Lịch Sử Herodotus — Tập 1

Lượt đọc: 44 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Quyển Ii. Quyển Thứ Hai Của Các Tác Phẩm Lịch Sử, Gọi Là Euterpe

❊ ❊ ❊

1. Khi Cyrus đã qua đời, Cambyses lên nối ngôi vua. Ông là con của Cyrus và Cassandane – con gái của Pharnaspes. Cyrus từng vô cùng thương tiếc khi nàng qua đời trước mình, và thậm chí đã ban chiếu lệnh bắt toàn bộ thần dân phải để tang cho nàng. Cambyses, người con sinh ra từ người phụ nữ ấy và Cyrus, xem người Ionia và Aiolia như những nô lệ thừa kế từ cha mình; và ông tiến hành đem quân đánh Ai Cập, mang theo không chỉ binh lính từ các dân tộc khác dưới quyền cai trị của ông, mà còn cả những người Hellas nằm dưới quyền lực của ông nữa.

2. Thời trước khi Psammetichos lên ngôi vua cai trị, người Ai Cập vẫn đinh ninh rằng họ là dân tộc xuất hiện đầu tiên trên thế gian. Nhưng kể từ khi Psammetichos lên ngôi và muốn tìm hiểu xem tộc người nào xuất hiện sớm nhất, họ lại cho rằng người Phrygia có trước họ, còn họ thì có trước tất cả các dân tộc khác. Không thể tìm ra cách nào qua việc dò hỏi để biết chắc tộc người nào có mặt sớm nhất trên đời, Psammetichos bèn nghĩ ra mưu mẹo sau đây: Ông lấy hai đứa trẻ sơ sinh từ những gia đình bình dân, giao cho một người mục đồng nuôi dưỡng tại nơi có bầy gia súc của ông ta, theo một cách thức tôi sẽ thuật lại dưới đây. Ông dặn dò mục đồng tuyệt đối không được thốt ra bất kỳ từ nào trước mặt chúng, rằng chúng phải được đặt một mình trong một căn phòng kín không bóng người, và vào những thời điểm thích hợp, ông ta phải dắt dê cái đến cho chúng bú sữa, đồng thời lo liệu mọi nhu cầu cần thiết khác cho chúng. Psammetichos làm những điều này và đưa ra mệnh lệnh trên với mong muốn được nghe xem bọn trẻ sẽ thốt ra từ đầu tiên nào sau khi những tiếng khóc ngô nghê chấm dứt. Quả nhiên sự việc đã diễn ra đúng như vậy; sau khoảng hai năm người mục đồng vẫn tiếp tục làm theo cách đó, cuối cùng, khi ông ta mở cửa bước vào, cả hai đứa trẻ liền quỳ rạp xuống van xin và cất tiếng gọi "bekos" đồng thời dang rộng đôi tay. Ban đầu, khi nghe thấy điều này, người mục đồng giữ im lặng; nhưng vì từ này cứ lặp đi lặp lại mãi mỗi khi ông ta đến thăm và chăm sóc chúng, cuối cùng ông ta đã báo cáo sự việc với chủ nhân, và theo lệnh của ngài, dẫn bọn trẻ đến diện kiến. Bản thân Psammetichos sau khi nghe thấy tiếng ấy cũng bắt đầu tìm hiểu xem quốc gia nào gọi thứ gì đó là bekos, và qua dò hỏi, ông phát hiện ra rằng người Phrygia dùng từ này để chỉ bánh mì. Bằng cách thức và nhờ vào dấu hiệu ấy, người Ai Cập đã phải thừa nhận rằng người Phrygia là một dân tộc cổ xưa hơn cả họ.

3. Sự việc diễn ra đúng như vậy là do tôi nghe kể từ các tư tế của vị thần Hephaistos ngụ tại Memphis; thế nhưng người Hellas, bên cạnh nhiều câu chuyện vớ vẩn khác, lại kể rằng Psammetichos đã cắt lưỡi một số phụ nữ rồi sai họ nuôi dưỡng những đứa trẻ ấy. Về phần việc nuôi nấy lũ trẻ, các tư tế kể lại bấy nhiêu đó; và tôi cũng nghe được những chuyện khác tại Memphis khi đàm đạo với các tư tế của thần Hephaistos. Hơn thế nữa, tôi đã đến thăm cả Thebes và Heliopolis chính vì lý do này, đó là tôi muốn biết liệu các tư tế ở những nơi đó có kể lại câu chuyện ăn khớp với các tư tế ở Memphis hay không; bởi người dân Heliopolis nổi tiếng là những người uyên bác nhất về các văn bản lưu trữ của người Ai Cập. Những câu chuyện kể của họ về các vị thần thì tôi không tha thiết phải thuật lại tường tận, mà chỉ nêu tên thôi, vì tôi cho rằng mọi người đều mù tịt như nhau về những vấn đề ấy; và nếu tôi có ghi chép lại bất cứ điều gì về chúng, thì đó chỉ vì tôi bị cuốn theo mạch đi của câu chuyện.

4. Nhưng đối với những vấn đề liên quan đến con người, các tư tế đều đồng lòng xác nhận rằng người Ai Cập là những người đầu tiên trên mặt đất khám phá ra chu kỳ của năm, khi chia các mùa thành mười hai phần để hợp thành một năm hoàn chỉnh; và họ nói rằng họ đã tìm ra điều này từ các vì sao. Họ tính toán khôn ngoan hơn người Hellas ở điểm này, theo tôi thấy, là vì người Hellas cứ cách một năm lại nhét thêm một tháng nhuận để làm cho các mùa khớp với nhau, trong khi người Ai Cập tính mười hai tháng, mỗi tháng ba mươi ngày, và còn cộng thêm năm ngày nữa vào mỗi năm, nhờ đó vòng tròn các mùa của họ được hoàn thiện và quay trở về đúng điểm xuất phát ban đầu. Họ còn kể rằng người Ai Cập là những người đầu tiên dùng tên gọi cho mười hai vị thần và người Hellas đã học theo cách đó; họ cũng là những người đầu tiên lập ra các bàn thờ, tượng thần, đền thờ cho các vị thần, và khắc hình trên đá; qua phần lớn những sự việc này, họ đã chứng minh cho tôi thấy bằng những minh chứng thực tế rằng mọi chuyện đã diễn ra đúng như vậy. Họ cũng cho biết vị vua đầu tiên cai trị Ai Cập là Min; và vào thời của ông, toàn bộ Ai Cập ngoại trừ vùng Thebes chỉ là một đầm lầy, và chẳng có vùng nào nhô lên khỏi mặt nước như những vùng hiện nằm bên dưới hồ Moiris – hồ mà từ biển đi ngược dòng sông lên đến nơi mất bảy ngày đường thuyền.

5. Và tôi nghĩ họ nói đúng về vùng đất này; bởi vì ngay cả đối với một người chưa từng nghe kể trước mà chỉ tận mắt chứng kiến, ít ra là nếu người đó có sự hiểu biết, cũng sẽ thấy rõ ràng rằng vùng đất Ai Cập mà người Hellas đến bằng tàu bè thực chất là một vùng đất bồi do người Ai Cập giành thêm được, và đó là món quà của dòng sông. Hơn nữa, những vùng đất nằm phía trên hồ này với ba ngày chèo thuyền, dẫu họ không nói gì thêm về điều này, thì cũng là một minh chứng khác cho cùng một sự thật ấy; bởi vì bản chất của vùng đất Ai Cập như sau: Đầu tiên, khi bạn vẫn đang tiến vào bờ bằng tàu và cách đất liền một ngày đường biển, nếu bạn thả dây dò độ sâu, bạn sẽ kéo lên toàn bùn và thấy mình đang ở độ sâu mười một trượng. Điều này cho thấy rõ ràng là đất liền đang không ngừng được bồi đắp vươn ra biển.

6. Thứ hai, xét về bản thân đất Ai Cập, chiều dài của nó dọc theo bờ biển là sáu mươi schoine, theo cách định nghĩa của chúng tôi rằng Ai Cập kéo dài từ vịnh Plinthine cho đến hồ Serbonian, dọc theo đó là núi Casion chạy dài; từ hồ này trở đi thì sáu mươi schoine ấy mới được tính đến. Thật vậy, những dân tộc nghèo đất đai thì đo lường lãnh thổ bằng trượng (fathom), những người ít nghèo hơn thì bằng furlong, những ai có nhiều đất thì bằng parasang, còn những người sở hữu đất đai vô cùng dồi dào thì dùng đơn vị schoine; một parasang tương đương với ba mươi furlong, và mỗi schoine, vốn là một đơn vị đo lường của Ai Cập, tương đương với sáu mươi furlong. Do đó, chiều dài dải đất ven biển của Ai Cập sẽ lên tới ba nghìn sáu trăm furlong.

7. Từ đó và đi sâu vào đất liền cho đến Heliopolis, Ai Cập có bề ngang rộng, đất đai toàn là đồng bằng bằng phẳng, không có mạch nước ngầm và được cấu thành từ bùn; và con đường đi từ biển vào nội địa đến Heliopolis có chiều dài xấp xỉ con đường dẫn từ bàn thờ của mười hai vị thần ở Athens đến Pisa và đền thờ thần Zeus ở Olympia. Nếu tính toán kỹ, bạn sẽ thấy sự chênh lệch giữa chiều dài hai con đường này là rất nhỏ, không quá mười lăm furlong; bởi vì con đường từ Athens đến Pisa còn thiếu mười lăm furlong nữa là tròn một nghìn năm trăm furlong, trong khi con đường từ biển đến Heliopolis lại đạt chính xác con số đó.

8. Tuy nhiên, từ Heliopolis đi ngược lên trên, Ai Cập trở nên hẹp lại; bởi vì ở một bên, dãy núi thuộc về xứ Arabia chạy dọc theo nó, kéo theo hướng từ Bắc về phía trưa và gió Nam, dốc đứng không đứt đoạn cho đến vùng biển được gọi là Erythraian, trong dãy núi đó có các mỏ đá từng được khai thác để tạc các kim tự tháp ở Memphis. Về phía này, dãy núi chấm dứt ở nơi tôi vừa nói, rồi uốn vòng ngược lại; và theo thông tin tôi nhận được, nơi rộng nhất của nó có bề ngang là hai tháng đường đi từ Đông sang Tây; và những sườn biên giới hướng về phía Đông được cho là sinh ra nhựa thơm. Đó là bản chất của dãy núi này; còn về phía Ai Cập giáp với Libya thì có một dãy núi khác chạy dài, nhiều đá và phủ đầy cát: các kim tự tháp nằm trên dãy núi này, và nó chạy theo cùng hướng với phần thuộc dãy núi Arabia kéo về hướng ngọ. Như vậy, tôi xin nhắc lại, từ Heliopolis trở đi, phần đất thuộc về Ai Cập không còn trải rộng nữa, và đi ngược dòng sông chừng bốn ngày thuyền thì phần đất Ai Cập đích thực rất hẹp; khoảng không gian giữa các dãy núi vừa kể là vùng đất phẳng, nhưng ở nơi hẹp nhất, tôi thấy khoảng cách từ các ngọn núi Arabia cho đến những ngọn núi gọi là Libya không quá hai trăm furlong. Sau đoạn này, Ai Cập lại mở rộng ra.

9. Bản chất của vùng đất này là như vậy đó: từ Heliopolis đi ngược dòng sông đến Thebes mất chín ngày thuyền, khoảng cách đường đi tính theo furlong là bốn nghìn tám trăm sáu mươi, với số lượng schoine là tám mươi mốt. Nếu cộng tất cả các số đo bằng furlong này của Ai Cập lại với nhau, kết quả sẽ như sau: Tôi đã chỉ ra từ trước rằng khoảng cách dọc theo bờ biển là ba nghìn sáu trăm furlong, và giờ đây tôi xin tuyên bố khoảng cách từ biển đi sâu vào nội địa đến Thebes là sáu nghìn một trăm hai mươi furlong; và tiếp đó, khoảng cách từ Thebes đến thành phố gọi là Elephantine là một nghìn tám trăm furlong.

10. Về vùng đất mà tôi vừa bàn tới này, bản thân tôi cũng có chung cảm nhận với các tư tế, đó là phần lớn diện tích của nó đã được người Ai Cập bồi đắp và giành thêm; bởi vì với tôi, thật hiển nhiên rằng khoảng không gian giữa các dãy núi kể trên, vốn nằm bên trên thành phố Memphis, thuở trước từng là một vịnh biển, giống như các vùng xung quanh Ilion, Teuthrania, Ephesos và đồng bằng sông Maiander – nếu được phép so sánh những thứ nhỏ bé với những điều lớn lao; và những nơi kia thực ra rất nhỏ bé so với nơi này, bởi trong số các con sông bồi đắp phù sa ở những vùng đó, không có con sông nào có lưu lượng nước đáng để mang ra so sánh với dù chỉ một trong số các cửa sông của sông Nile, khi con sông này có tới năm cửa sông. Hơn nữa, còn có những con sông khác, tuy kích thước không tài nào sánh bằng sông Nile nhưng cũng từng tạo ra những kỳ tích; tôi có thể kể tên một vài con sông trong số đó, đặc biệt là sông Acheloös, khi chảy qua Acarnania rồi đổ ra biển, đã biến một nửa quần đảo Echinades từ những hòn đảo thành đất liền.

11. Kế đó, tại vùng đất Arabia, không xa Ai Cập cho lắm, có một vịnh biển ăn sâu vào từ vùng biển gọi là Erythraian; đây là một vịnh rất dài và hẹp, như tôi sắp sửa kể đây. Về chiều dài của chuyến hải trình dọc theo vịnh này, một người khởi hành từ điểm sâu nhất để chèo thuyền ra ngoài biển khơi sẽ mất tới bốn mươi ngày chèo; còn về bề ngang, nơi vịnh rộng nhất cũng mất nửa ngày thuyền mới sang đến bờ bên kia; và tại đây có hiện tượng thủy triều lên xuống mỗi ngày. Tôi cho rằng Ai Cập thuở trước cũng chính là một vịnh biển y như thế, chỉ có điều một vịnh đâm ngược về phía Ethiopia từ Biển Bắc, còn vịnh kia, tức vịnh Arabia mà tôi đang định nói tới, lại chạy từ phía Nam hướng về Syria; hai vịnh đâm sâu vào đất liền suýt chạm vào nhau ở tận cùng chóp của chúng, lướt qua nhau và chỉ để lại một khoảng không gian rất nhỏ ở giữa. Vậy nếu dòng chảy của sông Nile đổi hướng chảy vào vịnh Arabia này, thì điều gì có thể ngăn cản vịnh ấy bị lấp đầy bởi phù sa do con sông tiếp tục bồi đắp, dẫu sao thì cũng trong thời hạn hai mươi nghìn năm? Thậm chí, phần tôi, tôi cho rằng nó sẽ bị lấp đầy chỉ trong vòng mười nghìn năm là khác. Thế thì hà cớ gì mà trong suốt khoảng thời gian dài đằng đẵng trước khi tôi ra đời, một vịnh biển thậm chí còn lớn hơn thế này lại không thể bị lấp đầy bởi một con sông vĩ đại và đầy phù sa nhường ấy?

12. Về phần Ai Cập, tôi vừa tin tưởng những ai khẳng định mọi sự là thế, vừa giữ vững phán đoán của chính mình rằng sự tình đích thị là như vậy; bởi vì tôi đã quan sát thấy Ai Cập nhô hẳn ra biển xa hơn vùng đất lân cận, những mảnh vỏ sò xuất hiện rải rác trên các ngọn núi của xứ này, và một lớp muối kết tinh phủ trên bề mặt đến mức ngay cả các kim tự tháp cũng đang bị lớp muối đó ăn mòn; hơn thế nữa, trong số tất cả các ngọn núi ở Ai Cập, dãy núi nằm phía trên Memphis là ngọn núi duy nhất có cát. Bên cạnh đó, tôi nhận thấy Ai Cập không hề giống với vùng đất Arabia giáp ranh với nó, cũng chẳng giống Libya hay Syria (bởi những người sinh sống ở phần đất Arabia giáp biển thực chất là người Syria), mà xứ này có lớp đất màu đen, dễ tơi xốp, xét cho cùng đó chính là bùn và phù sa do dòng sông từ Ethiopia cuốn trôi xuống; trong khi đất của Libya, như chúng ta biết, có màu hơi đỏ và nhiều cát hơn, còn đất của Arabia và Syria lại hơi có tính sét và nhiều đá.

13. Các tư tế cũng đưa ra cho tôi một bằng chứng vô cùng đanh thép về vùng đất này, rằng vào thời vua Moiris, bất cứ khi nào mực nước sông dâng lên đạt độ cao ít nhất tám thước thì nó làm ngập tưới đất Ai Cập ở phía dưới Memphis; thế mà chưa đầy chín trăm năm trôi qua kể từ cái chết của Moiris, khi tôi nghe các tư tế kể những điều này, thì ngày nay, trừ khi nước sông dâng lên đến mười sáu thước, hoặc ít nhất cũng phải mười lăm thước, nếu không nước sẽ không tràn qua các đồng ruộng. Tôi cũng cho rằng những người Ai Cập sinh sống bên dưới hồ Moiris, đặc biệt là ở vùng đất gọi là Delta, nếu cứ tiếp tục đà tăng trưởng về chiều cao và sự mở rộng về diện tích đất đai theo tỷ lệ này, thì trong suốt khoảng thời gian còn lại của tương lai, họ sẽ phải chịu đựng một nghịch cảnh do sông Nile không còn tràn ngập đồng ruộng của họ nữa – chính là thảm cảnh mà họ từng quả quyết rằng người Hellas rồi sẽ có lúc phải gánh chịu. Số là, khi nghe nói toàn bộ xứ sở của người Hellas có mưa và không được tưới tiêu bằng sông ngòi như xứ của họ, họ từng bảo rằng người Hellas rồi sẽ có lúc vỡ mộng trước một hy vọng lớn lao và phải gánh chịu nạn đói kém. Câu nói này có ngụ ý rằng nếu vị thần không ban mưa cho họ, mà để cho hạn hán kéo dài thống trị, người Hellas sẽ bị tiêu diệt bởi cơn đói; bởi thực chất họ chẳng có nguồn nước nào khác để cứu mạng ngoài một mình thần Zeus mà thôi.

14. Điều này đã được người Ai Cập luận giải rất chính xác khi nói về người Hellas; nhưng giờ đây, hãy để tôi kể về tình cảnh của chính bản thân người Ai Cập. Nếu, đúng như những gì tôi đã nói trước đây, vùng đất của họ ở phía dưới Memphis (vốn là phần đất đang không ngừng bồi đắp) tiếp tục tăng lên về chiều cao theo đúng tỷ lệ như trong quá khứ, thì chắc chắn những người Ai Cập sinh sống ở đây sẽ phải chịu cảnh đói kém, nếu đất đai của họ không có mưa và dòng sông không thể tràn qua các điền trang của họ. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là giờ đây họ thu hoạch hoa màu từ lòng đất với ít công sức hơn bất kỳ dân tộc nào khác, và cũng nhàn hạ hơn những người Ai Cập ở các vùng khác; bởi vì họ chẳng phải nhọc nh công đày ải xới luống bằng cày, chẳng phải cuốc đất hay nhọc nhằn làm những công việc đồng áng mà các dân tộc khác phải trải qua để có vụ mùa; nhưng khi dòng sông tự dâng lên ngập đồng ruộng của họ rồi sau khi tưới đẫm lại rút đi, thì mỗi người tự do gieo hạt trên thửa ruộng của mình rồi lùa heo vào đó, và khi đã dùng đàn heo giẫm đạp cho hạt giống lún sâu vào lòng đất, anh ta cứ thế thảnh thơi chờ đến mùa gặt; và khi đã dùng heo đạp lúa cho hạt rụng ra, anh ta tiến hành thu hoạch.

15. Nếu chúng ta muốn tin theo quan điểm của người Ionia về Ai Cập – những người cho rằng chỉ riêng vùng Delta mới là Ai Cập, và tính chiều dài bờ biển của nó là từ đài quan sát gọi là của Perseus cho đến các cơ sở ướp cá của Pelusion, một khoảng cách dài bốn mươi schoine, đồng thời tính chiều sâu của nó vào trong nội địa kéo dài đến tận thành phố Kercasoros, nơi sông Nile chia nhánh chảy về Pelusion và Canobos, trong khi phần còn lại của Ai Cập thì họ chia ra, một phần gán cho Libya, phần kia cho Arabia – nếu, tôi nói vậy, chúng ta hùa theo cách lý giải này, thì hóa ra chúng ta đang tuyên bố rằng thuở xưa người Ai Cập vốn không có lấy một mảnh đất để sinh sống; bởi vì, như chúng ta đã thấy, vùng Delta của họ dẫu sao cũng là đất phù sa, và mới xuất hiện (có thể nói là) gần đây thôi, đúng như chính người Ai Cập đã kể và theo phán đoán của tôi. Vậy nếu thuở ban đầu họ không có đất để ở, tại sao họ lại phí công tốn sức đi chứng minh rằng mình đã có mặt trước tất cả các nhân loại khác? Họ có cần thiết phải đem trẻ sơ sinh ra làm thí nghiệm xem chúng sẽ thốt ra ngôn ngữ nào đầu tiên đâu cơ chứ. Dù vậy, tôi không cho rằng người Ai Cập xuất hiện cùng thời điểm với vùng đất được người Ionia gọi là Delta, mà họ vẫn luôn tồn tại kể từ khi giống loài con người ra đời, và khi đất đai của họ ngày càng bồi đắp vươn ra xa, nhiều người trong số họ đã ở lại các chốn cư ngụ ban đầu, còn nhiều người khác thì dần dần di chuyển xuống các vùng thấp hơn. Ít ra thì có một điều chắc chắn là vào thời cổ đại, vùng Thebes từng được gọi là Ai Cập, và chu vi của vùng đất này đo được sáu nghìn một trăm hai mươi furlong.

16. Nếu chúng ta đánh giá đúng đắn về những vấn đề này, thì quan điểm của người Ionia về Ai Cập là không chuẩn xác; nhưng giả sử phán đoán của người Ionia là đúng, thì tôi xin tuyên bố rằng cả người Hellas lẫn chính người Ionia đều chẳng biết cách tính toán khi họ cho rằng toàn bộ trái đất được cấu thành từ ba châu lục: Châu Âu, Châu Á và Libya; bởi vì ngoài những châu lục ấy, đáng lẽ họ phải tính thêm cả vùng Delta của Ai Cập nữa, vì vùng này chẳng thuộc về Châu Á cũng chẳng thuộc về Libya; xét cho cùng, theo cách tính này thì không thể nào lấy dòng sông Nile làm ranh giới chia cắt Châu Á và Libya, mà sông Nile lại bị rẽ đôi ngay tại đỉnh của vùng Delta này để chảy vòng quanh nó, và hệ quả là vùng đất này sẽ nằm chen vào giữa Châu Á và Libya.

