Mặt trời nóng bỏng rọi gay gắt xuống những tòa nhà nhiều sắc màu nằm dọc theo cái vịnh nhỏ. Lúc đó là ba giờ chiều và ít nhất là 35 độ C, nhưng cả mặt trời hay cái nóng cũng không ngăn một nhóm khách du lịch quyết tâm lang thang qua lại con phố rải sỏi hẹp chạy từ một đầu vịnh tới đầu kia vịnh. Nằm bên sườn một ngọn đồi ở cuối con phố này là một quán cà phê nhỏ với những tấm bàn đặt ngoài trời có mái nhà bằng gỗ che, và ngồi ở một bàn, Janey Wilcox đang uống Coke và dùng tờ tạp chí Time cũ quạt cho mình.
Cách cô chưa đến nửa mét, một con mèo đực màu vàng và da cam nằm trên sàn gỗ, nhìn cô bằng đôi mắt nâu lớn. Nó có cái tai bị rách và một vết sẹo trên một mắt. Và khi nó quyết định cô sẽ không gọi đồ ăn và cho nó ăn, nó bắt đầu liếm móng vuốt và chậm chạp rửa mắt. Janey nhìn con mèo khi cô hút Coke. Cả nơi này toàn mèo là mèo. Ngay khi ta ngồi xuống một cái là nó vây lấy ta, thậm chí còn dạn tới mức ngồi lên một cái ghế trống ở bàn của ta.
Janey thở dài và ngả đầu lên tay, nhìn ra vịnh. Cô nghĩ là cảnh cũng đẹp, nhưng hôm nay là ngày thứ ba họ thả neo ở ngoài vịnh rồi và toàn bộ cảnh này trở nên chán ngắt. Những cô gái khác không hiểu vì sao họ lại ở đến ba ngày ở đây. Nhưng họ không đủ thông minh để suy luận ra, ngay cả sau buổi sáng họ thả neo ở một cái vịnh của một hòn đảo xa xôi gần như không có người ở, và được bảo là phải ở yên trong phòng ngủ với rèm buông kín.
Hiển nhiên là họ làm theo - nhưng Janey thì không, và đứng trên giường và cẩn trọng kéo một góc rèm lên, cô hé mắt ra ngoài và nhìn thấy ba người lính mặc quần áo ngụy trang và mang súng máy từ trên một ngọn đồi lởm chởm đá đi về phía thuyền. Rồi cô nằm vật ra giường, tay bịt kín miệng và bắt bản thân không được hét lên. Kể từ buổi chiều đầu tiên đó, khi cô quay lại boong tàu và thấy tất cả khách đã đi hết - trừ ba phụ nữ trẻ kia - và nhân viên đi quanh và kéo neo lên, cô đã tin rằng mình sắp sửa bị bán làm nô lệ. Và trong ba tiếng tiếp theo, nằm trong phòng của mình - dĩ nhiên là nó đẹp gấp hàng ngàn lần so với cabin mà cô đã ở trên chiếc du thuyền của Sayed với một bồn tắm bằng đá hoa cương và đủ mọi loại xà phòng, dầu gội đầu, và kem dưỡng thể mà bạn có thể nghĩ đến - cô vẫn tin rằng mình sắp sửa bị bán làm nô lệ.
Bữa trưa và lời đề nghị mười nghìn đô tất cả chỉ là một trò lừa đảo để dụ cô lên thuyền rồi bán cô, cô nghĩ, khi cô nằm rên rỉ trên giường. Sau rốt, Rasheed là một kẻ buôn vũ khí - chính Paul đã nói như thế - và nếu ông ta buôn vũ khí, có thể ông ta cũng buôn cả gái nữa. Và trên hết, không ai trên thế giới này biết cô đã lên thuyền của Rasheed ngoại trừ Estella - mà Estella thì không phải là loại người ta có thể cầu cứu.
Dĩ nhiên là chẳng có chuyện gì xảy ra cả - chưa, Janey nghĩ, nhìn ra vùng nước nông ở vịnh. Phía bên kia, mấy đứa trẻ đang nghịch cát bẩn trên bãi biển. Nhưng khi nhìn thấy những người lính kia đã khiến Janey nghĩ cô đã đúng ngay từ đầu - và rằng cuối cùng thì mọi chuyện cũng có lý: Họ dám tiến hành việc trao đổi ở đâu khác ngoài một hòn đảo hoang nơi không ai nhìn thấy cơ chứ? Và rồi, cô sẽ biến mất hoàn toàn như thể chưa từng tồn tại, và chỉ có Chúa mới biết chúng đã làm gì với cô. Chà, cô quyết định, họ sẽ bị ngạc nhiên đây: Cô đã quyết định là chúng sẽ phải giết cô trước khi cô đi với họ.
Và giờ đây, ngồi ở một quán cà phê không có gì để làm, cô nhớ lại lúc ở trong cabin của mình, phân tích những phản ứng của cô. Khi bị hoảng loạn ta có thể biến thành như thế nào là một chuyện khá thú vị. Phải đến mười phút liền, cô thấy bối rối và choáng váng, và hoàn toàn không biết mình đang ở đâu. Và rồi, vì một lý do kỳ quái nào đó, cô đã vào bồn tắm và phủ đầy khăn tắm lên người mình. Dẫu vậy, dù sợ hãi, cô vẫn nhận ra những cái khăn này dày một cách đặc biệt. Thế rồi cô thực sự nghĩ đến chuyện đi tắm, nhưng vội gạt đi ý tưởng đó vì nếu chúng sẽ đến bắt cô, cô không muốn việc mình không mặc gì làm cho việc đó dễ dàng hơn. Cuối cùng cô ra khỏi bồn tắm, nghĩ ngợi rõ ràng hơn, quyết định rằng nếu chúng bán cô, cô sẽ chuẩn bị sẵn sàng để có cơ hội là đào tẩu. Mặc quần soóc kaki, cô bắt đầu nhét đầy túi tất cả những gì có thể dùng làm vũ khí - kéo cắt móng tay, một bồ đồ khâu vá, cả cái lọ đựng kem tẩy lông nhỏ xíu. Rồi cô quay lại giường và hé mắt nhìn ra lần nữa.
Rasheed đang đứng trên bờ nói chuyện với ba gã. Cô không nhìn thấy mặt ông ta, nhưng cô biết đó là ông. Bởi kể từ lúc họ rời khỏi miền Nam nước Pháp, ông mặc bộ áo dài trắng hoa hoét truyền thống Ả Rập và đeo một đôi kính râm Ray-Ban. Hai phụ tá của Rasheed đứng sau ông ta, cũng bê súng máy. Họ chỉ trò một hồi, rồi tất cả quay bước trên một con đường mòn hẹp, đi xa khỏi tầm mắt cô.
Cô lại quay lại giường, dùng cây kéo cắt móng tay chọc vào mình. Cô lại phát điên lên - sau rốt thì chỉ là chuyện buôn bán vũ khí thôi. Nhưng lão Rasheed đó thật thông minh. Khi họ được gọi tới từ phòng họ hai tiếng sau, phòng khách đã được biến thành một vùng đất kỳ diệu vào mùa đông, với tuyết giả và sàn gỗ xịt sơn trắng và những ngọn đèn Noel nhỏ xíu. Ở giữa sàn nhảy là một cái bánh sinh nhật to đùng viết Chúc mừng sinh nhật Irina. Tất cả hai mươi thành viên của nhân viên phục vụ đứng thành nửa hình tròn và hát bài “Chúc mừng sinh nhật” Irina, một cô gái cao và đen, với hông và ngực lớn và một cái eo nhỏ xíu đến kỳ diệu, trong khi Irina trông bối rối.
“Nhưng hôm nay không phải sinh nhật của tôi,” cô phản đối, giọng đặc Anh.
“Anh Carmichael,” Rasheed nói với Ian (ông ta không bao giờ gọi tên ai cả). “Có đúng không? Cô Stepova bảo hôm nay không phải là sinh nhật cô ấy.”
“Tôi đã kiểm tra hộ chiếu của cô ấy, thưa ngài, hôm nay là sinh nhật cô ấy,” Ian nói cương quyết.
“Có lẽ tôi đã nhầm chăng?” Irina hỏi. Và rồi Rasheed tặng cho tất cả bọn họ lắc bằng kim cương.
“Không phải sinh nhật cô ấy đâu, cô biết đấy,” một cô gái tên Sallie thì thầm sau đó, khi bốn cô gái nằm tắm nắng trên boong tàu. Cô ta là người Anh và liên tục lải nhải với họ rằng cô xuất nhân từ một gia đình tử tế có quan hệ với quý tộc, làm như thể đó là điều tự nhiên nhất trên đời để làm khách trên thuyền của Rasheed.
“Irina... nhầm? Không phải?” cô gái người Brazil tên là Conchita nói. Cô ta hầu như không nói được một từ tiếng Anh nào, và khóc ít nhất một lần một ngày, gọi “Mẹ ơi.” Ian bảo cô ta sẽ bị đưa xuống thuyền khi họ tới Monaco.
