Kinh Thành Thập Án

Lượt đọc: 65 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sáu, Vụ Án "Lâm Hải Tuyết Nguyên"

❊ ❊ ❊

1. Ga Bắc Kinh xuất hiện một cỗ "Combine"

Trên thế giới này loại người quái dị nào cũng có, người làm cảnh sát lại càng chạm trán nhiều kẻ quái dị hơn. Hôm đó, có một viên cảnh sát ngoại hình trông giống hệt Mã Thiên Dân đang tuần tra ở lối ra vào ga Bắc Kinh, thì chợt thấy một người có vẻ khá lạ lẫm.

Người này trông lạ lẫm sao?

Nghe câu hỏi này xem, người ta có phải rau đâu, mà ai lại có thể trông tươi mới cơ chứ? Một người đàn ông miền Bắc tuổi ngoài bốn mươi sắp bước sang năm mươi, ánh mắt hơi đờ đẫn, làn da bị phơi nắng đen đỏ, chẳng dính dáng gì đến từ "tươi mới" sất. Ngược lại, đối phương mặc quần áo mới, chỉ là dưới ánh nắng gắt, nhìn kỹ lại thì cổ áo mới đã chi chít những vết mồ hôi vàng ố.

Người không mới mẻ, nhưng biểu cảm thì lại rất mới mẻ.

Viên cảnh sát nhìn thấy anh ta vào khoảng tám, chín giờ sáng, lúc đó cũng chẳng để tâm. Người này phát hiện cảnh sát đang nhìn mình, còn quay đầu lại nhìn chằm chằm hai cái, hệt như đang xem mắt con rể vậy.

Bị nhìn nhiều, đồng chí Mã Thiên Dân cũng không lấy làm bận tâm — liếc mắt là hiểu ngay, người này hoàn toàn không dính dáng gì đến việc phạm pháp. Chắc chắn là một lão nông chất phác ở Đông Bắc, hơn nữa lại còn là lần đầu tiên đến Bắc Kinh.

Cứ nhìn cái cổ áo ấy là hiểu. Chiếc áo Trung Sơn kia vẫn còn nguyên những nếp nhăn chết cứng kìa! Phần lớn là thay trên toa giường nằm lúc đến Bắc Kinh, để tạo ấn tượng thật tốt với Bắc Kinh đây mà. Đã cất công đến Bắc Kinh một chuyến, chắc chắn phải mặc hết cả những bộ quần áo đáy hòm ra rồi.

Trên tàu hỏa làm gì có thiết bị tắm giặt, quần áo của anh có mới đi nữa thì mồ hôi trên cổ cũng chẳng nể mặt đâu, chưa đến nửa ngày là lại thành ra cái bộ dạng này rồi.

Nhân tiện xin nói thêm, vào đầu những năm 80, đến Bắc Kinh một chuyến là một chuyện tạc động trời. Ở Đông Bắc có một cán bộ cải tạo, từng đến Bắc Kinh một chuyến, sau khi về vừa bước qua cửa liền túm lấy một tên tội phạm già người Bắc Kinh ra mà chất vấn: "Thằng ranh nhà mày dám đùa tao à? Đứa nào bảo dưới chân Thiên An Môn có lắp bánh xe, cứ đến tối là lại đẩy về phía sau cơ chứ? Mày lừa tao ròng rã ba năm trời đấy... Ba năm trời đấy", người này vẫn đinh ninh Thiên An Môn là thứ ban ngày ẩn nấp ban đêm xuất hiện, chuyện này đặt vào thời nay thì quả thực không thể tưởng tượng nổi.

Người đàn ông đó trừng mắt nhìn cảnh sát làm gì? Đó là vì người ta muốn quan sát cho thật kỹ xem cảnh sát thủ đô mặc đồ thế nào, trang điểm ra sao, để về còn thuật lại cho bà con chòm xóm nghe chứ.

Nếu anh ta biết sau này mình còn phải nhìn cảnh sát bao nhiêu ngày nữa, thì chắc chắn bây giờ đã chẳng buồn tốn sức làm cái vẻ nghiêm túc này làm gì.

Mã Thiên Dân bật cười, ưỡn ngực tiếp tục tuần tra. Đến 11 giờ quay lại, bỗng thấy có gì đó không đúng lắm — sao người này vẫn còn ở đây thế này?

Đang có ý định đến hỏi thăm, nhưng thấy người này cứ cắm cổ nhìn chằm chằm về phía Bắc, có vẻ như chẳng bận tâm đến mình. Ngay lúc đó, một bác gái bước đến hỏi Mã Thiên Dân quanh đây có chỗ nào bán bánh mì kẹp thịt lừa không, một tiếng chen ngang thế là quên bén mất chuyện này.

Buổi trưa ăn cơm xong, chợp mắt một lúc, buổi chiều Mã Thiên Dân tiếp tục đi tuần, lạnh lùng liếc nhìn, ái chà... sao người này vẫn chưa đi nữa vậy?!

Chỉ thấy người này vẫn đứng ở chỗ cũ, hai chân đứng vững như cọc đóng tàu, nhìn cái điệu bộ đó thì từ sáng đến giờ ngay cả chỗ ngồi cũng chưa nhích lấy một chút. Khác biệt duy nhất là đôi mắt đã trợn trừng to bằng cái bánh bao rồi.