17. Vậy chúng ta hãy dẹp bỏ quan điểm của người Ionia, và tự đưa ra phán đoán của chính mình về vấn đề này rằng: toàn bộ phần đất nào có người Ai Cập sinh sống thì đó chính là Ai Cập, cũng giống như Kilikia là vùng đất do người Kilikia cư ngụ và Assyria là xứ sở của người Assyria, và chúng ta không hề công nhận bất kỳ ranh giới đích thực nào giữa Châu Á và Libya ngoài biên giới của Ai Cập. Tuy nhiên, nếu chúng ta áp dụng quan điểm vốn phổ biến trong dân gian của người Hellas, chúng ta sẽ cho rằng toàn bộ Ai Cập, bắt đầu từ thác nước Cataract và thành phố Elephantine, được chia thành hai phần và do đó mang cả hai tên gọi, bởi khi ấy một bên sẽ thuộc về Libya và bên kia thuộc về Châu Á; vì sông Nile từ thác Cataract trở đi chảy ra biển cắt đôi Ai Cập ở chính giữa; và cho đến tận thành phố Kercasoros thì sông Nile vẫn chảy theo một dòng duy nhất, nhưng từ thành phố này trở đi, nó rẽ thành ba nhánh: một nhánh gọi là cửa sông Pelusian hướng về phía Đông; nhánh thứ hai chạy về phía Tây, gọi là cửa sông Canobic; còn nhánh thứ ba chảy thẳng – khi dòng sông trên hành trình xuôi dòng đến đỉnh của vùng Delta, nó cắt ngang Delta ở chính giữa rồi đổ ra biển. Tại đây chúng ta có một phân nhánh của dòng sông không hề nhỏ bé hay kém phần nổi tiếng, và nó được gọi là cửa sông Sebennytic. Ngoài ra còn có hai cửa sông khác tách ra từ nhánh Sebennytic rồi chảy ra biển, mang tên là cửa sông Saïtic và cửa sông Mendesian. Trong khi đó, các cửa sông Bolbitinitic và Bucolic lại không phải là tự nhiên mà do con người đào nên.

18. Hơn nữa, câu trả lời từ Sấm ngôn Ammon cũng làm chứng củng cố cho quan điểm của tôi rằng Ai Cập có chiều rộng lớn đúng như những gì tôi đã trù tính trong lời kể của mình; và tôi chỉ nghe được câu trả lời này sau khi đã tự hình thành quan điểm riêng về Ai Cập. Số là, người dân thành phố Marea và Apis, sinh sống ở các vùng đất Ai Cập giáp ranh với Libya, tự cho rằng họ là người Libya chứ không phải người Ai Cập, lại thêm phần cảm thấy nặng nề trước các quy định tế lễ tôn giáo vì họ muốn không bị cấm đoán việc sử dụng thịt bò, bèn sai sứ thần đến gặp thần Ammon để thưa rằng họ chẳng có chút điểm chung nào với người Ai Cập, bởi họ sống ngoài vùng Delta và chẳng có điểm nào đồng điệu với người Ai Cập cả; họ bày tỏ mong muốn được phép ăn uống mọi thứ mà không gặp phải bất kỳ sự phân biệt rác rưởi nào. Tuy nhiên, vị thần không cho phép họ làm thế, mà phán rằng vùng đất nào được sông Nile tràn qua và tưới đẫm thì đó chính là Ai Cập, và những ai sinh sống bên dưới thành phố Elephantine uống dòng nước sông ấy thì đó là người Ai Cập. Sấm ngôn đã đáp lại họ về vấn đề này như thế đấy:

19. Và sông Nile, khi mùa lũ về, tràn ngập không chỉ vùng Delta mà đôi khi còn tràn qua cả vùng đất mang tên Libya và Arabia, mỗi bên rộng tới hai ngày đường, có lúc thậm chí còn hơn hoặc kém thế. Về bản chất của dòng sông, tôi không tài nào thu thập được chút hiểu biết nào, dù là từ các tư tế hay từ bất kỳ ai khác; trong khi tôi lại vô cùng khao khát được học hỏi từ họ về những vấn đề này, cụ thể là tại sao sông Nile lại chảy xuống với lưu lượng nước ngày một dâng cao kể từ điểm chí mùa hè kéo dài suốt một trăm ngày, rồi khi đã chạm mốc số ngày đó, nó lại quay đầu rút xuống, khiến cho dòng chảy cạn dần, để rồi suốt cả mùa đông cho đến khi hạ chí quay vòng, mực nước cứ thế duy trì ở mức thấp. Tôi chẳng thể nhận được bất kỳ lời giải thích nào về những điều này từ người Ai Cập khi cất công gặng hỏi họ xem sông Nile sở hữu thứ sức mạnh nào mà lại có bản chất trái ngược với mọi con sông khác. Tôi đã dò hỏi với mong muốn được biết cả điều này lẫn lý do tại sao, không giống như tất cả các con sông khác, nó chẳng hề tạo ra bất kỳ ngọn gió mát nào thổi lên từ mặt nước của mình.

20. Dù vậy, một số người Hellas muốn thể hiện sự thông minh tài trí đã đưa ra ba cách lý giải khác nhau về dòng nước này; hai trong số đó tôi thậm chí còn chẳng mọc miệng bàn đến, ngoại trừ việc điểm qua bản chất của chúng: một thuyết cho rằng các cơn gió Etesian chính là thủ phạm khiến con sông dâng nước, bằng cách cản trở không cho sông Nile đổ ra biển. Thế nhưng các cơn gió Etesian thường xuyên ngừng thổi mà sông Nile vẫn cứ dâng nước đều đặn như thường lệ; hơn nữa, nếu chúng là nguyên nhân, thì tất cả những con sông khác chảy ngược hướng với gió Etesian cũng phải chịu chung ảnh hưởng giống như sông Nile, thậm chí còn dữ dội hơn, bởi chúng nhỏ bé hơn và có dòng chảy yếu ớt hơn trước sức gió; vậy mà có rất nhiều con sông như thế ở Syria và cả Libya, nhưng chẳng có con sông nào chịu ảnh hưởng kiểu như sông Nile cả.

21. Cách lý giải thứ hai còn lộ rõ vẻ u mê hơn cả thuyết vừa kể, và nghe còn hoang đường hơn nữa; vì nó cho rằng dòng sông tạo ra những hiện tượng này là do nó chảy ra từ Đại Dương, và Đại Dương thì bao quanh toàn bộ trái đất.

22. Cách lý giải thứ ba có vẻ hào nhoáng nhất, nhưng thực ra lại là sai lầm ngớ ngẩn nhất trong tất cả; bởi quả thực thuyết này chẳng có chút chân lý nào hơn những thuyết còn lại khi quả quyết rằng sông Nile bắt nguồn từ băng tuyết tan; trong khi thực tế nó chảy ra từ Libya xuyên qua giữa xứ sở người Ethiop rồi mới đổ vào Ai Cập. Làm sao nó có thể chảy ra từ tuyết được chứ, khi mà nó xuất phát từ những vùng nóng bức nhất để chảy về những nơi mát mẻ hơn? Và quả thật, phần lớn các sự kiện đều đủ sức thuyết phục một con người (ít ra là một người có khả năng tư duy về những vấn đề như thế) rằng chuyện nó bắt nguồn từ băng tuyết là điều hoàn toàn vô lý. Bằng chứng đầu tiên và lớn nhất đến từ các luồng gió thổi nóng rực từ những vùng ấy; bằng chứng thứ hai là vùng đất này quanh năm không có mưa và không hề có sương giá, trong khi tuyết rơi thì bắt buộc phải có mưa đi kèm trong vòng năm ngày, thế nên nếu ở những vùng đó có tuyết rơi thì ắt hẳn ở đó cũng phải có mưa; bằng chứng thứ ba đến từ những cư dân sinh sống nơi đây, những người có làn da đen nhánh do sức nóng như thiêu đốt. Hơn nữa, chim diều hâu và chim nhạn cứ ở lỳ lại đây suốt năm không rời đi; còn những đàn sưa bay trốn cái lạnh buốt giá từ vùng Scythia thì đều đặn bay đến đây tránh đông: vậy nếu ở vùng đất nơi sông Nile chảy qua và bắt nguồn mà có dù chỉ một ít tuyết rơi, thì chẳng điều nào trong số những chuyện này có thể xảy ra được, buộc lòng chúng ta phải thừa nhận là như vậy.

23. Còn kẻ từng bàn về Đại Dương thì đã đưa câu chuyện của hắn vào cõi mông lung vô định, thế nên chẳng cần thiết phải phản bác lại hắn làm gì; vì phần tôi, tôi chẳng biết có con sông Đại Dương nào tồn tại cả, mà tôi cho rằng Homer hoặc một nhà thơ nào đó đi trước ông đã tự bịa ra cái tên ấy rồi đưa nó vào những vần thơ của mình.

24. Dù vậy, nếu sau khi đã chỉ trích những quan điểm được đưa ra, tôi buộc phải bày tỏ ý kiến riêng của mình về những vấn đề còn bỏ ngỏ này, tôi sẽ giải thích điều mà theo tâm trí tôi chính là nguyên nhân khiến sông Nile dâng nước vào mùa hè. Vào mùa đông, Mặt Trời bị những cơn gió bão xua đuổi khỏi quỹ đạo quen thuộc qua bầu trời, bèn di chuyển đến các vùng thượng lưu của Libya. Nếu muốn diễn giải vấn đề một cách ngắn gọn nhất, thì tôi đã nói hết tất cả rồi; bởi bất cứ vùng đất nào mà vị thần này tiến lại gần nhất và đứng ngay phía trên, thì có thể suy luận một cách hợp lý rằng vùng ấy đang khát nước nhất, và những dòng sông tự nhiên của nó cũng bị khô cạn tơi bời nhất.

25. Tuy nhiên, nếu diễn giải chi tiết hơn thì sự thể là thế này: Mặt Trời trong hành trình ngang qua các vùng thượng lưu của Libya đã gây ra hiện tượng sau – nghĩa là, vì không khí ở những vùng đó lúc nào cũng quang đảng và xứ sở thì ấm áp nhờ không có gió lạnh, nên khi đi qua đây, Mặt Trời cũng làm y như những gì hắn vẫn thường làm vào mùa hè khi đi qua giữa bầu trời, tức là hắn hút lấy nước vào người, và sau khi đã hút nước, hắn đẩy nó tản đi các vùng thượng lưu của đất đai, rồi những cơn gió đón lấy lượng nước ấy, tản mác ra khắp nơi và làm tan chảy thành những trận mưa; thế nên việc những ngọn gió thổi ra từ vùng này, cụ thể là gió Nam và gió Tây-Nam, trở thành những cơn gió mưa nhiều nhất trong tất cả là điều hết sức tự nhiên. Tuy nhiên, tôi cho rằng Mặt Trời không đem tản đi tất cả lượng nước của sông Nile trong mỗi năm, mà hắn cũng giữ lại một phần cho riêng mình. Sau đó, khi mùa đông dịu bớt, Mặt Trời quay trở lại giữa bầu trời, và từ lúc đó trở đi hắn hút nước đều đặn từ tất cả các con sông; trong khi ấy, những dòng sông này vẫn tuôn chảy với lưu lượng lớn, vì nước mưa hòa quyện vào chúng với số lượng khổng lồ, do xứ sở của chúng lúc bấy giờ đón nhận những trận mưa và tràn ngập những dòng suối lũ. Ngược lại, vào mùa hè, chúng trở nên yếu ớt, bởi không chỉ những trận mưa rào cạn kiệt mà nước của chúng còn bị Mặt Trời hút đi. Thế nhưng sông Nile, độc nhất vô nhị trong số tất cả các con sông, không có nước mưa lại bị Mặt Trời hút nước, nên một cách tự nhiên vào mùa đông này nó có lưu lượng chảy nhỏ hơn nhiều so với mức đáng có của nó, tức là nhỏ hơn rất nhiều so với mùa hè; bởi khi ấy nó bị hút nước ngang ngửa với tất cả các nguồn nước khác, nhưng vào mùa đông thì nó phải gánh vác trọng trách một mình. Do đó, tôi cho rằng Mặt Trời chính là nguyên nhân gây ra những hiện tượng này.

26. Ngài cũng chính là nguyên nhân khiến không khí ở những vùng này trở nên khô cạn, theo phán đoán của tôi, vì ngài tạo ra điều đó bằng cách thiêu đốt con đường ngài đi qua bầu trời; chính vì thế mà mùa hè luôn ngự trị ở các vùng thượng lưu của Libya. Tuy nhiên, nếu trật tự của các mùa đã hoán đổi vị trí, và nơi hiện nay trên bầu trời là chỗ ngự trị của gió Bắc và mùa đông, thì lại là vị trí của gió Nam và mặt trời đứng bóng, còn nơi hiện nay là gió Nam thì là gió Bắc – nếu sự thể là như vậy, thì Mặt Trời khi bị xua đuổi khỏi vòm trời giữa bởi mùa đông và gió Bắc sẽ tiến đến các vùng thượng lưu của châu Âu, y như cách ngài đang tiến đến các vùng thượng lưu của Libya hiện nay; và khi đi qua toàn bộ châu Âu trên hành trình của mình, tôi cho rằng ngài sẽ gây ra cho sông Ister những điều ngài đang tác động lên sông Nile.

27. Còn về ngọn gió mát, tại sao chẳng có ngọn gió nào thổi ra từ dòng sông, quan điểm của tôi là từ những nơi cực kỳ nóng bức thì việc có thứ gì đó thổi ra là điều đi ngược lại tự nhiên, và gió mát thường chỉ thổi ra từ một thứ gì đó lạnh lẽo mà thôi.

28. Hãy để những vấn đề đó cứ ở nguyên trạng như chúng vốn thế và như thuở ban đầu; còn về các nguồn nguyên thủy của sông Nile, không một ai trong số những người Ai Cập, người Libya hay người Hellas từng trò chuyện với tôi dám nhận là mình biết chút gì, ngoại trừ viên thư ký kho bạc thần thánh của nữ thần Athene tại thành phố Saïs ở Ai Cập. Dù vậy, con người này có vẻ không hề nói năng nghiêm túc khi quả quyết rằng ông ta nắm rõ tường tận về nó; và ông ta kể rằng có hai ngọn núi với đỉnh nhọn vút nằm giữa thành phố Syene (thuộc vùng Thebes) và Elephantine, tên của hai ngọn núi ấy là Crophi và Mophi. Từ khe núi ở giữa hai ngọn núi này (ông ta nói) chảy ra các nguồn nước của sông Nile, sâu thăm thẳm không dò được đáy, và một nửa dòng nước chảy về phía Ai Cập cùng hướng Gió Bắc, nửa còn lại chảy về phía Ethiopia và Gió Nam. Về độ sâu không đáy của nguồn nước, ông ta kể rằng Psammetichos – vua Ai Cập – từng đem điều này ra thử nghiệm; ngài cho bện một sợi dây thừng dài hàng vạn trượng rồi thả xuống nơi này, nhưng mãi không tìm thấy đáy. Qua điều này, viên thư ký (nếu câu chuyện ông ta kể thực sự đúng như thế) muốn cho tôi hiểu rằng ở đó có những dòng xoáy nước cực kỳ mạnh mẽ và một luồng nước chảy ngược, và vì dòng nước đập mạnh vào các ngọn núi nên sợi dây dò mới không thể chạm tới đáy khi được thả xuống.

29. Từ bất kỳ ai khác, tôi không thể tìm hiểu được thêm chút gì về vấn đề này; nhưng bù lại, tôi đã tự mình thu thập được bấy nhiêu hiểu biết sau đây thông qua việc dò hỏi vô cùng cẩn trọng; bởi bản thân tôi đã thân chinh đi đến tận thành phố Elephantine với tư cách là một nhân chứng tận mắt, và từ điểm đó trở đi, tôi tiếp tục thu lượm kiến thức qua lời kể. Từ thành phố Elephantine đi ngược dòng sông lên trên là một vùng đất có địa hình dốc đứng; đến mức ở đây người ta phải buộc dây thừng vào con thuyền ở cả hai bên, y như cách người ta trói một con bò, rồi cứ thế kéo thuyền tiến lên; và nếu dây thừng đứt, con thuyền lập tức tiêu đời, bị cuốn phăng đi bởi dòng chảy hung hãn. Đi qua vùng đất này mất khoảng bốn ngày thuyền, và tại khúc đoạn này sông Nile uốn khúc quanh co như sông Maiander, với chiều dài mười hai schoine mà người ta buộc phải vượt qua bằng cách đó. Sau đó, bạn sẽ đến một vùng đồng bằng phẳng lặng, nơi sông Nile chảy vòng quanh một hòn đảo mang tên Tachompso. (Ngay tại các vùng nằm phía trên Elephantine có người Ethiopia sinh sống tiếp nối liền mạch, họ cũng chiếm một nửa hòn đảo này, còn nửa kia thuộc về người Ai Cập). Liền kề hòn đảo này có một hồ nước lớn, xung quanh là những bộ lạc du mục Ethiopia sinh sống; và khi bạn đã chèo thuyền vượt qua hồ này, bạn sẽ bắt gặp lại dòng chảy của sông Nile, con sông đổ vào hồ nước ấy. Tiếp sau đó, bạn sẽ lên bờ và thực hiện một cuộc hành trình đường bộ kéo dài bốn mươi ngày; bởi vì dưới lòng sông Nile lúc này có những mỏm đá sắc nhọn nhô lên khỏi mặt nước và rất nhiều bãi đá ngầm, khiến tàu thuyền không thể nào lướt qua được. Rồi sau khi đã vượt qua vùng đất này trong suốt bốn mươi ngày như tôi đã nói, bạn sẽ lại xuống một con thuyền khác và chèo đi trong mười hai ngày; sau đó, bạn sẽ đến một thành phố lớn tên là Meroe. Thành phố này được cho là đô thành của tất cả các bộ lạc Ethiopia khác; và những cư dân sinh sống tại đây chỉ tôn sùng hai vị thần là Zeus và Dionysos, họ tỏ lòng thành kính sâu sắc với hai vị này; họ có lập ra một Sấm ngôn của thần Zeus tại đây, và thường xuất quân chinh chiến bất cứ khi nào vị thần này hạ lệnh qua các lời sấm truyền và đi đến bất cứ nơi nào ngài chỉ định.

30. Giương buồm rời khỏi thành phố này, bạn sẽ đến với xứ sở của những "Kẻ Đào Tẩu" trong một khoảng thời gian tương đương với khoảng thời gian bạn đi từ Elephantine đến đô thành của người Ethiopia. Tên của những "Kẻ Đào Tẩu" này là Asmach, và khi dịch sang ngôn ngữ của người Hellas, từ này có nghĩa là "những kẻ đứng bên tay trái của nhà vua." Họ vốn là hai trăm bốn mươi nghìn chiến binh Ai Cập từng nổi dậy và quy thuận người Ethiopia vì nguyên nhân sau đây: Dưới triều đại của Psammetichos, các đồn binh được thiết lập ở nhiều nơi: một đồn hướng về phía người Ethiopia tại thành phố Elephantine, đồn thứ hai hướng về phía người Arabia và Assyria tại Daphnai ở Pelusion, và đồn thứ ba hướng về phía Libya tại Marea; và ngay cả vào thời của tôi, các đồn binh của người Ba Tư cũng được bố trí theo đúng cách thức giống như thời Psammetichos, bởi người Ba Tư cũng đặt các tiền đồn cả ở Elephantine lẫn Daphnai. Thế mà những người lính Ai Cập mà tôi đang nhắc đến đã phải làm nhiệm vụ ở các tiền đồn suốt ba năm trời mà không một ai chịu luân chuyển thay thế; do đó họ đã họp bàn với nhau, cùng chung một ý chí và đồng loạt nổi dậy chống lại Psammetichos rồi kéo quân sang Ethiopia. Hay tin ấy, Psammetichos lập tức đem quân đuổi theo, và khi bắt kịp họ, nhà vua đã hết lời nài nỉ, cố gắng thuyết phục họ đừng ruồng bỏ các vị thần quê hương cùng vợ con mình; thế rồi người ta kể rằng có một người trong số họ đã vạch bộ phận sinh dục của mình ra và lớn tiếng nói rằng hễ ở đâu có cái này thì ở đó họ sẽ có cả vợ lẫn con. Khi đoàn người này đặt chân đến Ethiopia, họ xin quy thuận vua xứ Ethiopia; và vị vua ấy đã thưởng cho họ như sau: Bấy giờ có một nhóm người Ethiopia đang có mối bất hòa với nhà vua, thế là ngài bèn ra lệnh cho những người Ai Cập mới đến hãy trục xuất nhóm người đó đi và chiếm lấy đất đai của họ để sinh sống. Kể từ khi những con người này định cư trên đất Ethiopia, dân Ethiopia đã trở nên ôn hòa hơn rất nhiều nhờ đã học hỏi các phong tục tập quán của người Ai Cập.

31. Như vậy, sông Nile, ngoài phần dòng chảy nằm trên lãnh thổ Ai Cập, còn được biết đến với độ dài tương đương một chuyến hành trình bốn tháng tính cả đường sông lẫn đường bộ: bởi đó là số tháng người ta tính toán được khi di chuyển từ Elephantine cho đến chỗ của những "Kẻ Đào Tẩu" này; và dòng sông chảy ra từ hướng Tây và phương trời lặn. Thế nhưng những gì nằm sau đó thì không một ai có thể nói rõ được; bởi vì vùng đất ấy là một hoang mạc hoàn toàn vì cái nóng như thiêu đốt.