“Janey?” Sallie gọi. Giọng cô ta rất nặng, như thể hai mảnh kim loại va vào nhau. Và nếu Janey biết nhiều hơn về người Anh, cô sẽ nhanh chóng hiểu ra việc Sallie kêu mình có dòng dõi quý tộc là hoàn toàn bốc phét. Cô chỉ biết là mình không chịu nổi cô này, và xoay người ra nằm sấp, Janey thản nhiên nói, “Ai quan tâm chứ?”
“Tớ có được sợi lắc,” Irina nói, vẫy cổ tay trong không trung.
“Cậu biết gì đó, phải không Janey?” Sallie nói, bò về phía cô. “Có lẽ cậu đã nói chuyện với Ian về chuyện này.”
“Ian?”
“Đừng nghĩ là bọn tớ không biết cậu đang nịnh bợ anh ấy. Có khi cậu đã bí mật ngủ với anh ta. Nhớ là phòng nào cũng có máy quay đấy nhé!”
“Rồi tất cả những gì các cậu phải làm là xem băng thôi nhỉ?”
“Băng gì cơ?” Irina hỏi.
Ian! Jany nghĩ. Tiếng máy bay đưa cô quay lại hiện thực và cô nhìn lên thấy chiếc máy bay màu đen bóng loáng của Rasheed đang lượn trên vịnh và rồi vút lên không trung, biến mất sau ngọn núi ở phía sau thị trấn. Khi Rasheed đi rồi, có lẽ giờ Ian sẽ đến. Cô đã tạo ra cơ hội đó bằng cách tuyên bố vào bữa trưa là mình sẽ vào thị trấn tìm mua báo. Rasheed nhướng mày lên, và hơi khẽ cười bảo, “Cô Wilcox, tôi không biết là cô lại đọc được tiếng Thổ Nhĩ Kỳ đấy. Có lẽ cô có những tài năng ẩn giấu mà chúng không biết chăng?”
“Ồ đúng thế, Rasheed ạ,” cô nói vẻ quỷ quyệt. “Nhiều lắm.”
“Kể đi, Janey,” Sallie nói, miệng nhồm nhoàm cá. “Cậu có định nâng ngực không?”
“Ngực là gì?” Irina hỏi.
Và lúc này đây, rất khẽ khàng thôi, Janey tin chắc là mình nghe tiếng chiếc Lazer. Giơ tờ tạp chí lên trên đầu để che mắt, cô quan sát khi một con tàu nhỏ màu xám đậu trên một chỗ ở vịnh, được chỉ huy bởi một người đàn ông cao tóc vàng. Từ xa xa, hầu hết đội nhân viên lái tàu, hoặc người Úc hoặc Anh, trông giống hệt nhau với cơ thể mảnh mai và mái tóc vàng, nhưng Ian cao hơn tất cả bọn họ, và cô chắc chắn đó là anh. Tim cô đập dữ dội khi chiếc thuyền đi vào vịnh và ngang qua quán cà phê. Nhảy vội ra khỏi ghế, cô chạy về phía rìa ụ tàu và vẫy tay. Anh mỉm cười toe toét nhận ra cô và lái chiếc thuyền về phía cầu tàu ở trung tâm thị trấn.
Cô quay lại ghế ngồi, căng thẳng nghịch sợi lắc trên cổ tay. Sao chuyện này lại xảy ra? Cô yêu anh đến tuyệt vọng - khi cô không tìm ra cách để chạm vào anh, cô dành thời gian tưởng tượng ra mình làm tình với anh, về cách trốn thoát khỏi con thuyền, và sống cùng nhau. Ấy vậy mà trong bảy ngày ở trên thuyền, cô không có được đến nửa phút riêng tư với anh. Nhưng dẫu chỉ trong ba mươi giây ngắn ngủi đó, cô tin chắc mình thấy sự thông hiểu ở anh, rằng anh nhìn thấy cô thực sự là ai.
Anh thả neo chiếc Lazer và bắt đầu đi về phía cô. Cô đã phải lòng anh ngay cái đêm đầu tiên trên thuyền, khi sợ hãi đến run lẩy bẩy, cô đã va vào anh trên boong trên đường tới bữa tối. “Chúng sẽ bán chúng tôi làm nô lệ,” cô rít lên giận dữ. Anh vô cùng kinh ngạc trước câu nói của cô đến nỗi anh bật cười lớn. “Cô nghe này,” anh nói. “nếu họ làm thế thì tôi sẽ bảo vệ cô. Tôi hứa sẽ là người trả giá cao nhất.” Rồi anh lại bật cười lần nữa và lắc đầu không tin nổi. Việc đó đã trở thành câu chuyện đùa trở đi trở lại của họ. Khi Janey nhìn thấy anh, cô nói, “Tôi hy vọng là anh đã tiết kiệm tiền.” và anh đáp lại, “Tất cả nằm ở dưới nệm,” và nháy mắt với cô.
Anh đã đến rất gần quán cà phê thì đột nhiên anh rẽ vào một tòa nhà trắng với tấm biển bằng đồng trông có vẻ hành chính trên cửa, và đây là phòng hải quan.
Cô nhấp một ngụm Coke và bắt tim mình thôi đập nhanh. Anh sẽ đến với cô - anh phải đến. Anh đã nhìn thấy cô, và khi cô là “khách” trên thuyền, anh ít nhất sẽ phải nhận ra cô mà chào hỏi. Nhưng ngay lập tức đầu óc cô lại đầy những tưởng tượng. Anh sẽ đưa cô về thuyền, và khi Rasheed đi rồi, có lẽ cô sẽ lén vào cabin của anh. Sallie bảo là phòng nào cũng có camera, nhưng có lẽ đội lái tàu thì không bị thế. Cô không thể tưởng tượng ra chuyện Ian lại đồng ý có camera trong phòng anh ấy. Anh ấy thật đẹp và thông minh...
Mười lăm phút sau anh đi ra từ phòng hải quan và vẫy tay tiến lại bàn cô. “Báo Thổ Nhĩ Kỳ hay không?” anh hỏi.
“Ồ, cuối cùng em phát hiện ra là mình không đọc được tiếng Thổ Nhĩ Kỳ,” cô vui vẻ nói.
“Chà, tin tốt lành là mình sẽ đi Monaco chiều nay. Em tới Monaco bao giờ chưa?”
“Chưa, nhưng có lẽ Rasheed sẽ muốn thả em khỏi thuyền.”
“Chắc không đâu,” Ian nói, nghiêng đầu sang một bên. “Ông ta có vẻ rất thích em.”
“Có lẽ là vì em chơi bài poker... Mình có phải quay lại thuyền ngay không?”
“Anh sẽ đợi em uống nốt cốc nước,” anh nói.
“Vậy em sẽ uống rất chậm,” cô nói, nhìn anh và mỉm cười. Cô thích khi anh dùng cái giọng mệnh lệnh với cô. Nó khiến cô có cảm giác như mình là một đứa trẻ được đảm bảo là mọi chuyện rồi sẽ ổn cả. “Sao anh không uống một cốc đi?” cô hỏi vẻ ngây thơ.
“Bởi vì,” anh nói, nhoài qua bàn, “chúng ta bị nhìn thấy ngồi cùng nhau là không tốt.”
“Mình có thể đi ra phía sau.”
“Thế thì còn tệ hơn. Họ sẽ nghĩ mình đang trốn.”
“Họ đang nhìn chúng ta à?”
“Dĩ nhiên rồi,” anh nói bằng một giọng có thể là đùa cợt mà cũng có thể không. “Thấy cái gã đằng kia không?” anh hỏi, chỉ một gã người to đậm với cái đầu cạo trọc. “Em thấy gã ta bao giờ chưa?”
“Chưaaaaa.”
“Gã ở trên thuyền đấy. Gã là một trong những vệ sĩ của Rasheed.”
“Em không quan tâm.”
“Ôi Chúa ơi, Janey,” Ian thở dài. “Em không biết là họ sẽ làm gì với phụ nữ ngoại tình ở đất nước họ à? Họ ném phụ nữ xuống bể bơi không có nước và ném đá vào họ cho đến khi chết.”
Janey há hốc mồm và sợ hãi nhìn gã đầu trọc, gã này đang mải đá một con mèo khi nó lại quá gần.
“Em không tin anh,” cô nói.
Anh nhún vai. “Có lẽ anh cũng sẽ uống một ly Coke.” Anh đi tới quầy và quay lại với một chai và một cái cốc không, và ngồi xuống đối diện với cô. “Mình sẽ nói về Monaco,” anh nói.
“Em không muốn nói chuyện về Monaco.”
“Em sẽ thích nó,” anh nói, uống một ngụm Coke từ chai. “Mua sắm rất tuyệt. Và có cả sòng bài.”
Janey đặt khuỷu tay lên bàn và nhoài về phía anh. “Em không quan tâm tới chuyện mua sắm. Em chả thích thú gì quần áo cả. Hay sợi lắc này!” cô nói, lắc cổ tay.