Người này chắc chắn có chuyện rồi. Mã Thiên Dân là một cảnh sát nhiệt tình, định bước tới xem có giúp gì được không. Vừa cất bước, Mã Thiên Dân lại do dự.

Rốt cuộc là thế nào?

Vị trí người này đứng không hợp lý cho lắm — anh ta đang đứng ngay trên lề đường bên quảng trường trước ga.

Ga tàu hỏa có hai đồn công an, một đồn của cảnh sát đường sắt, một đồn của cảnh sát trị an Bắc Kinh. Cảnh sát đường sắt không quản trị an, cảnh sát trị an không quản đường sắt, cái gọi là cảnh sát đường sắt, mỗi bên quản một đoạn, ranh giới giữa hai bên chính là cái lề đường này.

Mã Thiên Dân là cảnh sát trị an, vừa nhìn liền nghĩ, chà, anh đứng đúng chỗ thật đấy, tôi mà qua quản thì thành ra vượt quyền mất rồi, hay là tôi đi tìm một cậu cảnh sát đường sắt tới nhỉ?

Vừa chần chừ một chút, chợt nghe đằng sau có tiếng hô: "Bắt trộm kìa!"

Mã Thiên Dân theo phản xạ quay đầu lại, chỉ thấy một đám người, đang vác theo chăn cuộn, túi du lịch, vây quanh một thứ gì đó mà nghiến răng nghiến lợi.

Hợp đồng thì ra điều kiện, tôi là cảnh sát, đừng có đánh người!" Mã Thiên Dân "vù" một tiếng lao vút qua, anh ta biết đó là vây bắt kẻ trộm rồi, phải đi cho nhanh, chậm một chút nữa, đánh chết người thì tính mạng ai đây?

Vừa hô, vừa chạy, lại còn bất chợt ngoái đầu lại một cái, vừa vặn nhìn thấy người đàn ông kia đang giơ tay áo bông lên lau nước mắt — trong lòng Mã Thiên Dân "cộp" một tiếng — một người đàn ông to lớn thế mà lại rơi nước mắt "lả chả", đây chắc chắn là có chuyện lớn rồi!

Mã Thiên Dân vất vả lắm mới dẹp yên được đám đông này, ngẩng đầu lên nhìn lại thì người đàn ông đó đã không còn thấy tăm hơi đâu nữa.

Ông thợ sửa giày bên cạnh mách nước cho anh ta: "Tự chạy vào đồn công an rồi, tôi thấy giống như vợ bỏ trốn ấy..."

Vợ bỏ trốn? Không đúng, tôi thấy còn đau lòng hơn cả vợ bỏ trốn ấy chứ.

Mã Thiên Dân tháo mũ ra thổi thổi, bước về hướng đồn công an.

Vừa bước vào cửa, đã thấy người đàn ông đó đang ngồi trên ghế, khóc hu hu. Nữ cảnh sát duy nhất trong đồn đang vắt một chiếc khăn lông đưa qua: "Bí thư An, anh lau mặt đi."

Mã Thiên Dân bước vào, mọi người xung quanh đều chào hỏi anh. Như đã nói từ trước, ga Bắc Kinh có hai đồn công an, bên này là đồn đường sắt, còn Mã Thiên Dân thuộc đồn trị an. Anh đến đây thì được tính là người của đơn vị anh em đến thăm, mặc dù đơn vị anh em này một ngày không có việc gì cũng sang ba bận, gặp bữa liên hoan nhỡ đâu còn dẫn theo vài đồng chí phòng vệ liên hợp nữa, nhưng dẫu sao đó cũng vẫn là đơn vị anh em, không giống với người trong nội bộ của mình.

Chính vì sự khác biệt này, nên vị "Bí thư An" kia đã hiểu lầm — anh ta tưởng người vừa đến là lãnh đạo.

Chỉ thấy người này "vụt" một cái đứng phắt dậy, "bịch" một tiếng quỳ sụp xuống trước mặt Mã Thiên Dân, dập đầu "cốp cốp cốp", miệng lẩm bẩm thứ gì đó nghe không rõ lắm, đại ý là đồng chí cảnh sát xin anh hãy cứu giúp, hãy đòi lại tiền giúp tôi, bắt giam anh rể bọn chúng lại đi...

Mã Thiên Dân vội vàng đỡ anh ta đứng dậy, trong lòng hít một ngụm khí lạnh: Dựa theo kinh nghiệm của anh, người dạng này nếu khóc thì sự tình hãy còn có thể thương lượng, đáng sợ nhất chính là kiểu không khóc, một người đàn ông rắn rỏi nhìn bạn với đôi mắt như bốc hỏa, chỉ một cái dập đầu là khiến cả căn phòng rung chuyển như động đất.

"Anh ta mất cái gì vậy?" Mã Thiên Dân hỏi đồng chí cảnh sát trong đồn.

Nữ cảnh sát nọ khẽ nói: "Anh ta mất một chiếc máy kéo."

"Hả?" Mã Thiên Dân theo bản năng liếc nhìn ra cửa, người ta mất đủ thứ ở cửa ga Bắc Kinh, nhưng mất loại đồ vật như máy kéo thì đây là lần đầu tiên được nghe thấy.

