt bà ta nhìn người bị hành hình cũng không như những người khác. Tất nhiên rồi, đó là mẹ phạm nhân. Có thể, bà ta thương xót con trai nhiều hơn tất cả mọi người, nhưng hình như bà lại giận con trai mình vì việc ông ta đang bị treo kia, vì việc con bà đã bị hành hình. Chắc là con bà đã làm chuyện gì đó nên phải chịu hành hình - hành hình một cách trong sạch và vô tội, và vì thế mà bà lên án con trai mình. Bà ta cũng biết rõ, con trai bà không có tội gì hết, vì bà là người mẹ mà. Dù cho cơn trai bà có gây ra chuyện gì, bà dù sao cũng biết rõ mà.
Còn bản thân Barabbas thì lại không có mẹ. Cả bố cũng thế, anh ta chưa từng được nghe về người cha. Họ hàng thân thích cũng không có một ai, Barabbas không hề biết có người họ hàng nào. Vì vậy, nếu như Barabbas có bị treo trên cây thập ác thì cũng chẳng có nhiều người khóc thương. Nhất là lại vì chuyện thế này. Họ đấm thùm thụp vào ngực mình chẳng khác gì trên đời không còn nỗi khổ đau nào khủng khiếp hơn, họ rên rỉ, gào thét mới thương tâm làm sao, thật khủng khiếp.
Barabbas biết người bị hành hình trên cây thập ác bên phải bị lột da đầu. Nếu như đột nhiên con người đó nhìn thấy Barabbas, vị tất đã cho rằng Barabbas đến đây là vì mình: để tận mắt thấy con người đó đã nhận được theo công trạng. Mà Barabbas đến đây hoàn toàn không vì con người đó. Dù cho cũng chẳng có việc gì phải khước từ việc chứng kiến những khổ đau của con người đó. Nếu như có kẻ nào xứng đáng bị chết thì trước hết đó là tên khôn kiếp này. Nhưng không phải vì cái mà người ta đã kết tội y, mà hoàn toàn vì một điều khác.
Chỉ có điều Barabbas nhìn y để làm gì, nhìn y chứ không phải người bị treo ở giữa, bởi vì anh ta đến đây là vì con người đó, và con người đó đã bị đinh câu rút ở đây thay cho anh - Barabbas. Đấy là do con người đó buộc Barabbas đến đây, con người đó có quyền hành như vậy đối với anh, cả sức mạnh như vậy nữa. Sức mạnh ư? Vì nếu kẻ nào bất lực thì đó là ông ta. Bị đinh câu rút trên cây thập ác - thảm hại hơn thế thì làm gì có, hai người khác trông khá hơn nhiều, họ cũng đau đớn hình như ít hơn. Rõ ràng họ là những người mạnh mẽ hơn. Còn ông ta thì thậm chí không thể giữ nổi cho đầu mình ngay ngắn, đầu hoàn toàn ngoẹo về một bên.
Thế rồi ông ta nâng cái đầu lên, đảo lưỡi liếm đôi môi khô khốc, một tiếng thở nặng nhọc phả vào bộ ngực còm nhom không một sợi lông. Ông ta lẩm bẩm điều gì đó, có lẽ “Nước”. Bọn lính nằm rải rác trên cỏ phía dưới triền dốc, ngán ngẩm chờ đợi khi nào thì ba con người kia sẽ chết, chúng chơi trò xúc xắc và chẳng hề nghe thấy gì. Khi đó có một người bà con tiến đến chỗ chúng, một tên lính bất đắc dĩ đứng lên, nhúng môi vào bình nước rồi tựa vào chiếc gậy chống, đưa bình nước cho kẻ bị hành hình nhưng là phần nước cặn đục, kẻ bị hành hình không uống, còn tên lính khốn kiếp thì cười hô hố, tiến lại chỗ đồng bọn và tất cả cùng đùa nhau cười ngất. Cả một lũ khốn kiếp!
Những người ruột thịt - hay bất kể ai đi nữa đã đến đây - đều buồn thương nhìn người tử tội, con người đó đang thở rất yếu ớt, thoi thóp thở, rõ ràng sắp tắt thở đến nơi rồi. Và mong cho nó chóng kết thúc, Barabbas nghĩ thế, mong cho con người đó chóng được giải thoát khỏi mọi đau khổ. Mong sao nó chóng kết thúc. Khi cảnh tượng này kết thúc anh sẽ có thể bỏ chạy đi và sẽ không bao giờ còn phải nghĩ đến nó!
Nhưng đột nhiên, toàn bộ đồi núi bị một màn đen bao phủ chẳng khác gì mặt trời đã tắt, cả một màn đen dày đặc, và trong màn đen này giọng sang sảng người tử tội gào to từ trên đỉnh núi:
- Trời đất ơi! Trời đất ơi! Người vì cớ gì để con lại thế này?
Một tiếng kêu gào khủng khiếp. Người tử tội muốn nói điều gì? Và vì sao bỗng nhiên lại bị tối đen lại? Giữa ban ngày ban mặt? Hoàn toàn không hiểu nổi. Ba cây thập ác chỉ hơi lờ mờ hiện lên giữa màn đen. Thật khủng khiếp. Chắc bây giờ sẽ xảy ra một điều gì đó ghê gớm đây. Bọn binh lính bật đứng cả dậy, cầm lấy vũ khí, bọn chúng gần như vồ lấy vũ khí. Tay cầm giáo, bọn chúng bao vây các cây thập ác, đứng đó và thì thầm với nhau, Barabbas có nghe thấy. Giờ thì chúng đã hoảng sợ. Giờ thì chúng không còn cười hô hố nữa! Rõ ràng, bị mê muội rồi.
Bản thân Barabbas cũng hoảng sợ. Và rồi vui mừng khi trời lại bừng sáng và mọi cái lại trở lại như là chính nó. Trời bừng sáng một cách từ từ như lúc bình minh. Ánh sáng lại bao phủ khắp núi đồi, khắp các cây có dầu ở xung quanh, và những con chim nhỏ nhoi đang im hơi lặng tiếng giờ lại cất tiếng kêu chiêm chiếp. Hệt như một buổi ban mai.
Những người thân thuộc đứng bất động bên cây thập ác. Lúc này họ không còn thở dài, không còn gào thét nữa. Tất cả cứ đứng nhìn người bị hành hình. Cả bọn binh lính cũng vậy. Không gian hoàn toàn tĩnh lặng.
Đã có thể yên tâm chuẩn bị bỏ về được rồi. Bởi mọi việc đã kết thúc. Và mặt trời đã lại rực sáng, và tất cả mọi thứ lại trở lại như mọi khi. Đơn giản là chẳng mấy lúc nữa trời sẽ tối bởi vì con người đó đã chết.
Phải, đã đến lúc rút lui rồi. Đúng lúc. Ở đây Barabbas chẳng còn việc gì để làm nữa. Một khi con người đó đã chết thì anh còn ở lại đây làm gì. Con người đó được tháo khỏi cây thập ác, đó là điều Barabbas đã nhìn thấy trong lúc bỏ đi. Có hai người bọc thi thể ông ta bằng tấm áo lá sạch, điều này Barabbas cũng nhìn thấy. Tấm thân đó rất trắng trẻo, và họ rất thận trọng như sợ làm nó bị thương, gây đau đớn cho nó, thật kỳ lạ: bởi lẽ ông ta đã bị hành hình rồi cơ mà! Nói chung, những con người kỳ quặc thế nào ấy. Tuy nhiên, bà mẹ vẫn đưa cặp mắt khô khốc theo dõi những gì còn lại từ người con trai bà, và bộ mặt đen sạm khắc khổ không biết cách bộc lộ toàn bộ nỗi khổ đau của bà và chỉ cho thấy rằng bà đã không hiểu nổi điều đã xảy ra và sẽ không bao giờ chịu tha thứ. Điều này thì Barabbas hiểu bà.
Khi tất cả mọi người đã đi qua vẻ đầy đau thương, đàn ông vác thi hài, còn phụ nữ bước theo sau, có một phụ nữ bước lại bên bà mẹ nói thì thầm điều gì đó và gật đầu về phía Barabbas. Bà mẹ dừng lại và nhìn anh ta, và cặp mắt bà sao mà thảm thương làm vậy, sao mà đầy vẻ trách móc làm vậy khiến Barabbas có ý nghĩ anh sẽ không bao giờ có thể quên được. Dòng người lặng lẽ từ Gongopha đi tiếp xuống dưới theo đường đi, sau đó rẽ ngoặt về bên trái.
Barabbas cũng đi theo họ cách một đoạn xa đủ để họ không nhìn thấy anh. Nghĩa địa ở ngay gần đó và tại đó có quan tài được khoét trong núi đá. Và thi hài người chết được đặt vào đó. Và sau khi cầu khấn ở phía dưới quan tài, người ta đậy một tảng đá to vào lỗ cửa mộ rồi ra về.
Chỉ lúc này Barabbas mới tiến lại bên ngôi mộ rồi đứng đó một lúc. Nhưng anh không cầu khấn, anh vốn là một con người độc ác, mà cầu khấn không phải là việc của những người độc ác, tội lỗi của Barabbas thì không thể nào chuộc lại được. Hơn nữa anh không hề biết con người đó. Anh chỉ đơn giản đứng ở đó một lúc thôi.
Sau đó anh cũng tiến về phía thành Giêruxalem.
***
Sau khi vào thành phố qua cổng David anh nhanh chóng nhìn thấy cô gái Môi Thỏ trên đường phố. Cô đang lẩn đi dọc theo các tường nhà và làm ra vẻ không nhìn thấy Barabbas, nhưng anh đã nhận ra là cô gái có nhìn thấy anh và hình như không chờ đón cuộc hội ngộ này. Có lẽ, cô ta nghĩ là Barabbas đã bị hành hình.
Barabbas bước theo dấu vết cô gái, rồi nhanh chóng đuổi kịp, thế là hai người đã ở bên nhau. Tất nhiên, chẳng cần phải đuổi kịp cô gái. Mà Barabbas cũng chẳng nên nói chuyện với cô, tự anh thấy sửng sốt về việc mình đã mở miệng nói với cô. Và, hình như, cô gái cũng vậy. Cô rụt rè nhìn Barabbas khi đã không còn điều gì khác nữa.
Hai người không vội đề cập đến điều cả hai phải bận tâm, Barabbas chỉ hỏi cô định đi đâu và có tin tức gì về Gangan không. Cô gái trả lời ngắn gọn và cũng như mọi khi, bằng giọng mũi, phải vất vả anh mới hiểu. Thì ra, cô gái không có ý định đi đâu hết, còn khi anh hỏi cô hiện sống ở đâu, cô không trả lời. Gấu váy cô bị rách thành những miếng tả tơi, đôi chân to bẩn thỉu không giày dép. Cuộc hội thoại nhanh chóng kết thúc rồi hai người lặng lẽ đi tiếp.
Từ ô cửa một ngôi nhà để mở như từ một hố đen ngòm có những giọng nói oang oang vang ra, và từ đó có một phụ nữ cao lớn béo bự bổ nhào ra thẳng vào Barabbas cùng tiếng kêu lớn. Mụ đã say rượu, trước mặt Barabbas vì vui mừng mụ vung vẩy đôi tay mập mời anh vào nhà. Barabbas lết theo mà trong lòng thấy ngại ngần về người bạn đường kỳ lạ của mình, song người phụ nữ không chịu dừng lại, mụ đẩy cả hai con người này vào nhà. Trong nhà có hai người đàn ông và ba phụ nữ lên tiếng chào anh rất to - anh chỉ nhận ra họ khi mắt đã quen với cảnh tranh tốì tranh sáng. Ngay lập tức Barabbas được mời ngồi vào bên bàn ăn, họ rót rượu cho anh, rồi tất cả tranh nhau nói. Nào là chuyện anh được thả ra khỏi nhà tù đó và anh mới may mắn làm sao: có kẻ khác bị hành hình thay cho anh! Họ đang hưng phấn bởi men rượu, bởi nguyện vọng được chia vui với Barabbas, thậm chí họ còn kích động được Barabbas khiến niềm vui này cũng chuyển sang họ, và một phụ nữ đã thọc cả tay vào trong lần áo và mân mê bộ ngực đầy lông của Barabbas trong tiếng cười ròn rã của mụ béo.
Barabbas uống rượu cùng với cả bọn, nhưng rất ít nói. Anh chỉ ngồi, dõi cặp mắt màu nâu sẫm của mình chằm chằm nhìn thẳng phía trước, cặp mắt trũng sâu tới mức tựa hồ muốn lẩn trốn. Tất cả đều cho rằng anh là con người kỳ quặc thế nào đó. Đúng, trước kia đã có lúc anh cũng nghĩ thế.
Phụ nữ lại tiếp rượu vang cho anh. Anh lại uống, rồi lắng nghe mọi người nói, còn mình thì hoàn toàn không góp lời.
Cuối cùng thì mọi người cũng tập trung tấn công Barabbas bằng đủ các câu hỏi: đại loại, chuyện gì đã xảy ra với anh và vì sao anh lại như thế. Riêng mụ béo thì ôm cổ anh và nói rằng thật chẳng có gì đáng kỳ lạ nếu Barabbas là con người kỳ quặc: anh đã bị khố sở rất lâu trong ngục tù, hầu như là đã chết rồi, và nếu sau đó người ta thả anh ra và tha chết cho anh, thì dù sao anh cũng là kẻ đã chết rồi, bởi vì anh là người đã chết. Và chỉ vừa được phục sinh, và điều này, có thể nói, hoàn toàn không hề giống như những người khác đang sống. Và khi lời của mụ béo được đáp lại bằng chuỗi cười hô hố, mụ nổi khùng và đe dọa sẽ tống cổ tất cả đi ngoại trừ Barabbas và cô gái có cái môi thỏ, mặc dù mụ nói, nhưng sau đó bình tâm lại và thầm thì kể cho Barabbas nghe là họ phải lên núi thì trời sẩm tối, họ ngay lập tức xuống núi để mang một con dê làm vật cống. Vật cống không được tiếp nhận, vì vậy họ đã bán con dê rồi thế vào đó hai con chim ngói không có khuyết tật. Số tiền dư ra họ đã nhậu nhẹt đã đời nơi mụ béo. Họ hỏi liệu Barabbas có định trở về với họ hay không, và giảng giải giờ đây phải tìm kiếm họ ở đâu. Barabbas chỉ gật đầu không nói năng gì.
Một chị phụ nữ đã nói đến con người bị hành hình thay cho Barabbas. Một lần chị ta tình cờ nhìn thấy con người đó đi qua bên cạnh, nghe nói, ông ấy có biết viết, có tài tiên tri và sáng tạo ra được điều kỳ diệu. Việc này không có hại, mà nhiều người cũng đang làm như vậy, do đó, có lẽ, ông ấy bị hành hình không phải vì việc này. Một con người còm nhom như vậy - đó là tất cả những gì chị ta nhớ được. Một chị khác nói rằng nhìn thấy ông ấy thì chị chưa nhìn thấy, nhưng chị có được nghe nói đâu như ông ấy bảo rằng đền thờ sẽ sụp đổ, Giêruxalem sẽ bị hủy diệt vì động đất và lửa sẽ thiêu hủy cả bầu trời lẫn mặt đất. Thật là trò ngu xuẩn một khi ông ấy bị hành hình vì những lời nói như thế. Chị thứ ba thì lại nói ông ấy kết giao phần lớn với những người nghèo khổ và bao giờ cũng cam kết rằng họ sẽ được lên thiên đường... Thế rồi cả ba cùng cất tiếng cười giòn giã, nhưng cho rằng, nếu được như thế thì cũng không tồi.
Lúc này, Barabbas nghe họ nói đã không còn với bộ mặt đăm chiêu. Đúng là anh không hề hé miệng mỉm cười. Anh rùng mình khi mụ béo lại ôm lấy anh và nói rằng mụ nhổ toẹt vào cái kẻ đó, bởi lẽ dù sao y cũng chết rồi. Dù sao chính y đã bị hành hình chứ không phải là Barabbas, đó mới là điều chủ yếu.
Cô gái Môi Thỏ lúc đầu ngồi co quắp người lại, thờ ơ với chuyện của mọi người. Nhưng khi chuyện đề cập đến phần cuối này thì bừng tỉnh. Lúc này có điều gì đó không ổn đã đến với cô. Cô bật người dậy với vẻ mặt hoảng hốt, xanh xao, mệt mỏi, mắt chằm chằm nhìn người bạn đường và gào lên giọng trầm, kỳ quặc:
- Barabbas.
Có thể, chẳng có gì đặc biệt, bởi lẽ cô gọi tên một con người, nhưng ai cũng sửng sốt nhìn cô và không thể nào hiểu nổi vì sao cô lại gào lên như vậy. Chính Barabbas cũng trở nên kỳ lạ, mắt long lên sòng sọc như thường xảy ra mỗi khi anh không muốn nhìn ai. Không ai hiểu nổi điều gì, mà nói chung, có gì khác biệt đâu, tốt nhất nên bỏ qua chuyện này. Dù thế nào đi nữa, Barabbas là người của mình và bất kể chuyện gì như vậy, song bởi lẽ anh phần nào mất tự chủ, thiếu gì chuyện Barabbas có thể gây ra?
Cô gái lại co người lại ngồi trên sàn đất, bên chân cây nến, nhưng cặp mắt rực lửa không rời khỏi Barabbas.