Mắt anh nheo lại khi anh uống một ngụm từ chai nước. “Tất cả con gái bọn em đều quan tâm tới quần áo. Và tiền bạc.”
“Ian,” cô khẽ nói. “Em yêu anh.”
Cô chưa bao giờ bảo với một người đàn ông rằng cô yêu anh ta và chưa bao giờ nghĩ mình sẽ làm vậy. Nhưng tình huống này thật siêu thực đến nỗi những từ đó như vuột ra khỏi miệng cô. Thật là nhẹ nhõm khi nói được ra. Nếu họ yêu nhau, nó sẽ khiến hoàn cảnh của cô lãng mạng chứ không hèn hạ. Và nó sẽ trở thành một chuyện hài hước sau này họ kể cho con cái nghe...
Anh quay mặt đi và khi anh quay lại, anh nói, “Em đang làm gì trên cái thuyền này thế, Janey?”
“Em không biết...”
“Từ giây phút anh nhìn thấy em, anh đã tự hỏi, ‘Cô ấy đang làm cái quái gì ở đây thế?’ Thế không phải là anh không hiểu hầu hết phụ nữ làm gì trên thuyền. Nhưng em, Janey,” anh nói, lắc đầu. “Em không cần phải làm việc này. Dĩ nhiên là em xinh đẹp. Nhưng em thông minh. Trong đầu em có ý tưởng. Sao em không quay lại Mỹ và trở thành một bác sĩ...”
“Một bác sĩ?”
“Có ai biết em đang ở đâu không?”
“Em bảo với anh rồi, em gần như là bị bắt cóc...”
“Có ai quan tâm không?”
“Dĩ nhiên rồi. Gia đình em...:
“Hết hết những cô gái trên thuyền không có ai quan tâm hay để ý khi họ đi.”
“Ian,” cô nói, căng thẳng nghịch sợi lắc. “Thế anh đang làm gì trên thuyền?”
“Em nên xuống khỏi thuyền ở Monaco,” anh nói. “Ở đó em đi thì dễ. Về lại với gia đình em.”
“Em đã thấy ông ta buôn bán vũ khí.”
Ian cẩn thận đặt cái chai không lên bàn. Anh từ từ đứng dậy. “Anh sẽ vờ như là mình chưa bao giờ nghe thấy điều đó. Và em sẽ vờ như là em chưa bao giờ nhìn thấy chuyện đó.”
“Ian,” cô thì thầm. “Nếu em xuống khỏi thuyền ở Monaco, anh có đi với em không? Mình có thể ở bên nhau không?”
Anh bật cười, phá tan sự căng thẳng. “Tốt nhất là mình nên quay lại thuyền.”
“Nhưng mình có thể đi cùng nhau không?” cô hỏi. “Em biết là anh cũng điên lên vì em. Em đã thấy cách anh nhìn em...”
“Thật à?” anh hỏi với vẻ bối rối kỳ quặc. “Vậy anh nghĩ mình sẽ phải đảm bảo để không nhìn em như thế nữa.”
Nhưng cô không xuống thuyền ở Monaco.
Thay vào đó, cô trở nên mải mê với ý tưởng chơi một trò chơi nguy hiểm - là trung tâm vở kịch của chính cô - và với sự ngu xuẩn của một nữ sinh, cô tin rằng mình không thể chịu đựng được nếu xa Ian. Cô tin chắc là anh cũng âm thầm muốn có được cô, nhất là khi anh không cự tuyệt nó, và cô sẽ làm tất cả để khiến anh ghen tuông: Ngày này qua ngày nọ, cô quay lại thuyền với những chiếc túi đồ mua ở Dior và Christian Lacroix, đảm bảo để anh nhìn thấy từ nơi anh đứng trên boong tàu. “Em đang làm gì thế, Janey?” anh hỏi, đi ngang qua cô.
“Nó đâu có tệ lắm,” cô nhún vai.
“Bề ngoài thì không tệ lắm, nhưng cả hai chúng ta đều biết thực sự là chuyện gì, phải không?”
“Em yêu anh, Ian,” cô thì thầm và thở dài.
Dĩ nhiên là cô phải che giấu tình cảm thực của mình với Rasheed. Nhưng chẳng phải việc đó rất vui sao? Việc lừa dối khiến cô có cảm giác mình đang sống. Nó làm cô cảm thấy mỗi phút giây như là một cảnh trong phim. Ở Monte Carlo, cô mặc một bộ đầm dài đi cùng Rasheed tới sòng bạc. Luôn có đàn ông ngắm nhìn cô, liếc cô, cố gắng nói chuyện với cô. Và với sự ngạo mạn của tuổi trẻ, cuối cùng cô biết là mình xinh đẹp, và cám ơn Chúa đã ban cho cô vẻ đẹp, không thể hình dung ra một số phận tồi tệ hơn việc sinh ra mà xấu xí.
Nhưng một đêm cô gặp chuyện sốc.
Cô đang đi cùng Rasheed và nhóm phụ nữ ở một câu lạc bộ đêm Jimmy’s; đang đi vào phòng vệ sinh, một gã đột nhiên tiến lại chỗ cô và đẩy cô sát vào tường. Hơi thở đầy mùi rượu phả vào mặt cô, gã nói, “Hẳn là em phải ngon lắm thì em mới đi với Rasheed. Anh nghe bảo lão ta chỉ chơi với loại ngon nhất...”
Cô kinh tởm đẩy gã đi, và chạy vào phòng vệ sinh. Tay run run, cô mở chiếc túi Chanel và lấy thỏi son Pussy Pink ra, thoa lên môi. Cô choáng váng. Miền Nam nước Pháp đầy những phụ nữ như cô, những phụ nữ trẻ xinh đẹp không biết làm gì để kiếm sống; và ở tại nước Pháp, không ai chất vấn sự hiện diện của họ. Không thể rành rành ra như thế được, cô nghĩ, liếc qua hai phụ nữ trẻ hấp dẫn rõ ràng là người Mỹ. Quần áo của họ, cô để ý, không đắt bằng đồ của cô. Và từ khóe mắt, cô thấy hai cô kia nhìn vẻ ngoài của cô rồi thì thầm gì đấy.
Cô giận dữ quay lại, thách thức họ dám chất vấn cô. “Chậc?” cô hỏi. “Chuyện gì?”
“Không có gì,” một trong hai cô nhún vai. Nhưng khi họ đi qua, cô nghe cô kia thì thầm, “Puta,” từ tiếng Ý nghĩa là gái điếm.
Trong một thoáng, cô không thở nổi. cô lùi lại một bước và trân trối hoảng sợ nhìn mình trong giương. Vậy là quá rõ ràng rồi, cái thứ mà cô đã trở thành. Cô mặc một bộ đầm đắt tiền Thierry Mugler và đeo vòng tay vàng Chanel ở cổ tay. Cô đã nghĩ mình thanh lịch, nhưng giờ cô thấy rằng mình ăn mặc như một con điếm, và cô muốn xé toạc cái váy khỏi người mình. Nhưng rồi lý trí quay trở lại. Quần áo và trang sức đẹp đẽ rất đắt tiền, và cô muốn nhưng thứ đẹp đẽ trang trí cho cơ thể cô... Và không còn cách nào khác để có được chúng ngoại trừ việc dùng cơ thể và sắc đẹp để đổi lại. Và giờ như thế thì khác gì với những phụ nữ như Kim, cô bướng bỉnh tự hỏi, đã lấy một người đàn ông giàu có để trả cho ngôi nhà của họ và bộ rèm cửa sổ trị giá hai mươi ngàn đô? Sự khác biệt duy nhất là họ kết hôn còn cô thì không...
Và rồi cô giận dữ quay lại thuyền.
Cô gặp Ian ở phòng khách - anh đang đứng thẳng người đợi một bữa tiệc sẽ diễn ra ở đó.
“Ôi Ian,” cô kêu lên. “Vài đứa con gái xấu tính...”
Và Ian, nhìn gương mặt cô và đoán chuyện gì đã xảy ra, lắc đầu. “Có một câu ngạn ngữ thế này, Janey ạ,” anh nói. “Hãy cẩn thận với thứ mình ăn, vì sợ miệng mình sẽ quen với thứ mà mình đã cho nó.”
Và rồi kiểu gì đó, tháng Bảy chuyển sang tháng Tám. Và đến tháng Tám, tất cả đều tan vỡ cả.
Cô với Rasheed và hai cô gái khác nữa (lúc nào cũng có phụ nữ đến và đi trên thuyền, và Janey đã học được cách tốt nhất là lờ họ đi, không nhớ cả tên của họ), và khi họ ở Cannes, bước đi trên đại lộ de la Croisette trên đường đến nhà hàng cạnh bãi biển ở Carlton. Janey mặc bộ đầm Ungaro không tay; tóc buộc túm lại và đeo một sợi dây ngọc trai Chanel nặng trên cổ. Cả nhóm đang nói về bữa tiệc mà họ đã đến dự đêm hôm trước ở dinh thự một bà góa người Mỹ giàu có, thì đột nhiên cô thấy ai đó túm lấy tay mình, và một giọng đàn ông quen thuộc đến khó chịu gọi, “Janey?”