Rốt cuộc là chuyện gì thế này?

Hóa ra, vị Bí thư An này là bí thư đại đội của huyện Bặc Lợi, Hắc Long Giang. Nơi này vào thời điểm đó đất rộng người thưa. Lão An tuy chỉ là một bí thư đại đội, nhưng địa bàn quản lý của ông ta nếu đặt ở Nhật Bản thì không hề nhỏ hơn một thành phố, ở địa phương cũng là nhân vật giậm chân một cái là tứ phương hưởng ứng. Đất đai ở nơi này lại cực kỳ màu mỡ, một trinh sát tham gia phá án sau này đã hồi tưởng lại rằng: "Đến nơi rồi mới biết, hèn chi hồi xưa bọn tiểu Nhật Bản lại khao khát mảnh đất Đông Bắc này đến thế. Nơi này thực sự quá đỗi phì nhiêu. Đặt vào tay ai thì người ấy cũng thích, bánh bao lớn Đông Bắc ngon quá, thơm phức!" Ruộng đồng ở nơi này, trồng thứ gì mọc thứ đó, một người có thể gánh vác tới mấy trăm mẫu đất, nếu chiếu theo tiêu chuẩn năm đó, người lấy không được vợ cũng có thể được chia đất làm địa chủ.

Chính vì đất đai quá nhiều, quá tốt, nên mới nảy sinh vấn đề.

Bởi vì đất đai tuy tốt, nhưng nhân lực không đủ, hoa màu thu hoạch không xuể. Đầu những năm 80, nông nghiệp bắt đầu thực hiện khoán sản xuất, ai nấy làm ruộng đều có tinh thần hăng hái, bà con chòm xóm bàn bạc với nhau, cuối cùng có người hiến kế: "Chúng ta góp tiền mua một chiếc 'Combine' đi, cái thứ đó vừa nổ máy lên là anh có thể đi ngủ được rồi, ngủ dậy quay đầu lại tiếp tục ngủ. Công việc của một ngày, ngủ hai giấc là làm xong, tối về nhà hú hí với vợ không cần phải chợp mắt."

Có người hỏi: "Mày lấy đâu ra vợ?"

Đáp: "Tao trực tiếp coi 'Combine' là vợ."

Thấy chưa, có thể hú hí với "Combine" suốt đêm, người Đông Bắc có phải ai cũng có tố chất của Triệu Bổn Sơn không hả?

Khoan đã, vị kia lên tiếng hỏi, thế nào gọi là "Combine" thế?

Nông dân Đông Bắc hỏi lại: "Jiang Zi anh có biết là gì không? Zou Zhao Gong Qiang anh có biết là gì không? Hì hì, lần này đến lượt chúng tao dạy anh cách nói chuyện rồi đấy. 'Combine' ấy à, chính là nghĩa là Combine..."

Hử? Đây vẫn là những người nông dân Đông Bắc của thập niên 80 đấy chứ? Hình như trường tiểu học nông thôn lúc bấy giờ thường không dạy tiếng Anh đâu nhỉ.

Thực ra không phải khoác lác đâu, tuy ngày nay nói đến "Combine" trên mạng rất ít người hiểu, nhưng những người nông dân Đông Bắc năm xưa lại quen thuộc đến tận chân tơ kẽ tóc.

Hồi đó tiên sinh Diệp Vĩnh Liệt từng viết một tác phẩm nổi tiếng "Tiểu Linh Thông du ngoạn tương lai", trong đó có một tình tiết thế này: Tiểu Linh Thông ở cánh đồng lớn của thành phố tương lai, nhìn thấy một con quái vật kéo theo chiếc cày rộng vành đi tới, ruộng đất phía sau liền tự động cắm đầy mạ non. Thấy tên này lững thững đi thẳng về phía bờ ruộng, Tiểu Linh Thông hoảng hốt, gọi lớn không có tác dụng liền lao lên giật đẩy loạn xạ, cuối cùng cũng dừng được cái máy "nguy hiểm" này lại.

Tiểu Linh Thông đương nhiên là sai rồi, loại quái vật này có gắn thiết bị lái tự động (đoán là GPS), tự nó biết rẽ cua mà...

Cái gọi là "Combine" chính là một loại máy móc nông nghiệp cỡ lớn, có thể cày ruộng, cấy mạ, gieo hạt, phun thuốc, gặt lúa, ngoại trừ việc không có GPS ra thì mọi thứ đều gần giống với con quái vật này, là trợ thủ đắc lực cho nông dân Đông Bắc làm việc.

"Combine" nguyên bản của nước ta vốn xuất phát từ Liên Xô cũ. Sau đó, chuyên gia nông nghiệp đỏ người Mỹ Han Ding đến Trung Quốc, thúc đẩy ba món vũ khí lớn của ngành nông nghiệp — "Combine", tưới phun mưa và phương pháp canh tác không cày xới, thứ này xếp vị trí số một.

Thứ được hai siêu cường ca ngợi này, rốt cuộc có hình dáng như thế nào?