Mụ béo mang thức ăn ra cho Barabbas, mụ cho rằng anh chắc đã đói meo, bởi lẽ lũ súc vật đó đâu có chịu cho con người được ăn uống trong nhà tù. Mụ đặt lên bàn trước mặt Barabbas cả bánh mì, muối và miếng thịt cừu rán. Anh ăn một ít, phần còn lại đưa cho cô gái Môi Thỏ ra vẻ như đã no. Cô gái bổ nhào vào khẩu phần này, nuốt ngấu nghiến tất thảy như một con thú, sau đó bỏ đi và mất hút luôn.
Lúc này, mọi người mới quyết định hỏi Barabbas xem cô gái là ai, tất nhiên là không mong được trả lời. Nó rất giống Barabbas: chuyện riêng tư của mình anh giữ bí mật cho tới lúc xuống mồ.
- Thế nhà tiên tri đó đã sáng tạo ra những kỳ tích gì? - Barabbas hỏi đám phụ nữ - Và ông ta đã tiên tri thế nào?
Họ đáp rằng ông ta chữa bệnh cho những người đau ốm, xua đuổi các hung thần, nghe nói, thậm chí còn phục sinh cho những người đã chết, song ai mà biết được có đúng thế hay không, có thể không đúng như vậy. Còn ông ta tiên đoán điều gì ư - điều này họ không hay biết. Chỉ có một chị nói là mình đã nghe thấy mọi người bàn tán về một chuyện gì đó của ông ta, về chuyện, một lần có người mời khách đến dự đại tiệc, tiệc cưới hay đại loại gì gì đó, nhưng khách khứa không đến, và thế là đám gia nhân đi ra đường và kêu gọi tất cả mọi người vào nhà, song chỉ thấy toàn những người ăn xin và què quặt gần như đang chết đói, thậm chí chẳng có lấy mảnh vải che thân, và thế là ông chủ giàu có nọ liền nổi khùng... nhưng không nói được gì, cuối cùng bảo thôi được, không sao... Không phải, chị đã quên mất, không nhớ mọi chuyện kết thúc ra sao. Barabbas luôn để tai nghe một cách chăm chú, có vẻ như người ta thông báo cho anh một điều gì đó vô cùng quan trọng. Rồi khi một chị phụ nữ nói rằng người bị hành hình, có lẽ, cũng như mọi người khác, đã tưởng tượng mình mang sứ mệnh cứu thế, Barabbas nắm chặt bộ râu dày màu hung của mình lại và thả mình trong suy tư sâu lắng.
- Sứ mệnh cứu thế ư? Ồ không đâu... anh lầu bầu.
- Sứ mệnh cứu thế gì cái con người đó chứ, - một người đàn ông nói, - giả thử có như thế thì chẳng lẽ y bị hành hình à? Và khi đó, thì chính lũ đẻ thiếu tháng này đã cùng vào nằm một chỗ rồi. Rõ ràng, mụ chẳng biết gì là sứ mệnh cứu thế cả!
- Rõ như ban ngày! Nếu không ông ta đã thoát khỏi cây thập ác và tiêu diệt hết bọn chúng!
- Sứ mệnh cứu thế - và bị hành hình! Chuyện thế có nghe được không?
Barabbas vẫn cứ ngồi yên, nắm tay bóp chặt bộ râu và mắt chằm chằm nhìn xuống nền đất.
- Không phải, ông ta không có sứ mệnh cứu thế.
- Cậu lầu bầu cái gì thế Barabbas, tốt nhất cậu hãy uống rượu đi! - một tay đàn ông nói thế và huých vào sườn Barabbas, lạ thật, làm sao gã cả gan làm thế chứ, vậy mà gã đã huých Barabbas đấy.
Và Barabbas lại ngoan ngoãn tợp một hơi rượu từ chiếc cốc sành rồi thẫn thờ đặt nó về chỗ cũ. Đám phụ nữ lại tiếp rượu cho anh và ép anh uống luôn. Có thể, men rượu đã có tác động, song mọi ý nghĩ của Barabbas vẫn đang phiêu diêu nơi nào đó như cũ. Và gã nọ lại thúc khuỷu tay vào sườn anh.
- Nào Barabbas, cạn cốc, giải sầu đi! Chẳng lẽ cậu không vui sướng được ngồi trong một hội ấm cúng thế này mà đáng lẽ ra bị rũ xương trên cây thập ác à? Vậy thì thế này có tốt hơn không, hả? Cùng hội với cánh mình cậu thấy không đến nỗi nào chứ? Cậu hãy ngẫm mà xem, Barabbas! Cậu đã bảo vệ được cái thân xác mình, cậu vẫn còn sống mà! Còn sống! Nghe thấy không, Barabbas?!
- Phải, phải, - anh nói, - Phải, tất nhiên rồi... Thế là dần dà họ đã làm cho Barabbas không còn chằm chằm nhìn nền đất nữa và bắt đầu giống như một con người bình thường. Họ cứ ngồi đó, nốc rượu, tán gẫu đủ mọi chuyện và Barabbas không còn vẻ mặt xa lạ kỳ quặc như trước.
Nhưng rồi đột nhiên vô duyên vô cớ Barabbas đặt ra cho mọi người câu hỏi rất kỳ quặc. Anh hỏi họ, hôm nay lúc màn đêm bao phủ mọi vật - lúc mặt trời đột nhiên biến mất - họ nghĩ gì.
- Màn đêm ư? Có màn đen nào chứ? - Mọi người bàng hoàng nhìn anh - Chẳng lẽ đã bị che tối ư? Vào lúc nào?
- Lúc sáu giờ...
- Xì cậu đi! Mắt bị lóa rồi! Nếu thế những người khác cũng đã để ý thấy.
Anh lúng túng và đảo mắt nhìn hết người nọ đến người kia vẻ không tin. Tất cả đều cam đoan với anh là họ không hề thấy có màn đen nào hết, cũng không một ai nhìn thấy, kể cả khắp thành Giêruxalem. Và anh đã thật sự hình dung ra rằng bỗng nhiên bị tối đen lại thì sao? Giữa thanh thiên bạch nhật? Chuyện gì mà kỳ lạ thế này? Nhưng nếu đúng là anh còn nhớ rõ chuyện đó thì có nghĩa là mắt anh đã bị trục trặc sau thời gian ở trong ngục tù: anh đã bị giam ở trong đó rất lâu mà. Phải, mọi vấn đề có lẽ là thế. Mụ béo nói rằng rõ ràng mọi chuyện đều do nguyên nhân mắt Barabbas đã bị mất thói quen nhìn ánh sáng, - thế là ánh sáng đã làm anh lóa mắt. Và ở đây chẳng có gì đáng ngạc nhiên.
Barabbas ngờ vực nhìn khắp mọi người, và hình như anh thấy thanh thản hơn. Anh vươn vai thư giãn, nhoài người cầm lấy cốc rượu rồi uống cạn. Nhưng bây giờ không còn đặt cốc vào chỗ cũ mà đưa cốc ra để mọi người rót tiếp cho. Không phải chờ đợi, rồi tất cả lại uống, và rõ ràng cuối cùng Barabbas đã cảm nhận được mùi vị của rượu vang. Anh cứ một hơi nốc cạn cốc rượu theo thói quen và nhanh chóng bị say. Không phải anh là người lắm lời, nhưng dù sao anh cũng kể cho mọi người nghe đôi điều về nhà tù. Phải, anh đã chịu đựng đủ mọi thứ ở đó, sẽ trở thành con người kỳ quặc! Cần được thả ra ư? Bởi lẽ chỉ cần rơi vào nanh vuốt của bọn chúng! Thế rồi bỗng nhiên gặp may! Trước hết, khi bọn chúng thả một người thì anh đến lượt được đi hội Cày Xuân! Thứ hai, bọn chúng lại thả đúng anh! Thật may mắn biết chừng nào! Barabbas đồng ý với mọi người, và, khi họ đấm lưng anh, đè lên người anh, thở ầm ầm vào mặt anh, anh liền cười hô hố và lần lượt uống rượu với tất cả mọi người. Men rượu làm đầu anh choáng váng, và anh thấy người nóng bừng, lại càng thấy vui hơn, rồi phanh ngực áo cho đỡ nóng, rồi nằm xuống và thu xếp cho mình một chỗ dễ chịu cùng với mọi người. Rõ ràng anh thấy thoải mái. Thậm chí, anh còn ôm chặt lấy một chị phụ nữ nằm kề bên, kéo chị ta vào sát mình. Chị ta cất tiếng cười khanh khách và ôm lấy cổ Barabbas. Đúng lúc này, mụ béo kéo anh ra và nói rằng - cuối cùng thì - mụ nói - mụ đã nhận rõ chân tướng người đàn ông yêu quý của mình, cuối cùng thì anh đã khỏe mạnh trở lại, đã hoàn hồn sau thời gian tù tội đáng nguyền rủa đó. Và giờ đây mọi điều dớ dẩn lẫn cái màn đen nào và sẽ không trả thù anh được, - yên yên nào, - mụ kéo anh ép vào mình, hôn tới tấp vào khắp mặt anh, những ngón tay mập của mụ bám lấy cổ anh rồi mân mê bộ râu hung. Ai cũng cảm thấy vui vì anh đã thanh thản hẳn lên, anh đã khác hẳn, như trước đây mỗi khi giải trí thư giãn. Và lúc này tâm trạng mọi người thật tuyệt vời. Họ uống rượu, gào thét, thỏa thuận với nhau về tất cả mọi vấn đề, không thể vui vẻ hơn được nữa, họ thật dễ chịu, thật hưng phấn hết chỗ nói cùng nhau, và mỗi lúc lại nói năng nhiều hơn vì bị hơi men kích thích. Hàng tháng trời đám đàn ông không được uống rượu, không được thấy đàn bà và thế là lúc này phải lĩnh bù cho đã đời. Cần phải chơi bời, dù sao thì cuối cùng họ cũng đang ở thành Giêruxalem mà, cần phải chơi cho đã đời vì Barabbas đã được tự do! Mà thời gian không có nhiều, lại sắp phải lên núi rồi! Họ uống loại rượu vang chua nồng độ cao và được cả đám phụ nữ vỗ về trừ mụ béo, họ lần lượt kéo đàn bà vào phía sau rèm vải rồi khi từ đó đi ra thì mặt mày đỏ ửng, thở hồng hộc để rồi lại nốc rượu, lại la hét. Họ làm tất thảy những gì họ muốn, làm tới số - họ có quyền như vậy mà!
Họ chơi bời như thế cho tới khi trời bắt đầu tối. Thế rồi hai người đàn ông đứng lên và tuyên bố đã đến lúc họ phải ra về, chia tay mọi người, khoác lên người những bộ da dê, giấu vũ khí vào trong đó, rồi đi nhanh ra đường lúc này đã tối đen như mực. Ba người đàn bà ngay lập tức nằm xuống phía sau rèm, họ đã say mèm, kiệt sức và ngủ thiếp đi luôn. Khi chỉ còn lại Barabbas và mụ béo, mụ hỏi liệu đã đến lúc hai người cũng nên an ủi nhau đôi chút không, liệu Barabbas có hứng thú với chuyện đó sau bao năm bị đày đọa hay không, còn chính bản thân mụ - mụ nói - đang bị giày vò hết chỗ nói về người tình bất hạnh bị đày đoạ trong nhà tù và chỉ chút nữa thì đã bị hành hình. Và mụ đã dẫn Barabbas vào trong buồng - ở đây được phủ bằng lá cọ chống nóng những khi bị nóng trong năm. Hai người nằm xuống ở đó, rồi mụ vuốt ve trìu mến anh, và chỉ một lúc sau Barabbas nổi hứng, bám chặt lấy tấm thân to béo của mụ tưởng không bao giờ muốn buông ra. Đã quá nửa đêm thế mà hai con người này không hay biết.
Cuối cùng, thì cả hai cùng mệt rã rời. Mụ xoay người nằm nghiêng và rồi ngủ thiếp ngay đi. Còn anh thì cứ nằm không ngủ được bên cạnh tấm thân đầm đìa mồ hôi của mụ béo, mắt nhìn những tàu lá cọ che trên đầu. Anh nghĩ đến con người bị treo trên cây thập ác ở giữa và nghĩ đến những gì xảy ra hôm nay trên núi Trọc. Sau đó, anh bắt đầu nghĩ đến cái màn đen nọ - nó hiện hữu hay không? Chẳng lẽ - mọi cái đó đều do anh mơ tưởng ra? Mà có thể, chỉ đơn giản là ở Gongopha thì bị tối đen lại, còn ở đây - trong thành phố - không ai nhận thấy? Ở nơi đó rõ ràng là trời bị tối đen lại, cả bọn lính cũng hốt hoảng và nói chung... hay điều đó cũng là do Barabbas tưởng tượng ra? Có thể, mọi cái đều do anh tưởng tượng ra? Không đâu, không hề có chuyện đó, không thể nào hiểu nổi...
Anh lại nghĩ tới người bị hành hình trên cây thập ác. Anh cứ nằm thế mắt mở trừng trừng, không thể nào ngủ được, và bên cạnh là cái thân xác béo bự của mụ xuyên qua lớp lá cọ khô hiện ra bầu trời - có thể, đó là bầu trời, mặc dù nơi đó không có lấy một vì sao. Không đâu có gì cả - chỉ một màn đêm đen.
Đúng, giờ đây cả trên Gongopha, cả khắp mọi nơi chỉ một màn đêm đen.
***
Ngày hôm sau, Barabbas đi lang thang trên phố, và anh gặp khá nhiều người quen - cả bạn bè lẫn kẻ thù, và ai cũng sửng sốt khi nhìn thấy nên an ủi nhau đôi chút không, liệu Barabbas có hứng thú với chuyện đó sau bao năm bị đày đoạ hay không, còn chính bản thân mụ - mụ nói - đang bị đày giày vò hết chỗ nói về người tình bất hạnh bị đày đoạ trong nhà tù và chỉ chút nữa thì đã bị hành hình. Và mụ đã dẫn Barabbas vào trong buồng - ở đây được phủ bằng lá cọ chống nóng những khi bị nóng trong năm. Hai người nằm xuống ở đó, rồi mụ vuốt ve trìu mến anh, và chỉ một lúc sau Barabbas nổi hứng, bám chặt lấy tấm thân to béo của mụ tưởng không bao giờ muốn buông ra. Đã quá nửa đêm thế mà hai con người này không hay biết.
Cuối cùng thì cả hai cùng mệt rã rời. Mụ xoay người nằm nghiêng và rồi ngủ thiếp ngay đi. Còn anh thì cứ nằm không ngủ được bên cạnh tấm thân đầm đìa mồ hôi của mụ béo, mắt nhìn những tàu lá cọ che trên đầu. Anh nghĩ đến con người bị treo trên núi Trọc. Sau đó anh bắt đầu nghĩ đến cái màn đen nọ - nó hiện hữu hay không? Chẳng lẽ mọi cái đó đều do anh mơ tưởng ra? Mà có thể, chỉ đơn giản là ở Gongopha thì bị tối đen lại, còn ở đây - trong thành phố - không ai nhận thấy? Ở nơi đó rõ ràng là trời bị tối đen lại, cả bọn lính cũng hốt hoảng và nói chung... hay điều đó cũng là do Barabbas tưởng tượng ra? Có thể, mọi cái đều do anh tưởng tượng ra? Không đâu, không hề có chuyện đó, không thể nào hiểu nổi Barabbas, có người thậm chí còn rùng mình như gặp bóng ma. Anh vô cùng khó chịu. Thì ra họ không biết là anh đã được thả ư? Vậy khi nào họ sẽ nhận thức ra vấn đề? Khi nào họ sẽ hiểu ra rằng người bị hành hình không phải là anh!
Trời nắng chói chang, và thật kỳ lạ ở chỗ mắt nhìn ánh nắng trời sao mà khó chịu làm vậy! Có thể, đúng là thời gian ở trong ngục tù đã làm hỏng mắt ư? Và thế là Barabbas quyết định ẩn mình trong bóng râm. Sau khi vượt qua vòm đường hành lang tiến về đền thờ, Barabbas đi luôn vào trong đền thờ rồi ngồi xuống một chỗ tối mập mờ để cho mắt được nghỉ. Và ngay lập tức anh cảm thấy dễ chịu hẳn.
Trong đền đã có một số người đang ngồi co ro bên tường. Họ khẽ khàng nói chuyện với nhau và hình như việc xuất hiện của anh làm họ không hài lòng, họ liếc mắt theo dõi anh và nói với nhau càng hạ giọng hơn. Barabbas chỉ nghe thấy đôi ba từ, song không thể hiểu nổi ý nghĩa, mà cũng chẳng phải gắng sức: anh không quan tâm đến các bí mật của họ.
Có một người đàn ông cũng chạc tuổi Barabbas, cũng để bộ râu màu hung, bộ tóc cũng màu hung để dài xòa xuống lẫn cả vào bộ râu quai nón. Cặp mắt màu xanh nước biển, vì vậy, anh ta có cái nhìn thật kỳ lạ thế nào đó, như trẻ thơ, còn bộ mặt thì to bự. Con người này cái gì cũng to. Đúng là một tay cao to, khoẻ khoắn. Phải cho rằng đó là một thợ thủ công nếu xét theo đôi tay và quần áo anh ta. Nói chung, đối với Barabbas dù thế nào cũng mặc: anh ta là ai và có vẻ ngoài ra sao, song không thể không để ý đến con người này, dù cho con người anh ta chẳng có gì đặc biệt. Tất nhiên, trừ cặp mắt xanh nước biển!