Cô dừng lại. Và rồi, chầm chậm, cả nhóm dừng lại và quay sang, tò mò nhìn cậu thanh niên có râu mặc quần sooc kaki và đi đôi xăng đan Birkenstock và một cái balô nặng quàng trên vai.
Đó là anh trai của cô, Pete.
Một cô gái trẻ xinh xắn với mái tóc đen dài và khá giống Ali MacGraw đứng há hốc mồm cách đó vài bước. Đó là Anna, bạn gái của Pete, đã hẹn hò với anh từ trung học lên đại học. Cô ta tiến tới một bước, thốt lên, “Janey?”
Pete nhìn từ Janey sang những cô gái đến Rasheed. Một vẻ kinh tởm choáng váng hiện lên trên mặt anh khi anh hét lên, “Cái quái gì...?”
Một cơn mưa nhỏ bắt đầu rơi xuống Place Vendôme. Janey nhìn lên, cô nên đi thôi, tìm một chiếc taxi và gặp Mimi ở Dior. Mưa sẽ làm hỏng tóc và quần áo đắt tiền của cô. Mimi sẽ tự hỏi chuyện gì đã xảy đến với cô. Nhưng cô không quan tâm. Nỗi đau nhớ lại những chuyện như vậy khiến cô có cảm giác như bên trong cơ thể chưa đứng những mảnh kính vỡ, và cơn mưa nhỏ mát lạnh khiến cô thấy dễ chịu.
Phải mất đến hai ngày để xuống thuyền. Ian đã bảo cô rằng cô phải đợi, để chính Rasheed ý thức được ý tưởng đó. Để chuyện đó là gợi ý của ông ta, với cả, cô muốn nhận tiền của mình.
Cuối cùng, vào buổi sáng thứ ba, một lần nữa cô lại được gọi vào văn phòng. Cũng như lúc trước, tay Ả Rập ngồi sau bàn. “Ngài Rasheed cám ơn cô vì đã lưu lại, nhưng nghĩ tốt nhất là cô nên rời khỏi bây giờ. Cô sẽ tìm thấy hành lý của mình được đóng gói và đợi cô ở cuối ván cầu. Một chiếc xe sẽ đưa cô đi bất cứ nơi nào cô muốn.” Và rồi hắn đưa cho cô một chiếc vali Louis Vuitton nhỏ. “Ngài Rasheed mong cô nhận món quà thể hiện sự cảm kích của ngài. Nó gợi ý là cô nên rời đi ngay lập tức.”
Cô ra khỏi văn phòng cầm theo cái vali. Cô đi qua phòng khách và ra boong tàu, nơi cô đã có bữa trưa định mệnh sáu tuần trước. Cô có thể thấy những chiếc túi của mình xếp gọn gẽ cạnh thùng chiếc xe Mercedes đen có cửa kính màu; tài xế, một tay Ả Rập khác, đứng bên ngoài. Cô nhìn quanh tìm Ian. Anh phải biết là cô ra đi. Chẳng lẽ anh sẽ để cô đi mà không chào tạm biệt ư?
Khi cô đi tới ván cầu, cô dừng lại trong một giây. Mặt trời tháng Tám nóng không chịu nổi và trong một thoáng cô thấy chóng mặt. Và rồi anh đứng cạnh cô, khẽ chạm vào tay cô. “Cô có cần giúp đỡ không, cô Wilcox?” anh hỏi.
“Ồ vâng!” cô kéo lên, nhìn đầy ẩn ý vào mắt anh.
“Thận trọng,” anh nói, liếc về phía tay Ả Rập.
Có quá nhiều điều cô muốn nói với anh, mà không có thời gian. Cô thấy nước mắt mình dâng lên, và đột nhiên, cô kiệt sức. Làm thế nào mà cô trở nên mệt mỏi đến vậy? “Ian...,” cô nói.
“Anh mừng là em ra đi, Janey ạ. Đến lúc rồi.”
Họ đến cuối ván cầu và bước lên ụ tàu bằng xi măng. “Tất cả túi của em đây à?” anh hỏi, bằng một giọng nghe có vẻ hành chính. Janey bối rối nhìn túi của mình. Cô không biết gì cả... Có bốn cái vali Louis Vuitton tất thảy, chồng lên nhau như hành lý của một ngôi sao điện ảnh hoành tráng nào đó.
Cô nghĩ mình sẽ lại khóc mất, vì thế cô mở ví ra, và lấy một đôi kính đen. Tay Ả Rập cho vali vào xe.
“Ian...”
“Vâng, cô Wilcox?”
Cô không muốn mình muốn nói gì. Anh lùi lại một bước khỏi xe khi tay Ả Rập mở cửa xe. Cô nhìn lại anh, và rồi, bước ba bước thật nhanh về phía anh, nói, “Tại sao anh lại ở trên con thuyền này?”
Anh nhìn cô và buồn bã lắc đầu. “Lý do cũng như em thôi, Janey ạ. Tiền.”
“Nhưng...”
“Anh có một cô vợ cũ và một đứa con phải nuôi ở Úc.”
Cô thở phào nhẹ nhõm. Vì sao ư, vì anh có thể đã có vợ rồi. “Em có bao giờ gặp lại anh không?”
“Anh không biết.”
“Nói với em là anh yêu em đi, Ian. Xin anh đấy. Bởi vì em vẫn yêu anh.”
Nụ cười của anh âu sầu, và trong một giây, anh đưa tay ra và đẩy kính râm trên sống mũi cô. “Tốt hơn là em nên đi. Và đừng khóc. Hãy nhớ, những cô gái trưởng thành không khóc.” Rồi anh bắt tay cô. “Tạm biệt, cô Wilcox. Thượng lộ bình an.”
Ngay khi cô vào xe và nó chầm chậm chạy đi, cô bắt đầu khóc thực sự, nước mắt chảy xuống má bên dưới cặp kính. Và rồi, sau một vài phút, cô nhớ ra chiếc vali Louis Vuitton nhỏ, nằm trên ghế cạnh cô. Liếc người tài xế, cô vội đặt nó lên đùi và khẽ mở khóa ra.
Cô thận trọng mở nắp vali, và rồi, nhìn vào bên trong, ngồi ngả người ra ghế, tim cô nện thình thịch. Ngay lập tức cô quên hết về Ian, quên hết mọi chuyện, trừ chuyện hàng chồng và hàng chồng đô la được nhét trong đó. Tất cả những gì cô nghĩ đi nghĩ lại là cô đã làm việc đó - kiểu gì cô đã làm được. Và trong khi cô không biết đích xác việc đó là việc gì, cô biết rằng nó cảm giác rất dễ chịu.
Và khi chiếc xe chầm chầm chạy trong dòng xe trên đại lộ, và rồi chạy lên những ngọn đồi, cô lén đếm số tiền. Tất cả nằm ở đó, từng đồng một - “phí” dành cho cô cộng với tiền thắng bài poker... Với tất cả số tiền này, cô không phải quay lại. Cô đã được tự do! Cô có thể đi bất cứ đâu cô muốn trên thế giới này, làm bất cứ điều gì cô muốn - cô có thể sống ở Tahiti và viết một cuốn sách. Phải, và tại sao lại không? Lúc nào cô cũng mơ hồ có ý định viết một cuốn sách, trở thành một tiểu thuyết gia nổi tiếng... Mọi người sẽ đến gặp cô và bảo với cô rằng cô đã thay đổi cuộc đời họ bằng những từ ngữ của cô...
Cô phải bảo tài xế quay lại ngay bây giờ và chạy tới phi trường. Tại phi trường, cô sẽ chọn một nơi đến đúng như mộng tưởng của cô, lên máy bay, và biến mất, hoàn toàn tự do thoát khỏi mọi thứ... Nhưng vì lý do nào đó, do sợ hãi và tội lỗi, cô lại không làm thế. Và vì vậy chiếc xe chạy lên những ngọn đồi, qua các trạm xăng và siêu thị và cửa hàng nội thất, và cuối cùng dừng lại ở một nhà nghỉ, một tòa nhà sơn màu xanh đã bạc phết mà cô tưởng tượng chấy rận bò khắp nơi...
Anh trai cô và bạn gái ngồi ở quán cà phê cạnh cửa, uống cà phê. Khi chiếc xe dừng lại, Pete đứng dậy và cau mày. Tài xế mở cửa xe và Janey xuống xe. Cô mặc một bộ Lacroix đắt tiền và đi giày cao gót, và đột nhiên ý thức được trông mình lố bịch đến mức nào. Khi tài xế dỡ hành lí ra, Pete nói, “Chúa ơi. Đây là hành lý của em á?”
“Em đâu phải dân du lịch balô,’ Janey độp lại.