Nói ra thì có vẻ thần bí, thực ra cấu tạo của thứ này không hề phức tạp, một chiếc máy kéo mang theo máy gieo hạt là có thể làm việc gieo hạt, mang theo máy gặt là có thể làm việc gặt hái, có công dụng tương tự như những chú robot biến hình đang thịnh hành ở thị trường đồ chơi, có thể thay thế tối đa sức lao động thủ công của người nông dân. Hiện nay có một số tài liệu chỉ gọi "Combine" là "máy gặt đập liên hợp", có vẻ như hơi phiến diện hóa năng lực của nó rồi.

Nói thêm một câu, đã tốt như vậy, tại sao "Combine" lại chỉ được sử dụng nhiều ở Đông Bắc?

Điều này không có gì lạ, Combine tuy tốt nhưng cũng có nhược điểm: Thứ nhất, nó hoành hành ngang dọc, cho nên chỉ thích hợp dùng cho các nông trại quy mô lớn, hễ gặp địa hình mảnh ruộng nhỏ hoặc ruộng bậc thang thì nó hoàn toànó bó tay; Thứ hai, nó cần phải chừa lại lối đi trên đồng ruộng, đối với những người nông dân Trung Quốc quý đất như vàng, thì đây là một sự lãng phí khiến người ta xót ruột; Thứ ba, dẫu sao thì nó cũng là thao tác cơ giới hóa, không thể sánh bằng phương pháp canh tác tỉ mỉ truyền thống của nông dân nước ta, kiểu gì cũng sẽ bị giảm sản lượng đôi chút.

Lão Tát sao lại biết mấy chuyện này? Rất đơn giản, mẹ Tát hồi đó chính là người làm máy móc nông nghiệp đấy chứ! Hồi ấy mẹ Tát vừa mới được điều động về Bắc Kinh chưa lâu, độ ba mươi tuổi, đang là lúc hăng hái gây dựng sự nghiệp, đồng nghiệp của bà cũng xêm xêm tuổi đó. Mặc dù "kiếp nạn mười năm" khiến phần lớn mọi người có phần xa lạ với nghiệp vụ, nhưng một khi đã lao vào công việc thì bản lĩnh của nhóm người Trung Quốc này ngay cả Han Ding với tư cách là bạn bè cũng không ngờ tới. Ví dụ như chiếc máy tuốt lúa mà Han Ding mang đến, bộ phận cốt lõi là một trục thép tua tủa gai nhọn, ngô hạt cho vào từ đầu này lập tức bị những chiếc gai nhọn trên trục thép giữ chặt lại, đầu kia đi ra liền là hạt ngô và thân ngô đã được "lột sạch", quả thực vô cùng thần kỳ, chỉ có điều giá bán cũng khiến người ta kham không nổi. Loại trục gắn gai thép này không có thiết bị sản xuất ở nước ta, xem ra đành phải nhập khẩu từ Mỹ thôi. Kết quả là nhóm của mẹ Tát đã kiếm một cái trục sắt đen, gọi một anh công nhân hàn tiện liên tục chấm hàn lên đó, chấm một cái là thành một chiếc gai nhọn, chỉ chốc lát sau đã làm ra được thứ mang công nghệ bằng sáng chế của Mỹ, giá thành tương đương một phần nghìn hàng nhập khẩu. Tiên sinh Han Ding ôm cái trục sắt đó quay ba vòng, suýt nữa thì dùng thứ giống như chùy gai đó tự đập vào đầu mình rồi.

Tuy nhiên, những thứ khác có thể châm chước qua loa, nhưng bộ phận quan trọng nhất của Combine — chiếc máy kéo thì tuyệt đối không thể, thứ này bắt buộc phải mua hàng chính hãng.

Nói tới thời điểm hiện tại, nếu có nhu cầu, chỉ sợ người bán bánh đậu cũng có thể kiêm luôn việc kinh doanh máy kéo. Trong nền kinh tế hàng hóa, cái gì kiếm ra tiền thì mọi người làm cái đó, đó là lẽ đương nhiên. Nhưng vào năm 81, máy kéo hoàn toàn thuộc diện hàng hóa cung không đủ cầu, thứ đó có tiền cũng chưa chắc đã mua được.

Hồi đó muốn mua máy kéo, là phải có giấy phê duyệt của Bộ Cơ khí thứ nhất.

Bà con nông dân rất ủng hộ việc mua Combine, lần lượt bày tỏ có thể góp tiền. Với tư cách là cán bộ đảng viên, Bí thư An là người được tín nhiệm nhất, chịu trách nhiệm đi tìm mối quan hệ để mua máy kéo. Không thể không khen ngợi rằng, cán bộ đảng viên năm 1981 vẫn rất có uy tín.

Bí thư An làm việc chăm chỉ, đối xử công bằng, rất được lòng người ở vùng Bặc Lợi, cũng là một nhân vật có tài năng, nhưng khi đến Mẫu Đơn Giang thì lực bất tòng tâm rồi. Đi theo trình tự tổ chức, thì không biết đến năm tháng khỉ gió nào mới xong?

Cán bộ thời bấy giờ, tham nhũng không phải là vấn đề, sự cứng nhắc mới là vấn đề, máy kéo nằm trong kho, thủ tục phê duyệt không đầy đủ thì dứt khoát không thể lái ra được.