32. Dù vậy, tôi đã nghe được ngần này thông tin từ những người dân Kyrene, khi họ kể rằng họ từng đến Sấm ngôn Ammon và có dịp đàm đạo với Etearchos – vua xứ Ammon; và tình cờ là sau khi bàn qua các vấn đề khác, câu chuyện chuyển sang chủ đề sông Nile và việc chẳng ai hay biết nguồn cội của nó ở đâu. Etearchos kể rằng thuở trước từng có những người thuộc bộ tộc Nasamon (đây là một tộc người Libya sinh sống ở vùng Syrtis và cả vùng đất trải dài về phía Đông của Syrtis nhưng không đi xa lắm) đến yết kiến ông ta; và khi những người Nasamon đến nơi, Etearchos đã hỏi họ xem họ có thể cung cấp cho ông ta thêm thông tin nào vượt quá sự hiểu biết của ông về những vùng hoang mạc của Libya hay không, họ liền đáp rằng trong bộ tộc của họ từng có những người con trai của các thủ lĩnh là những kẻ vô kỷ luật; khi trưởng thành, đám thanh niên này đã nghĩ ra đủ mọi trò điên rồ ngông cuồng, đồng thời bốc thăm chọn ra năm người trong số họ đi khám phá những vùng hoang mạc của Libya để thử xem liệu họ có thể dò la ra điều gì vượt quá giới hạn mà những kẻ thám hiểm xa nhất trước đó từng đặt chân tới hay không. Số là, ở những vùng đất Libya nằm giáp Biển Bắc, tính từ Ai Cập cho đến mũi đất Soloeis – điểm tận cùng của Libya, người Libya (với rất nhiều tộc người) sinh sống dọc theo toàn bộ dải bờ biển, ngoại trừ phần đất do người Hellas và người Phenicia nắm giữ; nhưng ở các vùng thượng lưu, nằm phía trên dải ven biển và phía trên những tộc người có lãnh thổ chạm đến biển, Libya tràn ngập muôn thú hoang dã; và ở những vùng nằm phía trên lãnh thổ của muôn thú hoang dã thì lại toàn là cát, vô cùng khô cạn không một giọt nước và hoang vu tột cùng. Thế là những chàng trai trẻ ấy (họ kể), được bạn đồng hành trang bị cho đầy đủ nước uống và lương thực, ban đầu đi xuyên qua vùng đất có con người sinh sống, rồi sau khi đã qua khỏi vùng đó, họ bước vào lãnh thổ của thú hoang, tiếp đó họ băng qua hoang mạc, cất bước hướng về phía Gió Tây; và sau khi vượt qua một dải cát mênh mông trong rất nhiều ngày, cuối cùng họ đã nhìn thấy những tán cây mọc trên một vùng đất bằng phẳng; khi tiến lại gần các cây ấy, họ bắt đầu bẻ hái trái cây trên cành. Nhưng vừa lúc họ bắt đầu hái trái, những con người nhỏ bé xuất hiện vây lấy họ – những kẻ có vóc dáng lùn tịt thấp hơn người bình thường – rồi đám người lùn ấy tóm lấy họ và bắt đi; người Nasamon chẳng thể nào hiểu nổi một chữ nào trong ngôn ngữ của bọn chúng, và những kẻ bắt họ đi cũng chẳng hiểu nổi tiếng nói của người Nasamon. Đám người lùn dẫn họ đi (người ta kể vậy) băng qua những đầm lầy vô cùng rộng lớn, và sau khi vượt qua các đầm lầy ấy, họ đến một thành phố nơi tất cả đàn ông đều có vóc dáng y hệt như những kẻ đã bắt cóc họ và có làn da đen nhánh; chảy qua thành phố này là một con sông lớn, chảy từ hướng Tây hướng về phía mặt trời mọc, và người ta nhìn thấy cả cá sấu trong dòng sông đó.

33. Những gì Etearchos người xứ Ammon kể xin được khép lại bấy nhiêu đây, chỉ trừ một chi tiết mà những người dân Kyrene đã thuật lại cho tôi, đó là Etearchos quả quyết rằng những người Nasamon đã quay về nhà bình an vô sự, và rằng cư dân ở thành phố mà họ đặt chân tới đều là những bậc phù thủy. Etearchos phỏng đoán rằng con sông chảy qua thành phố đó chính là sông Nile, và hơn thế nữa, lý trí cũng buộc chúng ta phải nghĩ như vậy; bởi vì sông Nile chảy ra từ Libya và cắt ngang Libya ở chính giữa, và theo sự phỏng đoán của tôi, dựa trên việc đánh giá những điều chưa biết qua những sự việc hiển hiện trước mắt, nó khởi nguồn từ một khoảng cách tính từ cửa sông lớn bằng chiều dài của sông Ister: vì sông Ister khởi nguồn từ xứ sở của người Keltoi và thành phố Pyrene, rồi chảy đi cắt ngang châu Âu ở chính giữa (xưa nay người Keltoi cư ngụ bên ngoài Cột trụ của Heracles và giáp ranh với người Kynesia – những kẻ sinh sống ở cực Tây trong số tất cả những cư dân định cư ở châu Âu); và sông Ister kết thúc hành trình xuyên qua toàn bộ châu Âu của mình bằng cách đổ ra Biển Euxine tại nơi người Miletus lập ra khu định cư Istria.

34. Thế nhưng sông Ister, vì chảy qua những vùng đất có con người sinh sống, nên được biết đến qua lời kể của rất nhiều người; trong khi nguồn cội của sông Nile thì chẳng một ai có thể tường thuật nổi, bởi vùng đất Libya mà nó chảy qua hoàn toàn hoang vắng và không có bóng người cư ngụ. Dù vậy, hành trình dòng chảy của nó, trong giới hạn có thể tìm hiểu được bằng sự dò hỏi cẩn trọng nhất, đã được thuật lại rồi; và nó đổ ra Ai Cập. Xứ Ai Cập nằm gần như đối diện với các vùng miền núi thuộc Kilikia; và từ đó đến Sinope – thành phố nằm bên Biển Euxine, là một cuộc hành trình đi thẳng trong năm ngày đối với một người đi đường thanh thản không vướng bận gì; và Sinope nằm đối diện với nơi sông Ister đổ ra biển: thế nên tôi cho rằng sông Nile chảy xuyên qua toàn bộ Libya và có quy mô chiều dài tương đương với sông Ister. Về sông Nile, xin được khép lại bấy nhiêu lời.

35. Tuy nhiên, tôi sẽ tường thuật tường tận về Ai Cập, bởi vì xứ sở này sở hữu những điều kỳ diệu nhiều hơn bất kỳ vùng đất nào khác, cùng với những công trình vĩ đại đến mức không thể diễn tả bằng lời để bày tỏ cho thiên hạ thấy: chính vì lý do này mà sẽ có nhiều điều được kể hơn về nó. Người Ai Cập, để hòa hợp với khí hậu chẳng giống ai của họ và với dòng sông mang bản chất khác biệt với mọi dòng sông khác, đã thiết lập cho mình những lề thói và phong tục trái ngược hoàn toàn với phần nhân loại còn lại trong hầu như mọi vấn đề: ở xứ họ, phụ nữ ra chợ buôn bán làm ăn, trong khi đàn ông ở nhà dệt vải; và nếu thiên hạ dệt vải bằng cách đẩy sợi ngang lên trên, thì người Ai Cập lại đẩy sợi ngang xuống dưới; đàn ông khi khiêng vác gánh nặng thì đặt lên đầu, còn phụ nữ thì vác trên vai; phụ nữ đi tiểu ở tư thế đứng, còn đàn ông thì ngồi xổm; họ phóng uế ở bên trong nhà nhưng lại ăn uống ở ngoài đường phố, viện dẫn lý do cho việc này rằng những gì đáng xấu hổ nhưng tất yếu thì phải làm cho kín đáo, còn những gì không đáng xấu hổ thì cứ việc làm công khai; không một người phụ nữ nào được làm tư tế cho bất kỳ vị thần nam hay nữ nào, nhưng đàn ông thì làm tư tế cho tất cả, cả thần nam lẫn thần nữ; các con trai không hề bị bắt buộc phải phụng dưỡng cha mẹ nếu họ không muốn, nhưng các con gái thì bắt buộc phải làm tròn trách nhiệm đó dẫu có không cam lòng đến thế nào đi nữa.

36. Tư tế của các vị thần ở những xứ khác thì để tóc dài, nhưng ở Ai Cập họ lại cạo trọc đầu; tập tục của thiên hạ khi có tang gia là những người có liên quan gần gũi nhất sẽ cắt tóc ngắn, nhưng người Ai Cập khi có người qua đời lại để tóc mọc dài, cả tóc trên đầu lẫn râu cằm, dẫu trước đó họ đã cạo sát; thiên hạ giữ cho cuộc sống hằng ngày tách biệt khỏi loài vật, nhưng người Ai Cập lại sinh sống chung đụng với loài vật; thiên hạ ăn lúa mì và lúa đại mạch, nhưng bất kỳ người Ai Cập nào kiếm sống nhờ vào những thứ đó đều bị coi là nỗi nhục nhã lớn; họ làm bánh mì từ ngô, mà một số người gọi là tiểu mạch (spelt); họ dùng chân để nhào bột và dùng tay để nhào đất sét, cũng chính đôi tay đó dùng để thu gom phân bưởi; và trong khi thiên hạ, ngoại trừ những ai học được thói quen khác từ người Ai Cập, đều giữ gìn bộ phận sinh dục của mình nguyên vẹn như tạo hóa ban cho, thì người Ai Cập lại thực hiện nghi thức cắt bao quy đầu; về trang phục, đàn ông mặc hai chiếc áo còn phụ nữ chỉ mặc một; và trong khi người khác cột các vòng khuyên và dây thừng của buồm ở bên ngoài con tàu, người Ai Cập lại làm điều này ở bên trong; cuối cùng, trong việc viết các ký tự và tính toán bằng sỏi, trong khi người Hellas di chuyển tay từ trái sang phải, người Ai Cập lại làm điều đó từ phải sang trái, và khi làm vậy họ bảo rằng họ làm theo chiều thuận (rightwise) còn người Hellas làm theo chiều ngược (leftwise); họ sử dụng hai loại ký tự để viết, một loại gọi là chữ thiêng và loại kia gọi là chữ thông dụng.

37. Họ cực kỳ sùng đạo vượt trên tất cả mọi người, và đối với vấn đề này họ có những tập tục như sau: họ uống nước bằng cốc đồng và cọ rửa chúng mỗi ngày, không phải chỉ một vài người mà tất cả mọi người đều làm thế; họ mặc trang phục bằng vải lanh luôn luôn mới giặt, và họ coi trọng điểm này như một nguyên tắc thực hành đặc biệt; họ tự cắt bao quy đầu vì mục đích thanh sạch, thà giữ mình sạch sẽ còn hơn là làm dáng. Các tư tế cạo sạch lông toàn thân cứ cách một ngày một lần, để không có chí rận hay bất kỳ thứ nhơ nhớp nào bám trên người họ khi phụng sự các vị thần; tư tế chỉ mặc trang phục bằng vải lanh và đi dép bằng cói, tuyệt đối không được mang áo quần hay dép nào khác; họ tắm rửa bằng nước lạnh hai lần trong ngày và hai lần nữa vào ban đêm; và họ thực hiện các nghi thức tôn giáo khác (có thể nói là) nhiều vô kể. Họ cũng tận hưởng không ít điều tốt lành, bởi họ chẳng hề tiêu tốn hay chi dùng chút tài sản nào của bản thân, mà có bánh mì thánh được nướng riêng cho họ, mỗi người nhận được một lượng lớn thịt bò và ngỗng giao đến mỗi ngày, cùng với rượu vang nho; tuy nhiên họ không được phép nếm thử cá; hơn thế nữa, người Ai Cập hoàn toàn không gieo trồng đậu nát trên đất của họ, và nếu có cây nào mọc lên thì họ không ăn sống cũng không luộc chín làm thức ăn; thậm chí các tư tế còn chẳng buồn nhìn vào chúng, vì cho rằng đó là một loại đậu không thanh tịnh; và không chỉ có một vị tư tế duy nhất cho mỗi vị thần mà có rất nhiều người, trong đó một người là đại tư tế, và bất cứ khi nào một vị tư tế qua đời, con trai của ông ta sẽ được bổ nhiệm thay thế vị trí đó.

38. Những con bò đực được họ coi là thuộc về thần Epaphos, và vì thần linh này mà họ kiểm tra chúng theo cách thức sau: Nếu vị tư tế nhìn thấy dù chỉ một sợi lông màu đen trên mình con vật, họ sẽ coi nó không đủ thanh tịnh để dâng tế; và một vị tư tế được chỉ định riêng cho việc này sẽ tiến hành kiểm tra cẩn thận, cả khi con vật đang đứng thẳng lẫn khi nó nằm ngửa, đồng thời kéo lưỡi nó ra để xem nó có thực sự thanh tịnh đối với các dấu hiệu đã quy định hay không – những dấu hiệu mà tôi sẽ thuật lại ở một phần khác của bộ sử này; ông ta cũng quan sát những sợi lông ở đuôi để xem chúng mọc có đúng theo tự nhiên hay không; và nếu con vật thanh tịnh trong tất cả những điểm đó, ông ta sẽ đánh dấu nó bằng một mảnh papyrus, quấn quanh sừng, rồi bôi đất sét niêm phong lên trên và đóng ấn triện của mình vào, sau đó họ dắt con vật đi. Kẻ nào dâng tế một con vật chưa được đóng ấn sẽ phải đối mặt với hình phạt tử hình được quy định sẵn.

39. Con vật được kiểm tra theo cách đó; và cách thức dâng tế quy định của họ như sau: Họ dẫn con vật đã được đóng ấn đến bàn thờ nơi họ hành lễ rồi nhóm lửa; sau đó, họ rưới rượu cúng lên bàn thờ để rượu chảy tràn xuống nạn nhân, cất tiếng cầu khấn vị thần rồi cắt cổ con vật, đoạn chặt đầu nó ra khỏi thân. Thân con vật thì họ lột da, còn cái đầu thì cất lời nguyền rủa đủ điều trước đã, rồi những ai có chợ búa và có kiều dân Hellas đến buôn bán cùng họ sẽ đem cái đầu ấy ra chợ bán, trong khi những nơi không có người Hellas sẽ ném nó xuống sông; và đây là lời nguyền rủa họ thốt lên trên những cái đầu ấy, khẩn cầu rằng nếu có tai họa nào sắp giáng xuống bản thân những kẻ dâng tế hay xuống toàn thể đất Ai Cập, xin hãy trút hết lên chiếc đầu này. Về phần đầu của những con vật bị đem tế thần và việc rưới rượu lên chúng, toàn bộ người Ai Cập đều áp dụng chung một tập tục cho mọi nghi thức tế lễ của họ; và chính vì tập tục này mà không một người Ai Cập nào ăn phần đầu của loài vật này hay bất kỳ loài động vật nào khác.

40. Thế nhưng cách thức mổ bụng nạn nhân và thiêu đốt họ quy định mỗi nơi một khác tùy theo nghi thức tế lễ; tuy nhiên, tôi sẽ kể về lễ tế dành cho vị nữ thần mà họ tôn kính là vĩ đại nhất trong tất cả, và là đấng để họ cử hành đại lễ lớn nhất. Khi họ đã lột da con bò đực và đọc lời nguyền rủa, họ lấy ra toàn bộ phần ruột già bên dưới nhưng giữ lại phần ruột trên và lớp mỡ bên trong thân thể; họ cắt bỏ bốn chân, phần đuôi, hai bả vai và cổ con vật. Làm xong xuôi, họ nhồi đầy phần thân còn lại của con vật bằng những ổ bánh mì thánh, mật ong, nho khô, vả khô, nhựa thơm myrrh, nhũ hương cùng mọi loại gia vị khác, và sau khi đã nhồi đầy các thứ đó, họ đem dâng tế, rưới lên trên một lượng lớn dầu ô liu. Họ tiến hành lễ tế sau khi đã nhịn ăn, và trong lúc lễ vật đang cháy rực, tất cả bọn họ cùng đấm ngực để tang; khi đã đứt quãng việc đấm ngực, họ bày biện phần lễ vật không bị cháy thiêu ra làm một bữa tiệc yến.

41. Những con bò đực tịnh thanh, bao gồm cả con trưởng thành lẫn bê con, đều được toàn bộ người Ai Cập đem ra dâng tế; tuy nhiên họ không được phép tế bò cái, bởi loài này được coi là linh thiêng thuộc về nữ thần Isis; vì hình tượng của Isis mang hình dáng một người phụ nữ với đôi sừng bò, y hệt như cách người Hellas vẽ hình nữ thần Io trong tranh, và toàn bộ người Ai Cập không phân biệt nam nữ đều tôn kính bò cái hơn bất kỳ loài gia súc nào khác; chính vì lý do này mà không một người nam hay nữ mang dòng máu Ai Cập nào lại chịu hôn lên miệng một người mang gốc tích Hellas, họ cũng chẳng thèm dùng dao, xiên nướng hay vạc đồng của người Hellas, hay nếm thử thịt của dẫu là một con vật tịnh thanh đi nữa nếu nó bị cắt bằng con dao của người Hellas. Và những con gia súc thuộc loài này khi chết đi đều được họ chôn cất theo cách thức sau: Bò cái thì họ ném xuống sông, còn bò đực thì chôn cất ngay tại vùng ngoại ô thị trấn của họ, với một hoặc đôi khi cả hai chiếc sừng nhô lên để làm dấu mốc cho vị trí đó; và khi thi thể đã rữa nát đến thời điểm quy định, một chiếc thuyền từ hòn đảo gọi là Prosopitis (nằm trong vùng Delta, chu vi dài chín schoine) sẽ cập bến từng thành phố. Trên hòn đảo Prosopitis này, bên cạnh nhiều thành phố khác, còn có cái nôi xuất phát của những chiếc thuyền đến thu gom xương bò, thành phố đó tên là Atarbechis, nơi có một ngôi đền linh thiêng kính củng thần Aphrodite được dựng lên. Từ thành phố này, nhiều người tỏa đi khắp nơi theo các hướng khác nhau, kẻ đến thành phố này người ghé thị trấn nọ, và khi đã đào xương bò lên, họ mang chúng đi, tập hợp lại rồi chôn cất chung vào một nơi duy nhất. Họ cũng chôn cất những loài gia súc khác của mình khi chúng chết đi theo cách y hệt như đối với loài bò; bởi vì họ cũng áp dụng chung một bộ luật cho chúng, và cũng kiêng khem không giết hại chúng.

42. Giờ thì, tất cả những ai có đền thờ dâng kính thần Zeus xứ Thebes hoặc cư ngụ trong vùng Thebes, tôi xin khẳng định rằng họ đều dâng tế dê và kiêng ăn thịt cừu; bởi vì không phải toàn bộ người Ai Cập đều tôn kính giống hệt các vị thần như nhau, ngoại trừ hai vị Isis và Osiris (mà họ bảo chính là Dionysos), những vị này thì ai nấy đều tôn kính như nhau; thế nhưng những ai có đền thờ thần Mendes hoặc thuộc về vùng Mendes, thì họ lại kiêng thịt dê và dâng tế cừu. Người Thebes và những ai noi gương họ kiêng thịt cừu kể rằng tập tục này được thiết lập trong dân gian của họ vì nguyên nhân sau: Thần Heracles (họ nói) khao khát đến cháy lòng được nhìn ngắm thần Zeus, nhưng Zeus lại chẳng muốn cho Heracles nhìn thấy mình; và cuối cùng, khi Heracles nài nỉ khẩn khoản khôn nguôi, Zeus bèn nghĩ ra mưu mẹo này: Ngài lột da một con cừu đực, cầm phần đầu con cừu vừa cắt đứt ở trước mặt, trùm bộ lông cừu lên người rồi mới hiện ra cho Heracles thấy. Thế nên người Ai Cập mới tạc hình tượng của thần Zeus mang khuôn mặt cừu đực; và người xứ Ammon cũng làm theo gương họ, bởi họ là những cư dân di cư đến từ cả người Ai Cập lẫn người Ethiopia, sử dụng thứ ngôn ngữ pha trộn từ cả hai thứ tiếng; và theo quan điểm của tôi, chính từ vị thần này mà người xứ Ammon đã nhận lấy cái tên mà họ đang mang, bởi người Ai Cập gọi thần Zeus là Amun. Thế nên người Thebes không dâng tế cừu đực mà tôn kính chúng như những sinh linh linh thiêng vì lý do đó; tuy nhiên, vào đúng một ngày trong năm, trong lễ hội tế thần Zeus, họ mổ thịt và lột da đúng một con cừu đực duy nhất theo cách thức quen thuộc, trùm bộ da của nó lên tượng thần Zeus, rồi mang đến đó đặt cạnh bức tượng của thần Heracles. Làm xong xuôi, tất cả những ai có mặt trong đền đều đấm ngực khóc thương con cừu, rồi đem nó chôn cất trong một ngôi mộ linh thiêng.

43. Về phần thần Heracles, tôi nghe kể rằng ngài nằm trong số mười hai vị thần; nhưng về một vị Heracles khác mà người Hellas biết đến thì tôi chẳng tài nào nghe nhắc đến ở bất kỳ xó xỉnh nào của Ai Cập cả; hơn thế nữa, để chứng minh rằng người Ai Cập không hề mượn cái tên Heracles từ người Hellas, mà chính người Hellas mới là kẻ mượn từ người Ai Cập – cụ thể là nhóm người Hellas đã gán cái tên Heracles cho người con trai của Amphitryon – thì ngoài rất nhiều bằng chứng khác, điều cốt lõi nhất chính là cha mẹ của vị Heracles này, tức là Amphitryon và Alcmene, đều có gốc gác xuôi nguồn từ Ai Cập, và thêm nữa là người Ai Cập tuyên bố họ hoàn toàn không biết tên gọi của thần Poseidon hay các vị thần Dioscuroi, những vị này chưa từng được họ công nhận là thần linh trong số các vị thần khác; trong khi nếu họ tiếp nhận tên của bất kỳ vị thần nào từ người Hellas, thì dĩ nhiên họ phải là những kẻ lưu giữ ký ức về các vị ấy nhiều nhất, giả sử rằng vào thời đại đó cũng như bây giờ, một số người Hellas hay có thói quen dong buôn đi biển và là dân rành nghề hàng hải, đúng như tôi suy đoán và bắt buộc phải nghĩ vậy; thế thì người Ai Cập ắt phải biết tên của các vị thần này còn nhiều hơn cả Heracles. Trên thực tế, Heracles lại là một vị thần Ai Cập vô cùng cổ xưa; và (như chính họ kể lại) tính từ thời điểm mười hai vị thần (mà Heracles được tính là một trong số đó) được sinh ra từ tám vị thần cho đến khi khởi đầu triều đại của Amasis là khoảng mười bảy nghìn năm.

44. Bản thân tôi, khao khát được biết điều gì đó chắc chắn về những vấn đề này trong khả năng có thể, cũng đã thực hiện một chuyến hải trình đến thành phố Tyre xứ Phenicia, khi nghe nói ở nơi đó có một ngôi đền linh thiêng kính củng thần Heracles; và tôi thấy đền thờ này được trang hoàng lộng lẫy với rất nhiều vật phẩm dâng cúng, đặc biệt nhất là sự hiện diện của hai cột trụ, một cột bằng vàng ròng và cột kia bằng đá ngọc lục bảo với kích thước lớn đến mức phát sáng rực rỡ trong đêm tối; và khi đã có dịp đàm đạo với các tư tế của vị thần, tôi hỏi họ xem đền thờ của họ đã được dựng lên từ bao nhiêu lâu rồi; và tôi nhận thấy họ cũng bất đồng quan điểm với người Hellas, bởi họ nói rằng vào đúng thời điểm thành phố Tyre được thành lập thì đền thờ vị thần này cũng được dựng lên, và tính đến nay đã là khoảng thời gian hai nghìn ba trăm năm kể từ khi dân tộc họ bắt đầu định cư tại Tyre. Tôi cũng nhìn thấy ở Tyre một ngôi đền khác kính củng thần Heracles, mang biệt hiệu là Thasian; và tôi cũng ghé qua Thasos để rồi tìm thấy ở đó một ngôi đền Heracles do người Phenicia dựng lên – những kẻ từng dong buôn đi tìm nàng Europa và đã lập thuộc địa ở Thasos; những sự kiện này xảy ra trước khi Heracles con trai của Amphitryon được sinh ra ở xứ Hellas trọn vẹn năm thế hệ người. Thế nên những cuộc điều tra của tôi cho thấy rõ ràng rằng Heracles là một vị thần cổ xưa, và những người Hellas hành động khôn ngoan nhất có lẽ là những ai lập ra hai ngôi đền dâng kính thần Heracles, người thì dâng tế ngài như một vị thần bất tử mang danh hiệu Olympian, kẻ lại dâng cúng cho ngài như một người đã khuất với tư cách là một anh hùng.