“Anh đã nói chuyện với mẹ. Mẹ bảo mẹ muốn chúng ta về nhà ngay lập tức. Mẹ muốn chúng ra bay từ phi trường Nice chứ không đi Paris. Mẹ đã chuyển tiền cho anh để mua vé.”
“Em có tiền riêng,” Janey nói.
Chúa ơi! Tiền. Cô sẽ phải giấu nó trong vali. Có phải trên tờ đơn hải quan có điều khoản nói rằng ta không được mang nhiều hơn hai mươi ngàn đô tiền mặt vào nước không nhỉ? Nếu cô bị bắt và đi tù thì sao? Cô thấy choáng váng.
“Máy bay cất cánh lúc ba giờ. Vì vậy chúng ta nên đi thôi.”
“Em vào phòng vệ sinh được không?”
Pete đảo mắt khi Janey kéo vali của mình, từng chiếc một, vào toilette. Nó là một toilet kiểu Pháp - chỉ có một cái lỗ trên nền xi măng để cho ta ngồi xuống - nhưng ít nhất là nó không có ai ở đó. Tay run run, cô chia khoản tiền ra và nhét vào đáy từng chiếc vali, đếm lại cho chắc ăn. Tất cả vẫn ở đó - 100 ngàn những tờ đô mới toanh.
Họ bắt một chiếc taxi tới sân bay. Ngồi ken chặt trong ghế sau chiếc xe rẻ tiền, Pete quay sang cô, và bằng một giọng khẽ khàng có nguy cơ chuyển sang giận dữ, nói, “Em đã có thể bị giết, em có biết không? Không ai biết em ở đâu - mẹ đã định gọi cảnh sát Pháp.”
“Em không sao,” Janey mệt mỏi nói. “Trông em ổn, chả phải à?”
“Trông em như một...”
“Cái gì!”
“Nhẹ nhàng với em nó thôi, anh yêu. Nó chỉ là một đứa bé,” Anna tử tế nói.
“Nó từng là một đứa bé! Nó không còn bé bỏng gì nữa...”
“Sao anh lại quan tâm chứ?” Janey nói. “Chả ảnh hưởng gì tới cuộc đời quý giá của anh cả.”
“Chuyện này sẽ làm mẹ chết mất. Mẹ chất mất. Nó không có nghĩa gì với em à? Em có bao giờ nghĩ đến ai khác ngoài bản thân em không?”
“Thế thì đừng kể cho mẹ.”
“Anh nghĩ quá muộn rồi,” Pete gầm gừ.
Janey trả tiền taxi, và sau đó, họ gần như không bao giờ nói chuyện trở lại.
Cả bố và mẹ họ đều đến đón ở Sân bay Logan. Mẹ cô nhìn quần áo và vali của cô, miệng thít lại thành một đường thẳng. Ngày hôm sau bà đưa cô tới gặp bác sĩ.
Cô được chẩn đoán bị bệnh bạch cầu đơn nhân. Mẹ cô bảo cô may mắn khi không bị giang mai. Trên xe trên đường về nhà, mẹ cô đột nhiên dừng xe lại bên vệ đường. “Mẹ phải biết, Janey,” bà nói. Janey nhìn mẹ và cảm thấy tất cả những nỗi sợ thời ấu thơ hiện ra rõ mồn một. Cô biết mẹ mình chưa bao giờ thích cô. Những cuộc trò chuyện mà họ có là những lời chỉ trích của bà dành cho cô; còn cô thì cố bảo vệ mình. “Con có ngủ với hắn không?” bà hỏi.
“Ai cơ?” Janey nói.
“Mày đúng là một đứa con gái ngu xuẩn.”
“Ai cơ, mẹ? Mẹ nói tên ra đi.”
“Cái lão... Rasheed đó.” Bà quay sang Janey và rít lên, “Hắn là tội phạm.”
“Làm sao mẹ biết?”
“Mày quá ngu con ạ. Sao tao lại có một đứa con gái ngu đến vậy? Tao đã làm gì sai?”
Bà lại khởi động xe và lái xe ra đường, nhưng bà vẫn chưa nói hết. “Mày có bao giờ nghĩ đến mẹ và cha mày không? Mọi người ở câu lạc bộ...”
“Được rồi!” Janey hét lên. “Con sẽ đi. Con sẽ đi đến nơi nào đó và biến mất. Mẹ sẽ không bao giờ gặp con nữa. Mẹ có thể vờ như con không tồn tại.”
“Và giờ thì mày bị bệnh.”
“Con sẽ tự sát.”
“Đừng có ngớ ngẩn!” mẹ cô hét lên. “Tao luôn biết chuyện này rồi sẽ xảy ra. Tao đã cảnh báo mày. Đàn ông luôn lợi dụng những cô gái xinh đẹp...” bà nói, khi lái xe vào lối chạy xe trước cửa nhà họ.
“Con đi với ông ấy là bởi vì con xinh đẹp,” cô hét lên, nhảy ra khỏi xe và đóng sầm cửa lại. “Và mẹ không chấp nhận nổi chuyện đó, mẹ ạ. Chỉ là mẹ không chấp nhận nổi mẹ không còn là người đẹp nhất nữa!”
Hai tháng tiếp theo Janey nằm trên chiếc giường đơn trong phòng cũ của mình. Cô cảm thấy mình như Alie trong Xứ sở kỳ diệu, nơi mọi thứ đều co lại một cách bí ẩn còn cô thì lớn lên. Có những lúc cô có cảm giác mình sẽ nổ tan tành và cả căn nhà cũng nổ quanh cô. Mẹ cô đăng ký cho cô vào một trường cao đẳng cộng đồng, Janey, im lặng vì xấu hổ, không buồn phản đối.
Nhưng cuối cùng, cô lấy lại sức mạnh, vững vàng, có lẽ là vậy, nhờ việc cô có một trăm ngàn đô giấu đằng sau ngôi nhà búp bê cũ trong tủ của mình. Khi cô nằm trong căn phòng ngủ từ hồi còn nhỏ mùa thu năm đó, cô nghĩ mình có thể xóa sạch quá khứ và bắt đầu lại. Suy cho cùng thì cô trẻ và khi ta mới mười chín tuổi, ta không sợ bất cứ thứ gì sẽ để lại sẹo. Nhưng kiểu gì đó, hạt đã gieo và nảy mầm - hoặc có thể hạt đã luôn nằm ở đó, đợi các điều kiện phù hợp để nảy mầm, và kiểu gì đó chính hạt mầm đó có cuộc đời của riêng nó và đã thúc đẩy cô.
Bốn tháng sau, cô gặp lại Ian. Cô quay lại New York, sống ở căn hộ mà cô vẫn thuê, và một đêm cô nhận được một cú điện thoại.
Cô bắt máy, và một giọng đàn ông xa lạ nói, “Janey! Anh không thể tin nổi. Anh đã cố tìm em bao ngày rồi!”
“Ai thế?” cô lạnh lùng hỏi.
“Em không nhận ra giọng anh à? Đoán đi.”
“Không đoán được.”
“Ian đây. Ian Carmichael. Anh đang ở New York...”
Họ đồng ý gặp nhau ở một quán bar ngay gần căn hộ của cô. Cô đã không ngừng nghĩ đến anh, nhưng khi anh bước vào, cô tự hỏi tại sao. Trái tim cô đã nguội lạnh: Đột nhiên cô nhận thấy mọi điểm về anh đều sai. Dưới ánh sáng chói chang tàn nhẫn của New York, dường như anh trông như một khách du lịch miền trung tây - áo len acrylic, đôi giày ống da màu đen, mà anh tự hào trưng ra khi vừa mới mua ở Đại lộ 3, trông xấu không chịu nổi. Họ uống ba chén tequilla thì Janey tuyệt vọng cố có lại những cảm xúc mà cô đã dành cho anh mùa hè đó, nhưng không ích gì. Cô đã nghĩ răng anh trắng tinh - giờ cô thấy hóa ra nó vàng xỉn. Mắt anh - đôi mắt xanh mà cô đã nhìn rất sâu vào - lại quá gần nhau và anh cắt cụp mái tóc vàng của mình khiến cho ta phải nhìn vào mũi anh. Anh giải thích rằng anh đến New York trong hai tuần để đặt vài thứ đồ cho chiếc Mamouda, và anh cứ liên tục nói đi nói lại là anh không thể tin nổi là mình lại thực sự gặp cô. Khi anh cầm lấy tay cô, bản năng mách bảo cô rụt lại.
Rồi cái giây phút không thể tránh khỏi đã tới và cô đưa anh về lại căn hộ của mình. Anh hôn cô đứng trước lò sưởi, nhưng cái lưỡi của anh khiến cô muốn hét lên. Cô đã đợi khoảnh khắc này quá lâu - cô bị làm sao thế? Họ bắt đầu làm tình, và Janey cầu cho niềm đam mê nóng bóng mùa hè năm ngoái sẽ quay lại với cô, nhưng nó không quay lại. Khi anh hôn hai chân cô, cô chỉ thấy khó chịu, và cô cầu cho anh làm luôn để nó có thể kết thúc. Cuối cùng, anh cũng làm tình với cô, nhưng cô không có chút cảm xúc gì nên hai mắt cứ mở thao láo, và cuối cùng anh nói, “Anh sẽ ra bây giờ. Được chứ?”