Chạy đôn chạy đáo từ Mẫu Đơn Giang sang Cáp Nhĩ Bìng, kết quả là công cốc. Chiếc máy kéo này, rốt cuộc nên đi đâu mua đây? Bí thư An vô cùng lo lắng. Lúc này, nếu thực sự có thể dùng chút tiền để bôi trơn, thì chưa chắc đã không phải là một chuyện tốt.

Con người ta vào lúc đường cùng không lối thoát, thế nào cũng sẽ gặp ai cũng lải nhải vài câu. Trên chuyến tàu đi Thẩm Dương, Bí thư An tình cờ gặp một thanh niên họ Tề. Nghe thấy nỗi phiền muộn của Bí thư An, thanh niên liền nói bác đừng lo, em quen một người anh em họ Cát, cực kỳ có bản lĩnh, biết đâu lại có thể giúp bác giải quyết được đấy.

"Anh em à, thế thì tốt quá, biết lấy gì để cảm ơn cậu đây?" Bí thư An vô cùng mừng rỡ.

"Thành hay không thì vẫn chưa chắc đâu." Cậu thanh niên tỏ ra rất chân chất.

Đến Thẩm Dương, cậu thanh niên dẫn theo bạn của mình đến. Qua trò chuyện, vị họ Cát này nói máy kéo thì có đấy, đi thẳng tới Bắc Kinh đi, anh rể tôi đang làm việc ở Bộ Cơ khí thứ nhất ở Bắc Kinh đây, các bác đi theo tôi đi.

Cảnh sát tham gia phá án sau này nói rằng, vấn đề lớn nhất của Bí thư An này là nửa đời người toàn chạm trán với những người thật thà...

Cái này mà cũng coi là vấn đề sao, lão Tát đây nửa đời người cũng toàn gặp phần lớn là những người thật thà đấy thôi.

Đồng chí cảnh sát bảo vẫn còn vế sau nữa cơ, cộng thêm thời điểm đó chỉ có tám vở kịch mẫu diễn đi diễn lại chứ chưa có internet.

Chỉ có tám vở kịch mẫu, nhân vật trong đó ai nấy đều cứng nhắc như mặt nạ tuồng, tội nghiệp cho Bí thư An ở Bặc Lợi nửa đời người, đến mặt mũi kẻ lừa đảo trông thế nào cũng chẳng biết. Đặt vào thời nay mà xem, đừng nói là bị lừa, những tên lừa đảo nước ngoài nào hơi kém cỏi một chút khi đến Trung Quốc, mà có thể chịu đựng được cám dỗ không mua ba chiếc nạng mang về nhà thì coi như hắn có định lực lắm rồi.

2. "Giáo sư" phá án, còn ngoan độc hơn cả "Trọng án lục tổ"

Bí thư An theo họ Cát đến Bắc Kinh, quả nhiên đã gặp được anh rể của hắn. Anh rể giắt một cây bút máy ở túi áo ngực, nhìn cái là biết ngay xuất thân từ cơ quan lớn.

Mặc dù xuất thân từ cơ quan lớn, nhưng lại hoàn toàn không hề có chút thành kiến nào với nông dân. Anh rể rất kiên nhẫn lắng nghe Bí thư An trình bày sự việc, nói chúng tôi có chính sách phải hỗ trợ nông dân vùng biên cương, anh đừng lo lắng.

Tuy nhiên, việc xin giấy phép phê duyệt vẫn cần phải mất một thời gian, người ta nói, để Bí thư An về nhà chờ đợi.

Cứ thế, Bí thư An thật thà quay về. Dùng từ ngữ tự miêu tả của chính ông ta, thì trong lòng vừa có chút mong chờ, lại vừa có chút sốt ruột.

Đã vậy, sao Bí thư An của chúng ta lại đứng ở lề đường nữa thế kia?

Câu chuyện dài dòng lắm. Cuối cùng thì một hôm điện thoại cũng gọi tới, chính là tên họ Tề gọi tới, bảo Bí thư An đến Thẩm Dương. Thông báo cho ông ta biết giấy phê duyệt đã lấy được rồi, đến Bắc Kinh nhận hàng, tư liệu do nhà nước kiểm soát thống nhất, hàng hóa khan hiếm, không đến lấy máy kéo thì đành phải nhường cho người khác, quá hạn không đợi.

Bí thư An cuống cuồng như lửa đốt, mang theo tiền liền đi. Đầu tiên đến Thẩm Dương, hẹn một quán ăn để mời Tề và Cát — giúp đỡ một việc lớn như vậy thì mời người ta ăn cơm là điều hiển nhiên. Lúc ăn cơm, Cát lấy tờ giấy phê duyệt mà anh rể gửi qua bưu điện ra, đóng con dấu đỏ chói lọi, lúc ấy một trái tim của Bí thư An mới thực sự thả lỏng trong lồng ngực.

Tiếp theo, Bí thư An đi Bắc Kinh, đến nhà khách nhận phòng, anh rể đến, hai người hàn huyên, Bí thư An bày tỏ sự cảm ơn, anh rể nói sau này có dịp đến Bặc Lợi chơi mong anh chiếu cố nhiều hơn. Bí thư An nói không thành vấn đề, thịt lợn hầm miến cứ ăn cho thoải mái...

Phía sau thì sao? Phía sau hai người đi xem hàng, chốt xong lấy chiếc máy nào, rồi quay trở lại khu vực trước ga tàu hỏa, tìm một quán ăn để ăn cơm. Ăn xong bước ra, anh rể hỏi tiền mua máy kéo của anh đâu?