Cả con người to đùng này, và rõ ràng, tất cả những kẻ khác đều buồn buồn thế nào đó. Hình như, họ bàn tán về người đã chết, phải - có lẽ là như vậy. Chốc chốc họ lại thở dài não nề - mặc dù là đàn ông. Nếu như Barabbas hiểu đúng, nếu như họ buồn thương ai đó, họ có thể đã nhường lại những tiếng thở dài này cho cánh đàn bà - cho những người mau nước mắt?
Bỗng nhiên, Barabbas nghe thấy tiếng nói rằng người của họ đã qua đời chính là người đã bị hành hình. Và bị hành hình mới ngày hôm qua. Hôm qua ư?
Barabbas lắng tai nghe, song những người ngồi bên tường càng hạ giọng nói nhỏ hơn, thế là Barabbas không còn nghe thấy gì nữa.
Họ đã nói về ai?
Đúng lúc này có nhiều người qua lại trên phố - nên không thể nghe thấy gì. Nhưng tới lúc yên tĩnh trở lại, Barabbas lại nghe thấy đôi điều, và anh hiểu ra rằng: đúng là họ đã nói về con người đó. về người đã bị...
Thật kỳ lạ... Chính Barabbas cũng vừa nghĩ đến con người đó. Lúc đi qua dưới cổng vòm đối diện với cung điện và chợt nhớ ra. Còn khi đi qua nơi người đó để rơi cây thập ác, tất nhiên lại nhớ đến.
Và thế là những con người này cũng đang ngồi đây và nhắc tới con người đó. Thật lạ lùng! Con người đó có quan hệ gì với đám người này? Và vì sao họ luôn luôn thì thầm bàn tán? Chỉ có tay râu tóc hung to con đôi khi nói hơi to hơn nên có thể nghe thấy, rõ ràng đó là con người to quá cỡ không thể nói thì thầm được.
Liệu họ có đang nói về... về màn đen đó không? Về việc, khi con người đó chết trời đất bị tối sầm lại!...
Barabbas chăm chú lắng nghe, chăm chú tới mức, có thể đám người này đã nhận thấy. Đột nhiên, họ im lặng, không nói thêm một lời nào nữa, chỉ ngồi và liếc mắt nhìn anh. Sau đó, họ lại thì thầm về điều gì đó - anh không nghe thấy gì. Cuối cùng họ từ biệt người to cao và bỏ đi. Họ có bốn người, và không một ai thèm liếc nhìn Barabbas.
Trong đền chỉ còn lại Barabbas và người to cao. Anh định bắt chuyện với người đó, nhưng không biết bắt đầu ra sao. Con người đó ngồi yên, thỉnh thoảng lắc lắc cái đầu to bự và miệng méo xệch đi. Đó là biểu hiện của những con người bình thường: thậm chí chẳng cần phải che giấu nỗi đau khổ của mình. Cuối cùng thì Bạrabbas hỏi thẳng người đó đang buồn về chuyện gì. Người đó sửng sốt, giương cặp mắt tròn xanh lơ nhìn Barabbas và không trả lời. Một phút sau người đó cả tin ngắm nghía vị khách lạ rồi hỏi Barabbas có phải dân Giêruxalem không. Không phải, anh không phải dân vùng này. Thế rồi cuộc trò chuyện của họ ra sao? Barabbas đáp rằng quê anh ở không xa, trên các ngọn núi phía đông. Hình như người cao to yên tâm. Người to cao không tin những tay Giêruxalem đó, anh ta nói thẳng với Barabbas như vậy, anh ta không mảy may tin bọn họ, hầu như hết thảy đều là lũ cướp và bọn độc ác. Barabbas nhếch mép cười và thực lòng đồng ý với người to cao. Thế thì bản thân anh ta là từ đâu đến? Chính anh ta? Phải, quê anh ta ở rất xa - rất xa. Cặp mắt trẻ thơ của anh ta định biểu lộ nơi đó xa tới mức nào. Và anh ta mong muốn biết bao được trở về đó, đã thân thiện nói với Barabbas rằng, chỉ có về nơi đó - chứ không phải ở Giêruxalem này - và anh ta không muốn đến bất kỳ nơi nào khác trên thế giới này. Chỉ có điều vị tất anh ta sẽ có dịp được thấy lại miền quê thân yêu, được sống và rồi chết ở đó như có thời anh ta đã nghĩ. Barabbas rất ngạc nhiên. Vì sao ư? Cái gì cản trở anh ta? Mỗi người tự mình làm chủ mà!
- Mà không được, - người to cao đáp, trầm ngâm suy nghĩ rồi nói thêm: - Không phải là như thế, không phải.
Vậy anh ta ở đây làm gì? - Barabbas không kiềm chế được câu hỏi đó. Người to cao không vội đáp, mãi sau mới bất đắc dĩ thốt lên: đó là vì Thầy Giáo.
- Thầy Giáo ư?
Đúng, chẳng lẽ Barabbas chưa từng nghe thấy về Thầy Giáo?
- Chưa bao giờ.
- Chưa bao giờ ư? Về người bị hành hình hôm qua trên Gongopha ấy?
- Hành hình ư? Không, chưa từng nghe thấy. Vì sao bị hành hình?
- Vì Ngài đã được định mệnh như vậy.
- Được định mệnh bị hành hình à?
- Phải. Trong sách Kinh nói thế. Chính Thầy Giáo đã tiên đoán ra điều đó.
- Chính Ngài à? Và trong sách Kinh đã nói à?... Barabbas mù tịt về sách Kinh và không hề hay biết gì về điểu đó.
- Tôi cũng không được biết. Nhưng trong đó nói thế.
Barabbas tin ngay. Nhưng dù sao thì - vì sao Thầy Giáo bị hành hình, vì sao? Tất cả những chuyện này thật kỳ lạ.
- Vâng... theo tôi, cũng thế. Tôi cũng không hiểu vì sao Ngài phải chết. Và chết một cách khủng khiếp như vậy. Nhưng, như Ngài đã tiên đoán định mệnh Ngài phải chịu như thế. Tất cả đã diễn ra như trời định. Đã bao lần Ngài nói, - và cái đầu to đùng của người to cao ngẩng lên, - Ngài sẽ phải chịu đau khổ và chết thay chúng ta.
Barabbas nhìn anh ta.
- Chết thay chúng ta!
- Phải, thay chúng ta! Vô duyên vô cớ phải đau khổ và chết thay chúng ta. Rõ ràng, vì chính chúng ta có tội - chứ không phải là Ngài.
Barabbas ngồi yên nhìn ra đường và không hỏi gì nữa.
- Giờ đây những điều Ngài nói thật quá dễ hiểu, - Người cao to tự nói với mình.
- Và anh biết rõ về Ngài chứ? - Barabbas hỏi.
- Tất nhiên. Tất nhiên, biết rất rõ. Tôi đã ở bên Ngài ngay từ hồi đầu, lúc Ngài còn khởi đầu ở nơi đó, chỗ chúng tôi.
- Vậy, có nghĩa là, Ngài cùng quê với anh?
- Rồi sau đó tôi đã đi theo Ngài đến khắp mọi nơi, bất kể nơi nào Ngài tới.
- Để làm gì?
- Để làm gì ư? Sao anh còn hỏi nhỉ! Thật rõ ràng anh không hề hay biết về Thầy Giáo.
- Vì sao lại thật rõ ràng?
- Anh hãy hiểu cho, Ngài vốn có sức mạnh. Một sức mạnh không thể hiểu nổi. Ngài chỉ cần nói: hãy đi theo ta! Và anh sẽ đi theo Ngài. Vì sẽ không còn gì khác nữa. Sức mạnh của Ngài là như thế đó. Giá như anh được biết về Ngài, chắc là anh đã không hỏi. Và anh cũng đã đi theo Ngài rồi!
Barabbas im lặng. Một lát sau nói:
- Phải, có thể, Ngài là một người kiệt xuất nếu như mọi điều anh nói là sự thật. Nhưng một khi Ngài đã bị hành hình, vậy thì, sức mạnh của Ngài cũng đâu có ghê gớm lắm?
- Ồ không, không phải thế. Chính tôi lúc đầu cũng có ý nghĩ đó - vì đó mới chính là điều khủng khiếp nhất. Làm sao tôi lại dám nghĩ - dù chỉ trong giây phút - đến điều đó. Nhưng giờ đây, hình như, tôi đã hiểu ra cần có cái chết nhục nhã này để làm gì, giờ đây tôi đã cân nhắc kỹ và đã trao đổi với những người hiểu biết hơn tôi về sách Kinh. Anh hiểu không, té ra, Ngài - một người vô tội - cần phải chịu đựng hết thảy những cái đó mà thậm chí xuống cả địa ngục chính là vì người anh em của chúng ta. Song Ngài sẽ còn trở về và sẽ chứng tỏ toàn bộ sức mạnh của mình. Ngài sẽ phục sinh từ cõi chết! Chúng ta không hề nghi ngờ điều đó!
- Sẽ từ cõi chết sống lại! Nói nhảm nhí gì thế chứ?
- Không phải nói nhảm nhí! Chắc chắn sẽ phục sinh. Có ai đó nghĩ - thậm chí ngay sáng ngày mai thôi, bởi sự phục sinh sẽ xảy ra ở ngày thứ ba. Hình như Ngài có nói là sẽ ở dưới địa ngục ba ngày, bản thân tôi thì không được nghe nói. Nhưng hình như Ngài có nói như thế. Và ngày mai khi tảng sáng...
Barabbas nhún vai.
- Anh không tin à?
- Không.
- Anh không tin... thật tiếc cho anh... Bởi lẽ anh không được biết về Ngài. Nhưng chỗ chúng tôi có nhiều người tin Ngài. Thật đấy, vì cớ gì Ngài sẽ không được phục sinh chứ một khi Ngài đã làm những người khác đã chết sống lại?
- Ngài đã làm phục sinh ư? Làm sao có chuyện đó!
- Lại còn không thể nữa! Chính mắt tôi đã nhìn thấy mà.
- Chẳng lẽ đúng thế à?
- Hoàn toàn đúng vậy. Ngài đã làm sống lại. Bởi Ngài có sức mạnh mà. Ngài có đủ sức mạnh cứu tất cả mọi người, chỉ cần có mong muốn thôi. Chỉ cần Ngài có lòng mong muốn cố gắng cho bản thân thôi. Hiện thời Ngài chưa làm gì như vậy. Vậy tại sao với sức mạnh của mình như vậy mà Ngài lại cho phép hành hình mình? Phải, tôi biết, tôi biết chứ... song không dễ dàng hiểu được điều đó đâu. Anh thấy không, tôi chỉ là một con người bình thường, và không dễ gì hiểu rõ được tất cả những chuyện đó, người anh em ạ.
- Vậy là, anh không tin rằng Ngài sẽ hồi sinh chứ?
- Không, không phải, tôi tin. Tất nhiên, người ta nói đúng đấy. Rằng Thầy Giáo sẽ trở về và biểu lộ sức mạnh cùng niềm vinh quang của Ngài. Tôi không hề nghi ngờ điều đó. Và khi đó sẽ bắt đầu thời đại vĩ đại. Người ta còn nói: sẽ bắt đầu thế kỷ mới, thế kỷ hạnh phúc khi NGƯỜI CON TRAI NHÂN ÁI sẽ trị vì vương quốc của mình.
- NGƯỜI CON TRAI NHÂN ÁI nào?
- À. Ngài tự gọi mình là như thế.
- NGƯỜI CON TRAI NHÂN ÁI à?
- Phải Ngài đã nói như thế. Nhưng một số người lại nghĩ... không được, tôi không thể nào thốt...
Barabbas xích lại sát anh ta.
- Họ nghĩ gì?
- Họ nghĩ... họ nghĩ Ngài là con trai của chính Thượng Đế!
- Con trai của Thượng Đế!
- Phải... Chỉ có điều, khoan đã, không phải thế đâu. Thậm chí ngớ ngẩn nữa. Tốt nhất Ngài cứ trở về đúng như con người thật của Ngài.
Barabbas thật sự hoang mang.
- Nhảm nhí hết chỗ nói!... anh nói to. - Con Trai Thượng Đế! Con Trai Thượng Đế mà bị hành hình! Anh có hiểu không, làm sao có thể như thế được!
- Tôi đã chẳng nói với anh rồi sao, rằng - từ từ nào - đó không đúng là đúng sự thật. Và tôi xin nhắc lại, nếu anh muốn.
- Có kẻ mất trí nào lại có thể tin chuyện đó chứ? - Barabbas tiếp tục nói, và vết sẹo phía dưới mắt anh đỏ bừng lên như mỗi khi có điều gì đó làm anh mất tự chủ. Con Trời! Con Trời cái gì ông ta chứ! Cứ nghĩ xem, làm sao ông ta xuống được hạ giới chứ! Mà lại còn đi lang thang trên các vùng quê anh và thuyết giáo nữa!
- Vậy... thì tại sao chứ? Có thể có chuyện đó đấy. Tại sao lại không đi trên quê hương chúng tôi chứ? Tất nhiên, quê tôi là một vùng hẻo lánh, dù sao thì cũng phải có xuất xứ chứ! - Và người cao to nhìn Barabbas thân thiện tới mức tí nữa Barabbas cười phá lên. Nhưng anh quá hồi hộp không cười được. Toàn thân run rẩy và liên tục kéo tấm da dê lên che vai, mặc dù nó hoàn toàn không bị tuột xuống khỏi vai. Vậy thì cái sự kiện kỳ diệu xảy ra lúc Ngài qua đời thì sao? - Người to cao hỏi. - Anh có nghĩ đến điều đó chứ?...
- Điều kỳ diệu gì?
- Anh lạ thật, thế anh không biết khi Ngài chết trời trở nên tối mù ư?
Barabbas quay mặt đi và lau mắt.
- Và mặt đất đã bị rung chuyển và Gongopha đã bị nứt toác ra từ phía dưới lên trên cao ở chính nơi đặt cây thập ác ư?
- Không hề có chuyện đó! Tất cả chỉ do anh bịa đặt ra thôi! Làm sao mà anh biết được nó bị nứt toác ra? Lẽ nào anh cũng có mặt ở đó?
Và đột nhiên người cao to thay đổi hẳn nét mặt. Anh ta ngờ vực nhìn Barabbas rồi ngay lập tức nhìn xuống đất.
- Không, không có. Tôi không biết gì hết. Tôi không thể chứng minh được gì hết. - Anh ta lắp bắp. Sau đó cứ im lặng suốt và thở dài não nề.
Cuối cùng, anh ta đặt tay lên vai Barabbas và nói:
- Anh biết không... Tôi không có mặt bên Thầy Giáo lúc Ngài bị hành hạ rồi chết. Tôi đã bỏ chạy. Tôi đã bỏ Ngài và chạy trốn. Thậm chí, trước khi bỏ chạy tôi còn phủ định Ngài. Và đấy là điều khủng khiếp nhất. Tôi đã phủ định Ngài. Làm sao Ngài tha thứ cho tôi được lúc Ngài trở lại! - Rồi gục cái mặt to để râu xồm xoàm vào lòng bàn tay, anh ta bắt đầu lắc lư người từ bên nọ sang bên kia. - Sao tôi lại cư xử như vậy chứ! Làm sao con người lại có thể làm một việc như vậy được! - Cặp mắt xanh của anh ta đầm đìa nước mắt khi anh ta lại nhìn Barabbas - Đấy, anh đã hỏi vì sao tôi buồn phiền. Giờ thì anh biết rồi. Giờ thì anh đã rõ tôi là loại người nào! Mà Chúa trời của tôi cùng Thầy Giáo lại biết rõ điều đó hơn anh. Thật đau khổ cho tôi biết chừng nào. Theo anh Thầy Giáo sẽ tha thứ cho tôi chứ?
Barabbas nói rằng, có lẽ, Ngài sẽ tha thứ. Anh đâu có quan tâm lắm đến những gì người to cao nói với anh, dù sao thì anh cũng đã nói như thế, chỉ là đáp chuyện thôi, mà chẳng rõ vì sao Barabbas thấy thinh thích cái con người biết nhận ra lỗi lầm này, tựa như một tên tội phạm, mặc dù anh ta nói chung không hề làm việc gì xấu xa. Trên đời thiếu gì kẻ đi lừa bịp người khác, thử ngẫm xem!
Người to cao nắm lấy bàn tay Barabbas và bắt tay thật nhiệt tình:
- Có thật anh cho là như thế chứ? Thật không? Anh ta hỏi lại giọng khàn đặc.
Đúng lúc này có một số người đi qua trên quảng trường.
Khi họ nhận ra người cao to râu tóc hung và nhìn thấy anh ta đang ngồi nói chuyện với ai, họ lặng người đi như không còn tin vào mắt mình nữa. Họ bổ nhào đến chỗ người to cao, và mặc dù trong hành vi của họ lộ rõ vẻ kính trọng một cách kỳ quặc không đếm xỉa gì tới bộ quần áo thiểu não trên người anh ta, họ hô tướng lên:
- Cậu có biết con người này là ai không?
- Không, - người cao to chân thật đáp, tôi không hề quen biết anh ta. Nhưng anh ta có tấm lòng thật nhân hậu, và chúng tôi vừa nói chuyện rất lý thú với nhau.
- Và cậu cũng không biết rằng đây là kẻ mà Thầy Giáo đã bị hành hình thay cho?
Người cao to bỏ tay Barabbas ra và đưa mắt nhìn hết người nọ đến người kia, không đủ sức che giấu vẻ lúng túng của mình. Những người kia qua vẻ mặt cho thấy rõ họ đang nghĩ gì về Barabbas, và còn nghe thấy rõ tiếng thở đầy vẻ nặng nề và căm phẫn của họ.