45. Hơn thế nữa, bên cạnh nhiều câu chuyện nhảm nhí khác mà người Hellas kể ra mà chẳng chịu suy xét cẩn thận, thì giai thoại này là ngu ngốc hơn cả khi họ bàn về Heracles – rằng khi ngài đặt chân đến Ai Cập, người Ai Cập đã tròng vòng hoa lên người ngài rồi dẫn ngài đi trong đoàn rước để đem tế thần Zeus; và ngài ban đầu giữ im lặng, nhưng khi họ bắt đầu tiến hành lễ tế ngài trên bàn thờ, ngài liền trỗi dậy sức mạnh vô địch và tru diệt tất cả bọn họ. Phần tôi, tôi cho rằng người Hellas khi kể câu chuyện này hoàn toàn mù tịt về bản chất và tập tục của người Ai Cập; bởi vì hà cớ gì một dân tộc thậm chí không được phép tế dâng dẫu chỉ là súc vật, ngoại trừ heo, bò đực tịnh thanh, bê đực (loại tịnh thanh) và ngỗng, lại có thể đi tế lễ con người cơ chứ? Thêm vào đó, về mặt tự nhiên, làm sao một con người đơn thương độc mã lại có thể (như họ khẳng định) tiêu diệt được tới hàng vạn mạng người? Đã trình bày bấy nhiêu điều về những vấn đề này, chúng tôi khẩn cầu được các vị thần và các bậc anh hùng ban ơn buông tha cho những lời lẽ của chúng tôi.

46. Nguyên nhân khiến những người Ai Cập mà tôi vừa nhắc đến không bao giờ dâng tế dê, dù là dê cái hay dê đực, chính là vì điều này: Người Mendes xem thần Pan là một trong tám vị thần (mà họ bảo tám vị thần này ra đời trước cả mười hai vị thần), và các họa sĩ cùng thợ tạc tượng đã khắc họa, tạc đượng hình dáng của thần Pan y hệt như người Hellas, với khuôn mặt và đôi chân dê, không phải vì họ cho rằng ngài thực sự trông giống thế, mà để ngài tương đồng với các vị thần khác; còn nguyên nhân tại sao họ lại tạc ngài theo hình dạng này thì tôi xin phép không nói ra. Người Mendes tôn kính tất cả loài dê và dê đực còn hơn cả dê cái (các mục đồng chăn dê cũng được hưởng sự kính trọng lớn hơn những kẻ chăn gia súc khác), nhưng trong số loài dê thì có một con đặc biệt được tôn kính hơn cả, và khi nó chết đi, toàn vùng Mendes chìm trong nỗi tiếc thương tang tóc vô bờ; cả con dê lẫn thần Pan đều được gọi bằng cái tên Mendes trong tiếng Ai Cập. Hơn thế nữa, vào thời của tôi, tại vùng đó đã xảy ra một kỳ tích thế này, đó là một con dê đực đã giao phối với một người phụ nữ một cách công khai, sự việc rành rành trước mắt để tất cả mọi người đều có thể làm chứng.

47. Loài heo bị người Ai Cập coi là một loài vật gớm ghiếc; đầu tiên, nếu bất kỳ ai trong số họ trên đường đi lỡ chạm phải một con heo, anh ta sẽ lập tức lao ngay xuống sông và nhúng mình cùng toàn bộ y phục xuống nước; và ngay cả các mục đồng chăn heo, dù mang dòng máu bản địa Ai Cập, cũng không được phép bước chân vào bất kỳ ngôi đền nào ở Ai Cập, không như những người khác, và chẳng ai chịu gả con gái cho một kẻ chăn heo hay lấy vợ từ gia đình họ cả, mà dân chăn heo chỉ kết hôn nội bộ với nhau mà thôi. Đối với các vị thần khác, người Ai Cập cho rằng không nên dâng tế heo; nhưng riêng với Mặt Trăng và thần Dionysos, cứ vào đêm trăng tròn, họ lại đồng thời dâng tế heo và ăn thịt chúng; và về lý do tại sao, dẫu họ gớm ghiếc loài heo ở mọi lễ hội khác, lại đem chúng ra dâng tế trong dịp này, người Ai Cập có kể một câu chuyện; tôi biết câu chuyện ấy nhưng nó không phải là thứ thanh tao để mà kể ra. Lễ tế heo cho Mặt Trăng được cử hành như sau: Khi tư tế đã giết nạn nhân, ông ta cắt phần chóp đuôi, lá lách và lớp mỡ chày, trùm lên toàn bộ lớp mỡ xung quanh vùng bụng con vật, rồi đem thiêu chúng trên lửa; còn phần thịt còn lại thì họ ăn vào chính ngày trăng tròn mà họ cử hành lễ tế, chứ sang bất kỳ ngày nào sau đó họ tuyệt đối không nếm thử; tuy nhiên, những người nghèo khó trong số họ vì túng thiếu nên đã nặn những con heo bằng bột nhão rồi đem nướng chín để dâng làm lễ vật.

48. Còn đối với thần Dionysos, vào đêm trước lễ hội, mỗi người tự tay giết một con heo bằng cách cắt cổ ngay trước ngưỡng cửa nhà mình, rồi đưa con con heo đó cho người chăn heo đã bán nó cho mình để mang đi; phần còn lại của lễ hội Dionysos được người Ai Cập cử hành y hệt như người Hellas trong hầu như mọi mặt, ngoại trừ các vũ điệu hợp xướng, và thay vì chiếc gậy dương vật (phallos) thì họ phát minh ra một thứ đạo cụ khác, đó là những hình nộm cao khoảng một thước được điều khiển bằng dây, do phụ nữ khiêng đi khắp các làng mạc, với bộ phận sinh dục được làm cho cử động được và có kích thước không nhỏ hơn là bao so với phần còn lại của cơ thể; đi trước có tiếng sáo tấu vang và họ nối gót theo sau cất tiếng ca ngợi thần Dionysos. Về lý do tại sao hình nộm ấy lại có bộ phận này lớn hơn bình thường và cử động được trong khi chẳng cử động phần nào khác trên cơ thể, người ta có kể một câu chuyện linh thiêng.

49. Tôi cho rằng Melampus, con trai của Amytheon, không phải là kẻ mù tịt mà rất am hiểu về những nghi thức tế lễ này; bởi Melampus chính là người đầu tiên truyền bá cho người Hellas biết về danh tính của thần Dionysos, cách thức dâng tế và đoàn rước phallos. Nói một cách chính xác thì khi phổ biến nó, ông đã không thu nạp toàn bộ, mà những bậc hiền triết đến sau ông mới làm cho nó trở nên rộng rãi hơn. Vậy Melampus là người đã dạy về chiếc gậy phallos được khiêng trong đám rước kính củng thần Dionysos, và từ ông mà người Hellas đã học lấy cách làm những điều họ đang làm. Tôi xin khẳng định rằng Melampus vốn là một người tài năng đã tự mình phát minh ra nghệ thuật chiêm tinh, và sau khi học hỏi từ Ai Cập, ông đã truyền dạy cho người Hellas rất nhiều điều, trong đó có những vấn đề liên quan đến thần Dionysos, chỉ thay đổi đi đôi chút ở một vài điểm nhỏ; bởi tôi sẽ không bao giờ nói rằng những nghi lễ được cử hành để tôn thờ vị thần ở Ai Cập lại tình cờ trùng khớp với những gì diễn ra ở xứ sở người Hellas, vì nếu thế thì những nghi lễ đó phải mang đặc trưng của sự sùng bái Hy Lạp chứ không phải mới được du nhập gần đây; và tôi chắc chắn cũng sẽ không nói rằng người Ai Cập đã sao chép từ người Hellas dù chỉ là tập tục này hay bất kỳ thói quen sinh hoạt nào khác: nhưng tôi cho rằng rất có thể Melampus đã học được những điều liên quan đến thần Dionysos từ Cadmos người Tyre và những người đi cùng ông từ Phenicia đến vùng đất mà chúng ta ngày nay gọi là Boeotia.

50. Hơn thế nữa, tên gọi của hầu như tất cả các vị thần đều được du nhập từ Ai Cập sang Hellas; bởi qua quá trình tìm hiểu, tôi thấy sự thật đúng là chúng xuất phát từ những người Dã man (Barbarians), và theo phán đoán của tôi, rất có thể chúng bắt nguồn từ Ai Cập, vì ngoại trừ trường hợp của Poseidon và các vị thần Dioscuroi (đúng như những gì tôi đã trình bày trước đó), cùng với Hera, Hestia, Themis, các nữ thần Charites và Nereïds, thì người Ai Cập đã sở hữu tên gọi của tất cả các vị thần còn lại trên xứ sở của họ từ muôn đời nay. Những gì tôi nói ở đây chính là điều mà bản thân người Ai Cập suy nghĩ; nhưng đối với các vị thần mà họ tuyên bố là không biết tên gọi, tôi cho rằng những vị đó đã nhận được tên gọi từ người Pelasgians, ngoại trừ Poseidon; nhưng về vị thần này thì người Hellas học được từ người Libya, bởi chẳng có dân tộc nào ngoài người Libya sở hữu tên gọi Poseidon ngay từ đầu và luôn dành sự tôn kính cho vị thần này từ xưa đến nay. Thêm vào đó, người Ai Cập cũng không hề có tập tục tôn thờ các anh hùng.

51. Những tập tục này, và cả những điều khác nữa mà tôi sẽ kể sau đây, đã được người Hellas tiếp nhận từ người Ai Cập; nhưng việc tạc tượng thần Hermes với chiếc phallos như họ vẫn làm thì họ không học từ người Ai Cập mà từ người Pelasgians, tập tục này được người Athens tiếp nhận đầu tiên trong số tất cả người Hellas rồi từ đó lan sang những nơi khác; bởi ngay tại thời điểm người Athens bắt đầu vươn lên hàng ngũ người Hellas, người Pelasgians đã trở thành những cư dân cùng sinh sống trên mảnh đất của họ, và chính vì nguyên nhân này mà họ bắt đầu được tính là người Hellas. Bất cứ ai từng được điểm đạo vào các bí lễ của hội Cabeiroi – những nghi thức mà người Samothrake thực hiện sau khi tiếp nhận từ người Pelasgians – kẻ đó sẽ thấu hiểu ý nghĩa lời nói của tôi; bởi chính những người Pelasgians từng cùng sinh sống với người Athens ấy thuở trước đã cư ngụ tại Samothrake, và từ họ mà người Samothrake đã tiếp nhận các bí lễ của mình. Thế nên người Athens là những người Hellas đầu tiên tạc tượng thần Hermes có gắn phallos, sau khi học được từ người Pelasgians; và người Pelasgians đã kể một câu chuyện linh thiêng về điều đó, được thể hiện trong các bí lễ ở Samothrake.

52. Thuở trước, người Pelasgians quen thực hiện mọi nghi thức tế lễ bằng cách cất lời cầu khấn các vị thần, đúng như tôi được biết qua những gì nghe được ở Dodona, nhưng họ không ban cho bất kỳ vị thần nào một danh hiệu hay tên gọi riêng, bởi họ vẫn chưa nghe thấy cái tên nào cả, mà họ gọi các vị thần là các đấng thần linh ({theous}) xuất phát từ ý niệm rằng các ngài đã sắp đặt ({thentes}) trật tự cho vạn vật và nắm giữ quyền phân định mọi thứ. Sau đó, khi thời gian trôi qua thật lâu, họ mới học được tên của các vị thần từ Ai Cập, ngoại trừ Dionysos, bởi cái tên này mãi tận sau này họ mới biết; và qua một thời gian, người Pelasgians đã thỉnh ý Sấm ngôn tại Dodona về các tên gọi, vì chốn tiên tri này được coi là cổ xưa nhất trong số các Sấm ngôn của người Hellas, và vào thời đó nó là Sấm ngôn duy nhất. Thế nên khi người Pelasgians hỏi Sấm ngôn Dodona xem họ có nên tiếp nhận những cái tên xuất phát từ xứ sở của người Dã man hay không, Sấm ngôn đã đáp lời khuyên họ hãy sử dụng những cái tên đó. Kể từ lúc đó, họ dâng tế bằng cách sử dụng tên gọi của các vị thần, và sau này người Hellas đã tiếp nhận chúng từ người Pelasgians;

53. Thế nhưng nguồn cội sinh ra của từng vị thần ra sao, hay liệu tất cả các ngài có mặt từ thuở khởi nguyên, và hình hài các ngài thế nào, thì họ mãi tận gần đây mới được biết đến: bởi theo tôi phỏng đoán thì Hesiod và Homer sống trước thời đại của tôi chừng bốn trăm năm chứ không hơn, và chính họ là những người đã dựng nên một phả hệ thần thánh (theogony) cho người Hellas, ban tước hiệu cho các vị thần, phân định danh dự và nghệ thuật cho họ, đồng thời khắc họa hình hài của họ; còn những nhà thơ được đồn đại là sống trước những người này thực chất theo quan điểm của tôi lại xuất hiện sau họ. Những điều đầu tiên kể trên là do các nữ tư tế ở Dodona thuật lại, còn những điều sau, cụ thể là những thứ liên quan đến Hesiod và Homer, là do chính tôi đúc kết.

54. Về các Sấm ngôn, cả cái ở xứ Hellas lẫn cái ở Libya, người Ai Cập kể câu chuyện sau đây: Các tư tế của thần Zeus xứ Thebes kể với tôi rằng có hai người phụ nữ phục vụ trong đền thờ đã bị người Phenicia bắt cóc khỏi Thebes, và họ nghe nói một người bị bán sang Libya còn người kia bị bán sang xứ Hellas; và những người phụ nữ ấy, họ nói, chính là những kẻ đầu tiên đặt nền móng cho các chốn tiên tri giữa các dân tộc vừa được nhắc tới. Và khi tôi gặng hỏi làm sao họ lại biết tường tận đến thế về câu chuyện này, họ đáp rằng các tư tế đã tiến hành một cuộc tìm kiếm rất lớn để truy lùng hai người phụ nữ đó nhưng không tài nào tìm thấy, và mãi sau này họ mới nghe được câu chuyện kể về những người phụ nữ ấy.

55. Đó là những gì tôi nghe được từ các tư tế ở Thebes, còn điều sau đây là do các nữ tư tế ở Dodona thuật lại: Họ kể rằng có hai con bồ câu đen bay từ Thebes đi, một con bay sang Libya và con kia bay đến vùng đất của họ. Con bồ câu thứ hai này đậu lên một cây sồi và cất tiếng nói bằng giọng người, bảo rằng cần phải thiết lập một chốn tiên tri của thần Zeus ngay tại nơi đó; và họ cho rằng đó là mệnh lệnh từ thần linh được truyền báo cho mình nên đã lập ra một đền thờ như thế; còn con bồ câu bay sang Libya, họ kể, đã ra lệnh cho người Libya lập ra Sấm ngôn Ammon; và điều này cũng thuộc về thần Zeus. Các nữ tư tế ở Dodona kể cho tôi nghe những điều đó, người lớn tuổi nhất tên là Promeneia, người thứ hai là Timarete, và người trẻ nhất là Nicandra; những người dân Dodona khác túc trực quanh đền thờ cũng xác nhận những câu chuyện hoàn toàn trùng khớp với lời các bà.

56. Dù vậy, bản thân tôi có một quan điểm riêng về vấn đề này như sau: Nếu quả thực người Phenicia đã bắt cóc những người phụ nữ dâng hiến cho đền và bán một người sang Libya, người kia sang xứ Hellas, thì tôi cho rằng tại vùng đất nay gọi là Hellas (thuở xưa gọi là Pelasgia), người phụ nữ ấy đã bị bán vào xứ sở của người Thesprotians; rồi ở đó, với tư cách là một nô lệ, bà đã dựng lên một ngôi thánh điện kính củng thần Zeus dưới một gốc sồi thực sự; quả thực, vì vốn là người hầu cận trong thánh điện của thần Zeus ở Thebes, nên khi đến vùng đất mới, bà mang theo nỗi hoài niệm về ngài là điều hết sức tự nhiên; và sau này, khi đã thông thạo ngôn ngữ của người Hellas, bà bèn lập ra một Sấm ngôn, đồng thời loan truyền (tôi phỏng đoán vậy) rằng người chị em của bà đã bị bán sang Libya bởi chính những kẻ buôn người Phenicia từng bán cả bản thân bà.

57. Hơn thế nữa, tôi cho rằng những người phụ nữ ấy bị người dân Dodona gọi là bồ câu chính vì lý do họ là người Dã man và trong mắt dân bản địa, họ cất tiếng nói lü lo như loài chim; nhưng rồi qua thời gian (họ kể), con bồ câu đã cất tiếng nói bằng tiếng người, tức là lúc người phụ nữ bắt đầu nói được thứ tiếng mà họ có thể hiểu; chứ chừng nào bà vẫn còn nói tiếng của người Dã man thì họ vẫn thấy bà cất tiếng kêu y như chim chóc: bởi giả sử đó thực sự là một con bồ câu, làm sao nó có thể cất tiếng nói của con người được chứ? Và việc họ bảo con bồ câu có màu đen chính là để ám chỉ người phụ nữ ấy là người Ai Cập. Cách thức đưa ra những lời sấm truyền ở Thebes (Ai Cập) và ở Dodona hóa ra lại vô cùng giống nhau, và cả phương pháp bói toán bằng nội tạng nạn nhân cũng được du nhập từ Ai Cập sang.

58. Hơn thế nữa, sự thật là người Ai Cập cũng chính là những người đầu tiên trên đời tổ chức các đại hội tế lễ, các cuộc rước xá và các nghi thức hành lễ đền đài, từ họ mà người Hellas đã học lấy những điều đó; và bằng chứng của tôi cho thấy việc này là các lễ hội kỷ niệm của người Ai Cập đã được cử hành từ thời cổ đại xa xưa, trong khi ở Hellas thì mới chỉ được du nhập gần đây thôi.

59. Người Ai Cập tổ chức các đại hội tế lễ không phải mỗi năm một lần mà là rất thường xuyên, đặc biệt và với lòng nhiệt thành tôn kính lớn nhất là tại thành phố Bubastis để tôn vinh nữ thần Artemis, kế đến là tại Busiris để tôn vinh Isis – bởi tại thành phố sau này có một ngôi đền rất vĩ đại kính củng Isis, tọa lạc ngay chính giữa vùng Delta của Ai Cập; theo ngôn ngữ của người Hellas thì Isis chính là nữ thần Demeter: thứ ba, họ tổ chức đại hội tại thành phố Saïs để tôn vinh Athene, thứ tư tại Heliopolis cho thần Mặt Trời (Helios), thứ năm tại thành phố Buto để tôn vinh Leto, và thứ sáu tại thành phố Papremis để tôn vinh Ares.

60. Khi họ kéo đến thành phố Bubastis, sự thể diễn ra như sau: Họ cùng nhau đi thuyền, nam nữ lẫn lộn, với số lượng đông đảo cả hai giới trên mỗi con thuyền; một số phụ nữ cầm trên tay những chiếc lúc lắc (rattles) và lắc liên tục, trong khi một số đàn ông thổi sáo suốt cả chuyến hải trình, số còn lại, cả nam lẫn phụ, cùng cất tiếng ca hát và vỗ tay phành phạch; và khi thuyền bè trôi qua đối diện với bất kỳ thành phố nào trên đường đi, họ liền cập bờ, một số phụ nữ vẫn tiếp tục làm những điều tôi vừa nói, số khác thì cất giọng lè nhè chế giễu phụ nữ ở thành phố đó, kẻ nhảy múa, người đứng lên vén tung váy áo. Họ làm điều này ở mọi thành phố dọc theo bờ sông; và khi đặt chân đến Bubastis, họ mở hội cử hành những nghi thức tế lễ lớn, lượng rượu vang nho tiêu thụ trong dịp lễ hội ấy còn nhiều hơn tổng lượng rượu uống trong suốt thời gian còn lại của năm. Tương truyền (theo lời dân bản địa) có đến bảy mươi vạn người, cả nam lẫn nữ chưa kể trẻ em, đã tề tựu về đây mỗi năm một lần.

61. Mọi chuyện ở đó diễn ra như thế; còn cách thức họ cử hành lễ hội tôn vinh nữ thần Isis tại thành phố Busiris đã được tôi thuật lại trước đây: như tôi từng nói, sau lễ tế, tất cả bọn họ, cả nam lẫn nữ, hàng vạn con người cùng đấm ngực khóc than; thế nhưng họ đấm ngực để khóc thương ai thì luật lệ tôn giáo không cho phép tôi tiết lộ; và toàn bộ người Carians sinh sống tại Ai Cập còn làm việc này cuồng nhiệt hơn cả người Ai Cập, đến mức họ dùng dao tự rạch cả trán mình; qua đó phô bày rõ rành rành rằng họ là những kẻ tha hương chứ không phải người Ai Cập.

62. Vào những dịp họ tề tựu về thành phố Saïs để dâng tế, vào một đêm nhất định, tất cả bọn họ cùng thắp sáng vô số ngọn đèn ngoài trời ngay xung quanh các ngôi nhà; những chiếc đèn ấy thực chất là những chiếc đĩa nhỏ đầy dầu trộn muối, với sợi bấc nổi lềnh bềnh trên mặt nước, cứ thế cháy sáng suốt cả đêm; và lễ hội này mang tên Lychnocaia (lễ thắp đèn). Hơn thế nữa, những người Ai Cập không có dịp về dự đại hội này cũng tuân thủ đêm lễ hội bằng cách tự mình thắp sáng đèn khắp nơi, thế nên đèn không chỉ được thắp rực rỡ ở một mình Saïs mà trên toàn cõi Ai Cập: và về lý do tại sao ánh sáng và sự tôn vinh lại được dành riêng cho đêm này, người ta có kể một câu chuyện linh thiêng.