Bí thư An vội vàng lấy chiếc cặp sách đựng tiền ra, anh rể tiện tay vứt mẩu thuốc lá đi, rất phong độ cầm lấy cặp sách, nói tôi phải mang tiền đi nộp tài chính ngay đây. Anh xem, sợ anh sốt ruột nên hóa đơn tôi đã làm sẵn cho anh từ trước rồi đây, anh cầm lấy nhé. À, tòa nhà Bộ Cơ khí thứ nhất anh không có thẻ ra vào nên không vào được đâu, anh cứ đứng ở đây chờ nhé, đừng có đi đâu đấy, đợi tôi nộp tiền xong lấy được giấy nhận hàng, chúng ta sẽ đi lấy máy kéo...

Bí thư An cầm lấy hóa đơn, liền ngoan ngoãn đứng ở cái lề đường ấy.

Nói rôm rả thế, vụ án này số tiền là bao nhiêu?

Hơn một vạn tệ.

Hừm, vị kia lên tiếng, hơn một vạn tệ á? Nếu ở trong vòng đường vành đai 5 mua nhà thì một mét vuông còn chưa đủ, đây tính là vụ án lớn cỡ nào chứ...

Hơn một vạn tệ hồi đầu những năm 80, ở Bắc Kinh được coi là phạm vi trọng án lớn đấy.

Kể ba chuyện thế này, các bạn sẽ hiểu hơn một vạn tệ hồi đầu những năm 80 đáng giá bao nhiêu rồi.

Chuyện thứ nhất, khoảng năm 1985, một người hàng xóm cũ của nhà tôi qua đời, để lại di sản hơn một nghìn tệ, mấy người con tranh giành nhau như Phạm Tiến trúng cử, suýt chút nữa thì rút cả dao ra.

Chuyện thứ hai, lực lượng công an phá vụ án này, người có cấp bậc cao nhất, lúc bấy giờ tiền lương mỗi tháng là 43 tệ, số tiền của vụ án này đủ để anh ta nhịn ăn nhịn mặc gom góp trong 30 năm.

Chuyện thứ ba, chủ mưu của vụ án này, cuối cùng đã bị xử bắn. Tất nhiên là vì trong đó có liên quan đến những vụ án khác, nhưng nguyên nhân chủ yếu nhất vẫn là số tiền hơn một vạn tệ ở thời điểm đó là một trọng lượng vô cùng nặng ký.

Cũng chính vì nguyên nhân này, vụ án này đồn công an hoàn toàn không xử lý, mà giao thẳng cho phân cục hai của cục công an thành phố.

Phân cục hai cục công an thành phố là nhân vật thần thánh nào cơ chứ?

Theo lời miêu tả của một đại ca ở Lương Gia Viên, vào thập niên 90 xảy ra một vụ án mạng, sau khi báo cáo lên trên thì phân cục hai cử người đến khám nghiệm hiện trường. Giữa chừng có một nữ cảnh sát vừa tốt nghiệp trường cảnh sát, tóc ngắn ngang vai, ngậm chéo điếu thuốc không châm lửa, đặt máy tính xách tay lên đầu gối, bên kia báo cáo kết quả khám nghiệm, bên này "cộp cộp cộp" bản báo cáo đã xuất ra xong xuôi. Đang đánh máy dở thì có chỗ nào chưa rõ, nữ cảnh sát kẹp điếu thuốc lên tai, bước qua vạch miệng nạn nhân ra xem xét từ trên xuống dưới cho thật rõ, rồi lau tay tiếp tục đánh máy. Chỉ trong chớp mắt, điếu thuốc ấy lại được ngậm lên miệng.

Viên cảnh sát già xử lý vụ án 20 năm, cũng có người xem đến ngẩn ngơ cả người...

Chiếu theo lời vị đại ca này, khí chất đó quả thực giống hệt như nữ bổ khoái trong phim truyền hình, oai phong bệ vệ không thua kém gì "Tứ đại bà cô Pháo Cục" — nhìn cái là biết ngay cốt cách của người phân cục hai.

Phân cục hai, chuyên trách các vụ án trọng điểm như giết người, hiếp dâm, cướp của trên địa bàn thành phố Bắc Kinh, là một đội ngũ tinh nhuệ của Cục Công an thành phố Bắc Kinh, các bộ phận khác đối với họ vừa yêu lại vừa hận. Yêu là vì đám người này thực sự biết phá án, hận là vì đám người này trang bị tốt, thủ nhãn thông thiên, vụ án nào rơi vào tay họ thì người khác chỉ có phần đi phụ tá thôi.

Lần này, người phân cục hai phái tới không phải là vị bà cô nào cả, mà vị trinh thám đến đây có biệt hiệu trong giới cảnh sát Bắc Kinh là "Giáo sư".

"Giáo sư", nghe thấy mới mẻ phải không? Các bạn đừng thấy lạ, biệt hiệu của mấy chú cảnh sát có khi còn tây hơn bạn tưởng tượng nhiều, có một vị đại ca hơn 80 tuổi, hồi đó thế mà lại được gọi là "Conan"...