Barabbas đứng lên và quay ngoắt người khiến bọn họ không còn nhìn thấy mặt anh nữa.
- Cút đi, đồ bất lương! - họ quát Barabbas.
Và Barabbas chui người vào bộ da dê rồi bước đi đơn côi trên đường phố, không hề ngoái nhìn lại.
***
Cô gái Môi Thỏ không ngủ được. Cô cứ nằm, mắt nhìn sao trời và suy nghĩ đến điều gì đó sẽ xảy ra. Không được, cô không được ngủ, cô phải tỉnh táo suốt đêm.
Cô gái nằm trên rơm rạ mà cô đã lượm được dưới hố cạnh cổng Hố Rác, còn quanh cô những người ốm rên rỉ, cọ quậy trong cơn mơ và có cả tiếng lục lạc kêu leng keng của một người hủi cố đi bộ để chế ngự cơn đau đớn. Những đống rác rưởi ngổn ngang khắp khu thung lũng bốc mùi hôi thối đến ngạt thở, nhưng cô gái thì đã quen rồi, không nhận thấy mùi nồng nặc. Ở đây, không ai nhận thấy mùi đó.
Sáng tinh mơ ngày mai... Sáng tinh mơ ngày mai...
Thậm chí có ý nghĩ là sắp tới mọi người ốm đau què quặt sẽ đều được chữa khỏi bệnh, tất cả những người đói khát sẽ được ăn uống no đủ cũng thấy rất kỳ lạ. Thật không tin được. Chuyện này rồi sẽ ra sao? Bầu trời sẽ được mở toang ra, các thiên thần sẽ từ đó xuống trần gian và cho tất cả mọi người ăn uống no đủ - dù chỉ là những người nghèo đói thôi. Còn đám giàu có thì hãy mặc cho họ ăn uống ở nhà họ như cũ, và các thiên thần ngay lập tức sẽ ban phát đủ lương thực thực phẩm để tất thảy những ai đúng là đang đói rách được ăn uống ngay tại đây, bên cổng Hố Rác, khăn ăn sẽ được rải ra ngay trên mặt đất - những chiếc khăn trắng bằng vải bông sạch sẽ, và trên đó sẽ được bày biện đủ các loại đồ ăn thức uống và ai cũng sẽ có thể nằm xuống cạnh đó và ăn uống thỏa thích. Nói chung, tưởng tượng ra cảnh đó cũng chẳng có gì khó khăn cho lắm, chỉ cần nhớ rằng mọi cái sẽ hoàn toàn không giống như thực tại. Mọi cái sẽ thay đổi và trở nên khác hẳn...
Có thể, chính cô cũng sẽ có chiếc váy áo mặc, ai mà biết được? Có thể, váy áo màu trắng. Mà cũng có thể, cô sẽ mặc chiếc váy màu xanh? Bởi lẽ, mọi cái rồi sẽ thay đổi vì Con Trai Chúa Trời sẽ từ cõi chết phục sinh và một thời đại mới sẽ bắt đầu.
Cô gái cứ nằm và suy ngẫm về tất cả những chuyện đó, về việc những chuyện đó sẽ xảy ra như thế nào.
Ngày mai... Ngày mai lúc sáng tinh mơ... Thật lý thú là người ta đã dặn trước cô gái.
Tiếng lục lạc của người hủi vang lên ở ngay bên cạnh. Cô gái đã nhận biết được chúng, người hủi này đêm đêm vẫn đi qua nơi đây mặc dù đã có lệnh cấm: ngươi hủi phải ở trong nhà mình, chỗ đất trũng nhất, nhưng cứ đêm đến con người này lại rời khỏi nhà đi. Chắc là, muốn gần gũi mọi người hơn. Có một lần người hủi này nói như vậy. Cô gái nhìn thấy người hủi đang thận trọng đi lại giữa những người đang ngủ dưới ánh sáng sao trời.
Cõi chết... Nó thế nào nhỉ?... người ta bảo, lúc này Ngài đang ở trong cõi chết... Nó có giống cái gì nhỉ?... Không, cô bé không thể hình dung nổi chuyện đó.
Lão mù đang rên rỉ trong cơn mơ. Cách đó một chút là chàng trai đã kiệt sức đang thở hổn hển, đêm nào cũng nghe thấy tiếng thở hổn hển của anh ta. Nằm ngay cạnh anh ta là chị phụ nữ người Galilây, một tay người đàn bà này run rẩy vì có một con quỷ lạ nào đó đã nhập vào thị. Và xung quanh còn có vô vàn những người ốm đau đang nằm lung tung - những con người đã tin tưởng rằng họ sẽ được chữa lành lặn trong dòng nước và đám người nghèo khổ được nuôi sống bằng thức ăn thừa bỏ đi tại nơi đây, trên bãi rác này. Nhưng ngày mai nơi đây sẽ không còn một ai. Họ đang nằm, cọ quậy trong khi ngủ, và cô gái không còn thương xót một ai.
Có lẽ, vị thiên sứ sẽ bị chết đuối và nước sẽ ngay lập tức trở nên trong sạch? Và tất cả mọi người sẽ được khỏi bệnh sau khi đẫm mình trong nước này? Và thậm chí cả đám người hủi cũng sẽ lành bệnh? Nhưng lẽ nào người hủi cũng được xuống dòng nước? Sẽ không bị xua đuổi đi? Ai mà biết được... Không một ai biết gì cả...
Mà có thể, sẽ chẳng có gì xảy ra với dòng nước, và nói chung mọi chuyện không phải ở chỗ dòng nước. Có thể, các đám thiên thần sẽ bay qua toàn bộ thung lũng Ghêhinôm, trên khắp mặt đất và những chiếc cánh thiên thần sẽ cuốn đi mọi bệnh tật, mọi nỗi buồn và đau khổ!
Thế đấy, có thể, tất cả sẽ như thế!
Sau đó, cô gái bắt đầu nhớ lại lần được gặp Con Trai Chúa Trời ra sao. Ngài đã trìu mến với cô ra sao. Cho tới giờ chưa hề có ai trìu mến với cô gái như thế. Cô có thể đã xin Ngài chữa khỏi khuyết tật cho cô, chỉ có điều cô không muốn ngỏ lời. Ngài đã giúp đỡ tất cả những ai thật sự cần có sự giúp đỡ, Ngài đã làm được những việc thật vĩ đại. Cô gái không muốn làm Ngài phiền muộn vì một chuyện nhỏ nhoi như thế.
Nhưng Ngài đã nói với cô gái một điều thật kỳ lạ, một điều rất chi là kỳ lạ, khi cô quỳ gối xuống mặt đường đầy bụi bặm, còn Ngài thì quay người và tiến đến bên cô.
- Nàng cũng đang chờ đợi ta ban những điều kỳ diệu ư? - Ngài nói.
- Không, thưa Đức Chúa, con không chờ đợi những điều đó. Con chỉ nhìn xem Ngài đi trên đường ra sao thôi.
Sau đó Ngài đã nhìn cô gái, cặp mắt Ngài nhìn mới hiền dịu làm sao, mới buồn làm sao, rồi Ngài đã vuốt má cô, và chạm cả vào miệng cô và môi cô vẫn nguyên như cũ không có gì thay đổi. Sau đó Ngài nói:
- Nàng sẽ xác nhận về ta.
Những lời nói kỳ lạ. Nó có nghĩa là gì? “Xác nhận về ta”. Và đó là việc của nàng ư? Thật khó hiểu. Cô gái sẽ xác nhận về Ngài như thế nào chứ?
Ngài dễ dàng hiểu rõ những gì cô gái nói, không như những người khác nói, ngay lập tức Ngài hiểu rõ. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là ở chỗ Ngài là Con Trai Thượng Đế.
Và còn đủ thứ - đủ các loại ý nghĩ mung lung trong đầu óc cô gái: nào là cặp mắt Ngài đã nhìn cô gái ra sao, khi Ngài nói với cô, nào là bàn tay Ngài thơm ra sao khi tay Ngài chạm vào miệng cô... Mắt cô gái mở trừng trừng phản chiếu các vì sao sáng, và cô thấy ngạc nhiên về việc sao sáng tỏa ra mỗi lúc một nhiều hơn trong lúc cô nhìn chúng. Kể từ khi cô không còn sống ở nhà mình, cô đã nhìn thấy sao sáng không biết bao nhiêu mà kể... Chẳng hiểu sao trời là gì nhỉ? Ai mà biết được chúng. Tất nhiên, Thượng Đế đã sáng tạo ra chúng, nhưng chúng là gì... ai biết... Nơi đây, ở hoang mạc này có nhiều sao lắm... Cả ở trên núi cao cũng rất nhiều sao... ở trên núi Gangala ấy... Song chỉ có điều không phải cái đêm nọ, không, không phải đêm đó...
Cô gái lại chuyển dòng suy nghĩ sang ngôi nhà ở giữa hai cây tuyết tùng... Mẹ cô đã đứng ở cửa nhà và nhìn theo gót cô đi xuống khuất dần dưới chân núi mang theo mình sự nguyền rủa... Phải rồi, họ cần phải tống cổ cô ra khỏi nhà để từ nay cô sống như loài thú trong các hang ổ... Cô cứ tiếp tục nghĩ đến cảnh mùa xuân đồng ruộng sao mà xanh làm vậy, còn mẹ cô khi đó đứng nghiêng người trong bóng tối ở cửa để cho kẻ đã chửi rủa không nhìn thấy...
Nhưng lúc này chuyện đó không quan trọng. Lúc này mọi chuyện đều không quan trọng.
Lão mù ngồi dậy và giỏng tai nghe, lão đã thức giấc và nghe thấy tiếng lục lạc của người hủi kêu ra sao.
- Ê này, cút xéo đi! - Lão quát to và giơ nắm đấm đe nẹt màn đêm. - Cút khỏi đây ngay! Hừ, quen thói bậy bạ!
Tiếng kêu của lục lạc tắt ngấm trong màn đen, và lão mù lại nằm xuống và đưa bàn tay lên che cặp mắt nhỏ trống rỗng.
Thế còn lũ trẻ con đã chết - chúng cũng rơi vào cõi chết ư? Nhưng không phải như những đứa còn chưa ra khỏi bụng mẹ đã chết chứ? Khó có thể như thế... Và chẳng lẽ cả chúng cũng đau khổ? Chúng có tội tình gì nào? Mặc dù không thể nói chính xác được... Không nên nói chính xác điều gì.
“Quỷ tha ma bắt cái bào thai trong bụng ngươi...”
Nhưng khi thế kỷ mới được bắt đầu, lẽ nào tất cả những lời nguyền rủa sẽ không tự thân bị triệt tiêu ư. Có thể là như thế. Song ai mà biết được?
“Quỷ tha ma bắt cái bào thai trong... bụng ngươi...”
Cô gái rùng mình như bị lạnh. Mong sao trời chóng sáng. Khi mọi chuyện sẽ bắt đầu! Cô gái cứ nằm ở đây lâu như vậy mà đêm vẫn chưa tàn! Đúng là trên trời cao các vì tinh tú đã sáng theo kiểu khác rồi, và vầng trăng non hình lưỡi liềm từ lâu cũng đã biến mất sau các ngọn núi. Bọn lính gác thay ca lần cuối, cô gái đã ba lần nhìn thấy các ngọn đuốc trên tường thành. Đúng rồi, đêm đã tàn. Đêm cuối cùng...
Sao mai đã hiện rõ trên đỉnh núi Ôliu kia rồi! Ngay lập tức có thể nhận ra nó vì nó vừa to vừa sáng làm sao, sáng hơn các vì sao khác nhiều! Chưa bao giờ sao mai lại rực sáng như hôm nay. Khoanh hai tay lên bộ ngực lép kẹp, cô gái cứ nằm và nhìn sao trời bằng cặp mắt rực lửa.
Sau đó, cô gái dậy và bỏ chạy vào trong màn đêm.
***
Barabbas nằm co quắp sau bụi thánh liễu đối diện với cỗ quan tài đá, ở phía bên này đường. Khi trời sáng anh sẽ nhìn thấy tất cả. Từ chỗ này nhìn thấy rất rõ. Mong cho vầng dương sớm mọc!
Tất nhiên, người chết không thể sống lại được, anh biết rõ điều đó, nhưng vẫn muốn tận mắt nhìn thấy tất cả, để khẳng định. Vì mục đích đó mà anh đã dậy rất sớm, trước lúc bình minh rất lâu và nằm ở đây sau bụi cây này. Dù sao, nói chung, anh cũng thấy mình thật lạ lẫm. Rước xác đến đây để làm gì chứ? Xét đến cùng, đối với anh thì không phải đằng nào cũng thế hay sao? Quan hệ gì đến anh nào?
Barabbas đã nghĩ, sẽ có rất nhiều người đến xem điều vô cùng kỳ thú này. Vì thế anh đã ẩn mình - để họ không nhìn thấy anh. Nhưng, hình như - trừ Barabbas - không có ai đến đây. Lạ thật.
Mà không - có ai đó đang quỳ gối, rất gần, ngay trên đường. Ai đấy nhỉ? Và làm sao lại thế, anh không hề nghe thấy tiếng chân bước? Có lẽ, đó là một người đàn bà. Thân hình xám xịt nọ gần như chìm lẫn trong bụi đường màu xám xịt.
Trời đã hửng sáng, tia nắng đầu tiên đã sắp đổ xuống vách núi trên đó có khoét lỗ quan tài. Mọi cái diễn ra nhanh tới mức Barabbas không nhìn thấy gì hết - thế mà Barabbas lại có mặt ở đây để quan sát! Quan tài trống không! Tấm nắp đã bị hất ra khỏi lỗ cửa quan tài và quan tài trong vách đá cũng trống rỗng!
Thoạt tiên anh sửng sốt, cứ nằm đó và nhìn lỗ cửa quan tài, về phía - mà chính anh đã nhìn thấy - người bị hành hình đã được khiêng đặt vào, và nhìn phiến đá mà hôm trước chính mắt anh nhìn thấy người ta đã khiêng lấp cửa mồ đá. Nhưng sau đó thì Barabbas đã hiểu ra. Không hề có chuyện gì đặc biệt. Phiến đá đã bị hất ra từ trước khi Barabbas đến đây khá lâu! Và quan tài đá từ lâu đã trống rỗng. Kẻ nào đã hất được cửa đá ra và mang người chết đi - đoán ra điều này đâu có khó. Tất cả đã được đám đệ tử thực hiện giữa đêm khuya. Lợi dụng bóng đêm che phủ bọn họ đã đánh cắp thi hài Người Thày kính yêu của mình, rồi sau đó sẽ công bố là Ngài đã phục sinh, chính xác như Ngài đã hứa. Đâu cần phải thật thông minh mới nhận ra điều này.
Thế rồi họ đã lỉnh đi đâu đó từ sớm, trước lúc rạng đông - khi mà người ta chờ đợi sự kỳ diệu xảy ra. Họ đã lẩn trốn rồi!
Barabbas từ chỗ đang ẩn nấp bước ra và tiến đến chỗ mồ đá để xem xét cho rõ hơn. Khi đi ngang qua cạnh người đàn bà đang quỳ gối cầu khấn, anh đưa mắt nhìn và thật vô cùng sửng sốt nhận ra cô gái Môi Thỏ. Barabbas lặng người đi - đứng nhìn cô gái. Cái bộ mặt xanh xao, mệt mỏi hướng nhìn về phía mồ đá, cặp mắt u mê không còn nhận biết được gì ở xung quanh. Đôi môi để mở, nhưng cô gái hầu như không thở. Vết sẹo thô kệch phía trên môi trắng bệch. Cô gái không nhìn thấy Barabbas.
Vừa kỳ lạ lại vừa xấu hổ thế nào đó khi Barabbas nhìn nét mặt cô gái. Và bỗng nhớ ra một điều - một điều vốn dĩ không mong nhớ đến - khi đó - cô gái cũng có bộ mặt như thế này. Và khi đó Barabbas cũng thấy xấu hổ... Anh nhún hai vai, xua đuổi cái hồi ức này đi.
Cuối cùng thì cô gái cũng nhận ra anh. Và cô cũng ngạc nhiên nhìn thấy anh, ở tại đây. Điều này đã rõ rồi - chính anh thấy sửng sốt về bản thân. Anh thì có quan hệ gì với toàn bộ chuyện này?
Tốt nhất Barabbas nên giả vờ làm như tình cờ đi qua đây, tình cờ đi qua chẳng rõ đây là chốn nào, không hề hay biết gì về quan tài đá nào. Vì sao phải làm ra vẻ chứ? Tất nhiên, sẽ khó mà tin được, hơn nữa, cô gái sẽ không tin - dù sao anh cũng nói:
- Vì sao cô lại nằm ở đây?
Cô gái không ngẩng mặt nhìn anh, cũng không nhúc nhích người mà cứ tiếp tục quỳ gối như cũ, mắt chằm chằm nhìn về phía cửa quan tài trên vách đá. Barabbas chỉ nghe thấy rất khẽ lời cô gái thì thầm với chính mình:
- Con Trai Chúa Trời đã phục sinh...