“Vâng,” cô thở dài. “Ra đi.”
Anh ra xong và nằm trên người cô. Rồi với một tiếng thở dài và lắc đầu, anh xuống khỏi giường và bắt đầu mặc quần áo.
“Anh đi đâu thế?” Janey hỏi.
“Anh đi. Thế thôi.”
“Nhưng em không hiểu.”
“Em hiểu rồi.”
“Nhưng em...”
“Nghe này, Janey,” anh nói, tròng áo len qua đầu. “Đừng có nói là em yêu anh, bởi vì em không yêu anh.”
“Làm sao anh biết được?”
Anh ngồi xuống mép giường. “Em chưa bao giờ yêu anh, Janey ạ. Em không thấy điều đó ư?”
Cô mở miệng ra phản đối nhưng anh giơ tay lên bảo cô im lặng. “Nó chỉ là một thứ ảo tưởng mà em tạo ra trong đầu mình. Để cho bản thân khỏi hóa điên. Bởi vì nếu em thực sự nghĩ đến chuyện mình thực sự làm...”
“Em thực sự yêu anh!” Janey khăng khăng. Cô ngồi dậy và quấn chăn quanh mình.
Anh đứng dậy. “Em là một cô gái lạnh lùng. Em quá lạnh lùng không thể yêu ai được.”
Những lời nói đó làm cô choáng váng. Cô há hốc mồm và ngã ra đập vào tường, nhưng anh quay đi và bước ra khỏi phòng. Bỏ tấm chăn ra, cô chạy theo anh. “Sao anh dám nói như thế? Không đúng sự thật!” Nhưng anh chẳng buồn đáp. Anh mở cửa, và quay lưng lại với cô, mặt anh hằn lên sự thù ghét. “Em giống như một góa phụ đen,” anh nói. Anh bước ra và bắt đầu xuống cầu thang.
“Ian, đợi đã...”
“Một con nhện góa phụ đen,” anh thì thầm với bản thân, xuống cầu thang.
Cô đóng cửa lại và ngã gục xuống, khóc nức nở. Sao chuyện này luôn xảy ra với cô? Sao không ai hiểu rằng...?
Nhưng trong một vài phút, nước mắt cô cạn khô, và cô đi lại chỗ tấm gương. Cô nhìn vào mình một lúc lâu, và rồi bắt đầu cười như điên dại. Nó thực sự là một trò đùa, việc là một người phụ nữ đẹp - một phép màu. Mọi người trên phố chặn cô lại để bảo với cô rằng cô rất đẹp. Đàn ông ngoái cổ ra khỏi xe để nhìn cô. Hai tháng trước, hồi đầu tháng Mười, định mệnh đã sắp đặt và công ty người mẫu Eileen Ford đã gọi cho cô. Một công ty làm catalog muốn mời cô làm mẫu cho họ trong một tháng. Và trong vòng hai ngày, cô quay trở lại New York. Mẹ cô chẳng còn nhắc nhở gì đến chuyện trường cao đẳng cộng đồng nữa. Thực ra, mẹ cô đã chở cô đến ga Amtrak ở Boston và, đã ngần ngại mỉm cười với cô, hôn lên hai má cô. “Cố thỉnh thoảng gọi điện thoại về nhé,” bà nói.
Janey lùi một bước lại khỏi tấm gương và sung sướng mỉm cười. Vẻ đẹp của cô - vẻ đẹp rực rỡ quý giá của cô - đã cứu cô.
Cơn mưa nhỏ đã biến thành sương mù lạnh dai dẳng, và ngồi ở Place Vendôme, Janey chùi hơi nước bám trên mặt mình. Liệu có phải vẻ đẹp của cô đã thực sự cứu cô - hay nó đã dẫn cô đi vào con đường sai lầm? Ngay từ đầu tiên, với Rasheed... nếu cô thực sự cố làm gì đó với đời mình, thay vì luôn dựa vào số phận và vẻ đẹp của mình, cô đã thực sự có được gì đó trong đời. Bởi có sắc đẹp thì ích gì nếu bên trong ta thiếu vắng một thứ gì đó? Mọi người khác đều có một mẩu gì đó cơ bản ngoại trừ cô, và cái mẩu đó là phần nối hành động với trung tâm cảm xúc. Mặc dù đã ngủ với rất nhiều đàn ông trong mười lăm năm qua, cô mới chỉ đạt được khoái cảm sáu lần trong cả đời mình. Còn tình yêu - chà, đó là thứ cô không thể nào bắt đầu hiểu nổi. Dĩ nhiên cô nghĩ mình yêu Selden. Nhưng cảm xúc thực sự mà cô dành cho anh chẳng khác gì mấy với cảm xúc mà cô có với những người đàn ông khác - nghĩa cô cảm thấy thứ gì đó có thể định nghĩa là yêu đương chừng nào cô giành được thứ gì đó rõ ràng từ mối quan hệ. Ngay cả Ian cũng đã nhìn thấy điều đó từ mười lăm năm trước. Và với Rasheed... chắc hẳn nó phải rõ ràng với ông ta như một ngọn đèn đỏ chiếu trên mặt tiền của một nhà thổ.
Nhưng cô sinh ra đã là như thế, hay cô đã trở thành như thế bởi những lựa chọn sai lầm? Không ai lại sinh ra với một sự trống rỗng bên trong như vậy. Ít nhất vẫn có một phần trong cô tin tưởng như vậy. Bởi bây giờ cô có thể thấy rằng mình sẽ không bao giờ biết tình yêu đích thực hay tìm được nó cho đến khi cô không cần bất cứ thứ gì từ một người đàn ông cả...
Cô ngẩng đầu lên, và một giọng trong cô gào lên rằng vẫn chưa quá muộn. Tất cả những gì cô phải làm là sống từng ngày trong quãng đời còn lại theo một kiểu khác. Vẫn còn thời gian để sửa chữa những việc với George. Thay vì tới gặp anh ta, cô sẽ để lại danh thiếp của mình trên bàn theo kiểu làm ăn. Cô sẽ kể với Selden về những kế hoạch của cô. Sau rốt, rất có thể là Selden thực sự yêu cô...
Một chiếc đồng hồ bên trong cô mách bảo với cô rằng đã quá nhiều thời gian trôi qua, và khi nhìn đồng hồ trên tay, cô thấy đã gần một giờ. Cô phải đi gặp Mimi. Và đột nhiên cô nảy ra là nếu cô kể cho Mimi toàn bộ câu chuyện (dĩ nhiên là bỏ ra phần cô đã thổi kèn George), cô có thể làm cho Mimi gây ảnh hưởng tới George. Việc quan trọng phải làm bây giờ là làm gì đó với cuộc đời cô, phải hành động để cô không bao giờ rơi vào tình huống này một lần nào nữa...
Và rồi, như thể có phép lạ, một người đàn ông tóc vàng cao lớn xuất hiện trong sương mù, bước vội về phía cô. Thoạt tiên cô không tin nổi vào mắt mình. Nghĩ trong một giây, cô thấy bóng ma của Ian kiểu gì đó đã quay lại ám ảnh cô. Nhưng khi người đó tiến lại gần hơn, cô thấy đó là Zizi, và đột nhiên mọi thứ trở nên hợp lý: Mimi đã nằng nặc đòi đi chuyến này vì cô ta biết Zizi sẽ có mặt ở Paris, và cô ta dùng Janey để làm bình phong...
Nhưng có lẽ thực ra không phải thế, Janey bối rối nghĩ, khi anh tiến lại đứng trước mặt cô. Trong giây tiếp theo, anh bắt đầu nói những lời cô đã khao khát muốn nghe...
“Cô phải đi với tôi,” anh nói cương quyết.
Cô đứng dậy và đi theo như như trong một giấc mơ, qua sảnh Hôtel Ritz và vào thang máy. Như thể cô đã quay ngược thời gian vào thời điểm định mệnh khi cô đi qua cái hành lang này lần đầu tiên. Và giờ đây, cô điên cuồng nghĩ, số mệnh đã cho cô một cơ hội quay ngược thời gian, về đúng nơi cô đã làm sai. Thang máy dừng lại ở tầng thứ ba, và Zizi kéo cô đi dọc hành lang như một đứa trẻ. Nhưng cô là một đứa trẻ, cô nghĩ; cô là con người mới, và giờ đây, với Zizi cạnh mình, cô sẽ bắt đầu mọi thứ trong đời mình một cách hoàn toàn mới...
Và rồi giấc mơ biến thành ác mộng.