63. Đến Heliopolis và Buto, họ chỉ đến vào mỗi năm một lần để dâng tế mà thôi; nhưng tại Papremis, họ dâng tế và sùng bái hệt như những nơi khác, ngoài ra, khi mặt trời bắt đầu lặn, trong lúc một số ít tư tế đang bận rộn với bức tượng thần, phần lớn các tư tế còn lại đứng tụ tập ở lối vào đền thờ tay lăm lăm những cây gậy gỗ, đối diện với họ là một nhóm người khác với số lượng hơn một nghìn người cũng đang thực hiện một lời thề nguyện, tất cả đều cầm gậy gỗ trên tay đứng thành một khối kiên cố; còn bức tượng thần, đặt trong một ngôi đền nhỏ bằng gỗ dát vàng, đã được khiêng đến một tòa nhà linh thiêng khác vào ngày hôm trước. Nhóm ít tư tế ở lại canh giữ bức tượng liền kéo một chiếc xe bốn bánh chở ngôi đền và bức tượng ẩn bên trong, trong khi những vị tư tế khác đứng ở cửa ra vào tìm cách ngăn không cho xe tiến vào, và nhóm người đang thực hiện lời thề nguyện liền xông vào giúp đỡ vị thần, quất gậy tấn công đám tư tế kia, và phe tư tế cũng chống trả quyết liệt. Thế rồi một trận ẩu đả gậy gộc dữ dội diễn ra, họ nện vỡ đầu nhau, và tôi cho rằng có không ít người đã thiệt mạng vì những vết thương đó; thế nhưng người Ai Cập lại quả quyết với tôi rằng chẳng có ai chết cả. Người dân bản địa kể rằng họ thiết lập đại hội tế lễ này vì nguyên nhân sau: Mẹ của thần Ares, theo lời họ, từng cư ngụ trong ngôi đền này, và thần Ares, được nuôi dưỡng khôn lớn ở một nơi khác, khi trưởng thành đã quay trở về đây với mong muốn được thăm mẹ mình; nhưng các người hầu trong đền thờ của mẹ ngài, vì chưa từng gặp mặt ngài trước đó, đã không cho ngài bước qua cửa mà tìm cách ngăn cản; thế là ngài bèn lôi kéo binh mã từ một thành phố khác đến để trừng phạt đám người hầu trong đền và nghênh ngang bước vào thăm mẹ. Kể từ đó, họ bảo, màn thượng cẳng chân hạ cẳng tay này đã trở thành tập tục vinh danh thần Ares mỗi khi lễ hội của ngài diễn ra.

64. Người Ai Cập là những người đầu tiên quy định trong luật giáo điều rằng tuyệt đối không được quan hệ tình dục với phụ nữ bên trong đền thờ, cũng không được bước chân vào đền thờ ngay sau khi gần gũi phụ nữ mà chưa qua tắm rửa: bởi hầu như tất cả mọi người, ngoại trừ người Ai Cập và người Hellas, đều mây mưa với phụ nữ ngay trong đền thờ và bước vào thánh điện ngay sau cuộc mây mưa mà chẳng cần tắm rửa gì, vì họ cho rằng chẳng có chút khác biệt nào giữa con người và loài vật trong chuyện này; họ viện dẫn rằng họ tận mắt chứng kiến muôn thú và đủ loại chim chóc giao phối ngay bên trong các ngôi đền và khu vườn linh thiêng của các vị thần; nếu điều đó làm các vị thần chướng tai gai mắt thì muôn thú đã chẳng dám làm thế.

65. Đó là cách những dân tộc ấy biện minh cho hành động của mình, một điều mà tôi hoàn toàn không chấp nhận; ngược lại, người Ai Cập cực kỳ cẩn trọng trong các nghi thức của họ, không chỉ ở những vấn đề liên quan đến nghi lễ thần thánh mà còn ở cả các khía cạnh sau: Ai Cập, dẫu giáp ranh với Libya, lại không có quá nhiều động vật hoang dã, nhưng bất cứ loài nào họ đang có thì tất tần tật đều được coi là linh thiêng, có loài sống chung với con người, có loài thì không. Thế nhưng nếu tôi giải thích lý do tại sao những con vật linh thiêng ấy lại được hiến dâng như vậy, tôi sẽ sa đà vào bàn luận về các vấn đề thuộc về thần linh, điều mà tôi vô cùng khao khát tránh né; và những gì tôi vừa thoáng nhắc đến ở trên chẳng qua là vì tôi bị buộc phải làm thế bởi tính tất yếu của câu chuyện. Về những loài động vật này, có một tập tục thế này: Người ta cắt cử những người Ai Cập, cả nam lẫn phụ, đảm nhận việc cung cấp thức ăn riêng biệt cho từng loài thú, và chức vụ này được truyền từ đời cha sang con; cư dân ở các thành phố thường thực hiện những lời khấn nguyện với các loài vật như sau: khi họ cầu xin vị thần mà loài vật ấy đại diện, họ sẽ cạo trọc đầu con cái mình – cạo toàn bộ, một nửa hoặc một phần ba cái đầu – rồi đem cân chỗ tóc ấy lên lấy bạc nặng tương đương, và số bạc cân được sẽ được trao cho người phụ trách cung cấp thức ăn cho loài thú, người này sẽ cắt nhỏ cá có giá trị tiền tương đương đem cho lũ thú ăn. Thức ăn duy trì sự sống cho chúng được quy định như thế đấy; và bất cứ ai cố tình giết hại một trong những con vật này sẽ phải chịu án tử hình, còn nếu lỡ tay sát hại vô ý thì chịu hình phạt do các tư tế phán quyết; thế nhưng kẻ nào dám giết một con cò ibis hoặc chim ưng, dù là vô tình hay cố ý, thì chắc chắn phải chết.

66. Những loài động vật sống chung với con người có số lượng vô cùng lớn, và sẽ còn sinh sôi nhiều hơn nữa nếu không có những tai nạn xảy ra với loài mèo. Số là, khi mèo cái sinh con xong, chúng không còn thói quen tìm đến con đực nữa, và lũ mèo đực dẫu tìm cách giao phối cũng chẳng tài nào làm được. Để giải quyết việc này, chúng bèn nghĩ ra mưu mẹo sau: Chúng xông vào cướp giật hoặc lén lút bắt cóc những con mèo con khỏi mèo mẹ rồi giết chết chúng (nhưng sau khi giết thì không ăn thịt); và thế là mèo mẹ, bị tước đoạt mất con thơ và khao khát có thêm bầy con mới, đành phải ngoan ngoãn tìm đến mèo đực, bởi loài này vốn rất quấn con. Hơn thế nữa, mỗi khi có hỏa hoạn xảy ra, loài mèo có biểu hiện giống như bị thần linh ám ảnh vậy: trong lúc người Ai Cập đứng tản ra tứ phía chỉ để canh chừng lũ mèo mà chẳng màng đến chuyện dập lửa, thì lũ mèo lại len lỏi qua đám đông hoặc nhảy chồm qua đầu người lao thẳng vào ngọn lửa; và khi tai họa ấy xảy ra, nỗi đau đớn tang tóc bao trùm lấy người Ai Cập. Tại bất kỳ ngôi nhà nào có mèo chết vì tuổi già bệnh tật tự nhiên, tất cả những người sống trong nhà đó đều chỉ cạo mỗi hàng lông mày của mình, còn trong ngôi nhà có chó chết thì họ cạo sạch lông toàn thân và cả đầu.

67. Mèo chết được đưa đến các tòa nhà linh thiêng ở thành phố Bubastis, nơi chúng được ướp xác rồi đem chôn cất; còn chó thì được người dân ở mỗi thành phố chôn cất trong các lăng mộ linh thiêng; loài chồn ichneumon cũng được chôn cất theo đúng cách y hệt như loài chó. Trong khi đó, chuột chù và chim ưng được họ đưa về thành phố Buto, còn chim ibis thì đem tới Hermopolis; loài gấu (vốn không phổ biến mấy) và loài sói có kích thước không lớn hơn cáo là bao, thì được chôn cất ngay tại nơi người ta tìm thấy xác chúng nằm.

68. Bản chất của cá sấu như sau: Trong bốn tháng mùa đông khắc nghiệt nhất, loài vật này chẳng ăn uống gì hết; nó có bốn chân và là sinh vật thuộc về cả đất lẫn nước, bởi nó đẻ và ấp trứng trên cạn, phần lớn thời gian trong ngày nằm phơi mình trên đất khô, nhưng toàn bộ ban đêm thì ngâm mình dưới sông, vì nước sông thực ra ấm hơn bầu trời quang đãng và sương giá ban đêm. Trong số tất cả các sinh vật phàm trần mà chúng ta biết, loài này phát triển đạt kích thước khổng lồ nhất từ điểm khởi đầu nhỏ bé nhất; bởi trứng nó đẻ ra không lớn hơn trứng ngỗng là bao và con non mới nở cũng có tỷ lệ tương ứng với quả trứng, nhưng khi lớn lên nó có thể dài tới mười bảy thước và đôi khi còn lớn hơn thế nữa. Nó có đôi mắt giống hệt mắt heo và những chiếc răng nanh to lớn tương xứng với vóc dáng cơ thể; nhưng không giống như mọi loài thú khác, nó không có lưỡi, cũng không cử động hàm dưới, mà hạ hàm trên xuống cạp vào hàm dưới, điểm này cũng khác biệt hoàn toàn với muôn loài. Nó có những chiếc móng vuốt sắc khỏe và lớp da vảy trên lưng không tài nào đâm thủng được; nó bị mù dưới nước nhưng trên không trung thì thị lực lại cực kỳ tinh anh. Vì sinh sống dưới nước nên trong miệng nó lúc nào cũng đầy ắp đỉa; và trong khi mọi loài chim muông thú vật đều chạy trốn nó, thì chim choắt (trochilus) lại là sinh vật chung sống hòa bình với nó, bởi nó nhận được ơn huệ từ loài chim này: số là khi cá sấu từ dưới nước bò lên cạn rồi há hốc miệng ra (nó thường làm thế hướng về phía gió Tây), con chim choắt liền bay thẳng vào miệng nó nuốt sạch lũ đỉa, còn con cá sấu được giúp đỡ thì vô cùng khoan khoái chẳng màng làm hại gì chim choắt.

69. Đối với một số người Ai Cập, cá sấu là loài vật linh thiêng, nhưng với những kẻ khác thì không, ngược lại họ coi chúng là kẻ thù không đội trời chung; tuy nhiên, cư dân sống quanh vùng Thebes và hồ Moiris lại tôn sùng chúng là linh thiêng nhất, mỗi cộng đồng như thế nuôi dưỡng một con cá sấu được tuyển chọn từ đàn, huấn luyện cho nó thuần tính, đeo khuyên bằng đá đúc và vàng vào tai nó cùng vòng chân ở hai chân trước, ban cho nó thức ăn thức uống đầy đủ cùng các lễ vật dâng tế, đối xử với nó chu đáo nhất có thể khi nó còn sống, và khi nó chết thì ướp xác chôn cất trong các lăng mộ linh thiêng; thế nhưng cư dân sinh sống quanh thành phố Elephantine thậm chí còn ăn thịt chúng vì không coi chúng là linh thiêng. Chúng không được gọi là cá sấu mà là champsai, còn cái tên crocodile là do người Ionia đặt cho, khi so sánh hình dáng của chúng với loài thằn lằn (crocodile) xuất hiện trên những bức tường đá ở xứ sở của họ.

70. Có rất nhiều cách bắt cá sấu được áp dụng: tôi sẽ mô tả cách mà tôi cho là đáng kể nhất. Người ta dùng lưng một con heo con làm mồi móc vào lưỡi câu rồi thả xuống giữa dòng sông, còn người câu đứng trên bờ sông cầm một con heo con sống đang kêu éc éc và đánh đập nó; con cá sấu nghe tiếng kêu liền lao về phía phát ra âm thanh, và khi đớp được tấm lưng con heo trên móc thì nuốt trọng; lúc bấy giờ người ta kéo dây, và khi nó bị kéo lên bờ, việc đầu tiên là người thợ săn lập tức trét bùn bịt kín đôi mắt nó lại, làm xong việc đó thì việc chế ngự nó trở nên vô cùng dễ dàng, bằng không sẽ gặp phải rắc rối lớn.

71. Hà mã (river-horse) là loài linh thiêng ở vùng Papremis, nhưng với những người Ai Cập khác thì không; và đây là ngoại hình của nó: Nó có bốn chân, móng chẻ đôi giống bò, mõm bẹt, có bờm như ngựa, nanh vuốt nhô ra như lợn rừng, đuôi và tiếng kêu y hệt ngựa, vóc dáng to lớn như những con bò đực bự nhất; và bộ da của nó dày đến mức khi được phơi khô, người ta dùng làm cán giáo lao.

72. Hơn thế nữa, dưới sông còn có loài rái cá được họ coi là linh thiêng; trong số các loài cá, họ tôn sùng loài gọi là lepidotos và cả cá chình; họ bảo rằng những loài này linh thiêng đối với sông Nile; còn về loài chim thì có ngỗng cáo (fox-goose).

73. Lại có một loài chim linh thiêng khác tên là phượng hoàng (phoenix), bản thân tôi chưa từng tận mắt chứng kiến trừ trong tranh vẽ, bởi thực tế nó rất hiếm khi xuất hiện, theo người dân Heliopolis thì cứ năm trăm năm nó mới bay về một lần; và họ bảo rằng nó đều đặn xuất hiện khi cha nó qua đời. Nếu nó y hệt như trong tranh, thì kích thước và hình hài của nó như sau: Một số lông trên mình nó có màu vàng óng, số khác có màu đỏ, còn về vóc dáng và kích thước thì giống hệt chim ưng. Loài chim này, theo lời họ kể (nhưng tôi thì không tài nào tin nổi), có tập tính thế này: Xuất phát từ xứ Arabia, nó mang theo xác cha mình được trét đầy nhựa myrrh để bay đến đền thờ thần Mặt Trời (Helios) và chôn cất cha tại đó; cách thức nó mang xác đi như sau: Ban đầu nó vo một quả trứng bằng nhựa myrrh to hết mức nó có thể mang nổi, rồi thử nghiệm sức vác, khi đã thử chán chê, nó khoét rỗng quả trứng ấy rồi đặt xác cha vào bên trong, dùng thêm nhựa myrrh trám kín chỗ khoét mà nó vừa tạo ra để nhét cha vào; và khi xác cha đã nằm gọn bên trong, quả trứng nặng y nguyên như lúc trước; sau khi trám trét cẩn thận, nó mang toàn bộ sang Ai Cập đến đền thờ thần Mặt Trời. Đó là những gì người ta kể về loài chim này.

74. Xung quanh vùng Thebes còn có những loài rắn linh thiêng hoàn toàn vô hại với con người, kích thước nhỏ nhắn và mọc hai chiếc sừng trên đỉnh đầu; khi chúng chết đi, người ta chôn cất chúng trong đền thờ thần Zeus, vì người ta bảo chúng linh thiêng đối với vị thần này.

75. Lại có một vùng đất nằm ở Arabia, tọa lạc gần như đối diện với thành phố Buto, nơi tôi từng đến để tìm hiểu về loài rắn có cánh; khi đặt chân tới đó, tôi nhìn thấy vô số xương rắn và các đốt xương sống chất đống nhiều đến mức không tài nào thống kê nổi con số, nào là những đống xương lớn, đống nhỏ hơn và đống nhỏ xíu, nằm la liệt vô số kể. Vùng đất rải rác xương sống ấy có địa hình như một lối đi từ khe núi hẹp bước ra một đồng bằng rộng lớn, đồng bằng này tiếp giáp với vùng đồng bằng Ai Cập; và truyền thuyết kể rằng vào đầu mùa xuân, những con rắn có cánh từ Arabia bay về hướng Ai Cập, và loài chim tên là ibis liền bay ra chặn chúng ngay lối vào xứ sở này, không cho bọn rắn bay qua mà tiêu diệt sạch. Chính vì chiến công này mà (theo người Arabia) chim ibis được người Ai Cập vô cùng tôn kính, và người Ai Cập cũng đồng thuận rằng đó chính là lý do họ tôn sùng loài chim này.

76. Ngoại hình của chim ibis như sau: Nó có một màu đen tuyền từ đầu đến chân, đôi chân giống chân sưa và chiếc mỏ cong vút, kích thước to ngang một con gà gô; đó là hình dáng của loài ibis đen chuyên chiến đấu với loài rắn; còn loài hay la cà quanh chân người (vì có hai loài ibis khác nhau) thì có phần đầu và toàn bộ cổ trọc lốc, lông có màu trắng trừ phần đầu, cổ, chót cánh và phao câu (những bộ phận này mang màu đen tuyền), trong khi đôi chân và hình dáng đầu thì giống hệt loài kia. Còn về loài rắn, hình dạng nó y hệt rắn nước; và nó có đôi cánh không có lông vũ mà giống cánh dơi nhất. Xin được khép lại bấy nhiêu lời bàn về các loài động vật linh thiêng.

77. Về phần bản thân người Ai Cập, những ai sinh sống ở vùng đất cày cấy hoa màu thường luyện tập trí nhớ nhiều hơn bất kỳ dân tộc nào khác và là những người uyên bác nhất về lịch sử trong số tất cả những ai tôi từng tiếp xúc; lối sống của họ như sau: Cứ ba ngày liên tiếp trong mỗi tháng, họ tiến hành thanh tẩy cơ thể, săn lùng sức khỏe bằng thuốc nôn và thuốc xổ, bởi họ cho rằng mọi căn bệnh tồn tại trên đời đều sinh ra từ thực phẩm con người dung nạp; người Ai Cập xét về mọi nguyên nhân khác cũng là những người khỏe mạnh nhất chỉ sau người Libya (theo tôi là nhờ khí hậu các mùa, vì khí hậu ở đây không thay đổi, trong khi sự biến đổi của vạn vật nói chung, đặc biệt là các mùa, mới là nguyên nhân dễ sinh bệnh nhất cho con người); còn chế độ ăn uống của họ như sau: Họ ăn bánh mì làm từ bột ngô, gọi là kyllestis, và uống thứ rượu lên men từ đại mạch, vì xứ họ không có nho. Về phần cá, một số được phơi khô dưới nắng rồi ăn sống không cần nấu nướng, số khác được ướp muối mặn. Về loài chim, họ ăn chim cút, vịt và các loài chim nhỏ sau khi đã ướp muối; và mọi thứ khác thuộc lớp chim muông hay cá, ngoại trừ những loài được họ kiêng cữ coi là linh thiêng, đều được ăn ở dạng nướng hoặc luộc.

78. Trong những buổi tiệc tùng của giới nhà giàu ở xứ họ, khi tiệc tàn, một người sẽ bồng đi một mô hình bằng gỗ mô phỏng xác chết trong quan tài, được tạc đẽo và sơn vẽ giống hệt người thật, dài chừng một hoặc hai thước; anh ta đưa cho từng người đang uống rượu xem và cất lời: "Khi ngươi ngắm nhìn vật này, hãy uống và vui lên, bởi ngươi cũng sẽ trở thành như thế này sau khi chết." Đó là những gì họ làm trong các cuộc chè chén.

79. Những tập tục họ tuân thủ đều bắt nguồn từ tổ tiên truyền lại và họ không kết nạp thêm những thói quen mới nào khác; thế nhưng bên cạnh những tập tục đáng chú ý khác, họ có một bài ca duy nhất, đó là bài ca về Linos – nhân vật cũng được cất vang lời ca ở Phenicia, Syp và nhiều nơi khác, dẫu mang tên gọi khác nhau tùy theo từng dân tộc. Bài ca này khớp hoàn toàn với khúc ca mà người Hellas cất lên khi gọi tên Linos, khiến cho bên cạnh rất nhiều điều làm tôi kinh ngạc ở Ai Cập, tôi đặc biệt kinh ngạc trước việc không biết họ đã chắp vá được bài ca Linos từ đâu. Thế nhưng hiển nhiên là họ đã hát bài ca này từ thời hồng hoang vô định, và trong tiếng Ai Cập, Linos được gọi là Maneros. Người Ai Cập kể với tôi rằng ông là đứa con trai duy nhất của vị vua đầu tiên cai trị Ai Cập, qua đời khi tuổi đời còn trẻ và được người Ai Cập tôn vinh bằng những khúc ca than khóc này, và đây chính là bài ca đầu tiên cũng là duy nhất của họ.

80. Ở một khía cạnh khác, người Ai Cập có điểm tương đồng với một số người Hellas, cụ thể là người Lacedaemon, chứ không giống phần còn lại, đó là những thanh niên khi chạm mặt các bậc trưởng bối thường né sang một bên nhường đường, và khi người lớn tuổi tiến lại gần thì họ đứng phắt dậy khỏi ghế. Thế nhưng trong điểm này thì họ lại chẳng hề đồng điệu với bất kỳ người Hellas nào – thay vì chào hỏi nhau khi đi trên đường, họ lại cúi mình cung kính, hạ thấp bàn tay chạm tới đầu gối.

81. Họ mặc áo tu-ni-c bằng vải lanh có tua rua sát chân, gọi là calasiris; khoác bên ngoài là những chiếc áo choàng bằng len trắng; tuy nhiên áo len tuyệt đối không được mang vào đền thờ, cũng không được dùng để chôn cất người chết, vì điều đó bị cấm ngặt bởi luật giáo điều. Về điểm này, họ đồng điệu với các giáo lý gọi là Orphic và Bacchic (thực chất là của Ai Cập), và cả với những người theo trường phái Pythagoras, bởi bất cứ ai tham gia các bí lễ này cũng bị cấm không được tẩm liệm trong trang phục len; và về điều này có một câu chuyện linh thiêng được truyền lại.

82. Bên cạnh đó, người Ai Cập cũng khám phá ra mỗi tháng và mỗi ngày thuộc về vị thần nào, vận mệnh của một người sinh ra vào một ngày cụ thể ra sao, anh ta sẽ chết thế nào và sẽ là kiểu người gì; và những phát minh này đã được các nhà thơ Hellas tiếp thu. Điềm báo cũng được họ phát hiện ra nhiều hơn bất kỳ dân tộc nào khác; bởi khi một điềm báo xảy ra, họ quan sát và ghi chép lại kết quả diễn biến của nó, và nếu sau này có sự việc tương tự xảy ra, họ tin rằng hệ quả của nó cũng sẽ y như thế.

83. Nghệ thuật bói toán của họ được quy định thế này: Nó không thuộc về bất kỳ cá nhân phàm trần nào mà được phân cho một số vị thần nhất định, bởi trên xứ sở của họ có các Sấm ngôn của thần Heracles, Apollo, Athene, Artemis, Ares và Zeus, cùng với Sấm ngôn được họ tôn kính nhất trong tất cả chính là Sấm ngôn của nữ thần Leto tọa lạc tại thành phố Buto. Tuy nhiên, phương thức bói toán không được thiết lập theo cùng một kiểu giống nhau ở mọi nơi, mà khác biệt tùy từng vùng.