Sở dĩ "Giáo sư" có cái tên này, là vì sau này ông ấy thực sự trở thành giáo sư, giảng dạy môn Trinh sát hình sự tại Đại học Công an, không biết bây giờ cụ ông đã nghỉ hưu chưa.

Lúc phá vụ án "Lâm hải tuyết nguyên" này, "Giáo sư" vẫn chưa phải là giáo sư, nhưng đã đào tạo ra không ít học sinh rồi, chi tiết của vụ án này, chính là được moi ra từ miệng của một học sinh của "Giáo sư". Vị chuyên gia trinh sát hình sự hiện nay này, mỗi khi nhắc đến thầy giáo là lại khâm phục sát đất.

Tại sao lại thế?

Anh ta theo học việc dưới quyền "Giáo sư" từ những năm 70. Lần đầu tiên tiếp xúc là do một vụ án truy vết bám theo mục tiêu. Cơ quan công an nhận được tin báo, có một tên sát nhân lẻn vào Bắc Kinh, địa chỉ không rõ, nhưng anh trai của hắn đang từ địa phương khác vội vã đến để gặp mặt.

Có đầu mối này rồi, đi theo người anh trai của tội phạm, lần theo manh mối, rõ ràng là một cách làm vô cùng tốt.

Trong điều kiện trang bị lạc hậu lúc bấy giờ, đành phải dựa vào người đi bám theo thôi. Tuy nhiên, người anh của tội phạm cũng là một đối tượng cải tạo về, có năng lực phản trinh sát khá mạnh, cho nên việc theo dõi tuyệt đối không được đánh động bứt dây động rừng.

Thế là, một đám gà mờ chỉ đành làm khán giả đứng xem. "Giáo sư" tự mình cưỡi một chiếc xe đạp ra trận theo dõi.

Chỉ vỏn vẹn một ngày, bám sát, tìm ra sào huyệt, phá án.

Người anh của tội phạm vô cùng thắc mắc: "Tôi đã cực kỳ cẩn thận rồi, liên tục chú ý đằng sau, quả thực không có ai theo dõi tôi cả, sao vẫn bị hốt gọn thế này?"

Khi họp tổng kết, "Giáo sư" đã nói về phương pháp của mình: "Cũng là tôi gặp may, hắn vừa ra cửa liền lên một chiếc xe buýt, thật là cơ hội trời cho. Tôi cưỡi xe đạp đuổi theo, hắn xuống xe chạy thẳng về sào huyệt, cứ thế mà tóm thôi."

"Thế sao hắn lại không phát hiện ra anh theo dõi hắn chứ?"

"Rất đơn giản, tôi không ở đằng sau hắn, mà ở đằng trước hắn cơ mà."

Hóa ra, khi nhìn thấy đối tượng theo dõi lên xe buýt, "Giáo sư" liền tăng tốc đạp xe thật lực, đến thẳng trạm dừng chân phía trước cách đó mười mét để chờ sẵn, nhìn thấy trong số những người xuống xe không có đối tượng theo dõi, thì lập tức tiếp tục đạp nhanh đến trạm tiếp theo. Đối tượng theo dõi chỉ mải suy tính xem đằng sau có ai theo dõi mình hay không, nằm mơ cũng không ngờ tới đối phương lại đón đầu ở đằng trước!

Nếu không phải xe buýt, thì chiến thuật này hoàn toàn vô dụng. Thứ nhất, bạn không biết nó chạy đi đâu, không thể đến đằng trước chờ được; Thứ hai, bạn không biết nó có mở cửa giữa chừng để thả người xuống hay không; Thứ ba, nếu không phải xe buýt trạm nào cũng dừng, thì "Giáo sư" có mửa mật mệt hộc máu cũng chẳng đuổi kịp nó ấy chứ.

Đối tượng theo dõi bước xuống xe buýt, xác định trên xe và dưới xe không có ai theo dõi, nên rất yên tâm đi về phía sào huyệt, kết quả là dễ dàng bị tóm gọn.

Nói tiếp nhé, "Giáo sư" tiếp nhận vụ án này, Bí thư An thuật lại tình hình một lượt, sự việc nhanh chóng có được một phác thảo đại khái: Giấy phê duyệt, giả! Hóa đơn, giả! Bộ Cơ khí thứ nhất tra không có người này, đi xem máy kéo...

Chiếc máy kéo đó là hàng đang chờ vận chuyển ở bãi hàng đường sắt, bọn chúng chỉ đứng ở ngoài hàng rào sắt nhìn vào, hỏi chiếc máy kéo này có được không (cảnh sát bảo, thế sao anh không vào xem tận nơi đi). Kẻ phạm tội đã lợi dụng tâm lý sốt sắng mua máy kéo và lòng tin vào con dấu công của nhóm Bí thư An.

Trinh sát sơ bộ nhận định, đây là một vụ án lừa đảo điển hình, nhưng thủ đoạn gây án vô cùng thuần thục, thuộc loại tái phạm nhiều lần.

Nhà của hai tên Tề và Cát chắc là ở Thẩm Dương, còn nhà của tên anh rể thì ở Bắc Kinh, hơn nữa lại cách ga Bắc Kinh không xa.

Thực ra, ngay từ đầu đã đi sai hướng rồi.