Họ bước vào một phòng suite có một phòng ngủ. Giây phút họ bước qua cửa, ý nghĩ điên rồ của cô rằng cô với Zizi sẽ ở bên nhau nhanh chóng bị biến mất khi cô nhận ra Harold Vane ở trong phòng. Ông ta đang làm gì ở đây? Cô bực bội nghĩ. Và rồi ông quay lại. Và nhìn mặt ông, cô biết có chuyện gì đó cực kỳ, cực kỳ tồi tệ.
“Tôi nhìn thấy cô từ cửa sổ,” Harold nói. “Tôi bảo Zizi xuống đưa cô lên...”
“Nhưng tại sao? Chuyện gì đã xảy ra?” Janey cẩn trọng hỏi.
“Mọi người đều đang tìm cô,” Zizi nói.
“Tìm tôi?” Janey kêu lên. Cô cau mày khó chịu. “Tôi không hiểu.”
Harold tiến lại chỗ cô hai tay chìa ra. “Janey,” ông nói. “Cô và tôi là bạn bè lâu năm. Vì vậy tôi nghĩ mình nên là người nói với cô điều này...” Và rồi cô thở gấp. “Ai đó chết à? Có phải Selden không...?” Và rồi ngay khi những lời đó thoát ra khỏi miệng cô, một giọng nhỏ ghê tởm trong đầu cô chỉ ra rằng nếu đó là Selden, nếu anh chết, thì nó sẽ giải quyết mọi rắc rối của cô: Cô sẽ giàu và tự do; cô có thể làm bất cứ thứ gì cô thích...
“Không phải là Selden,” Harold nói.
“Vậy thì,” cô nói, hơi thất vọng. “Tôi đang làm gì ở đây?” Harold mở miệng định nói, nhưng không có lời nào thốt ra cả, và cô nhìn từ Harold sang Zizi mỗi lúc mỗi hoảng loạn. Lần đầu tiên, cô để ý trên trán Zizi có một vết kỳ lạ, như một vết nhọ nồi lớn. Và đột nhiên cô nhận ra mình đã nhìn thấy cùng vết đó trên trán những người khác suốt cả buổi sáng. Một sự sợ hãi phi lý bao trùm lấy cô: Ngày tận thế đã tới, và cô đã bị chọn để loại trừ... Cô há hốc mồm, chỉ vào nốt trên mặt anh...
“Là Thứ tư Lễ tro,” Zizi khẽ nói, cầm lấy tay cô.
Lúc này là hơn bảy giờ sáng ở New York, và Selden Rose đang tắm.
Anh chà xà phòng khắp cơ thể, và như mọi khi, nghĩ đến vợ mình. Đến lúc này cô đã đi được ba ngày, và đúng như mọi người luôn nói: Sự vắng mặt quả khiến anh yêu quý vợ hơn. Ngày hôm qua hay hai ngày qua, anh đã đi đến kết luận là có lẽ anh đã quá khắc nghiệt với cô. Anh vẫn không muốn cô tiếp tục theo đuổi cái ý tưởng lố bịch là sản xuất phim của Craig, nhưng anh chắc chắn có thể đối xử dịu dàng hơn... Và thấy tội lỗi, anh nhận ra điều cô nói về việc anh ghen tị với tài năng của Craig không phải sai hoàn toàn. Anh tắt nước và ra khỏi vòi tắm, nghĩ nếu cô thực sự muốn trở thành nhà sản xuất, anh nên giúp cô một chút... Anh biết rất nhiều người trong lĩnh vực này - có lẽ anh có thể tìm ai đó cho cô làm trợ lý.
Anh dùng khăn lau tóc, và đúng lúc đó thì điện thoại đổ chuông.
Chắc là cô ấy rồi, anh nghĩ, thấy vui khi cô cũng đang nghĩ đến anh. Anh sẽ bảo với cô là anh nhớ cô và bảo cô về sớm, và quấn khăn quanh hông anh bước vào phòng ngủ cầm điện thoại lên.
“Chào em yêu,” anh nói.
“Rose à?” một giọng đàn ông ngạc nhiên nói.
“George!” Selden nói, hơi thất vọng. Anh biết George là người dậy sớm, nhưng anh không thể hình dung nổi chuyện gì đã khiến George gọi cho anh mới sáng sớm thế này.
“Selden,” George nói. Giọng anh ta nghe có vẻ nghiêm nghị, và đột nhiên Selden tự hỏi không biết có gì xảy tới với Mimi không. “Có rắc rối, Selden ạ,” anh nói. “Và tớ e là liên quan tới vợ cậu.”
Sau vài phút nói chuyện, Selden vội vã mặc quần áo và chạy xuống sảnh. “Tờ Post,” anh ra lệnh cho tiếp tân. “Đưa cho tôi tờ Post.”
Với vẻ mặt xấu hổ, như thể anh đã hy vọng sẽ không bao giờ ở trong vị thế này, tiếp tân với xuống dưới bàn và ngần ngại đưa cho anh tờ báo.
Dòng headline suýt khiến đầu gối anh khuỵu xuống, và anh vội gập đôi tờ báo lại, hy vọng rằng anh không nhìn thấy thứ anh tưởng mình đã thấy.
Và tim đập thình thịch vì sợ hãi, anh quay lại thang máy (anh muốn chạy, nhưng tiếp tân đang nhìn anh), và nhấn nút. Cuối cùng thì thang máy cũng tới. Khi anh vào trong và thấy không có ai, anh mở báo ra. Ba từ khủng khiếp đó đập vào anh như ba nắm đấm mạnh vào đầu, và anh loạng choạng, đập vai vào tường. Nhưng những từ kia vẫn ở đó, giễu cợt anh trong khối chữ vuông đen lớn trên một bức ảnh chụp Janey từ show thời trang Victoria’s Secret. Cô mặc một chiếc áo lót màu xanh gắn xêquin và quần lót, và cô đang hướng về phía máy ảnh, tay đặt ở hông, môi cong lại thành một nụ hôn,
“NGƯỜI MẪU?/NHÀ VĂN?/CON ĐIẾM?” dòng tiêu đề hỏi, như một đám đông phấn khích đòi xử tử hình.
Anh choáng váng hạ thấp tờ báo xuống. Anh không thể lĩnh hội nổi... Anh không hiểu... Những từ đó đi qua đầu anh như bài đồng dao trêu chọc của một đứa trẻ con: Người mẫu-nhà văn-con điếm - ha ha - Người mẫu-nhà văn-con điếm - ha ha... Khi anh cầm tờ báo lên lại, anh có cảm giác như bị cắt làm đôi: Não anh hét lên rằng chuyện đó là không thể, trong khi những cơn rùng mình trong cơ thể bảo anh rằng...
Và đó, ở cuối trang báo, là những từ nhỏ hơn: “Comstock Dibble Bị Phát Hiện Đã Dùng Kịch Bản Phim Để Đổi Lấy Tình Dục.”
Cái gì? Anh nghĩ. Và rồi, Làm thế nào...?
Cửa thang máy mở ra khi anh lật trang và đọc, “Comstock Dibble là một...” Thằng chó! Anh nghĩ, điền vào phần cuối câu khi cửa thang máy bắt đầu đóng lại. Tay vẫn cầm tờ báo, anh dò dẫm nhấn nút MỞ, khiến tờ báo rơi khỏi tay, các trang rơi loạn xạ xuống sàn thang máy và vào hành lang. Cửa bắt đầu đóng lại và anh thọc mạnh cho nó mở ra bằng cùi chỏ. Cuối cùng thì anh cũng thu thập được toàn bộ đống báo vào tay mình, và run lẩy bẩy vì tổn thương và tức giận, anh mang những tờ báo đáng ghét đi về phía cửa phòng mình.
Anh không đút nổi chìa khóa vào ổ. Anh quay người và bực bội dựa vào cửa, đảo mắt nhìn lên trần hét lớn nhờ giúp đỡ. Rồi anh nhìn số phòng và thấy là anh nhầm phòng - anh đã rẽ trái khi lẽ ra phải rẽ phải.
Anh phải bình tĩnh lại, anh nghĩ, đi vội trên hành lang và vào phòng mình. Anh tự nhắc mình rằng anh là chuyên gia giải quyết rắc rối. Dù chuyện này có vẻ kinh khủng đến mức nào, thì có lẽ nó cũng không tồi tệ như ta tưởng. Dù là gì thì anh cũng có thể xử lý được...
Nhưng anh có thể không? Anh nghĩ. Anh thả đống báo xuống sofa và bắt đầu lục tìm câu chuyện. Có trang sau trang thể thao - ai biết là dân New York lại quan tâm đến thể thao nhiều đến vậy - và rồi trang kinh doanh và rồi ba trang về thức ăn và nhà hàng... Và cuối cùng, đến cuối đống giấy, anh tìm thấy trang mà anh sợ hãi. Lại có một tấm ảnh nữa của Janey ở chương trình thời trang Victoria’s Secret và - kinh khủng - một tấm Comstock Dibble, ngồi ở ngay hàng đầu. Trên mặt hắn có vẻ dâm dật, và dòng chứ in hoa chỉ vào hắn viết “Chó Dibble Nhỏ.” Và quả thực, Comstock trông giống loại chó chân ngắn đó thật: Hắn dường chỉ có một thân hình lớn to như cái thùng, và bốn chi nhỏ được gắn vào thân bởi đinh ghim. Tay thò ra hai bên ngoài, và chân gần như không chạm đất.