84. Nghệ thuật y học của họ được phân định rạch ròi thế này: Mỗi y bác sĩ chỉ chữa một bệnh duy nhất chứ không kiêm nhiệm nhiều bệnh; khắp đất nước đâu đâu cũng đầy rẫy bác sĩ, kẻ chuyên trị các bệnh về mắt, người chuyên về đầu, người về răng, người trị bệnh dạ dày, và những người khác chuyên trị các chứng bệnh mờ ám phức tạp hơn.

85. Phong tục để tang và chôn cất của họ như sau: Bất cứ khi nào một gia đình có người qua đời được kính trọng, toàn bộ phụ nữ trong nhà đó lập tức bôi bùn lên đầu hoặc thậm chí cả mặt mình. Sau đó, để thi thể lại trong nhà, họ tự mình đi lang thang khắp phố phường và đấm ngực khóc than, với xiêm y thắt đai gọn gàng và để lộ bầu ngực, đi cùng họ là toàn bộ những người phụ nữ có họ hàng với người chết, còn phía đối diện là đàn ông cũng đấm ngực, y phục cũng được thắt đai gọn gàng; khi đã làm xong những nghi thức đó, họ đưa thi thể đi ướp xác.

86. Có những con người chuyên hành nghề này như một công việc chính được truyền từ đời này sang đời khác. Bất cứ khi nào có xác chết được đưa đến, họ liền chìa cho người nhà xem những mô hình bằng gỗ mô phỏng xác chết được sơn vẽ giống y như thật, và nói rằng phương pháp ướp xác hoàn hảo nhất thuộc về một vị thần mà tên gọi của ngài tôi coi là tội ác nếu thốt ra khi bàn về một vấn đề như thế này; phương pháp thứ hai họ chìa ra kém hoàn hảo hơn và ít tốn kém hơn; còn phương pháp thứ ba là rẻ tiền nhất. Sau khi trình bày xong, họ hỏi người nhà muốn chọn phương pháp nào để chuẩn bị cho thi thể của người thân. Khi đã thỏa thuận xong xuôi về giá cả, gia chủ ra về, để lại những người thợ ướp xác ở lại tòa nhà để tiến hành công việc theo phương pháp cao cấp nhất như sau: Đầu tiên, dùng một chiếc móc sắt uốn cong, họ móc bộ não ra qua đường lỗ mũi, một phần lấy ra bằng cách đó, phần khác bằng cách đổ thuốc hòa tan vào; tiếp theo, dùng một hòn đá sắc bén xứ Ethiopia, họ rạch một đường dọc mạng sườn để lấy toàn bộ nội tạng trong bụng ra, sau đó làm sạch khoع bụng, súc rửa bằng rượu chà là rồi tiếp tục cạo rửa bằng hỗn hợp gia vị giã nhuyễn; đoạn họ nhồi đầy bụng bằng mmyrrh nguyên chất giã mịn cùng quế và các loại gia vị khác trừ nhũ hương, rồi khâu lại. Làm xong xuôi, họ ngâm xác trong dung dịch natron suốt bảy ngày trọn bọc kín lại, tuyệt đối không được ngâm lâu hơn thời hạn đó; và khi đã đủ bảy ngày, họ rửa sạch xác chết rồi quấn toàn bộ cơ thể bằng những dải băng vải lanh mịn, phết ở mặt dưới bằng một thứ keo nhựa mà người Ai Cập thường dùng thay cho hồ dán. Sau đó, người thân đến nhận lại xác, làm một chiếc mẫu hình người bằng gỗ đặt bọc thi thể bên trong, rồi cất giữ trong một căn phòng mộ, dựng đứng sát vào vách tường.

87. Đó là cách họ xử lý những thi thể được tẩm liệm theo phương thức tốn kém nhất; còn với những ai chọn phương pháp trung bình để tránh tốn kém nhiều, họ chuẩn bị thi thể thế này: Dùng ống bơm hút đầy dầu chiết xuất từ gỗ tuyết tùng, họ bơm thẳng vào bụng xác chết mà không cần rạch bụng hay lôi ruột ra, bơm qua đường hậu môn, rồi chặn lại không cho dầu trào ngược ra ngoài, họ ngâm xác trong khoảng thời gian quy định; đến ngày cuối cùng, họ tháo phần dầu tuyết tùng đã bơm vào trước đó ra khỏi bụng; thứ dầu này có sức mạnh hủy diệt kéo theo toàn bộ ruột gan nội tạng bên trong đã tan rã chảy lỏng ra ngoài; dung dịch natron thì làm rã phần thịt, để lại trơ trọi bộ xương và lớp da của xác chết. Khi đã hoàn tất, họ trao trả ngay thi thể trong tình trạng đó mà không can thiệp thêm gì nữa.

88. Phương pháp ướp xác thứ ba, dành cho những gia đình ít tiền hơn, được thực hiện như sau: Họ dùng thuốc xổ làm sạch khoang bụng rồi ngâm xác trong bảy ngày, sau đó trao trả ngay cho người nhà mang đi.

89. Vợ của các bậc quyền quý hoặc những phụ nữ có sắc đẹp tuyệt trần hay có địa vị cao khi qua đời sẽ không được giao ngay cho thợ ướp xác, mà phải đợi đến ngày thứ ba hoặc thứ tư sau khi chết (chứ không sớm hơn) mới đem giao. Họ làm thế là để ngăn chặn thợ ướp xác nổi lòng tà dâm với thây ma, bởi người ta kể từng có kẻ bị bắt quả tang đang làm chuyện đó với thi thể một người phụ nữ vừa mới qua đời, và đồng nghiệp của y đã tố giác.

90. Bất cứ ai, dù là người Ai Cập hay khách tha hương, bị cá sấu quật chết hoặc lôi xuống sông bỏ mạng, cư dân ở bất kỳ thành phố nào có xác nạn nhân trôi dạt vào bờ đều có trách nhiệm ướp xác, khâm liệm thật tươm tất và chôn cất trong lăng mộ linh thiêng, không một người thân hay bạn bè nào được phép chạm vào, ngoại trừ các tư tế của sông Nile tự tay nâng niu thi thể và chôn cất như chôn một bậc siêu phàm.

91. Họ nhất quyết không tuân theo các tập tục của người Hellas, và nói chung là chẳng theo thói quen của bất kỳ dân tộc nào khác trên đời. Quy tắc này được phần lớn người Ai Cập tuân thủ; thế nhưng có một thành phố lớn tên là Chemmis nằm trong vùng Thebes gần Neapolis, tại đây có một ngôi đền thờ thần Perseus con trai của Danae hình vuông, xung quanh mọc đầy cây chà là; cổng đền xây bằng đá kích thước cực lớn, ngay lối vào có hai bức tượng đá khổng lồ. Bên trong khuôn viên này là một ngôi nhà đền chứa bức tượng thần Perseus. Dân xứ Chemmis kể rằng Perseus thường xuyên hiển linh trên xứ sở của họ và hay xuất hiện trong đền thờ, đôi khi người ta tìm thấy một chiếc giày sandal từng được ngài mang, dài tới hai thước, và bất cứ khi nào vật này xuất hiện là toàn cõi Ai Cập lại hân hoan thịnh vượng. Họ kể vậy, và họ tổ chức các hoạt động tôn vinh Perseus theo phong cách Hellas thế này: Họ tổ chức một đại hội thể thao bao gồm đầy đủ các môn thi đấu, phần thưởng trao cho người thắng cuộc là gia súc, áo choàng và da thú; và khi tôi gặng hỏi tại sao chỉ riêng họ mới được Perseus hiển linh ghé thăm, và vì cớ gì họ lại tách biệt khỏi tất cả người Ai Cập khác để tổ chức đại hội thể thao, họ đáp rằng Perseus vốn sinh ra từ thành phố của họ, bởi Danaos và Lynkeus là người gốc Chemmis từng dong thuyền sang xứ Hellas, và dòng dõi của họ truy nguyên ngược về tận Perseus; họ kể rằng ngài từng đến Ai Cập vì lý do mà người Hellas vẫn hay đồn đại, đó là đi lấy cái đầu của quái nữ Medusa từ Libya, rồi ngài cũng ghé qua xứ họ để nhận diện tất cả họ hàng thân thích, họ nói rằng ngài đã biết rõ danh tính thành phố Chemmis trước cả khi đặt chân đến Ai Cập, vì được mẹ truyền lại, và chính ngài đã ra lệnh cho họ phải tổ chức đại hội thể thao để vinh danh mình.

92. Đó là toàn bộ các tập tục được thực hành bởi những người Ai Cập sinh sống ở vùng ngoài đầm lầy; còn cư dân định cư trong vùng đầm lầy thì phần lớn có chung tập tục với những người Ai Cập khác, như việc chỉ lấy một vợ giống như người Hellas; thế nhưng để tiết kiệm lương thực, họ đã phát minh thêm những thứ sau: Khi dòng sông dâng đầy và các vùng đồng bằng ngập nước, có rất nhiều loài hoa súng mọc lên dưới nước, mà người Ai Cập gọi là lotos; họ dùng liềm cắt chúng đem phơi nắng, rồi giã phần lõi ở giữa bông súng vốn trông giống như đài hoa anh túc, để làm thành những ổ bánh mì nướng lửa. Phần rễ của loài lotos này cũng ăn được, có vị hơi ngọt, hình dáng tròn và to bằng quả táo. Lại có những loài hoa súng khác có bông giống hoa hồng cũng mọc dưới nước, từ đó sinh ra quả nằm trong một đài riêng mọc bên cạnh thân cây, trông rất giống tổ ong bắp cày; trong đài này chứa vô số hạt ăn được to bằng hạt ô liu, được ăn tươi hoặc phơi khô. Bên cạnh đó, họ còn nhổ cả cây papyrus mọc đầy ở đầm lầy mỗi năm, cắt phần ngọn phía trên để làm việc khác, còn phần gốc dài khoảng một thước thì dùng để ăn hoặc đem bán; những ai muốn thưởng thức papyrus ở mức ngon nhất sẽ nướng nó trong lò nung đỏ lửa rồi ăn. Một số người trong số họ chỉ sống bằng cá, được phơi khô dưới nắng sau khi đã móc ruột, rồi dùng làm thức ăn.

93. Loài cá bơi theo bầy đàn không xuất hiện nhiều ở các con sông mà sinh sôi nảy nở trong các hồ nước, với tập tính sinh sản thế này: Khi mùa giao phối đến, chúng bơi thành bầy hướng ra biển; con đực dẫn đầu, vừa bơi vừa tung ra dòng tinh dịch, trong khi con cái bơi theo sau nuốt lấy dòng tinh ấy để thụ thai; và khi đã mang đầy trứng trong bụng ngoài biển khơi, chúng lại bơi ngược trở về, mỗi bầy tìm về vùng nước quen thuộc của mình. Tuy nhiên, lúc bấy giờ không phải con đực dẫn đầu như trước nữa, mà quyền dẫn đường thuộc về con cái; chúng bơi thành bầy dẫn đường và làm y hệt như con đực đã làm, nghĩa là rải trứng ra từng chút một, còn con đực bơi theo sau nuốt lấy những hạt trứng đó. Những hạt trứng không bị nuốt trôi sẽ sống sót và phát triển thành những chú cá con thế hệ sau. Người ta nhận thấy rằng những con cá bị bắt lúc đang bơi ra biển thường bị xước ở phần đầu bên trái, còn những con bị bắt lúc đang bơi ngược trở lại thì lại xước ở bên phải. Hiện tượng này xảy ra là vì khi bơi xuôi ra biển, chúng bám sát vùng nước nông bên bờ trái của dòng sông, và khi bơi ngược về cũng bám sát đúng bên bờ đó, áp sát và cọ quẹt vào bờ nhiều nhất có thể, chắc chắn là vì sợ lạc đường giữa dòng chảy xiết. Khi sông Nile bắt đầu dâng nước, các vùng trũng sâu và các vũng lõm ven sông là nơi đầu tiên ngập nước nhờ hiện tượng thẩm thấu từ dòng sông, và ngay khi vừa ngập nước, chúng lập tức đầy ắp cá con; và tôi nghĩ mình đã hiểu được lý do vì sao chúng lại sinh ra ở đó. Vào năm trước, khi sông Nile rút nước, cá đã đẻ trứng xuống lớp bùn rồi theo đợt nước rút cuối cùng quay về sông; và khi thời gian quay vòng trở lại, nước sông một lần nữa tràn qua đồng ruộng, từ những bọc trứng ấy, loài cá tôi vừa nhắc đến lập tức nở ra.

94. Sự việc về loài cá là thế. Còn để dùng làm dầu xoa bóp, cư dân vùng đầm lầy sử dụng loại dầu ép từ hạt thầu dầu (castor-berry), mà người Ai Cập gọi là kiki; cách làm như sau: Họ gieo trồng cây này dọc theo bờ sông và các ao hồ, dẫu ở xứ sở người Hellas chúng mọc hoang dã tự nhiên; ở Ai Cập chúng được gieo trồng và cho ra lượng hạt khổng lồ nhưng có mùi khó ngửi; khi thu hoạch xong, một số người giã nát rồi ép lấy dầu, số khác đem rang chín trước rồi nấu nhừ và chắt lấy phần dầu nổi lên trên. Dầu này sánh đặc và khả năng thắp sáng không kém gì dầu ô liu, nhưng lại tỏa ra một mùi hôi khó chịu.

95. Để chống lại loài muỗi vốn vô cùng dày đặc, họ đã nghĩ ra phương kế sau: Cư dân sống ở vùng ngoài đầm lầy thường ngủ trên những cái tháp cao khi đến giờ nghỉ ngơi, bởi loài muỗi bị cản trở bởi gió nên không bay lên cao được; còn cư dân sống trong vùng đầm lầy lại nghĩ ra một cách khác thay vì xây tháp, đó là: Mỗi người đều sắm cho mình một chiếc lưới đánh cá, ban ngày dùng để bắt cá, còn ban đêm thì dùng cho mục đích này – họ giăng chiếc lưới ấy xung quanh chiếc giường mình ngủ, chui tút xuống dưới rồi an tâm ngủ giấc ngon lành; bởi nếu đắp chăn hoặc drap vải lanh thì muỗi vẫn chích xuyên qua được, nhưng qua lớp lưới thì chúng thậm chí còn chẳng thèm bén mảng chích lấy một nhát.

96. Thuyền chở hàng của họ được đóng bằng gỗ keo gai, có hình dáng rất giống loài hoa lotos xứ Kyrene, từ cây này tiết ra một thứ nhựa mủ. Từ loại cây này, họ cắt những khúc gỗ dài chừng hai thước rồi xếp chồng lên nhau như những viên gạch, dùng những chiếc đinh chốt dài xuyên qua các khúc gỗ hai thước để kết chặt con thuyền lại; khi đã ráp xong thuyền, họ đặt các thanh sườn ngang lên trên mà không cần dùng khung xương sườn uốn lượn hai bên mạn; và ở phía trong, họ chít các khe hở bằng cói papyrus. Họ làm một chiếc chèo lái duy nhất đâm xuyên qua đáy thuyền; và cột buồm làm bằng gỗ keo, buồm dệt bằng cói papyrus. Những chiếc thuyền này không thể ngược dòng sông trừ phi có một cơn gió thổi thật tươi mát, mà phải được kéo đi từ bờ sông; nhưng khi xuôi dòng thì chúng di chuyển thế này: Họ chuẩn bị một củi lồng hình cánh cửa làm bằng gỗ tamarix và thảm sọt bện lại, cùng với một hòn đá nặng khoảng hai talent được đục thủng một lỗ; người lái thuyền thả lồng củi trôi phía trước thuyền, buộc bằng một sợi dây thừng, và thả hòn đá kéo lê phía sau bằng một sợi dây khác. Nhờ sức ép của dòng nước, chiếc lồng củi sẽ lao đi vùn vụt và kéo theo con thuyền (gọi là baris), trong khi hòn đá kéo lê phía sau chìm sâu dưới nước giữ cho hướng đi thẳng tắp. Những chiếc thuyền này có số lượng rất lớn và một số chiếc chở được khối lượng hàng hóa nặng tới hàng vạn talent.

97. Khi sông Nile tràn ngập đồng ruộng, chỉ có các thành phố là nhô lên khỏi mặt nước, trông chẳng khác nào những hòn đảo giữa biển Aegean; bởi phần còn lại của Ai Cập biến thành một vùng biển lớn và chỉ có các thành phố là trơ trọi nổi lên. Do đó, vào mỗi dịp này, việc di chuyển không còn đi qua các luồng lạch của sông nữa mà cắt ngang qua giữa đồng bằng; chẳng hạn như khi đi thuyền từ Naucratis lên Memphis, tuyến đường sẽ đi sát ngay các kim tự tháp, trong khi tuyến đường bình thường không đi qua đây mà đi vòng qua đỉnh Delta và thành phố Kercasoros; còn nếu bạn chèo thuyền vượt đồng bằng từ biển và từ Canobos đến Naucratis, bạn sẽ đi ngang qua Anthylla và thành phố mang tên Archander.

98. Trong số này, Anthylla là một thành phố nổi tiếng được cắt cử riêng để cung cấp tiền mua giày sandal cho vợ của vị vua cai trị Ai Cập (tập tục này có từ thời Ai Cập rơi vào ách thống trị của người Ba Tư); thành phố còn lại có lẽ mang tên Archander – con rể của Danaos, con trai của Phthios, cháu của Achaios; bởi nó được gọi là Thành phố Archander. Dĩ nhiên có thể có một nhân vật Archander nào khác, nhưng dù sao cái tên đó hoàn toàn không mang gốc Ai Cập.

99. Cho đến thời điểm này, sự quan sát, phán đoán và dò hỏi của chính bản thân tôi là những nhân chứng xác thực cho những gì tôi vừa thuật lại; nhưng từ chương này trở đi, tôi sẽ kể câu chuyện lịch sử Ai Cập dựa trên những điều tôi nghe được, kết hợp thêm một chút những gì chính mắt tôi đã chứng kiến.

Về vị vua Min, người đầu tiên cai trị Ai Cập, các tư tế kể rằng chính ông là người đã đắp đê ngăn dòng sông để bảo vệ khu vực Memphis; bởi thuở trước toàn bộ dòng chảy của con sông đều rạt vào dãy núi cát phía bên Libya, nhưng Min đã cho đắp đê nắn lại khúc cua của con sông nằm về phía Nam cách Memphis khoảng một trăm furlong, nhờ đó làm cạn khô lòng sông cũ và điều hướng dòng nước chảy vào chính giữa hai ngọn núi; và cho đến tận ngày nay, khúc cua của sông Nile này vẫn được người Ba Tư canh gác cẩn mật để dòng nước chảy đúng vào lòng đã định, bờ đê được tu bổ mỗi năm; bởi nếu dòng sông phá vỡ đê và tràn ngập về hướng này, Memphis sẽ đối mặt với nguy cơ bị dòng lũ nhấn chìm. Khi vị vua đầu tiên Min này đã biến phần vùng đất đắp đê thành đất khô ráo, ông liền lập nên trên đó thành phố nay gọi là Memphis – bởi Memphis cũng nằm ở vùng đất hẹp của Ai Cập; và ở phía ngoài thành phố, về phía Bắc và Tây, ông cho đào một hồ nước thông với sông, vì phía Đông đã bị chính sông Nile chắn ngang. Tiếp theo, ông lập nên trong thành phố ngôi đền thờ thần Hephaistos, một công trình vĩ đại vô cùng đáng chú ý.

100. Sau vị vua này, các tư tế đọc cho tôi nghe từ một cuộn giấy papyrus tên của các vị vua tiếp theo, tổng cộng ba trăm ba mươi vị; và trong suốt ngàn đời sinh linh ấy có mười tám vị là người Ethiopia, một vị là phụ nữ bản địa Ai Cập, còn lại đều là nam giới mang dòng máu Ai Cập; và vị nữ vương cai trị mang tên trùng với nữ hoàng Babylon, đó là Nitocris. Họ kể rằng để trả thù cho người anh trai – người từng là vua Ai Cập bị chính thần dân sát hại rồi trao vương quốc cho bà – vì muốn trả thù cho anh, bà đã dùng mưu mô tiêu diệt rất nhiều người Ai Cập. Bà cho xây dựng một căn phòng ngầm dưới đất cực kỳ rộng lớn, và vờ như tổ chức lễ khánh thành nhưng trong đầu lại ủ mưu khác, bà mời đến đó những người Ai Cập mà bà biết chắc là có dính líu sâu nhất vụ mưu sát vua anh, rồi khoản đãi một bữa tiệc linh đình. Khi họ đang chè chén say sưa, bà thình lình tháo nước sông tràn vào họ qua một đường ống ngầm cỡ lớn. Về phần bà, người ta không kể gì thêm ngoài việc sau khi hoàn tất hành động đó, bà đã tự trẫm mình vào một căn phòng đầy than hồng để trốn tránh sự trả thù.

101. Đối với những vị vua còn lại, họ chẳng thể kể cho tôi nghe về bất kỳ công trình vĩ đại nào do các vị ấy tạo ra, và bảo rằng họ chẳng có chút tiếng tăm nào ngoại trừ vị vua cuối cùng trong số đó là Moiris; vị này (họ nói) đã để lại di tích cho hậu thế là cổng phía Bắc của ngôi đền thần Hephaistos, cho đào một hồ nước mà tôi sẽ tường thuật chu vi bao nhiêu furlong ở phần sau, và xây dựng trên hồ đó những kim tự tháp với kích thước tôi sẽ nhắc tới khi bàn về chính cái hồ ấy. Ông là người đã tạo ra những công trình này, còn những vị khác thì chẳng làm gì cả.

102. Do đó, xin bỏ qua những vị ấy để chuyển sang nhắc đến vị vua kế vị, tên là Sesostris. (Các tư tế kể rằng) ngài là người đầu tiên xuất quân bằng chiến thuyền từ vịnh Arabia đi chinh phục các dân tộc sinh sống ven bờ biển Erythraian, chèo thuyền cho đến khi gặp một vùng biển không thể đi tiếp vì quá nhiều bãi cạn; rồi sau khi quay trở về Ai Cập, theo lời kể của các tư tế, ngài triệu tập một đại quân tiến hành các cuộc hành binh qua lục địa, chinh phục mọi dân tộc cản đường; những ai chống trả ngoan cường chiến đấu đến cùng vì tự do, ngài cho dựng các cột trụ trên đất của họ khắc ghi tên tuổi bản thân, quốc hiệu và chiến tích chinh phục; còn đối với những thành phố đầu hàng không tốn một giọt máu hoặc dễ dàng khuất phục, ngài cho khắc trên cột trụ những dòng chữ tương tự, kèm theo hình tượng bộ phận sinh dục nữ để ám chỉ rằng dân chúng xứ ấy là lũ hèn nhát vô dụng.