Thật lạ lùng - lời thì thầm này đã làm anh cảm động. Trái ngược với lý trí anh cảm thấy một điều gì đó - anh còn chưa hiểu là điều gì. Anh cứ đứng ngây người và không biết nên nói gì, phải cư xử thế nào. Cuối cùng, Barabbas tiến lại bên quan tài đá như đã dự định, và đã khẳng định được là quan tài trống rỗng - mà điều này anh đã biết từ trước - và liệu có phải mọi chuyện đối với anh đều như nhau thôi không, vì điều đó chẳng hề có nghĩa lý gì mà. Rồi Barabbas trở lại chỗ cô gái vẫn đang quỳ gối. Cô ta có bộ mặt mới khoan khoái làm sao, mới bình tâm hân hoan làm sao khiến cho Barabbas thấy thương hại cô gái. Bởi lẽ, mọi chuyện không phải như vậy. Anh có thể kể cho cô gái biết, tất nhiên rồi, cái sự kiện phục sinh từ cõi chết này thực chất là gì, - song làm thế sẽ khiến cô gái giận... Liệu cô gái có hài lòng không? Barabbas không thể ép mình kể cho cô biết toàn bộ sự thật. Chỉ cần thận trọng hỏi xem, theo ý cô ta, chuyện đó - chuyện người bị hành hình phục sinh ấy - đã xảy ra thế nào?
Thoạt tiên, cô gái nhìn Barabbas vẻ khó hiểu. Lẽ nào anh lại không biết? Nhưng ngay sau đó - cô gái kể lại cho Barabbas nghe tỉ mỉ và đầy phấn khích bằng giọng mũi - kể rằng vị thiên sứ đã từ trên trời bay xuống, vươn tay ra như một ngọn thương, và người rực lửa như khoác áo long bào. Và ngọn thương kia đã xiên vào khe giữa phiến đá và vách núi rồi tách chúng ra khỏi nhau. Hình như mọi việc thật đơn giản, mà đúng là mọi việc xảy ra thật đơn giản, mặc dù đó là điều kỳ diệu. Chuyện đã xảy ra như vậy đấy. Chẳng lẽ anh không nhìn thấy ư?
Barabbas cúi mặt xuống và nói rằng không, anh không nhìn thấy gì hết, còn trong thâm tâm anh thấy vui mừng vì đã không nhìn thấy gì hết. Nghĩa là, mắt anh đã lành lặn trở lại, mắt anh lại bình thường như của mọi người, và giờ đây anh không còn bị tưởng tượng gì nữa, anh nhìn mọi vật thấy đúng như chúng hiện hữu. Con người đó không có quyền hành đối với anh hơn nữa. Không hề có sự phục sinh nào, Barabbas không hề nhìn thấy gì như vậy. Còn cô gái thì vẫn cứ quỳ gối hoài, và cặp mắt cô gái rực sáng lên vì nhớ lại cái mà cô đã nhìn thấy.
Cuối cùng, khi cô gái đứng lên để bỏ đi, hai người cùng đi về phía thành phố. Họ ít nói với nhau, nhưng Barabbas hiểu rằng từ lúc họ chia tay nhau, cô gái đã tin tưởng người mà cô gọi là Con Trai Thượng Đế - cái con người mà Barabbas gọi là người chết. Nhưng khi Barabbas hỏi người đã dạy điều gì, cô gái không trả lời. Cô quay mặt đi và im lặng. Họ cứ thế đi cho tới ngã ba đường, cô gái phải tới thung lũng Ghêhinôm, còn anh tới cổng David, - và anh lại hỏi thẳng, người đó đã thuyết giáo về học thuyết gì - cái học thuyết mà cô gái tin tưởng ấy, mặc dù đây không phải là điều anh - Barabbas quan tâm. Cô gái đứng cúi gằm xuống giây lát, sau đó e lệ nhìn anh và nói - vẫn như mọi khi - một cách khó hiểu:
- Cần phải yêu thương nhau.
Sau đó, thì hai người chia tay nhau.
Barabbas còn đứng rất lâu nhìn theo bóng cô gái.
***
Barabbas thận chí thấy kỳ lạ là tại sao anh lại có mặt ở Giêruxalem, ở nơi anh chẳng có việc gì để làm cả. Anh lang thang trên đường phố chẳng ích lợi gì. Mà ở trên núi, có lẽ, người ta đang chờ anh, người ta không hiểu anh biến đi đâu mất. Anh ở lại thành phố để làm gì? Bản thân Barabbas cũng không biết.
Thoạt tiên, mụ béo tưởng đó là vì mụ, nhưng mụ nhanh chóng hiểu ra là mình đã sai. Mụ phần nào thấy bực mình, nhưng - trời ơi - đàn ông mà, tất cả bọn đàn ông đều vong ân bội nghĩa, không được cưng chiều chúng, vậy mà đêm đêm mụ vẫn ngủ với anh và mụ thích được như vậy. Thật dễ chịu biết bao khi nằm bên cạnh thị là một người đàn ông thực thụ tha hồ vỗ về yên ủi khoan khoái. Mà con người Barabbas còn có một ưu điểm: dù cho anh có nhổ toẹt vào mặt thị, nhưng mà anh cũng nhổ toẹt vào mặt tất cả mọi người - điều đó là cái chắc. Anh không cần một ai hết. Vốn dĩ đã thế rồi. Mà nói chung, mụ thấy thích thú việc anh coi khinh mụ. Có thể đấy khi hai người yêu nhau. Sau đó thì mụ lại thấy đau khổ, có lần mụ khóc hết hơi. Ấy vậy mà chuyện đó cũng không tệ hại. Thậm chí, còn lý thú nữa nếu chịu suy ngẫm. Mụ béo rất có kinh nghiệm trong chuyện yêu đương nam nữ và không hề coi khinh chuyện yêu đương dù dưới bất cứ hình thức nào.
Nhưng vì sao Barabbas nằm lỳ ở Giêruxalem - điều này mụ không thể hiểu nổi. Và anh biến đâu suốt ngày, anh làm gì chứ? Vì anh đâu thuộc loại lười biếng suốt ngày chỉ biết lang thang trên đường phố, anh là con người quen với cuộc sống lao động nặng nhọc, nguy hiểm. Không làm lụng, chỉ bẻm mép - không phải là mẫu người của anh.
Không đâu, anh đã không còn là mình nữa kể từ khi chuyện đó xảy ra, - kể từ khi thiếu chút nữa người ta đã hành hình anh. Bị bắt và rồi được thả, mụ béo đã tự nhủ như thế lúc mụ nằm phơi nắng hai tay bắt chéo trên cái bụng to bự. Và mụ đã cất tiếng cười khanh khách.
Thi thoảng Barabbas lại bắt gặp những môn đồ của người bị hành hình nọ. Không ai có thể nói được gì về Barabbas tựa như anh rất cố gắng về điều này, đơn giản là vì anh tình cờ gặp họ ở chợ, trên đường phố và khi bắt gặp họ, anh thích thú dừng lại tán gẫu với họ, và Barabbas đã hỏi thăm họ về con người bị hành hình đó và về cái học thuyết lạ lẫm mà anh không có cách nào có thể hiểu được. Thương yêu nhau ư?... Anh không lui tới sân cung điện, ngay cả các phố của những người giầu có kề bên cũng thế, còn lang thang trên các ngõ - hẻm của phía dưới thành phố nơi có những người thợ thủ công ngồi và làm việc trên các quầy - quán nhỏ của mình cũng những người bán hàng rong rao hàng. Giữa những con người giản dị này cũng có rất nhiều sùng đạo và Barabbas thấy mến họ nhiều hơn nhiều so với những kẻ bắt gặp dưới những hàng cột lâu đài. Anh đã được biết đôi điều về những khái niệm kỳ quặc của họ, nhưng không thể hiểu nổi. Có thể, vì bọn họ đã giảng giải hết sức ngu ngốc.
Chẳng hạn, bọn họ thành kính tin tưởng rằng Thày Giáo của họ đã phục sinh từ cõi chết và không lâu nữa sẽ tuyên ngôn chỉ huy quân Nhà Trời và sẽ khẳng định quyền cai trị của mình trên trái đất. Và người nào cũng lặp đi lặp lại một điều như vậy, rõ ràng, bọn họ đã được dạy thuộc lòng như vậy. Nhưng còn vấn đề Ngài là Con Trai Thượng Đế thì không phải tất cả bọn họ đều tin. Một số cho rằng điều này kỳ quặc thế nào ấy: bởi lẽ chính bọn họ đã nhìn thấy Ngài, nghe thấy tiếng Ngài, thậm chí đã nói chuyện với Ngài. Một người còn khâu cho Ngài đôi dép, đo kích cỡ nói chung nữa. Không, điều đó khó tin lắm. Một số khác nói là dù sao Ngài cũng là Con Trời và Ngài sẽ ngồi trên mây bên cạnh Cha. Song, trước tiên cái thế giới tội lỗi không phù hợp này phải bị sụp đổ đã.
Đấy, những con người mới kỳ quặc làm sao!
Họ nhận thấy rằng Barabbas không hề tin vào những điều đó, và thế là tỏ thái độ e ngại đối với anh. Một số khác còn công khai tỏ ra cảnh giác đối với Barabbas và hầu như tất cả bọn họ đều muốn anh hiểu rằng họ không thật thích anh. Barabbas đã quen với cách ứng xử như vậy, nhưng lạ một điều là lúc này thái độ đó làm anh chú ý - một điều trước nay chưa hề xảy ra. Mọi người cứ muôn thuở muốn anh hiểu rằng họ không cần đến anh, và cố gắng lánh xa anh. Có thể, đó là do vẻ ngoài của anh, có thể do vết sẹo bị dao đâm trên má, không một ai biết vì sao anh bị vết sẹo đó, cũng có thể đó là do cặp mắt quá trũng sâu khiến không ai có thể nhìn thấy. Barabbas biết quá rõ những điều đó, nhưng việc mọi người nghĩ gì về anh thì có quan hệ gì với anh, chỉ đơn giản Barabbas không nhận biết gì về thái độ của họ.
Cho đến nay anh không hề biết điều này đáng làm anh quan tâm. Mà niềm tin chung của họ đã luôn luôn và trong mọi mặt kết hợp những con người này lại, còn bất kể ai không liên quan tới niềm tin này đều bị họ e ngại không muốn gần. Bọn họ có riêng hội ái hữu của mình và có những dạ hội yêu thương trong đó họ chia bánh mì cho nhau chẳng khác gì một gia đình lớn. Rõ ràng, tất cả những tình tiết này có liên quan tới học thuyết của họ: học thuyết dạy họ “hãy thương yêu nhau”. Nhưng vẫn không rõ họ đã yêu thương ai đó không phải người như họ, hay là không.
Barabbas không hề để tâm đến các buổi dạ hội yêu thương của họ, quá đủ rồi, thậm chí nghĩ tới là muốn lộn mửa. Để ràng buộc với một ai đó như vậy bằng một sợi dây thừng! Barabbas vốn dĩ là kẻ tự thân tự tại, và anh không muốn thay đổi cách sống.
Nhưng vì sao đó anh lại tìm cách gặp gỡ họ.
Anh thậm chí đã làm ra vẻ như muốn gia nhập hội ái hữu của họ, nói rằng, anh chỉ muốn hiểu rõ niềm tin của họ. Họ đáp rằng sẽ rất vui mừng về anh, rằng họ sẽ cố gắng giải thích rõ với Barabbas về những lời dạy của Thày Giáo, song trên thực tế anh không hề nhận thấy niềm vui mừng đó. Rất kỳ lạ. Họ có lương tâm, nhưng họ không hề vui mừng trước đề nghị của Barabbas là họ có thể có một người cùng niềm tin mới, - mà họ thì vốn dĩ bao giờ cũng vui mừng về điều này. Vậy ở đây nguyên nhân là gì? Song, Barabbas biết rõ nguyên nhân. Đột nhiên, anh đứng dậy và chân bước dài đi thẳng, vết sẹo dưới mắt anh lại ửng đỏ.
Tin ư! Làm sao Barabbas có thể tin vào kẻ mà chính mắt anh đã nhìn thấy bị hành hình trên cây thập ác! Vào cái thân xác từ lâu đã bị chết và - anh đã nhận thấy thật chính xác, - không thể nào sống lại được! Họ chỉ tưởng tượng không đâu vào đâu! Không ai sống lại được từ cõi chết: kể cả “Thày Giáo” siêu đẳng của họ, không một ai! Và nói chung! Barabbas không chịu trách nhiệm về việc khi đó bọn chúng đã chọn ai! Đó là việc của bọn chúng, không phải của anh! Bọn chúng muốn ai thì đã chọn ra người đó - đơn giản có thế thôi! Con Trai Thượng Đế! Nhưng ông ta mà Con Trai Thượng Đế cái nỗi gì chứ! Giả thử như thế thật thì lẽ nào Ngài lại bị đóng đinh câu rút trên cây thập ác, hay tự Ngài mong muốn được như thế? Có nghĩa là, chính Ngài mong muốn thế! Thật kỳ quặc và ghê tởm - tự mình mong muốn bị đau khổ. Bởi nếu như Ngài đúng là Con Trai Chúa Trời, thì né tránh được điều này đối với Ngài dễ như trở bàn tay. Song Ngài lại không muốn. Ngài đã quyết định chịu đau khổ và chết cái chết khủng khiếp này và không muốn né tránh, và sự thể là như vậy, Ngài đã sắp xếp theo ý mình, và bọn chúng đã thả anh ra. Ngài đã hành động như vậy để Barabbas được tự do. Ngài đã thâu tóm rồi ra lệnh: hãy thả Barabbas, còn ta hãy đem ra hành hình.
Mặc dù, Ngài không hề là Con Trai Thượng Đế nào hết, điều đó rõ như ban ngày...
Ngài đã lợi dụng sức mạnh của mình một cách kỳ quặc, thậm chí rất kỳ quặc, cứ tựa như không hề có can ngăn gì, và tự Ngài đã sắp xếp theo ý muốn: để Ngài bị hành hình và thả Barabbas ra.
Đấy, bọn chúng đã tung tin tựa như Ngài đã chết vì bọn chúng, thay cho chúng. Chứ sao! Có thể lắm. Nhưng Ngài đã chết thay cho Barabbas thì là cái chắc, không một ai sẽ lại bác bỏ điều này. Và như vậy là, Barabbas thân thiết với Ngài hơn là bọn chúng, và hơn mọi người nói chung, Ngài có quan hệ với anh hoàn toàn khác, và đám người này còn chưa để Barabbas gần gụi mình! Anh đã được lựa chọn, có thể nói, - đã được lựa chọn để không bị đau khổ, để tránh bị mọi cực hình. Anh là người được lựa chọn thật sự, anh đã được thả tự do thay cho chính Con Trai Chúa Trời - chính Ngài đã mong muốn như vậy, và đã ra lệnh như vậy. Chỉ có điều đám người này không hề hay biết thôi!
Còn “hội ái hữu” và “những dạ hội yêu thương” của họ và cả “hãy thương yêu nhau” - những thứ này anh không cần. Anh là chính anh. Và trong quan hệ của mình với người mà bọn này gọi là Con Trai Thượng Đế - với người bị hành hình - anh cũng vẫn sẽ là chính anh. Anh đâu phải nô lệ của Ngài giống như bọn người này. Cứ việc cầu nguyện và thở dài.
Mong muốn đau khổ - sao có thể như vậy chứ? Một khi không cần thiết, một khi không kẻ nào ép buộc Ngài? Thậm chí không thể tưởng tượng nổi điều đó và chỉ nghĩ đến điều đó đã thấy buồn nôn rồi. Chỉ cần nghĩ tới điều này, anh lại thấy hiện ra cái thân xác gày gò, xanh xao, đôi tay khó có thể nắm bắt được gì, và đôi môi khô khốc tới mức chỉ có thể khẽ thốt lên được tiếng “nước”. Không được, anh không ưa cái con người tự lao vào những đam mê như vậy, đã tự ý treo người trên cây thập ác. Nói chung, Barabbas không ưa con người đó. Vậy mà đám người này lại sùng bái kẻ bị hành hình, đồng cảm với những đau khổ của Ngài, với cái chết đáng thương của Ngài - hoặc giả bọn chúng không cảm thấy cái chết đó là đáng thương? Bọn chúng sùng bái chính cái chết đó mà! Barabbas thấy kinh tởm, thậm chí nghĩ tới cũng buồn nôn. Và, anh đâu có cần học thuyết của bọn chúng, cũng chẳng cần ngay chính bọn chúng, và cả kẻ mà bọn chúng tin tưởng nếu như nghe theo bọn chúng.
Không đâu, anh - Barabbas không thích cái chết. Anh căm ghét nó, anh nói chung không muốn chết. Có thể, vì thế mà có chuyện? Có thể lắm, bởi vì chính anh đã được lựa chọn - đã thoát khỏi tay tử thần? Nếu như người bị hành hình đúng là Con Trai Thượng Đế, nghĩa là Ngài - một Đấng Toàn Năng, và khi đó Ngài thừa rõ Barabbas không muốn chết - chẳng muốn đau khổ lẫn từ giã cõi trần ai. Thế là Ngài đã chết thay cho Barabbas! Còn Barabbas chỉ phải tiễn Ngài tới Gongopha và nhìn xem Ngài bị hành hình ra sao. Không đòi hỏi ở anh điều gì khác, nhưng như thế đối với anh cũng là quá lắm rồi, bởi lẽ anh căm thù cái chết và tất thảy những gì liên quan tới cái chết.
Phải, thì anh là người mà Con Trai Thượng Đế đã chết thay! Câu nói: hãy thả anh ta ra, còn ta hãy đem hành hình! Chính là nói về Barabbas chứ không phải về ai khác.
Barabbas đã nghĩ thế lúc anh từ bỏ đám người đó ra đi và sau khi đã thử liên kết với chúng. Trong lúc này anh bước những bước dài từ quầy hàng trong ngõ Thợ Gốm, nơi người ta đã cho anh hiểu rõ là người ta không vui được gặp anh.