Selden phải quay mặt đi.
Nhưng rồi anh quay lại đọc. Cuộc sống bắt buộc những thứ như vậy; sớm hay muộn thì anh cũng phải đọc nó; và không đọc nó sẽ không khiến nó biến mất. “Comstock Dibble là một thiên tài điện ảnh thích được vui chơi, và thích sử dùng tiền của công ty để trả cho chuyện đó,” câu chuyện bắt đầu.
Trong một sự cắc cớ kỳ quặc ngày hôm qua, Chó Dibble Nhỏ bị phát hiện đã viết séc công ty cho nhiều phụ nữ khác nhau, bao gồm siêu mẫu Janey Wilcox, để đổi lấy sex. Ông ta đã bảo rằng số tiền này đã được trả cho những cô gái kia qua “dịch vụ viết kịch bản” của họ. Vấn đề là, không một người trong những phụ nữ kia là nhà văn.
Trong khi công ty trả tiền cho những cây bút nổi tiếng, như Jay McInerney, hàng trăm nghìn đôla để viết những bộ phim đỉnh cao, rõ ràng là, không phải tất cả những sứ mệnh của Dibble đúng luật pháp. Trong vòng ba năm qua, Dibble đã trả cho mười lăm phụ nữ với mức ba mươi ngàn đôngười để viết những kịch bản không bao giờ được giao. Một người phát ngôn của công ty tuyên bố đã rất choáng váng khi Dibble, một nhân vật nổi tiếng trong giới giao tế ở Manhattan, được vinh danh bởi thị trưởng vào tháng Chín vừa rồi vì những nỗ lực nhân văn của ông cho thời trang, lại trả tiền cho phụ nữ để mua tình dục. “Ông ấy lúc nào cũng hành xử tốt với các quý cô,” anh ta nói. “Có lẽ ông ấy chỉ tỏ ra tử tế?”
Sở thích của Dibble đi từ gái gọi tới các cô gái trong các bữa tiệc, từ nữ diễn viên đang lên tới siêu mẫu. Hai mùa hè trước, Janey Wilcox, ba mươi ba tuổi, siêu mẫu sáng giá trên sàn diễn của Show thời trang Victoria’s Secret tháng Mười hai vừa rồi, khoe khoang với bạn bè rằng cô đang viết một kịch bản cho Chó Dibble Nhỏ đồng thời kín đáo mua vui cho ông tại ổ tình ái ở Hampton mà ông ta đã bỏ tiền ra mua. Mùa hè năm ngoái, Wilcox, người được bạn bè coi là “tham vọng,” đã bẫy được ông trùm điện ảnh - nhà tỉ phú Selden Rose, bốn mươi lăm tuổi, CEO của kênh cáp MovieTime và cưới anh trong một lễ cưới vội vã vào tháng Chín. Dibble, trong khi đó, đính hôn với...
Selden Rose lùi lại một bước. Anh không thể đọc tiếp, anh nghĩ, anh không thể đọc tiếp... Vậy là cô ấy đã ngủ với hắn, anh nghĩ, điên cuồng nện lên đỉnh đầu mình. Cô ấy đã làm tình với hắn. Cô ấy đã làm gì với hắn? anh điên tiết nghĩ. Cô ấy có thổi kèn cho hắn không? Hắn có nhét của mình vào trong cô, nơi anh đã làm không? Ý nghĩ đó thật kinh tởm - việc đó và việc cô nói dối anh. Cô đã nói với anh là cô không làm việc đó, và cô đã nói dối... Đó chính là phần không thể chịu đựng nhất... Cô nói dối và cô cố tình làm thế với một vẻ ngây thơ tuyệt đối trên mặt, như thể anh là một thằng ngu nhất đời!
Ôi Chúa ơi, anh nghĩ. Mẹ anh đã nói đúng...
Anh không biết phải quay đi đâu, phải làm gì, phải gọi cho ai. Anh bước tới cửa sổ và mở ra, một làn gió lạnh tạt vào anh. Phía bên kia đường là hai người đàn ông ăn mặc như thể cho một trận chiến, quần ngụy trang và áo khoác dày với những túi phồng lên. Trong một giây, anh thấy họ có những chiếc máy ảnh đen lớn khoác trên vai như súng máy. Vậy là bọn săn tin đã tụ tập sẵn ở đây rồi: Câu chuyện bây giờ hẳn đã lan khắp thành phố New York, mọi người giờ đang đọc và cười vào mặt anh. Mẹ anh sẽ phát hiện ra và vợ cũ của anh, và một ngày nào đó, nếu như anh có con, họ sẽ khơi chuyện lên... Và khi anh đứng đó hoảng hốt nhìn trân trối xuống đường, một chiếc taxi dừng lại và thêm một thợ ảnh xuống xe. Anh quay đi. Anh vào bếp và đứng nhìn chiếc máy pha cà phê.
Anh phải làm gì bây giờ? Anh tự hỏi.
Và rồi, một giọng nhỏ đầy hy vọng thì thầm rằng có thể đây không phải là sự thật - rằng có lẽ tất cả là lời dối trá. Báo chí sai lầm suốt. Mọi người biết họ dựng chuyện. Hoặc có thể là họ phạm phải sai lầm, và tên Janey hoàn toàn không thuộc về bài báo đó. Nếu nó là sự thật, anh nghĩ, sẽ phải có bằng chứng, và vội vào phòng khách, anh nhìn cái bàn viết kiểu Pháp nhỏ và nhớ cái ngăn kéo đựng đầy giấy tờ của cô...
Anh kéo ra. Cộng hòa của Plato nằm trên cùng. Thế có nghĩa là cô không đụng đến giấy tờ của mình kể từ buổi tối với Craig Edgers - hay nghĩ là đơn giản là cô quyết định để cuốn sách ở đó cho an toàn? Anh lấy nó ra và quẳng lên ghế, rồi anh kéo phăng cái ngăn kéo ra và dốc toàn bộ các thứ bên trong lên sàn. Quỳ xuống sàn, anh bắt đầu lục tìm trong đống giấy tờ. Nếu nó là đúng và cô có tội, cô có ngu xuẩn đến mức giữ bằng chứng không? Nhưng những người có tội thường làm vậy, vì một ý tưởng sai lầm là mình đủ thông minh để che giấu được sự thật. Và rồi mắt anh nhìn thấy một lá thư có vẻ hành chính mà anh đã thấy trong ngăn kéo buổi tối hôm Craig ở đó. Nhặt nó lên, anh nhìn địa chỉ gửi, và lòng anh sa xuống khi nó viết “Parador Pictures.”
Anh rút lá thư ra. Ngày trên cùng là 15 tháng Mười, 2000. Mặt sầm xuống, anh bắt đầu đọc:
Cô Wilcox thân mến,
Vào ngày 15 tháng Sáu, 2000, chúng tôi đã cố nói chuyện với cô về chuyện Comstock Dibble. Đây là lần thứ tư...
Vậy nó là thật, từng lời trong đó, và cô ấy đã biết ngay từ đầu, thậm chí trước khi họ kết hôn. Cô đã cố tình lừa dối anh ngay từ đầu, và nhìn lại một lần nữa số tiền cô nợ, anh sững sờ. Sao cô không nhờ anh giúp đỡ, hay ít nhất trả lại số tiền mà không nói cho anh biết? Anh biết cô rẻ tiền, nhưng anh kinh ngạc khi biết cô khốn khổ đến nỗi mạo hiểm hủy hoại đời mình... và đời anh.
Và giờ thì cô đã hủy hoại cả hai.
Nhưng có lẽ, anh điên cuồng nghĩ... có lẽ cô không có số tiền đó. Nếu cô gửi tiền về nhà cho... bà bị ốm... hay trả tiền học trường tư cho đứa cháu gái hay cháu trai nào đó. Có lẽ cô ấy không có một xu dính túi, và cô ấy quá xấu hổ không thể nói cho anh biết chuyện đó...
Trong cơn điên cuồng mù quáng, anh bắt đầu lục lọi đống giấy tờ, tìm bản sao kê ngân hàng. Vồ lấy tờ giấy, anh giơ lên và nhìn vào số dư.
Cô có bốn trăm ngàn đô trong tài khoản tiết kiệm.
Cô ấy có tiền! anh nghĩ, đấm tay vào không trung. Cô ấy có toàn bộ số tiền từ đầu...
Nhưng đột nhiên cơn giận của anh rút đi, và anh bị nỗi tuyệt vọng chiếm lấy. Anh giơ tay ôm đầu, và rồi, một việc mà anh không còn nhớ mình từng làm trong nhiều năm trời: anh bật khóc nức nở.