103. Cứ thế ngài càn quét lục địa cho đến khi vượt từ châu Á sang châu Âu, chinh phục cả người Scythia lẫn Thrace. Theo phán đoán của tôi, đây chính là những vùng đất xa xôi nhất mà đại quân Ai Cập từng tiến tới, bởi các cột trụ được tìm thấy ở xứ sở của họ, còn xa hơn nữa thì không thấy bóng dáng đâu nữa. Từ điểm đó, ngài quay đầu hồi hương; và khi đến bên bờ sông Phasis, tôi không dám chắc sự việc diễn ra thế nào, liệu chính nhà vua Sesostris đã tách một phần quân đội lại làm cư dân định cư ở đó, hay một số binh lính đã kiệt sức vì những cuộc hành quân vạn dặm nên đành ở lại bên dòng Phasis.

104. Bởi vì người Colchis có rõ ràng là gốc gác Ai Cập, điều này tôi tự nhận ra trước khi nghe người khác kể. Thế nên khi suy ngẫm về vấn đề này, tôi đã hỏi cả hai phía; và người Colchis còn nhớ về người Ai Cập rõ hơn là người Ai Cập nhớ về họ; tuy nhiên người Ai Cập tin rằng người Colchis là một phần tàn dư trong đại quân của Sesostris. Tôi tự phán đoán điều này không chỉ vì họ có làn da ngăm đen và tóc xoăn (điều này chẳng nói lên điều gì vì có những dân tộc khác cũng thế), mà còn vì người Colchis, người Ai Cập và người Ethiopia là ba dân tộc duy nhất trên đời thực hành tục cắt bao quy đầu từ thuở hồng hoang. Người Phenicia và người Syria sinh sống ở Palestine cũng tự thú nhận rằng họ học tập điều này từ người Ai Cập, và người Syria quanh sông Thermodon cùng sông Parthenios, cùng với láng giềng của họ là người Macronians, đều kể rằng họ mới học được tục lệ đó gần đây từ người Colchis. Đó là những dân tộc duy nhất trên đời cắt bao quy đầu, và họ rõ ràng thực hiện nó y hệt cách của người Ai Cập. Dù vậy, giữa người Ai Cập và người Ethiopia thì tôi không tài nào biết được ai học từ ai, vì quả thực đây là một tập tục cổ xưa vô cùng; nhưng việc các quốc gia khác học được nó qua sự giao du với người Ai Cập thì bằng chứng hùng hồn nhất, trong số những bằng chứng khác, chính là những người Phenicia khi sang giao du với xứ Hellas đã từ bỏ việc noi gương người Ai Cập trong chuyện này, không còn cắt bao quy đầu cho con trẻ nữa.

105. Giờ hãy để tôi kể thêm một điểm nữa về người Colchis để thấy họ giống người Ai Cập ra sao: Chỉ có họ là biết dệt vải lanh y hệt như người Ai Cập, và lối sống của hai dân tộc này giống nhau tăm tắp, kể cả ngôn ngữ; loại vải lanh của Colchis được người Hellas gọi là Sardonic, còn vải lanh từ Ai Cập gọi là Egyptian.

106. Những cột trụ mà Sesostris người Ai Cập từng dựng lên ở các xứ sở nay phần lớn đã không còn tồn tại; thế nhưng ở Syria Palestine, tôi tận mắt nhìn thấy chúng còn đứng đó với những dòng khắc và biểu tượng y như đã miêu tả. Hơn thế nữa, ở Ionia còn có hai hình khắc chạm nổi khắc hình người này trên đá: một ở con đường đi từ Ephesos sang Phocaia, và cái kia ở đường từ Sardis đến Smyrna. Tại mỗi nơi đều có một hình người tạc trên vách đá cao bốn thước rưỡi, tay phải cầm giáo, tay trái cầm cung tên cùng vũ trang tương tự, mang phong cách Ai Cập và Ethiopia; và từ bả vai này vắt qua ngực sang bả vai kia là một dòng khắc bằng chữ thiêng Ai Cập với nội dung: "Vùng đất này ta đã dùng đôi vai mình để chinh phục cho ta." Thế nhưng ngài là ai và đến từ đâu thì không được đề cập ở những nơi này, dẫu ở các chốn khác ngài có ghi rõ. Một số kẻ nhìn thấy các hình khắc này phỏng đoán đó là hình tượng của Memnon, nhưng họ đã sai lệch hoàn toàn so với sự thật.

107. Khi vị vua Sesostris của Ai Cập đang trên đường khải hoàn hồi hương mang theo vô số tù binh từ các xứ sở bị chinh phục, (các tư tế kể) khi ngài đến Daphnai thuộc vùng Pelusion trên hành trình về nhà, người anh em ruột được ngài ủy quyền cai quản Ai Cập đã mời ngài và các con trai đến dự tiệc; rồi y cho chất đầy củi xung quanh dinh thự và phóng hỏa đốt; Sesostris phát hiện ra liền bàn bạc ngay với vợ – vì ngài mang theo cả vợ bên mình (họ kể thế) – và hoàng hậu khuyên ngài hãy ném hai trong số sáu đứa con trai vào ngọn lửa để bắc làm cầu, rồi dẫm lên thi thể các con mà tẩu thoát. Các tư tế kể rằng Sesostris đã làm đúng như vậy, hai người con trai bị thiêu cháy thiệt mạng, còn những người khác may mắn thoát thân cùng cha.

108. Trở về Ai Cập và trả thù người anh em xong xuôi, Sesostris sử dụng đám đông tù binh bắt được từ các xứ sở bị chinh phục vào việc sau: Họ chính là những người đã kéo những khối đá to lớn khủng khiếp đến đền thờ thần Hephaistos dưới triều đại vị vua này; họ cũng bị bắt buộc phải đào tháo mọi con kinh đào hiện có ở Ai Cập; và chính nhờ thế (dẫu không hề cố ý) mà họ đã khiến cho xứ Ai Cập vốn từ xưa hoàn toàn bằng phẳng có thể phi ngựa chạy xe nay trở nên không còn thích hợp cho việc đó nữa; bởi từ thời điểm đó trở đi, Ai Cập dù là đất đồng bằng nhưng lại chằng chịt các mớ kênh rạch đan xen khắp hướng. Nguyên nhân khiến nhà vua cho xẻ đất ra như vậy là để cung cấp nước tưới cho cư dân có thành phố không nằm ven sông mà ở tận nội địa, những người khi nước rút thường phải uống nước giếng lợm giọng.

109. Vì lý do đó mà đất Ai Cập bị xẻ ra; và họ bảo vị vua này đã chia đất cho toàn thể người Ai Cập, cắt mỗi người những phần diện tích hình vuông bằng nhau, rồi thu thuế hoa lợi hằng năm dựa vào đó; nếu dòng sông cuốn trôi mất một phần đất của ai, người đó sẽ đến tâu trình với nhà vua, và ngài sẽ cử người đến đo đạc kiểm tra xem phần đất bị thu hẹp bao nhiêu để điều chỉnh giảm tiền thuế tương ứng trong tương lai; và tôi nghĩ chính từ đây mà nghệ thuật hình học (geometry) đã ra đời rồi sau đó du nhập sang xứ Hellas. Còn về chiếc đồng hồ mặt trời (sun-dial), cột trụ đo bóng nắng (gnomon) và mười hai phần trong ngày, người Hellas đã học được từ người Babylon.

110. Ngài cũng là vị vua duy nhất trong tất cả các đời vua Ai Cập nắm quyền cai trị Ethiopia; và ngài để lại di tích trước đền thờ thần Hephaistos hai bức tượng đá cao ba mươi thước tạc chính mình và vợ, cùng các bức tượng cao hai mươi thước tạc bốn người con trai; và mãi tận sau này, vị tư tế của thần Hephaistos đã từ chối không cho vua Darius người Ba Tư dựng tượng mình trước các bức tượng ấy, viện lý do rằng Darius chưa lập được chiến công nào sánh bằng những gì Sesostris người Ai Cập từng làm; vì Sesostris đã chinh phục vô số dân tộc khác, trong đó có cả người Scythia, còn Darius thì chưa tài nào hạ gục nổi người Scythia: thế nên ngài không có quyền dựng tượng trước những tác phẩm do Sesostris hiến dâng nếu không vượt qua được chiến công của vị tiên vương. Nghe lời đó, Darius đã mỉm cười đón nhận mà không chút phật lòng.

111. (Họ kể tiếp) sau khi Sesostris qua đời, người con trai tên là Pheros lên nối ngôi; ngài không tiến hành chiến dịch quân sự nào, và ngài bỗng vướng phải một tai họa khiến đôi mắt mù lòa do nguyên nhân sau đây: Khi sông Nile dâng lũ cao đến mười tám thước, mức cao chưa từng có trong lịch sử, tràn ngập các điền trang, một trận cuồng phong nổi lên khiến dòng sông cuộn sóng dữ dội; vị vua này (họ kể) vì ngông cuồng kiêu ngạo đã vớ lấy một cây giáo phóng thẳng vào giữa dòng xoáy nước; và lập tức ngài bị bệnh về mắt rồi tăm tối cả hai tròng. Ngài bị mù suốt mười năm, và sang năm thứ mười một, một lời sấm truyền từ thành phố Buto phán rằng thời hạn trừng phạt đã hết, ngài sẽ sáng mắt trở lại nếu đem nước rửa mắt bằng nước tiểu của một người phụ nữ chỉ chung thủy với chồng duy nhất mà không hề tư thông với người đàn ông khác; ban đầu ngài thử nghiệm với chính vợ mình nhưng vẫn mù, rồi tiếp tục thử lần lượt qua tất cả phụ nữ trong nước; đến khi lấy lại được ánh sáng, ngài tập hợp toàn bộ những người phụ nữ từng được thử nghiệm, ngoại trừ người phụ nữ đã giúp mình sáng mắt, đem nhốt vào một thành phố nay gọi là Erythrabolos rồi thiêu rụi tất cả cùng thành phố ấy; còn người phụ nữ mang lại ánh sáng cho ngài thì được rước về làm vợ. Thoát khỏi căn bệnh quái ác, ngài dâng kính những lễ vật tại mọi ngôi đền danh tiếng, đặc biệt là dâng tại đền thờ thần Mặt Trời hai cột tháp đá (obelisk) nguyên khối, mỗi cột dài một trăm thước, rộng tám thước.

112. Tiếp sau ngài, họ kể, ngai vàng thuộc về một người Memphis mang tên Proteus trong ngôn ngữ người Hellas; hiện nay có một ngôi thánh điện rất trang hoàng lộng lẫy kính củng ngài tại Memphis, tọa lạc ngay phía mặt tiền đền thờ thần Hephaistos hướng về gió Bắc. Xung quanh thánh điện này là nơi cư ngụ của người Phenicia xứ Tyre, và toàn bộ khu vực ấy mang tên Trại của người Tyre. Bên trong khuôn viên của Proteus có một ngôi đền gọi là đền thờ "nữ thần Aphrodite ngoại kiều", mà tôi phỏng đoán chính là đền thờ Helen con gái của Tyndareus, không chỉ vì tôi từng nghe câu chuyện Helen từng sống với Proteus, mà đặc biệt vì nó mang tên "Aphrodite ngoại kiều", trong khi các ngôi đền khác dâng kính Aphrodite chẳng có từ "ngoại kiều" đi kèm.

113. Khi tôi gặng hỏi, các tư tế kể rằng sự việc về Helen diễn ra thế này: Alexander bắt cóc Helen và đang chèo thuyền từ Sparta về nước, khi đến vùng biển Aegean thì gặp gió ngược thổi bạt lệch hướng sang vùng biển Ai Cập; do bão tố không ngớt, ngài buộc phải trôi dạt vào chính đất liền Ai Cập, cụ thể là cửa sông Canobic của sông Nile và vùng Taricheiai. Khi ấy trên bờ biển có một ngôi đền thờ thần Heracles (cho đến nay vẫn còn), nơi mà nếu nô lệ của bất kỳ ai trốn vào và được đóng dấu thánh dâng hiến cho vị thần thì không ai dám chạm tay vào; tập tục này được giữ nguyên không đổi từ xưa cho đến tận thời của tôi. Đám tùy tùng của Alexander hay tin về quy định bảo vệ của đền thờ bèn trốn chủ, chạy đến ngồi sụp xuống cầu xin sự bảo hộ của vị thần, đồng thời tố cáo Alexander nhằm hại ngài bằng cách khai tuốt tuồn tuột câu chuyện về Helen và tội ác chống lại Menelaos; họ tố cáo không chỉ với các tư tế mà còn với quan trấn thủ cửa sông tên là Thonis.

114. Nghe xong câu chuyện, Thonis lập tức sai người đưa tin cấp tốc cho Proteus tại Memphis với nội dung: "Có một tên lữ khách người Teucrian vừa phạm tội bất kính ở xứ Hellas; hắn lừa gạt vợ của chính chủ nhà cưu mang mình, nay mang theo người phụ nữ đó cùng vô số tài sản bạt ngàn trôi dạt vào đất ngài vì bão gió. Bọn ta có nên cho phép hắn nhổ neo rời đi bình an vô sự, hay phải tước đoạt toàn bộ của cải mang theo của hắn trước đã?" Đáp lại, Proteus sai sứ giả mang thư về truyền lệnh: "Hãy bắt giữ kẻ ấy, bất kể là ai, kẻ đã bất kính với chính chủ nhà đưỡng thời, và điệu hắn đến trước mặt ta để ta nghe xem hắn ngụy biện ra sao."

115. Nghe lệnh, Thonis lập tức bắt giữ Alexander, giam giữ tàu thuyền của ngài rồi điệu thẳng ngài cùng Helen, của cải và cả đám tùy tùng xin tỵ nạn về Memphis. Khi tất cả đã được tề tựu trước mặt, Proteus bắt đầu chất vấn Alexander về thân thế và hải trình; ngài khai rõ dòng dõi, quốc hiệu lẫn hành trình xuất phát từ đâu. Tiếp đến, Proteus hỏi ngài đã cướp Helen từ đâu; và khi Alexander ấp úng khai gian dối không chịu nói thật, đám tùy tùng xin tỵ nạn liền vạch trần lời dối trá của ngài, tường thuật không sót một chi tiết về tội ác. Cuối cùng, Proteus tuyên bố phán quyết: "Nếu ta không coi trọng việc tuyệt đối không sát hại bất kỳ lữ khách nào vì bão gió dạt vào bờ, ta đã thay mặt người Hellas trừng trị ngươi rồi, đồ tiểu nhân đê tiện nhất, kẻ được người ta dung tha mâm cỗ chén thù lại giở trò bất nhân đồi bại nhất. Ngươi dám tằng tịu với vợ chủ nhà, chưa thỏa mãn lại còn dụ dỗ xúi giục nàng trốn đi như một tên trộm. Hơn thế nữa, ngươi còn dám vơ vét của cải nhà ân nhân mang theo. Thôi, hãy cút đi, vì ta trọng danh dự không vấy máu lữ khách. Nhưng người phụ nữ này và của cải ngươi mang theo, ta sẽ không cho phép ngươi đem đi, mà sẽ giữ lại bảo quản cẩn thận cho người Hellas – chủ nhân của nàng – cho đến khi chính hắn đến mang về; còn với ngươi và đồng bọn, ta ra lệnh trong vòng ba ngày phải nhổ neo cuốn xéo khỏi lãnh thổ của ta, bằng không các ngươi sẽ bị xử lý như kẻ thù."

116. Các tư tế khẳng định Helen đã đến gặp Proteus như thế đấy; và tôi cho rằng Homer cũng từng nghe câu chuyện này, nhưng vì nó không phù hợp với mạch thơ của ông bằng phiên bản khác nên ông đã bỏ qua, đồng thời vẫn ngầm cho thấy ông nắm rõ câu chuyện ấy; và qua cách ông miêu tả cuộc phiêu lưu của Alexander trong sử thi Iliad (ông không hề phủ nhận những gì mình từng viết), rõ ràng khi mang Helen đi, Alexander đã bị bão đánh dạt trôi dạt qua nhiều vùng đất, trong đó có cả Sidon ở Phenicia. Nhà thơ đã nhắc đến điều này trong khúc ca "chiến công của Diomede", với các câu thơ:

Và trong Odyssey, ông cũng đề cập trong các câu thơ:

Và Menelaos cũng nói với Telemachos như thế này:

Qua những dòng thơ này, rõ ràng ông biết về hành trình phiêu lưu của Alexander tới Ai Cập, bởi Syria giáp ranh với Ai Cập và người Phenicia – chủ nhân của Sidon – sinh sống ở Syria.

117. Qua những câu thơ và đoạn văn này, cũng hiển nhiên thấy rằng sử thi "Cyprian" không phải do Homer sáng tác mà của một tác giả khác; bởi trong tác phẩm đó, người ta kể rằng chỉ ba ngày sau khi rời Sparta, Alexander đã đặt chân đến Ilion cùng Helen nhờ "ngọn gió hiu hiu và biển trời phẳng lặng", trong khi Iliad lại khẳng định ngài đã trôi dạt lệch hướng khi cướp nàng đi.

118. Giờ hãy gác lại Homer và sử thi "Cyprian"; nhưng tôi xin kể điều này, rằng tôi đã hỏi các tư tế xem câu chuyện người Hellas đồn đại về những gì xảy ra tại Ilion có phải chỉ là lời bịa đặt hay không; và họ đáp rằng họ nắm rõ sự thật qua lời kể chính miệng Menelaos. Sau vụ cướp Helen, một đại quân hùng hậu của người Hellas đã kéo đến vùng đất Teucrian để giúp Menelaos; khi tàu thuyền cập bờ và lập doanh trại, họ sai sứ thần vào Ilion, đi cùng có cả Menelaos; bước qua tường thành, họ đòi lại Helen cùng của cải mà Alexander đã cướp đoạt, đồng thời đòi bồi thường thiệt hại; nhưng người Teucrians lúc bấy giờ cũng như sau này vẫn một mực thề thốt khẳng định rằng họ không hề giữ Helen hay của cải nào cả, tất cả đều đang ở Ai Cập, và họ không thể bị ép buộc bồi thường cho những thứ không nằm trong tay Proteus – vua Ai Cập. Thế nhưng người Hellas lại cho rằng đối phương đang giở trò chế nhạo mình nên đã vây hãm thành phố cho đến khi hạ được nó; và khi phá vỡ tường thành mà chẳng tìm thấy Helen, chỉ nghe lại đúng câu chuyện cũ, họ mới tin là thật và phái chính Menelaos đến yết kiến Proteus.

119. Menelaos đến Ai Cập, xuôi thuyền lên Memphis, kể lại sự thật và không chỉ được tiếp đón nồng hậu mà còn nhận lại Helen bình an vô sự cùng toàn bộ tài sản. Dù được đối xử như thế, Menelaos lại tỏ ra vô ơn với người Ai Cập; bởi khi chuẩn bị nhổ neo ra khơi, gió ngược giữ chân ngài, và khi tình trạng ấy kéo dài, ngài đã giở trò bất nhân khi đem hai đứa trẻ bản địa ra dâng tế. Khi hành động đó bị phơi bày, ngài bị căm phẫn truy sát, đành buông neo tẩu thoát bằng đường biển sang Libya; và ngài đi đâu tiếp sau đó thì người Ai Cập không tài nào biết được. Họ kể rằng họ tìm hiểu được một phần sự việc, còn phần diễn ra trên đất nước họ thì được thuật lại từ những kiến thức xác thực.

120. Đó là lời kể của các tư tế Ai Cập; và bản thân tôi cũng đồng tình với giai thoại về Helen, kèm theo suy luận rằng: Nếu Helen thực sự có mặt ở Ilion, chắc chắn nàng đã được trao trả cho người Hellas, dẫu Alexander có đồng ý hay không; bởi Priam hay những người khác trong hoàng tộc chắc chắn không đến nỗi điên rồ chấp nhận liều lĩnh hủy hoại bản thân, con cháu và thành trì chỉ để chiều lòng cho Alexander sở hữu Helen; và giả sử trong giai đoạn đầu họ có cứng đầu như thế, thì khi hàng loạt người Troia ngã xuống mỗi lần giao chiến, khi các hoàng tử con trai Priam cứ mỗi trận chiến lại tử trận hai ba người (nếu tin được các nhà thơ sử thi), lúc tình cảnh đã tồi tệ đến thế, tôi tin rằng dẫu chính Priam có đang giữ Helen làm vợ, ngài cũng sẽ trả nàng về cho người Achaeans nếu việc đó giúp ngài thoát khỏi thảm cảnh ngập đầu. Hơn nữa, ngài Alexander đâu phải người nối ngôi duy nhất, để khi Priam già yếu là quyền búa xoe rơi vào tay hắn; mà Hector – người anh cả tài đức vẹn toàn hơn hẳn – mới là người kế vị sau khi Priam qua đời; và lẽ ra Hector không được phép để em trai tiếp tục làm càn, khi mà thảm họa đang giáng xuống đầu gia tộc lẫn dân chúng Troia. Sự thật là họ chẳng có quyền lực gì để trả Helen; và người Hellas thì không tin lời họ dẫu họ nói thật; bởi vì theo phán đoán của tôi, ý chí thần linh đã định đoạt khiến họ phải chuốc lấy diệt vong hoàn toàn, qua đó phơi bày cho nhân loại thấy rằng tội ác tày trời ắt gánh lấy sự trừng phạt vĩ đại tương xứng từ các vị thần. Tôi xin khép lại phán đoán của mình về vấn đề này tại đây.