Và anh đã quyết định sẽ không lui tới chốn này nữa.
Ấy vậy mà sang ngày hôm sau khi anh rốt cuộc lại đến chỗ họ, họ đã hỏi đối với anh có điều gì không hiểu về niềm tin của họ, và họ bộc lộ rõ ràng rất tiếc cho chuyện hôm qua, họ rất ân hận về sự đón tiếp anh rất lạnh nhạt và sẵn sàng giảng giải và khai hóa cho anh rõ, nếu như Barabbas nhiệt tình muốn biết. Vậy thì Barabbas đã muốn hỏi điều gì? Có điều gì anh không hiểu?
Barabbas quyết định là chỉ nhún vai và đáp là hoàn toàn không có điều gì anh không hiểu, và nói chung, anh không buồn cho lắm về điều đó. Nhưng sau đó, anh nói rằng, chẳng hạn, cái chuyện phục sinh ấy không thể lọt được vào đầu óc anh. Anh không tin rằng có ai đó từ cõi chết sống lại.
Họ ngước mắt khỏi bàn chuốt, liếc nhìn Barabbas rồi nhìn nhau. Sau đó, họ thì thầm với nhau, và người thợ cả hỏi, liệu Barabbas có muốn nhìn thấy người đã được Thày Giáo phục sinh từ cõi chết hay không? Nếu muốn, họ sẽ dẫn Barabbas tới chỗ người đó, nhưng phải đến tối, sau giờ làm việc, bởi người đó đang sống không phải ở chính Giêruxalem.
Barabbas hoảng sợ. Anh không hề chờ đợi điều đó. Anh cứ ngỡ họ sẽ bắt đầu phân tích, giảng giải về những hiểu biết của họ, sẽ không ràng buộc anh bằng những chứng cứ thô lỗ như vậy. Tất nhiên, Barabbas hiểu rằng tất cả những cái đó chỉ là sự tưởng tượng của họ, là một sự lừa bịp tín ngưỡng rằng con người đó rất đơn giản là không chết. Vậy mà dù sao Barabbas cũng hoảng sợ. Anh không hề muốn nhìn thấy con người đó chút nào. Nhưng anh lại không thể tiếp nhận và bày tỏ về những điều đó. Anh đành phải giả bộ như là rất biết ơn về lời mời đó và sẽ vui mừng có dịp được tận mắt chứng kiến sự vĩ đại của Chúa Trời và Thày Giáo của họ.
Trong lúc chờ trời tối, Barabbas đi lang thang trên các phố và mỗi lúc lại lo lắng hồi hộp hơn. Đến cuối ngày anh lại tới lò gốm, và một cậu thanh niên dẫn anh đi ra cổng thành phố, lên núi Oliu.
Người mà họ cần gặp sống ở rìa một làng nhỏ, trên sườn núi. Khi người thợ gốm trẻ đẩy tấm liếp bằng rơm treo trên cửa ra vào sang một bên, họ nhìn thấy gia chủ đang ngồi quay sườn về phía họ bên chiếc bàn trên đó đặt hai bàn tay và mắt chằm chằm nhìn thẳng về phía trước. Hình như, gia chủ không nhận thấy các vị khách, cho tới lúc chàng thanh niên giọng trong trẻo chào gia chủ. Tới lúc đó, gia chủ mới quay mặt ra phía cửa và chào đáp lại bằng một giọng âm vang kỳ lạ. Chàng thanh niên chuyển tới người đó lời chào của các anh em trong ngõ Thợ Gốm và giải thích lý do họ đến đây, và gia chủ ra hiệu mời khách ngồi xuống bên bàn.
Barabbas ngồi phía đối diện rồi bắt đầu quan sát khuôn mặt gia chủ. Da mặt vàng vọt và thoạt nhìn có nét cứng cỏi như bằng xương. Da đã hoàn toàn khô khốc. Chưa bao giờ Barabbas dám nghĩ rằng lại có thể có một bộ mặt như vậy, và cũng chưa bao giờ và cũng chưa ở đâu anh nhìn thấy nét mặt bị bỏ rơi như vậy. Bộ mặt trông như cái hoang mạc.
Đáp lại câu hỏi của chàng thanh niên, gia chủ nói rằng đúng là mình đã chết, rồi sau đó được Thày Giáo của họ - thầy tu người Galilây trả về với cuộc sống. Ông ta đã nằm trong quan tài bốn ngày bốn đêm, và thế rồi ông ta lại vẫn có cái cơ thể đó, vẫn tinh thần đó - như trước kia - ông ta không có gì thay đổi cả. Và Thày Giáo đã phô diễn sức mạnh và uy danh của Ngài và chứng minh rằng Ngài đích thị là Con Trai Chúa Trời.
Gia chủ nói từ từ, không biểu cảm và luôn luôn nhìn Barabbas bằng cặp mắt xanh xao, không còn sức sống.
Sau đó họ còn chuyện trò đôi chút về Thày Giáo và những công việc vĩ đại của Ngài. Barabbas không góp chuyện. Sau đó chàng thanh niên đi thăm cha mẹ - họ cũng sống ngay trong làng, để Barabbas ở lại với gia chủ.
Barabbas hoàn toàn không muốn ở lại đó một mình đối mặt với con người nọ. Nhưng anh cũng không thể đứng dậy bỏ đi, anh không có lý do nào cả. Còn con người đó vẫn cứ nhìn Barabbas bằng cặp mắt mờ đục lạ lẫm hoàn toàn không biểu cảm gì hết, cũng chẳng tỏ ra chú ý đến Barabbas, tuy đang không hiểu sao lại có sức thu hút anh. Barabbas đã muốn bỏ đi, bật dậy và bỏ chạy, nhưng anh lại không thể bỏ chạy được.
Lúc đầu gia chủ ngồi im lặng, sau đó mới hỏi Barabbas là anh có tin vào giáo chủ của họ không, có tin rằng Ngài là Con Trai Chúa Trời không. Barabbas lắp bắp, nhưng rồi trả lời “không”, bởi vì lừa dối cặp mắt trống rỗng bàng quan trước mọi thứ này thì quả là kỳ quặc, mi có nói dối hay không. Gia chủ không hề giận dỗi, chỉ gật đầu và nói:
-Phải, nhiều người cũng không tin. Bà mẹ anh ta hôm qua có đến đây và bà cũng không tin. Tuy nhiên tôi đã được Ngài phục sinh từ cõi chết để tôi trở thành nhân chứng cho Ngài.
Barabbas nói rằng thật đã rõ, ở đây cũng khó mà không tin, và vấn đề đã rõ, giờ đây anh phải mãi mãi biết ơn về việc người ta đã tạo được điều kỳ diệu lớn lao như vậy trên đầu anh.
Về điều này gia chủ nói với Barabbas rằng mỗi ngày ông ta vẫn cám ơn vì đã được trả về với cuộc sống, vì từ nay ông ta sẽ không còn phải đến cõi chết nữa.
- Cõi chết ư? - Barabbas thốt lên và tự anh nhận ra giọng anh hơi run run. - Cõi chết?... Nó thế nào? Ông đã ở đó rồi mà! Xin hãy kể xem sao!
- Nó thế nào ư? - Ông ta đáp và nhìn Barabbas vẻ bối rối. Rõ ràng là ông không hiểu thực chất câu hỏi của anh.
- Vâng! Ở nơi đó có gì? Ông đã trải qua những gì?
- Tôi không trải qua gì hết, - người đó bất đắc dĩ đáp, có vẻ như không hài lòng trước đòi hỏi của Barabbas - Tôi đã chết rồi. Mà chết - đó là cái hư không.
- Cái hư không à?
- Phải. Vậy chứ nó còn phải là gì nữa?
Barabbas nhìn ông ta không rời mắt.
- Nghĩa là anh muốn tôi kể cho anh nghe về cõi chết? Tôi không thể kể về nó được. Cõi chết - đó là cái hư vô. Có nó đấy, nhưng nó là cái hư vô.
Barabbas chỉ có nhìn người đó không rời mắt, và bộ mặt vô hồn của ông ta làm anh hoảng sợ, ấy vậy mà Barabbas không thể rời mắt khỏi đó.
- Phải, - người đó nói cặp mắt vô hồn nhìn phía bên Barabbas, - cõi chết - đó là cái hư không. Nhưng đối với người nào đã hiện diện nơi đó thì mọi thứ còn lại đều là cái hư không. Thật lạ lùng là anh đi hỏi về nó, - ông tiếp lời - Những người khác không hề hỏi.
Và ông ta kể rằng các bằng hữu ở Giêruxalem thường cử người đến đây để ông ta truyền giáo cho họ, và nhiều người đã theo đạo. Ông ta đã phục vụ Thày Giáo như vậy và đã bù đắp lại món nợ chưa trả về việc Ngài đã trả ông ta về với cuộc sống. Hầu như ngày nào anh thanh niên đó hoặc một người khác cũng dẫn ai đấy đến gặp ông ta, và ông ta đã chứng thực về sự phục sinh của mình. Nhưng không hề nói gì về cõi chết. Không có ai hỏi ông ta về cõi chết.
Trong nhà bắt đầu tối. Gia chủ đứng dậy và châm đèn nơi cây đèn dầu treo ở trần nhà thấp lè tè. Sau đó ông ta mang bánh mì và muối ra, đặt lên bàn, bẻ bánh mì rồi đưa cho Barabbas, miếng của mình ông ta rắc muối lên đồng thời mời Barabbas cũng làm theo. Anh đành phải làm theo, mặc dù tay anh run lẩy bẩy. Và hai người đã lặng lẽ ngồi bên nhau và cùng ăn như vậy dưới ánh sáng lờ mờ của cây đèn dầu.
Con người này cũng đã không coi thường việc tổ chức dạ hội yêu thương với Barabbas! Không phải vì các người anh em ở ngõ Thợ Gốm! Ông ta không có sự phân biệt lớn đến như thế giữa mọi người. Nhưng khi những ngón tay khô khốc, vàng vọt đưa cho Barabbas miếng bánh mì vừa bẻ ra và anh buộc phải ăn, anh cảm thấy như mình đang nhai thịt người chết.
Và tại sao, tại sao ông ta lại cùng ăn với Barabbas? Dạ hội này ẩn chứa ý nghĩa thầm kín gì đây?
Khi hai người ăn xong, gia chủ tiễn Barabbas tới cửa và chia tay hữu hảo. Barabbas lắp bắp điều gì đó đáp lại rồi nhanh chóng đi vào đêm tối. Anh đi về hướng thành phố, xuống theo dốc núi, bước dài chân, trong đầu đầy ắp những ý nghĩ luôn ám ảnh.
Mụ béo rất sửng sốt và sung sướng về việc tối hôm nao Barabbas đã thèm khát chiếm đoạt mụ. Cái tối đó anh ta chỉ đơn giản hăng hái thôi. Mụ không thể hiểu nổi vì sao, nhưng hôm nay đúng là phải an ủi anh. Vậy ngoài mụ ra thì còn ai có thể an ủi được Barabbas? Và mụ vẫn cứ mơ mộng là mình đã trẻ lại và có người đang yêu mụ.
Ngày hôm sau Barabbas cố gắng ở cách xa phía cuối thành phố - xa ngõ Thợ Gốm, nhưng có một người trong số họ đã nhìn thấy Barabbas ở dưới hàng cột Xôlômôn và ngay lập tức hỏi hôm trước có chuyện gì sảy ra. Vậy thì sao, lẽ nào người ta đã nói với anh không đúng sự thật? Anh đáp rằng đúng thế, con người đó đã bị chết và sống lại, không có gì đáng ngờ vực trong chuyện này. Nhưng bản thân Barabbas thì không hiểu, Thày Giáo của bọn họ cần phục sinh ông ta để làm gì. Tay thợ gốm choáng váng, mặt bị xám xịt lại bởi sự nhục mạ này đối với Chúa của họ, nhưng Barabbas đã quay ngoắt người và gã này chỉ còn chước bỏ đi.
Có thể, chuyện đó đã được loan truyền không chỉ ở ngõ Thợ Gốm mà còn ở các ngõ thợ ép dầu, làm da, thợ dệt và tất thảy các ngõ thợ khác, bởi vì sau đó, khi Barabbas lại tới đó thì anh nhận thấy những tín đồ trước đây vẫn nói chuyện với anh lúc này đột nhiên thay đổi. Họ chỉ im lặng, nghi ngờ liếc mắt nhìn anh. Trước đây họ chưa bao giờ có quan hệ thân thiết với anh, nhưng lúc này họ đã công khai bộc lộ sự không tin cậy của mình. Một ông già người gầy khô như con cá mắm hoàn toàn xa lạ với Barabbas đã ra đến bên anh và hỏi anh, Barabbas cứ lui tới chỗ họ để làm gì, anh cần gì ở họ, có phải được bọn cảnh vệ triều đình cử tới không, hay của vệ binh tổng giám mục, hay của Xađucây? Barabbas không thể nói được gì và anh nhìn ông lão đầu hói, phần hói trên đầu ông lão ửng hồng lên vì giận dữ. Từ lúc lọt lòng mẹ Barabbas chưa hề gặp con người này và cũng không hề biết ông ta là ai, chỉ thông qua sợi chỉ xanh và đỏ xâu qua lỗ tai ông ta, anh đoán ông ta là thợ nhuộm.
Barabbas hiểu rằng họ đã nổi giận và thái độ đối với anh đã hoàn toàn khác. Trên khuôn mặt giờ đây anh chỉ nhận thấy sự lạnh lùng, thù địch, thậm chí một vài người còn soi mói nhìn anh công khai tỏ rõ là họ muốn lột trần bộ mặt thật của anh. Song Barabbas lại làm ra vẻ không hay biết gì.
Và thế là cuối cùng đã xảy ra sự cố. Như lửa cháy rừng, tin tức đã loan truyền tới khắp các ngõ xóm của các tín đồ và bỗng nhiên ai ai cũng biết không trừ một người nào! Đó chính là hắn ta! Hắn ta! Kẻ đã được trả tự do thay cho Thày Giáo. Thay cho Đấng Cứu Thế, Con Trai Chúa Trời! Đó là Barabbas! Barabbas là kẻ được thả, tên cò mồi!
Những cặp mắt dữ dằn luôn dõi theo Barabbas, những cặp mắt rực lửa hận thù. Ngay cả khi anh hoàn toàn không lui tới chỗ họ nữa bão tố hận thù cũng không lắng xuống.
- Barabbas là kẻ được thả! Barabbas là tên cò mồi!
***
Thế là Barabbas đành co người lại, không gặp gỡ ai hết. Mà cũng không hề ra tới ngoài đường, chỉ nằm lỳ ở nhà mụ béo sau tấm màn che hay dưới mái hiên lợp lá cọ nếu trong nhà quá ầm ĩ. Ngày nọ qua ngày kia anh cứ sống như vậy, chẳng đụng tay tham gia vào việc gì. Thậm chí quên cả chuyện ăn uống; nếu như không đặt cơm trước mặt anh, không mời ăn thì Barabbas hoàn toàn không đụng đến cơm cháo. Anh không nhìn thấy gì ở xung quanh.
Mụ béo nát đầu suy nghĩ không rõ có chuyện gì xảy ra với Barabbas, mụ không hiểu gì hết. Nhưng lại không dám hỏi. Mụ đành phải để cho anh được yên một khi anh muốn thế. Có nói gì với anh - anh sẽ không trả lời. Và nếu có ghé nhìn vào sau tấm màn che - anh muôn thuở nằm đó và mắt nhìn trần nhà. Đầu óc mụ muốn vỡ tung ra. Anh bị điên rồi hay sao? Lý trí suy nhược ư? Không đâu, mụ không hiểu gì cả.
Và đột nhiên lọt đến tai mụ. Đó là khi qua mọi người mụ được biết là Barabbas đã giao thiệp với bọn mất trí - bọn người tin vào kẻ nhỏ thó đã bị hành hình khi mà người ta muốn hành hình đích thân Barabbas! Thế là mụ vỡ lẽ ra! Rõ rồi, vì thế mà anh trở thành con người như vậy! Giờ thì đã rõ mọi chuyện. Đó là do bọn chúng đã làm anh lú lẫn. Bọn chúng đã nhồi nhét vào đầu anh bất kể điều dớ dẩn nào! Giao du với bọn vô học đó thì ai cũng sẽ mất trí thôi! Bọn chúng đã tin rằng kẻ bị hành hình đó là Đấng Cứu Thế, là gì, còn là thế nọ - thế kia nữa, và còn tin rằng con người đó sẽ giúp đỡ chúng và sẽ cho chúng tất cả những gì chúng cầu xin và con người đó sẽ trở thành hoàng đế ở Giêruxalem, sẽ tống khứ đồ cặn bã không râu đi và còn đủ mọi cái ở đó nữa, mụ chẳng biết đâu mà lần, bọn chúng học đòi cái gì, mà mụ cũng không muốn biết, nhưng có điều ai cũng biết: chúng là lũ ngông cuồng. Ôi, trời đất ơi, anh có quan hệ với chúng để làm gì cơ chứ? Cần gì cơ chứ? Phải rồi! Giờ đây mụ đã rõ cả rồi! Chính anh ấy bị người ta muốn hành hình, sau đó lại không hành hình, người ta lại hành hình Đấng Cứu Thế đó của chúng, mà đó là sự đam mê tuyệt đỉnh, bọn chúng buộc phải giảng giải hết mọi điều, thế này thế nọ, nói rằng không phải Ngài có tội, còn người ta rõ ràng làm theo ý mình, cái con người bé nhỏ kỳ diệu biết bao của họ là niềm tin của họ, con người đó vô tội và trong trắng, mà hơn nữa, Ngài là con chim quan trọng, và với một vị hoàng đế vĩ đại như vậy, vị Chúa cụ họ ấy, thì không được phép đối xử như thế, tóm lại họ đã nhồi nhét vào đầu Barabbas quan điểm vô lý của họ, còn Barabbas thì cứ bối rối về việc mình không chết, về việc khi đó người bị chết không phải là anh. Rõ rồi, rõ rồi, vậy nó xảy ra như thế nào chứ!
Nghĩa là, đấy là anh bị sốc bởi lẽ người ta đã không hành hình anh. Chuyện ngu ngốc thế đấy! Hỡi Barabbas, một trò cười, và chỉ có thế thôi! Bụng sẽ bung ra mất! Tất cả chỉ là do có thế, vấn đề thật rõ ràng.
Nhưng có lẽ, thế là quá đủ cho anh rồi. Đã đến lúc phải tỉnh táo lại. Mụ sẽ nói chuyện có đầu có đoạn với Barabbas. Có chuyện gì thế với anh! Chuyện gì mà lạ thế!
Nhưng mụ đã không nói chuyện được với Barabbas. Mụ cũng muốn đấy, song không ăn thua gì cả. Chẳng lẽ Barabbas lại sẽ đi nói về bản thân? Không được, nói chuyện đó không hợp với anh.
Thế là mọi cái vẫn nguyên như cũ, mụ cứ đi đi lại lại quanh Barabbas và đoán già đoán non chuyện gì xảy ra với anh. Có phải anh ốm không? Có thể, đúng là đang ốm? Anh gầy tọp đi, và vết sẹo dao Eliac đâm chỉ hơi hồng trên bộ mặt gày guộc trắng bệch. Nhìn vẻ ngoài anh thật thảm hại thế nào đó, không còn giống chính anh nữa. Và nói chung anh đã trở nên không giống chính mình nữa. Cứ rông dài, nằm thẽo thợt và nhìn trần nhà! Và đấy là Barabbas! Barabbas là một con người như thế đấy!
Thế nhỡ đột nhiên anh đã bị ngầm tráo đổi thì sao? Có thể đó không còn là anh nữa, đã có một kẻ nào khác, một linh hồn của ai đó được cấy vào người anh rồi thì sao? Có lẽ là thế! Linh hồn của kẻ đó - một người khác? Kẻ đã bị hành hình ư? Và cũng đã rõ, con người đó không muốn điều tốt lành cho Barabbas. Có thể, “Đấng Cứu Thế” đó khi linh hồn rời khỏi xác đã tóm lấy và thổi nó vào Barabbas để chính Ngài không chết mà lại trả được thù vì mối hận Ngài phải chịu, trả thù kẻ được trả tự do? Mà cũng có thể như vậy ư? Và nếu như để tâm suy nghĩ - Barabbas đã trở nên kỳ quặc từ thời điểm nào, mụ liền nhớ anh đã đến gặp mụ ra sao ngay sau khi anh được thả. Phải, rõ ràng, mọi chuyện đúng là như vậy. Chỉ có hơi khó hiểu một điều, làm thế nào tay giáo chủ khôn khéo cấy được linh hồn của mình vào con người Barabbas, bởi vì ông ta đã cho linh hồn mình thoát ra trên núi Gongopha, mà Barabbas thì không hiện diện ở nơi đó. Song nếu ông ta mạnh mẽ đến như vậy - như thiên hạ đồn đại về Ngài, thì việc xuất quỷ nhập thần vô hình đi đâu tùy thích đối với Ngài có gì là khó! Với sức mạnh này Ngài có khả năng làm gì chẳng được.
Không rõ bản thân Barabbas có biết đã gặp chuyện gì không? Rằng con người anh bị cấy một linh hồn khác? Rằng bản thân anh đã chết, mà chính người bị hành hình đang sống trong con người anh? Anh biết hay không biết?
Có thể cũng không đoán ra, nhưng vì thế mà anh không thấy dễ chịu, ngay lập tức thấy rõ mà. Thật dễ hiểu: linh hồn kẻ khác là linh hồn kẻ khác, và nó không mong muốn điều tốt lành cho Barabbas.
Mụ thấy thương Barabbas, thậm chí không thể nhìn vào mặt anh, cực kỳ thương hại. Anh cũng không hề nhìn mụ, nhưng chỉ đơn giản vì anh không muốn. Mụ đã trở nên không còn cần cho anh, hoàn toàn không cần nữa, thế là anh không nhìn mụ. Và đêm đêm anh đã không còn muốn mụ nữa - đấy mới là điều tồi tệ nhất. Còn mụ, ngốc ơi là ngốc, lại rất thèm muốn anh - con người bất hạnh. Đêm đêm mụ cứ nằm và khóc, và giờ đây tình trạng này nói chung không còn cho mụ sự êm dịu nữa. Kỳ quặc thật... Mụ đã không nghĩ đến và không đoán ra sẽ có chuyện như vậy xảy ra với mụ.
Làm thế nào hấp dẫn được anh một lần nữa? Làm thế nào đuổi được kẻ bị hành hình ra khỏi anh và làm cho anh trở thành Barabbas như trước? Mụ không hiểu biết gì về cách trừ tà đuổi ma. Mụ không biết gì về việc này, vậy mà linh hồn đó lại rất mạnh mẽ và nguy hiểm, ngay lập tức thấy rõ là mụ thậm chí còn nể sợ nó, mặc dù không thuộc loại nhút nhát. Qua Barabbas cũng thấy ngay rằng linh hồn này mạnh mẽ ra sao, một khi nó đã dắt mũi được một chàng trai cao lớn, khỏe mạnh chỉ mới đây thôi còn là người yêu đời. Và làm sao anh lại như vậy? Loại như thế sẽ phải nể sợ đấy. Rõ ràng, nếu đó là linh hồn người bị hành hình, thì nó có một sức mạnh đặc biệt đấy. Vậy mà mụ lại không sợ anh cho lắm. Tuy nhiên mụ không cần những kẻ bị hành hình. Xin chân thành cảm ơn. Mụ có một tấm thân to lớn và đẫy đà - ca cẩm là có tội! - Và Barabbas thích hợp với mụ. Một Barabbas đích thực. Một Barabbas ở giai đoạn chưa bị lú lẫn đầu óc bởi ý nghĩ là chính anh phải bị hành hình. Còn mụ thì, chẳng hạn, sung sướng quá đi thôi vì anh không bị hành hình, vì anh được tự do!
Trong nỗi buồn cô đơn của mình mụ béo đã nghĩ như thế. Nhưng sau đó bỗng nhiên mụ có ý nghĩ là mụ hoàn toàn không hay biết gì về Barabbas. Không hề biết anh đã gặp chuyện gì, linh hồn người bị hành hình có bị cấy vào con người anh hay không. Hoàn toàn không. Mụ chỉ biết là mụ không cần cho anh, và mụ lại vô cùng say mê anh. Và khi nghĩ như thế, mụ khóc nấc lên và hiểu ra rằng mụ là người đàn bà bất hạnh.
Trong thời gian ở nhà mụ béo, Barabbas có mấy lần vào thành phố. Và một lần đã có chuyện này xảy ra với anh. Barabbas rẽ vào một ngôi nhà nhỏ - một túp lều thấp lè tè có các lỗ thủng ngay trên mái để lấy ánh sáng và sặc mùi hăng hắc của da và axit, có lẽ, đây từng là nơi thuộc da, mặc dù nó không ở phố Hàng Da, mà ở ngay sườn đồi kéo dài từ nhà thờ đến thung lũng Kedrôn. Nơi đây, có lẽ, trước kia người ta đã thuộc da của những con vật cống được giết trong nhà thờ. Hiện giờ rõ ràng “xưởng thuộc da” đã bị bỏ hoang, máng và các thùng nước để dọc tường nhà đều bỏ không, mặc dù mùi da và axit vẫn còn nguyên. Trên nền nhà bừa bãi vỏ cây, đủ các thứ rác rưởi và bẩn thỉu.
Barabbas lẩn nhanh vào trong nhà rồi ngồi xuống ngay bên góc cửa. Và, sau khi ngồi xổm xuống đó anh bắt đầu quan sát căn nhà: nơi đây chật ních những người cầu nguyện. Anh chỉ nhìn thấy mặt một số người: nói chung chỉ những ai được tia sáng trời xuyên qua các lỗ hổng trên mái nhà chiếu vào thì mới hiện rõ, nhưng, có lẽ, mọi người cầu nguyện ở khắp mọi chỗ, cả ở chỗ mập mờ tối - từ đó vang lên tiếng râm ran chung. Thế rồi bỗng nhiên tất cả mọi người cùng cao giọng, kích động điên cuồng, và có ai đó đứng dậy và bắt đầu hăng hái chứng thực về Đấng Cứu Thế hồi sinh. Mọi người đồng loạt im lặng và quay về mặt phía diễn giả như chờ đợi sức mạnh của Ngài truyền đến họ. Khi diễn ta dứt lời, tất cả lại tiếp tục cầu nguyện hăng hái hơn trước. Barabbas không thể nhìn thấy mặt những người làm chứng này, và chỉ một lần lúc nhân chứng - diễn giả đứng lên ngay kề bên, anh mới nhìn thấy mặt người đó đẫm mồ hôi. Có cảm tưởng con người này đã quên hết mọi thứ trên đời, và mồ hôi lăn trên đôi má hóp ông ta. Ông ta đã tuổi đã cao. Ông ta nói, cứ nói hoài, sau đó đột nhiên cúi gục người trên nền đất, chạm trán vào đất như tất cả mọi người khi cầu nguyện. Cuối cùng như nhớ ra rằng còn có Chúa Trời nữa, chứ không phải chỉ là người bị hành hình mà ông ta liên tục khẳng định. Sau đó từ góc xa vang lên một giọng nói Barabbas thấy quen quen. Và, sau khi nhìn về phía đó anh thấy con người khổng lồ râu tóc hung gốc Galixây dưới ánh ánh. Anh ta nói bình thản hơn tất cả những người trước đó, và bằng giọng Galilây của mình - cái thứ giọng có thể làm tức cười bất kỳ ai ở Giêruxalem. Mặc dù vậy tất cả đều nghe anh ta chăm chú hơn nhiều so với tất cả những người khác, tóm bắt từng lời anh ta - mặc dù anh ta không nói lời nào đặc biệt như vậy. Đầu tiên anh ta đề cập một chút về Thày Giáo “quý giá” của mình, không gọi Ngài theo cách khác được. Sau đó anh ta nhắc lại Thày Giáo đã nói rằng bất kỳ ai tin vào Ngài cũng sẽ bị xua đuổi và bị chửi rủa vì tên tuổi Ngài. Và để cho tất cả thấy mọi người đều phải chịu khổ đau và luôn nhớ rằng bản thân Thày Giáo cũng đã trải qua. Tất nhiên, bọn họ xét đến cùng là những con người đáng thương, yếu đuối, chứ không như Ngài, nhưng họ phải cố gắng chịu đựng mọi thử thách, không được từ bỏ Ngài, không được phản bội niềm tin của mình. Và anh ta không nói gì nữa. Và có nói thì chỉ cho chính mình chứ không phải với mọi người. Khi anh ta ngừng lời, tất cả những người có mặt thậm chí thấy thất vọng. Chắc hẳn anh ta đã nhận thấy điều đó và nói rằng bây giờ anh ta sẽ trân trọng việc cầu nguyện của họ - điều mà chính Thày Giáo đã dạy anh ta và anh ta đã làm như vậy, và trong lúc anh ta đọc lời cầu nguyện, hình như mọi người rất hài lòng, nhiều người rất cảm động. Tất thảy đã có một sự hứng khởi nào đó. Thế rồi anh ta dứt lời, và những người đứng cạnh anh ta đã quay lại nhìn anh ta, tựa như họ sẽ hôn anh ta ngay bây giờ, vậy mà anh ta đã nhận ra họ - đó là họ đã quát tướng lên lúc trước: “Cút khỏi đây, tên bất lương!”
Sau đó còn có hai người đứng lên làm chứng, và họ tràn trề khí thế tới mức quên đi tất cả, thậm chí còn chao đảo người từ bên nọ sang bên kia. Từ góc nhà Barabbas đã theo dõi họ bằng ánh mắt tinh tường.
Và anh rùng mình: Ở một chỗ có tia sáng chiếu xuống là cô gái có cái môi thỏ, cô đứng đó áp hai tay vào bộ ngực phẳng lỳ và quay mặt xanh xao về phía ánh sáng. Anh không nhìn thấy cô gái kể từ khi hai người chia tay nhau bên quan tài đá, và cô gái càng gày tọp đi hơn, trông vô cùng thiểu não, hai má hóp lại vì đói, trên mình gần như được che đậy bằng mấy miếng vải rách. Tất cả đầu sửng sốt quan sát cô gái, rõ ràng ở đây không một ai biết cô gái. Rõ ràng đối với họ cô gái thật là lạ lẫm, mặc dù họ không hiểu thực chất đây là gì - chẳng lẽ là ở chỗ mớ vải rách rưới ư? - và họ phân vân chờ xem cô gái sẽ nói gì với họ.
Cô ta lẻn đến đây làm nhân chứng với mục đích gì? Cô đã tưởng tượng ra cái gì. Trong lòng Barabbas thầm “á” lên. Chẳng lẽ cô không hiểu rằng đây không phải việc của cô ư? Barabbas rất giận cô gái, mặc dù, nói chung, mọi chuyện đều không can hệ đến anh. Và cô chứng thực để làm gì?
Hình như, bản thân cô cũng không vui mừng: cô nhắm mắt lại như không muốn nhìn thấy ai ở xung quanh và chỉ mơ ước sao cho mọi việc nhanh chóng kết thúc. Vậy thì để làm gì? Có ai ép buộc cô đâu!
Và thế rồi cô gái lên tiếng. Cô nói giọng mũi về niềm tin của cô đối với cô đối với Chúa Trời và Đấng Cứu Thế, nhưng hình như cô không làm động lòng được ai. Ngược lại. Cô còn nói một cách phi lý và khó hiểu hơn mọi khi, bởi lẽ cô chưa quen với cảnh có bao nhiêu người thế này lập tức lắng nghe cô nói, và tất nhiên, cô mắc cỡ. Còn đám đông thì lại tỏ rõ là họ đã chịu khó lắm rồi, rằng họ không biết để mắt giấu vào đâu vì xấu hổ, một số khác thậm chí quay người đi. Cuối cùng cô gái lắp bắp điều gì đó, đại loại như: Lạy Chúa tôi, thế là con đã làm chứng về Người đúng như Người đã sai khiến!. Và rồi lại co quắp người lại trên nền đất. Cố gắng sao cho càng ít người để ý đến mình càng tốt.
Tất cả đều bối rối nhìn nhau. Tựa hồ như cô ta đã giễu cợt họ. Thế rồi đột nhiên đúng! Có thể, nó đứng là như vậy! Có lẽ, tất cả đều muốn nhanh chóng bỏ về các ngả. Một trong số những người chủ chốt - một trong số những người đã nói: “Cút khỏi đây, tên bất lương!” đứng lên và tuyên bố đã đến lúc giải tán. Rồi nói thêm, chắc là tất cả đều đã hiểu rõ họ đã đến đây làm gì, tại đây, chứ không phải trong thành phố, và lần sau họ sẽ họp mặt ở một địa điểm khác, còn chưa ai rõ là sẽ ở đâu. Nhưng Thượng Đế, có lẽ, sẽ tìm được cho họ một nơi mà cái ác của thế gian không xúc phạm được họ, Người sẽ không bỏ rơi đàn con ngoan đạo của mình, Người là một nhà tu hành tốt bụng, và…
Barabbas không muốn nghe tiếp. Anh lẩn ra ngoài trước tiên, anh muốn lánh xa toàn bộ chuyện này càng nhanh càng tốt.
Anh thật ghê tởm.
Khi bắt đầu có các cuộc đàn áp, ông già mù vịn vào tay chàng thanh niên lúc nào cũng thở hổn hển, tiến đến chỗ những người truy lùng ở Hội đồng trưởng lão và nói:
- Một người đàn bà ở cổng Hố Rác đã loan truyền tà đạo về Đấng Cứu Thế nào đó sẽ xuất hiện và làm biến đổi toàn thế giới. Ả nói, tất cả những gì hiện có sẽ bị hủy diệt, và sẽ bắt đầu một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, ở đó sẽ chỉ có ý chí của con người đó được thực thi thôi. Có nên tra tấn mụ đàn bà này bằng đá hay không?
Là một người nhìn xa thấy rộng, người truy lùng đề nghị ông già mù kể lại một cách tỉ mỉ. Thực chất, lời buộc tội của ông lão dựa vào đâu? Và trước hết - Đấng Cứu Thế đó là ai? Lão mù đáp rằng đấy chính là kẻ mà vì tin vào y là bị ném đá vào người, vì thế để có công lý cần phải xử tội cả mụ ta. Chính tai lão đã nghe thấy mụ ta nói tựa như Chúa Trời của mụ sẽ cứu vớt tất cả mọi người, thậm chí cả lũ người hủi. Mụ nói là y sẽ chữa trị khỏi cho chúng, và chúng sẽ trở nên sạch sẽ, không thua kém những người khác. Nhưng điều đó rồi sẽ ra sao? Đám hủi sẽ lang thang đến nơi nào chúng thích, và, có lẽ, không phải đeo lục lạc, và khi đó làm sao phân biệt được chúng, đặc biệt nếu như khi ta là một người mù? Liệu có thể cho loan truyền điều nhảm nhí đó được không?