121. (Họ kể tiếp) sau Proteus, ngai vàng thuộc về Rhampsinitos, vị vua để lại di tích là cổng phía Tây của đền thờ thần Hephaistos, trước cổng ngài dựng hai bức tượng cao hai mươi lăm thước, tượng phía Bắc được người Ai Cập gọi là Mùa Hạ, tượng phía Nam là Mùa Đông; họ sùng bái và dâng tế tượng Mùa Hạ, còn tượng Mùa Đông thì làm ngược lại. (a) Vị vua này sở hữu khối lượng bạc khổng lồ mà không đời vua kế nhiệm nào vượt qua hay sánh kịp; muốn cất giấu tài sản an toàn, ngài cho xây một căn phòng bằng đá có một mặt tường áp sát ra phía ngoài hoàng cung. Viên kiến trúc sư xây dựng công trình này, với dã tâm thâm độc, đã khéo léo cài cắm một viên đá có thể dễ dàng rút ra khỏi tường chỉ bởi hai người hoặc thậm chí một người. Khi căn phòng hoàn thành, nhà vua cất tiền vào đó; thời gian trôi qua, viên kiến trúc sư lâm bệnh nặng sắp qua đời liền gọi hai người con trai đến dặn dò về mưu mẹo hắn đã cài cắm trong kho bạc hoàng gia nhằm mưu cầu cuộc sống sung túc cho chúng. Hắn chỉ dẫn tỉ mỉ cách tháo viên đá và cung cấp kích thước chính xác, bảo rằng nếu tuân thủ, chúng sẽ là những kẻ nắm giữ kho bạc nhà vua. Khép mắt xuôi tay, hai người con trai không chần chừ lâu, ban đêm đột nhập hoàng cung, tìm thấy viên đá trên vách tường, dễ dàng tháo ra và vác đi một lượng lớn tài sản bên trong. (b) Nhà vua mở phòng, kinh ngạc khi thấy vơi bớt tiền vàng mà các ấn triện vẫn nguyên vẹn, phòng ốc đóng kín; sau lần thứ hai, thứ ba mở ra thấy của cải tiếp tục vơi dần vì lũ trộm chẳng hề nương tay, ngài bèn hạ lệnh làm các cỗ máy bẫy đặt xung quanh những vò đựng tiền; lũ trộm mò vào như mọi lần, một tên vừa thò tay đến gần vò liền sập bẫy ngay tức khắc. Biết mình tiêu đời, hắn lập tức gọi người em trai đến, chỉ rõ tình cảnh và giục em mau chóng chặt đầu mình đi để tránh bị nhận dạng kéo theo cả nhà. Người em thấy hợp lý bèn làm theo, lắp lại viên đá rồi mang đầu anh về nhà. (c) Sáng ra, nhà vua mở cửa bàng hoàng thấy xác tên trộm không đầu sập bẫy trong căn phòng đóng kín ngõ ngách; không hiểu nổi, ngài bèn treo thây hắn lên tường, cắt cử lính canh túc trực với lệnh hễ thấy ai khóc lóc thảm thiết thì tóm ngay điệu về nộp vua. Người mẹ đau đớn khôn xiết, thúc giục đứa con trai còn sống tìm mọi cách gỡ xác anh mang về, dọa nếu không nghe lời sẽ đi tố cáo với vua rằng chính nó giữ của cải nhà vua. (d) Bị mẹ ép đường cùng, người con đành nghĩ ra mưu kế: Lừa chở theo những bầu da đựng đầy rượu buộc trên lưng lừa, đi ngang qua toán lính canh thây ma, hắn cố tình giật lỏng nút thắt hai ba bầu rượu cho chảy lênh láng. Thấy rượu chảy thành dòng, lũ lính cầm ca chậu chạy ùa ra húp lấy húp để xem như món hời trời cho; hắn chửi rủa om sòm làm ra vẻ tức giận, lính canh xúm lại dỗ dành, một lúc sau hắn ra điều nguôi giận, đánh lừa dắt lừa vào lề chỉnh lại thô la. Vài tên trêu chọc khiến hắn phì cười, cuối cùng hắn hào phóng tặng thêm một bầu da cho chúng. Đám lính bèn lăn ra uống say túy lúy, kết thân mời hắn ở lại cùng chè chén; hắn vờ sa đà ở lại. Khi lính canh say mèm ngủ li bì ngay tại trận, đêm đã về khuya, hắn tiến đến gỡ xác anh xuống, cạo sạch bên má phải của toàn bộ lũ lính làm trò chế giễu, rồi chất xác anh lên lưng lừa lững thững dắt về nhà trọn vẹn theo lời mẹ dặn. (e) Hay tin xác trộm đã biến mất, nhà vua nổi giận lôi đình, quyết truy lùng bằng được kẻ chủ mưu, bèn giở chiêu trò (theo lời họ kể nhưng tôi không tin nổi) – ngài bắt chính con gái mình ngồi lầu xanh, ép tiếp khách và ra lệnh trước khi mây mưa phải khai ra đâu là hành động xảo quyệt nhất và bất nhân nhất từng làm trong đời; kẻ nào khai ra vụ thám thính tên trộm sẽ bị tóm giữ lại. Tên trộm nắm bắt được mưu đồ của vua, bèn chặt đứt cánh tay một cái xác vừa chết nhét giấu trong áo, đến gặp công chúa; khi bị hỏi cung, hắn khai vụ bất nhân nhất là chặt đầu anh trai sập bẫy hoàng cung, và vụ xảo quyệt nhất là chuốc say lính canh để củng cố xác anh; công chúa vùng dậy tóm lấy hắn, nhưng trong bóng tối hắn liền chìa cánh tay thây ma ra cho nàng nắm chặt tưởng là tay mình, rồi buông tay tẩu thoát qua đường cửa. (f) Nghe báo cáo lại vụ này, nhà vua thoạt đầu kinh ngạc trước sự ranh mãnh gan lỳ của hắn, sau đó ban hành chiếu chỉ ân xá toàn quốc kèm phần thưởng hậu hĩnh nếu hắn đến yết kiến. Tên trộm tin lời ra mắt, Rhampsinitos ngỡ ngàng tột độ bèn gả công chúa cho hắn, xem hắn là kẻ thông thái nhất đời; vì người Ai Cập nổi trội hơn thiên hạ, còn hắn lại vượt trội hơn cả người Ai Cập.

122. (Họ kể tiếp) sau những sự kiện đó, vị vua này còn sống đi xuống Âm phủ – nơi người Hellas gọi là Hades – đánh súc sắc với nữ thần Demeter, khi thắng khi thua, rồi trở về mang theo món quà là một chiếc khăn tay bằng vàng; và người ta bảo để kỷ niệm chuyến đi của Rhampsinitos, người Ai Cập đã mở hội mà tận ngày nay tôi còn thấy họ duy trì; dẫu nguyên nhân có phải thế hay không thì tôi không dám chắc. Các tư tế tự tay dệt một chiếc áo choàng ngay trong ngày lễ, bịt mắt một vị tư tế rồi dẫn ngài đến con đường dẫn tới đền Demeter. Vị tư tế bị bịt mắt ấy được hai con sói dẫn đi đến ngôi đền cách thành phố hai mươi furlong, rồi sau đó lại được sói dẫn quay trở về đúng vị trí cũ.

123. Những giai thoại do người Ai Cập kể, ai thấy tin được cứ việc tin; còn phần tôi, xuyên suốt bộ sử này, tôi ghi chép lại theo đúng lời kể truyền khẩu của dân chúng từng vùng. Người Ai Cập cho rằng Demeter và Dionysos là chúa tể cõi âm; họ cũng là những người đầu tiên tuyên bố học thuyết linh hồn con người là bất tử, khi thân xác tàn lụi, linh hồn sẽ nhập vào một sinh thể mới đang hình thành, và sau khi luân hồi qua tất cả các loài vật trên cạn, dưới nước và trên không, nó lại quay về nhập vào thể xác con người mới sinh; chu kỳ luân hồi ấy kéo dài ba nghìn năm. Học thuyết này đã được một số người Hellas tiếp thu, kẻ trước người sau, xem như phát minh của chính họ; tôi biết tên những kẻ đó nhưng xin phép không ghi lại.

124. Từ thời Rhampsinitos trở về trước, Ai Cập hoàn toàn trị an quang minh thịnh vượng; nhưng sau ngài, Cheops lên nối ngôi và đẩy dân chúng vào đủ loại lầm than: Ngài đóng cửa toàn bộ các đền thờ, cấm cúng tế rồi bắt toàn bộ người Ai Cập lao động cho mình. Kẻ thì bị bắt khênh đá từ mỏ núi Arabia ra sông Nile, người khác nhận đá từ thuyền chuyển qua để kéo đến dãy núi gọi là Libya; cứ mười vạn người làm việc liên tục trong ca ba tháng. Mất mười năm ròng rã chỉ để đắp con đường kéo đá, một công trình theo tôi hoành tráng chẳng kém kim tự tháp là bao: dài năm furlong, rộng mười trượng, chỗ cao nhất tới tám trượng, xây bằng đá nhẵn chạm khắc phù điêu. Mất mười năm đó, cộng thêm thời gian làm các phòng ngầm dưới gò kim tự tháp nơi đặt đảo mai táng dẫn nước sông Nile vào. Việc xây kim tự tháp mất toi hai mươi năm; kim tự tháp hình vuông, mỗi cạnh dài tám trăm foot, chiều cao y hệt. Xây bằng đá mẵn gọt đũa khớp khít hoàn hảo, mỗi viên đá dài tối thiểu ba mươi foot.

125. Kim tự tháp này xây theo kiểu bậc thang, dân gian gọi là "các hàng" hoặc "các bệ"; sau khi làm xong phần bậc, họ dùng cần cẩu làm bằng gỗ ngắn để nhấc đá từ đất lên bệ thứ nhất, đặt lên cỗ máy khác ở bệ đó để kéo lên bệ thứ hai, cứ thế qua từng bậc thang hoặc chuyển cỗ máy nhẹ nhàng lên từng tầng; xin kể cả hai cách người ta đồn đại. Phần đỉnh hoàn thành trước, rồi đến các tầng lơ lửng tiếp theo, và cuối cùng là phần mặt đất và chân đế thấp nhất. Khắc trên kim tự tháp là số liệu chi phí củ cải, hành, tỏi cho thợ thuyền, theo thông dịch viên đọc lại là một ngàn sáu trăm talent bạc; nếu vậy, thử hỏi tiền mua sắt công cụ, bánh mì, quần áo cho thợ trong ngần ấy năm xây dựng, cộng thêm thời gian khai thác đá và đào hầm ngầm sẽ khủng khiếp đến nhường nào?

126. Cheops tàn ác đến mức túng tiền bèn đẩy cả con gái ruột ra lầu xanh, bắt kiếm một khoản tiền (số lượng không được tiết lộ); nhưng nàng không chỉ hoàn thành chỉ tiêu của cha mà còn tự thầm ấp ủ để lại di tích riêng, bèn xin mỗi khách làng chơi tặng mình một viên đá; và từ những viên đá đó, nàng xây nên kim tự tháp nằm trước kim tự tháp lớn, đứng giữa ba ngọn, mỗi cạnh dài một trăm năm mươi foot.

127. Cheops cai trị năm mươi năm; mất đi, người em trai Chephren lên thay. Vị vua này noi theo người trước, cũng đóng cửa đền thờ và xây kim tự tháp, nhưng nhỏ hơn của anh (tôi đã tự thân đo đạc), không có phòng ngầm dưới đất, không có kênh dẫn nước sông Nile bao quanh hòn đảo mai táng như bên kia; chỉ có lớp nền móng hàng đầu lót đá đa sắc Ethiopia, thấp hơn kim tự tháp lớn bốn mươi foot, nằm sát bên cạnh trên cùng ngọn đồi cao trăm foot. Chephren cai trị năm mươi sáu năm.

128. Tính ra một trăm linh sáu năm chìm trong lầm than, đền thờ cửa đóng then cài. Do căm phẫn, người Ai Cập không muốn nhắc tên các vị vua này, thậm chí còn gọi các kim tự tháp theo tên Philitis – vị mục đồng từng chăn thả gia súc ở vùng ấy.

129. Tiếp sau ngài, Mykerinos con trai Cheops lên ngôi; căm ghét lối sống của cha, ngài mở cửa đền thờ, trả dân chúng về với công việc và tế tự, đồng thời đưa ra những phán quyết công minh nhất lịch sử. Ngài được ca tụng hơn mọi vị tiên vương vì không chỉ phán xử công bằng mà còn tự bỏ tiền túi bồi thường cho những ai không thỏa mãn với phán quyết. Giữa lúc đang nhân từ với thần dân, tai họa ập đến: đứa con gái duy nhất qua đời; vô cùng đau xót, ngài cho tạc một con bò bằng gỗ bọc vàng rỗng ruột để mai táng công ng chúa.

130. Con bò ấy không chôn dưới đất mà được đặt trong cung điện Saïs, trong căn phòng trang hoàng lộng lẫy; người ta dâng hương mỗi ngày và thắp đèn suốt đêm. Xung quanh là các tượng tạc cung tần mỹ nữ của Mykerinos (khoảng hai mươi bức tượng gỗ khỏa thân, theo các tư tế Saïs).

131. Một số kẻ lại thêu dệt rằng Mykerinos yêu và cưỡng bức con gái, khiến nàng uất ức treo cổ tự tử, nên ngài chôn nàng trong con bò; mẹ nàng bèn chặt tay đám thị nữ phản chủ, vì thế các bức tượng nay cụt tay. Lời đồn ấy nhảm nhí, vì chúng tôi tận mắt thấy tay các bức tượng tự rụng rơi do năm tháng, nằm lăn lóc dưới chân tận thời tôi.

132. Con bò được phủ khăn lụa đỏ, hở phần đầu cổ bọc vàng dày, giữa sừng có đĩa mặt trời bằng vàng. Nó ở tư thế quỳ, to bằng con bò thật. Hằng năm người ta rước nó ra ánh sáng trong dịp lễ tang vị thần không tiện nhắc tên, vì theo truyền thuyết, công chúa trước lúc lâm chung đã xin cha cho ngài được ngắm nhìn mặt trời một lần trong năm.

133. Sau tang gia của con gái, ngài nhận sấm truyền từ Buto báo hiệu chỉ sống thêm sáu năm nữa, năm thứ bảy sẽ chết; phẫn nộ, ngài gửi lời trách móc thần linh vì cha và bác đày đọa thần linh, tàn sát nhân gian lại sống trường thọ, còn ngài sống đạo đức lại yểu mệnh. Sấm truyền đáp lại rằng chính vì ngài sống đạo đức nên yểu mệnh, vì Ai Cập bị định đoạt chịu khổ 150 năm, các vị vua trước thấu hiểu điều đó nhưng ngài thì không. Mykerinos bèn cho thắp vô số đèn lồng, đêm đốt sáng trưng như ngày, chè chén vui chơi suốt ngày đêm ở đầm lầy, rừng rậm để sống bù thành mười hai năm nhằm phủ nhận lời sấm.

134. Ngài để lại một kim tự tháp nhỏ hơn cha, hình vuông mỗi cạnh ba trăm foot kém hai mươi, nửa độ cao xây bằng đá Ethiopia. Một số người Hellas nhầm lẫn cho rằng do cô đào Rhodopis xây, hoàn toàn sai lầm vì Rhodopis sống thời Amasis, cách xa thời các vua xây kim tự tháp. Nàng là người Thrace, nô lệ của Iadmon xứ Samos, bạn nô lệ với nhà ngụ ngôn Esop. Bằng chứng là khi người Delphi treo giải thưởng chuộc mạng cho Esop theo sấm truyền, chính cháu nội Iadmon đã nhận khoản đó.

135. Rhodopis được Xanthes xứ Samos đưa sang Ai Cập hành nghề lầu xanh, được Charaxos – anh trai nữ thi sĩ Sappho – chuộc ra với giá lớn. Nàng ở lại Saïs kiếm nhiều tiền nhưng không đủ xây kim tự tháp. Bằng chứng là phần mười tài sản của nàng hiện vẫn ở Delphi: nàng cho đúc những cây xiên thịt bò bằng sắt gửi dâng cúng, nay nằm sau bàn thờ người Chios. Naucratis vốn chuộng đào lầu xanh, Rhodopis nổi danh khắp Hellas, sau đó đến lượt Archidiche. Sappho từng viết thơ chửi mắng Charaxos vì chuộc nàng ta.

136. Kế vị Mykerinos là Asychis, xây cổng đền Hephaistos hướng mặt trời mọc, lớn và đẹp nhất. Do kinh tế khốn đốn, ngài ban luật cho phép cầm cố xác cha để vay tiền, kèm điều kiện chủ nợ có quyền giữ luôn phòng mộ, và kẻ nào không trả nợ sẽ bị cấm chôn cất ở bất cứ đâu. Ngài để lại kim tự tháp bằng gạch với bia khắc: "Đừng khinh ta so với kim tự tháp đá, ta vượt trội như Zeus vượt các thần, người ta dùng sào vớt bùn hồ đúc gạch tạo nên ta."

137. Tiếp ngài là Anysis – vị vua mù xứ Anysis. Quân Ethiopia dưới sự chỉ huy của Sabacos tiến đánh, Anysis trốn vào đầm lầy, Sabacos cai trị năm mươi năm, ban luật thay vì tử hình phạm nhân, bắt họ mang đất đắp đê cao xung quanh thành phố quê hương họ. Thành phố Bubastis được đắp cao nổi bật với ngôi đền tuyệt đẹp (Artemis).

138. Đền miêu tả: Trừ cổng ra, xung quanh ngập nước từ các nhánh sông Nile chảy đến rộng trăm thước, rợp bóng cây; cổng cao mười trượng chạm trổ tinh xảo. Đền nằm giữa thành phố, từ trên cao nhìn xuống vì nền thành phố được đắp cao. Có tường đá chạm phù điêu, bên trong là lùm cây quanh đền thờ thần.

139. Sabacos rút lui do mộng mị thấy thần linh dặn cắt đôi các tư tế Ai Cập; sợ phạm tội bất kính, cộng thêm hạn kỳ năm mươi năm cai trị đã mãn, ngài tự nguyện rời Ai Cập.

140. Anysis từ đầm lầy trở về, cai trị trên hòn đảo Elbo do ngài tự đắp bằng tro và đất trong suốt năm mươi năm trốn chạy mà không ai tìm ra cho đến thời Amyrtaios.

141. Tiếp theo là Sethos, tư tế thần Hephaistos, khinh miễn đẳng cấp chiến binh, tước đoạt ruộng đất của họ. Khi Sanacharib – vua Arabia và Assyria – đem đại quân đánh, chiến binh từ chối cứu viện. Sethos vào đền khóc lóc trước tượng thần, được thần báo mộng hứa che chở. Ngài tập hợp dân thường, thợ thủ công ra Pelusion; ban đêm lũ chuột đồng kéo đến cắn nát cung tên, bao kiếm và khiên mộc của quân địch, khiến hôm sau chúng tháo chạy và tử thương vô số. Tượng ngài cầm chuột hiện vẫn ở đền Hephaistos.

142. Tính từ vua đầu đến Sethos là 341 đời vua và đại tư tế, tương đương 11.340 năm. Trong thời gian đó, mặt trời từng bốn lần đổi hướng mọc và lặn.

143. Khi sử gia Hecataios đến Thebes, các tư tế cũng dẫn ngài xem tượng 345 đời đại tư tế là con nối tiếp cha, không có thần hay anh hùng nào.

144. Trước đó, các thần linh trị vì Ai Cập, vị cuối cùng là Horus (Apollo), con của Osiris (Dionysos).

145. Hellas cho Heracles, Dionysos, Pan sinh sau đẻ muộn, nhưng Ai Cập coi Pan là cổ nhất (tám vị thần), Heracles nhì (mười hai vị), Dionysos ba.

146. Tùy ý người đọc tin theo thuyết nào.

147. Sau thời tư tế Hephaistos, Ai Cập chia cho mười hai vị vua cùng trị vì, thề giữ hòa hợp vì lời sấm tiên tri kẻ nào dùng cốc đồng dâng tế sẽ làm vua toàn cõi.

148. Họ hợp sức xây Lăng Mê-dê (Labyrinth) gần hồ Moiris, vĩ đại vượt qua cả các kim tự tháp và công trình Hellas. Gồm mười hai sân có mái che, ba ngàn phòng (1500 trên đất, 1500 dưới ngầm không cho ai vào xem). Hành lang ngoằn ngoèo tuyệt mỹ.

149. Hồ Moiris chu vi 3.600 furlong, sâu năm mươi trượng, nhân tạo với hai kim tự tháp giữa hồ cao trăm trượng, trên đỉnh đặt tượng ngồi. Nước từ sông Nile dẫn vào sáu tháng, rút ra sáu tháng, đem lại nguồn lợi cá khổng lồ.

150. Có hệ thống thoát ngầm, lượng đất đào hồ được xử lý thông minh đổ xuống sông Nile y hệt cách trộm cướp kho báu Sardanapallos ở Nineveh.

151. Mười hai vua trị vì cho đến khi trong buổi tế lễ, tư tế chỉ đem mười một cốc vàng. Psammetichos tháo mũ đồng làm cốc dâng tế. Nhớ lời sấm xưa, các vua khác tuy không giết ngài nhưng tước quyền, đày ra đầm lầy.

152. Psammetichos được người Ionia và Carians mặc áo giáp đồng (giống sấm truyền "người đồng từ biển") giúp sức đánh bại mười hai vua, giành lại toàn cõi.

153. Ngài xây cổng Nam đền Memphis và chuồng cho thần Apis.

154. Ban đất cho lính đánh thuê Ionia và Carians, đặt móng cho hệ thống thông dịch viên Ai Cập.

155. Miêu tả đền Leto và ngôi nhà độc thạch khổng lồ ở Buto.

156. Hòn đảo nổi Chemmis gần Buto, nơi bảo bọc Apollo.

157. Psammetichos trị vì 54 năm, vây hãm Azotos suốt 29 năm.

158. Necos kế vị, thử đào kênh nối Hồng Hải nhưng bỏ dở vì sấm truyền.

159. Necos chiến thắng tại Magdolos, chiếm Cadytis, trị vì 16 năm.

160. Thời Psammis, sứ thần Elis sang học hỏi; người Ai Cập khuyên nên để người ngoài thi đấu Olympic thay vì người nhà để đảm bảo công tâm.

161. Apries kế vị, trị vì 25 năm, thất bại khi đánh Kyrene, dân chúng nổi dậy.

162. Amasis được phái đến dẹp loạn nhưng lại được tôn làm vua; sứ giả Patarbemis bị cắt mũi tai khi xấc láo với Amasis.

163. Apries đem lính đánh thuê giao chiến với Amasis tại Momemphis.

164. Xã hội Ai Cập chia thành bảy đẳng cấp.

165. Chi tiết về đẳng cấp chiến binh Hermotybians.

166. Chi tiết về đẳng cấp chiến binh Calasirians.

167. Bàn về sự khinh miễn thủ công nghiệp.

168. Đặc quyền ruộng đất và bổng lộc của chiến binh.

169. Apries thất trận bị bắt về Saïs, cuối cùng bị giao cho dân chúng bóp cổ đến chết và chôn cất ở đền Athene.

170. Khu lăng mộ hoàng gia tại Saïs.

171. Trình bày về Bí lễ (Mysteries) do con gái Danaos truyền bá.

172. Amasis lên ngôi, dùng mưu khôn ngoan (đúc tượng từ chậu rửa chân) để chinh phục lòng dân.

173. Lối sống cân bằng giữa làm việc và giải trí của Amasis.

174. Thói quen thời trẻ và cách ứng xử với các đền sấm.

175. Các công trình kiến trúc vĩ đại Amasis xây dựng ở Saïs, nổi bật là ngôi nhà độc thạch.

176. Tượng khổng lồ ở Memphis và Saïs.

177. Ai Cập hưng thịnh dưới thời Amasis với 20.000 thành phố, luật khai báo thu nhập.

178. Amasis yêu mến người Hellas, ban hành thành phố Naucratis và cho phép lập các khu thánh điện chung (Hellenion).

179. Đặc quyền thương mại độc tôn của Naucratis.

180. Đóng góp phèn chua cho đền Delphi.

181. Hiệp ước với Kyrene và câu chuyện trắc trở hôn nhân với Ladike.

182. Các lễ vật dâng cúng tại Hellas và việc chinh phục Cyprus.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.