Lão mù nghe thấy ở bên cạnh, trong màn đêm vị trưởng lão gãi râu rồi sau đó hỏi, liệu có ai tin những lời hứa hẹn của mụ đó không?
- Cũng có người đấy, lão đáp, - Bọn lưu manh ở cổng Hố Rác ấy có gì mà không muốn tin. Còn bọn hủi, thì quá rõ, bọn này đã vui mừng hơn hết. Mụ lại còn giao du với bọn hủi, nghe nói đã nhiều lần mụ đến tường rào gặp gỡ chúng, lo lắng cho bọn chúng, không biết nhục là gì. Có thể, thậm chí còn nhăng cuội với bọn chúng, ai mà biết được. Chính tôi thì không biết, nhưng tôi có nghe nói, đâu như mụ không phải là đàn bà nữa. Nghe nói, mụ đã giết chết cả đứa con nhỏ của mình. Chính tôi cũng không biết. Tôi chỉ được nghe mọi người nói thôi. Tai tôi còn nguyên vẹn, nhưng mắt thì không - tôi đã mù lòa rồi. Và đấy mới là tai họa, thưa Đức Ông khả kính. Một tai họa lớn - đấy là làm kẻ mù lòa như tôi!
Ngài trưởng lão hỏi, thế mụ đã tập hợp được nhiều đệ tử cho “Đấng Cứu Thế” đó - như mụ phô danh hắn - mà đúng hơn - là kẻ bị hành hình đó.
- Nhiều đấy ạ. Tất thảy đều muốn chữa khỏi bệnh, mà y thì sẽ chữa khỏi cho tất cả, mụ hứa hẹn, cả những kẻ què quặt, điên dại, mù lòa. Vì vậy sẽ không còn sự khổ đau nào trên trái đất - dù ở cổng Hố Rác hay bất kể nơi nào. Nhưng bây giờ thì bọn chúng đã bắt đầu nổi giận với mụ vì việc Đấng Cứu Thế vẫn chưa đến. Mụ đã hứa hẹn từ lâu, vậy mà y vẫn chưa đến, thì chúng đã ngán ngẩm rồi mà chúng giễu cợt, chửi rủa, điều này dễ hiểu thôi, cũng chẳng hoài hơi đêm đêm khóc tỉ ti và phá vỡ giấc ngủ mọi người. Chỉ còn bọn hủi là vẫn hy vọng, và có kỳ lạ không - mụ đã nhồi nhét vào đầu chúng không còn thiếu cái gì! Hứa hẹn với chúng tựa như chúng sẽ được phép vào đền thờ, sẽ được phép vào ngôi nhà của Thượng Đế.
- Đó là cho bọn hủi!
- Vâng.
- Làm sao mà mụ có thể điêu toa đến thế?
- Nghe nói, không phải tự mụ hứa hẹn điều đó với bọn chúng, mà là Chúa Trời của mụ, mà Ngài thì mạnh mẽ toàn năng đến mức có thể hứa hẹn gì cũng được, muốn thay đổi gì tùy ý. Ngài quyết định cho tất cả vì Ngài là Con Trai Thượng Đế.
- Con Trai Thượng Đế à?
- Vâng.
- Con Trai Thượng Đế ư? Chính mụ nói thế ư?
- Vâng, nhưng vì đó là một sự báng bổ, ai ai cũng đều biết: Ngài đã bị hành hình, chứ sao nữa, và ai đã kết án Ngài, có lẽ đã hình dung thấy là họ đã làm gì?
- Chính ta là một thành viên luận tội!
- Vậy thì, ngài - thưa Đức Ông - Ngài thấy rõ hơn tôi: Y là ai.
Im lặng một lúc, và lão mù lại chỉ nghe thấy người đó gãi gãi râu trong màn đêm. Sau đó giọng nói vang lên là - nhất thiết phải triệu người đàn bà đến tòa án, để cho mụ chịu trách nhiệm về niềm tin của mình và tự bào chữa cho mình - nếu mụ có thể. Lão mù cám ơn, giậm giậm chân, khoan thai cúi người chào rồi bắt đầu dò dẫm tìm cửa ra trên tường - ô cửa mà lão đã qua để vào đây. Để giúp lão, một thành viên của hội đồng đã cho gọi người hầu, và trong lúc chờ đợi ông ta hỏi lão này để đảm bảo đúng luật lệ: Lão có ác tâm với mụ ta hay không.
- Ác tâm với mụ ta ư? Mà vì cớ gì chứ? Tôi nói chung không có tâm địa ác độc với mọi người. Để làm gì chứ? Tôi có nhìn thấy người nào đâu. Không hề nhìn thấy một người nào hết.
Gã hầu dẫn lão ra ngoài đường, đã có chàng thanh niên luôn thở hổn hển chờ lão bên cửa, lão mù vịn vào tay chàng trai rồi họ cùng bỏ đi…
Môi Thỏ bị kết án và bị dẫn đến bên phố vực - nơi những người bị kết án chịu hình phạt ném đá, và hố này ở hơi chếch về phía nam thành phố. Đi theo sau là cả một đoàn người la hét và một trong số các chỉ huy đội bảo vệ đền thờ cùng người của y; đó là những người để trần tới thắt lưng, râu và tóc đều được bện thành từng tua, hai tay cầm roi da bò thiến đầu bịt sắt - họ làm nhiệm vụ giữ trật tự. Khi họ đến nơi, đoàn người hung hăng vây xung quanh hố, viên bảo vệ dẫn cô gái xuống hố. Nơi đó ngổn ngang toàn đá, và ở đó, đá bị thâm lại vì máu đen bám vào.
Viên chỉ huy bảo vệ ra lệnh cho tất cả im lặng, rồi người mõ của linh mục tuyên đọc bản án và nguyên nhân của nó rồi bổ sung rằng người đã kết án phải ném viên đá đầu tiên. Sau đó lão mù được dẫn tới bên miệng hố và được giải thích việc lão phải làm. Nhưng lão mù lại không muốn nghe.
- Lão ném đá vào mụ để làm gì? Lão có liên quan gì đến việc này ? Mà lão cũng chưa bao giờ nhìn thấy mụ!
Nhưng khi cuối cùng lão được thuyết phục rằng đó là luật lệ và không thể bỏ qua luật lệ được, lão liền cau có làu bàu:
- Vậy à!
Người ta đặt vào tay lão một hòn đá và lão ném đá xuống vực tối. Lại tiếp tục - và lại chẳng ăn thua gì, bởi lão mù đâu có hiểu mục tiêu của lão ở đâu, lão chỉ đơn giản ném đá vào đêm tối - mà màn đêm đen - thì chỗ nào cũng như chỗ nào.
Barabbas đứng ngay cạnh lão mù và cho tới lúc này không hề rời mắt khỏi cô gái ở dưới hố, vừa kịp nhận ra có kẻ nào đó đã kịp giúp lão mù. Con người đó có khuôn mặt khắc nghiệt, già nua, khô đét và trên trán đeo các giáo luật khâu vào các túi da nhỏ. Chắc là cuốn sổ tay. Y cầm tay lão mù hướng vào đích để cho cuộc hành hình tiếp diễn. Nhưng rồi cũng không trúng. Đá rơi xuống bên cạnh nạn nhân. Cô gái bị kết án đứng dưới hố, mắt sáng quắc mở to và chờ đợi kết cục sẽ ra sao.
Cuối cùng lão sùng đạo mất hết nhẫn nại, lão cúi xuống lấy một viên đá to, sắc cạnh và dùng hết sức già nua của mình ném vào cô gái. Ngay lập tức đá trúng đích, cô gái chao đảo người và bất lực thế nào đó giơ đôi tay khẳng khiu lên trời. Cả đám đông gào thét lên hân hoan, còn lão mộ đạo thì cúi người vươn về phía trước chiêm ngưỡng kết quả hành động của mình, rõ ràng rất hài lòng. Barabbas khẽ bước một bước sát lại lão, khẽ nâng cao chiếc áo tơi lên trên người lão rồi thành thạo, gọn gàng găm mũi dao vào người lão. Tất cả diễn ra nhanh đến mức không ai nhận thấy. Thiên hạ đâu để tâm đến việc này: họ đang tập trung vào kẻ bị hành hình, ra sức ném đá.
Barabbas tiến đến bên bờ vực và nhìn thấy Môi Thỏ lảo đảo bước lên phía trước, hai tay giang ra và kêu to:
- Ngài đã đến! Đã đến rồi!... Ta nhìn thấy! Ta đã nhìn thấy Ngài! - Sau đó cô quỳ gục xuống, tựa như túm vào vạt áo của ai đó, nói giọng mũi: - Lạy Đức Chúa tôi, làm sao con có thể làm nhân chứng cho Ngài? Xin hãy tha tội cho con, lạy Đức Chúa tôi, và hãy tha thứ…
Cô gục xuống đống đá vấy máu và tắt thở.
Khi mọi chuyện kết thúc, những người đứng gần hơn đã nhìn thấy một người đang nằm chết. Và một người khác đang chạy theo vườn nho rồi mất hút trong rừng Ôliu nằm tiếp giáp với thung lũng Kêđrôna. Bọn bảo vệ lao đuổi theo, tìm kiếm nhưng không thấy. Tựa hồ mặt đất đã nuốt chửng con người đó.
Lúc đêm buông xuống Barabbas quay lại xuống hố vực. Anh không nhìn thấy gì trong màn đêm và phải mò mẫm đi. Anh đã tìm thấy tấm thân đầy thương tích của cô gái ngay dưới hố, nó gần như bị đá vùi lấp: lúc đã chết rồi, nạn nhân còn bị ném đá mãi không thôi.
Cô gái sao mà bé nhỏ và nhẹ cân làm vậy, hầu như tay anh không có cảm giác nặng nề trong lúc mang cô lên dốc và đi tiếp vào trong đêm tối.
Barabbas mang cô gái đi nhiều giờ liền. Thi thoảng có dừng lại nghỉ, đặt tử thi bên cạnh mình trong màn đêm. Sau đó mây tan, các vì sao sáng lấp lánh, rồi trăng lên và thế là lại nhìn rõ vạn vật. Barabbas ngồi và nhìn cô gái đã chết, khuôn mặt cô gái hầu như không bị vết thương nào mới lạ chứ. Và so với lúc còn sống nó không bị xanh xao đi chút nào, có khi lúc còn sống xanh xao hơn đấy! Hoàn toàn trong suốt và vết sẹo phía trên môi đã không còn nhận ra, hình như cô gái có vết sẹo đó hay không - điều này hoàn toàn không quan trọng. Và lúc này thì - nó đã không còn quan trọng rồi.
Barabbas còn nhớ khi đó anh đã tưởng tượng ra việc nói với cô gái là anh yêu cô ta. Và đã chiếm đoạt cô ta ra sao - không được, tốt nhất không nghĩ đến chuyện đó… Nhưng khi anh nói với cô gái rằng anh yêu, - anh nói để cho cô không tố giác và nghe lời anh, khi đó khuôn mặt cô mới rạng rỡ làm sao!
Chưa quen nghe thấy những lời như vậy… Anh chỉ đơn giản khi đó làm cho cô gái phấn khởi, vì có lẽ cô đã đoán ra là anh nói dối. Hoặc giả nàng đã không nói ra? Nhưng dù thế nào đi nữa, Barabbas đã đạt được mục đích: ngày nào cô gái cũng chạy đến gặp anh, mang thức ăn đủ để không bị chết đói, tự cô gái còn nằm ngủ với anh, thậm chí nhiều hơn mức cần thiết, và Barabbas đã tiếp nhận cô gái, bởi bên anh không có phụ nữ, phải tiếp nhận mặc dù cái giọng mũi của cô gái làm anh rất khó chịu, và anh đã đề nghị cô nói ít thôi. Rồi đến khi chân anh lành lặn, tất nhiên, anh đã bỏ đi. Chứ còn sao nữa?
Barabbas đảo mắt nhìn khắp vùng đất trống trải trước mắt mình, cả vùng đất mênh mông và chìm đắm trong ánh sáng trăng tang tóc. Nó trải dài về tất cả các phía, điều này anh biết rõ. Anh biết rất rõ vùng đất hoang vắng này, nhắm mắt lại anh cũng hình dung thấy nó ra sao…
“ Hãy thương yêu nhau”…
Anh lại nhìn thẳng vào khuôn mặt cô gái. Sau đó nâng cô lên và mang cô lên núi. Anh đi theo con đường mòn của lạc đà và cừu qua vùng đất trống Iuđây, tới vùng đất Môavít. Con đường nhỏ này không lộ rõ, song phân gia súc, thêm vào đó là các bộ xương của chúng - phần còn lại sau bữa tiệc của lũ chó sói, vạch dấu các chỗ rẽ ngoặt. Anh đi suốt nửa đêm như vậy, thế rồi con đường mòn dẫn xuống phía dưới, và anh biết đã tới gần rồi. Barabbas len lỏi qua các khe vực hẹp rồi tiến ra gần như một miền đất trống khác còn trải dài hơn và u tịch hơn. Nơi đây vẫn tiếp dẫn con đường mòn, nhưng anh ngồi xuống nghỉ lấy sức, anh đã mệt lử bởi đoạn đường dốc… hơn nữa anh hầu như đã đến đích.
Liệu anh sẽ tìm thấy hay sẽ phải cầu xin ông lão? Anh thật không muốn đến chỗ ông lão, tốt nhất là xong việc mà không phải nhờ ông lão. Chắc là ông lão sẽ không hiểu, anh mang cô gái đến đây làm gì. Mà chính Barabbas cũng không hiểu rồi ư? Việc này có lợi ích gì? Song ngôi nhà của cô đây rồi, anh nghĩ thế… Nếu như ở đâu đó nói chung có ngôi nhà của cô gái… thì chẳng có cớ gì Gangan đã vỗ về được cô gái yêu như vậy, và ở Giêruxalem cô đã không bị ném cho lũ chó càn cắn xé như vậy. Mà điều đó thật là tồi tệ. Mặc dù - có chắc là rồi đâu cũng vào đó không? Có gì khác nhau? Vậy nên, anh đã mang cô đến đây, nơi cô đã từng sống và bị xua đuổi và nơi cô sẽ được đặt vào chính chiếc quan tài - nơi có một đứa trẻ thơ đang nằm. Vậy có lợi gì cho cô gái? Chỉ đơn giản Barabbas muốn làm như vậy là vì cô gái. Làm “vui lòng” người đã chết - việc đó đâu có dễ.
Mà cô đâu có cần Giêruxalem chứ? Vì cớ gì cô liên hệ với đám tu sĩ dở hơi đó - lũ người đầu óc chỉ có biết sứ mệnh vĩ đại đã đến, tất cả phải nhanh chóng đến kinh thành của Chúa Trời? Giá nghe lời ông già thì tốt biết bao - không bao giờ cô gặp phải những rủi ro như vậy. Ông lão là người không hề muốn rời khỏi quê hương, ông nói: đủ rồi, đã bao lần ông hy vọng, vậy mà tất thảy đều - vô vọng, đã có không ít người tự tố giác mình về sứ mệnh. Tại sao con người này sẽ là chân lý? Còn cô ta - thì không, đi nghe lũ điên.
Và cô đang nằm đó - tắt thở, người đầy thương tích. Chỉ vì con người đó. Mà ông ta - là chân lý ư?
Là chân lý, hả? Vị cứu tinh của cả thế gian? Vị cứu tinh của cả loài người? Vậy thì tại sao ông ta không cứu giúp cô gái? Đã để lỡ cho cô gái bị ném đá chết vì ông ta ư? Nếu như ông ta là cứu tinh thì tại sao không cứu sống cô gái?
Nếu muốn, ông ta sẽ làm việc đó dễ như trở bàn tay. Nhưng không phải, hãy để cho ông ta chịu đau khổ, bản thân chịu đau khổ và để những người khác cùng chịu đau khổ. Và ông ta còn cần mọi người thừa nhận ông ta. “Thế là con đã làm chứng về Người đúng như Người đã sai khiến”… “Đã từ cõi chết sống lại để chứng nhận về Người”…
Không đâu, trong thâm tâm Barabbas không thích con người bị hành hình này. Barabbas căm thù ông ta. Đấy là ông ta đã giết chết cô gái. Tự ông ta đã đòi hỏi cô gái hy sinh và đã theo dõi cô gái để cô không chạy trốn. Vì ông ta thậm chí đã có mặt ở đó, ở dưới hố vực, cô gái đã nhìn thấy ông ta, cô đã đi đến chỗ ông ta, đưa tay cho ông ta, cầu xin sự giúp đỡ, đã túm vạt áo ông ta - vậy mà ông ta không động đậy một ngón tay để cứu giúp cô gái. Và đó là Con Trai Chúa Trời! Người Con Trai Chúa Trời ban phát tình yêu! Vị cứu tinh của thế gian!
Tự mình Barabbas ít ra cũng đã giết chết kẻ đã ném viên đá đầu tiên trúng cô gái. Mặc dù anh đã làm như thế. Nhưng nói chung, ít ý nghĩa lắm! Dù sao đá cũng đã bay đi, đã trúng đích. Hoàn toàn vô tích sự. Nhưng đành vậy thôi. Dù sao Barabbas cũng đã kết liễu đời hắn.
Anh dùng lòng bàn tay chà xát cái miệng méo xệch của mình rồi nhếch mép cười thầm. Sau đó nhún vai và đứng dậy. Nâng cô gái chết lên, bực bội như mệt mỏi vì cô gái và bước tiếp.