Trinh sát hỏi Bí thư An về quá trình vụ án, "Giáo sư" từ hiện trường một vụ án khác chạy tới, đến hơi muộn, cầm một điếu thuốc đứng nghe ở bên cạnh — biên chế của phân cục hai lúc bấy giờ là một phòng chia thành mười tổ, "Giáo sư" là tổ trưởng của một tổ trong số đó.

Bây giờ hễ nhắc đến "Trọng án lục tổ" thì ai nấy đều biết, hồi đó phân cục hai quả thực có một tổ sáu, thế nhưng vụ án của tổ sáu thực tế không thể đem lên phim ảnh được, bởi vì các vụ án mà họ tiếp nhận đều là loại giết bảy mẻ tám, quá máu me, ảnh hưởng không tốt đến xã hội. Tôi thấy ngược lại nhóm của "Giáo sư" bên này còn đỡ hơn một chút, Bí thư An tuy sốt ruột đến phát điên, nhưng rốt cuộc thì đâu có án mạng xảy ra cơ chứ?

Vị trinh sát già từng làm học sinh cho "Giáo sư" nghe xong liền biến sắc, bảo phân công chỗ nào mà rạch ròi thế được, việc này không giống như chọn dưa hấu, gặp phải cái gì thì tính cái đó. Cậu không biết đấy thôi, sở trường nhất của chúng tôi thực ra là các vụ án phân thây từ xa — vụ án phân thây từ xa đầu tiên ở Bắc Kinh, chính là do "Giáo sư" dẫn người phá đấy. Vụ án đó, còn ngoan độc hơn cả tổ sáu ấy chứ, chậc chậc, đợi tôi tìm cho cậu một phần tài liệu xem nhé...

Vừa nói, anh ta vừa bắt đầu tìm kiếm.

Nhìn đám người bận rộn, bỗng nhiên tôi nhớ đến một chuyện không liên quan lắm.

Có một lần tình cờ gặp nhà văn Hoàng Hiểu Phong, anh ấy nói mình viết về Trung đoàn kỵ binh 129 sư lại gặp một rắc rối thế này: Sau khi cuốn "Kỵ binh Cossack trên chiến trường Ký Lỗ Dự" được xuất bản, có người nói với anh ấy rằng ở Quân khu Bắc Kinh có một vị thủ trưởng cũ cứ đập bàn khắp nơi đi tìm một kẻ gọi là "Hoàng viên ngoại", không biết định làm gì nữa. Lão Hoàng vừa nghe thấy tên của cụ ông này liền thấy hơi chột dạ — đại danh của cụ ông này ở Trung đoàn kỵ binh 129 sư vang dội như sấm bên tai, lúc đột vây Ký Nam là người vung mã tấu đuổi theo chém kỵ binh giặc mấy dặm đường, nghe nói tính khí vô cùng nóng nảy, giống hệt như Lương Kiến Phương thời nhà Đường vậy, ông ta tìm mình làm gì chứ? Chắc không phải có hai cô con gái sinh đôi muốn gả cho mình đấy chứ.

Nhưng lại không dám không gặp, người ta có uy thế ở đó cơ mà, sau này chỉ cần nói một câu là kỵ binh toàn quốc nhìn thấy mình là rút dao chém, thì mình còn sống sao nổi nữa?

Gặp mặt, cụ ông quả nhiên rất nóng nảy, chưa nói hết ba câu đã đi thẳng vào trọng tâm: "Tên quỷ quái nào đó rõ ràng là do một phát súng của tao hạ gục, sao mầy lại tính lên đầu lão Lưu họ An hả?"

Hóa ra là chuyện này, lão Hoàng vội vàng giải thích: "Đây là để làm nổi bật nhân vật trọng tâm, cho nên mới gom sự tích của mấy người lên một mình người ta. Xin lỗi ngài nhé, đây là chuyện bất đắc dĩ, nếu không thì cuốn sách này sẽ bị loãng mất..."

Vừa nói vừa thắc mắc: Tên đó cũng chẳng phải nhân vật lớn gì cho cam, chỉ là một tình tiết nhỏ thôi mà. Những nhân vật kiểu này ông đã xử lý không phải ba thì cũng năm người, bắn thì cứ bắn thôi, sáu mươi năm rồi mà vẫn cứ bám riết lấy không buông làm gì cơ chứ?

Nói một thôi một hồi, sắc mặt cụ ông mới dịu xuống đôi chút, coi như là công nhận. Cuối cùng thốt ra một câu: "Thì đúng vậy đấy, đó là do tứ liên của chúng tao làm, sao có thể tính sang đầu nhất liên được cơ chứ?"

"Hả?!" Lão Hoàng lúc này mới bừng tỉnh hiểu ra mình đã phạm phải điều cấm kỵ gì — trong Trung đoàn kỵ binh 129 sư, nhất liên và tứ liên là hai đại liên đội có khả năng chiến đấu mạnh nhất, hai liên đội đánh giặc Nhật thì sinh tử có nhau, nhưng hễ xuống chiến trường thì không chỉ liên đội trưởng và chiến sĩ gặp nhau là cãi vã hầm hầm, mà ngay cả ngựa của tứ liên nhìn thấy đồng loại của nhất liên, cũng phải lao vào cắn cho hai phát.

Đã sáu mươi năm rồi đấy nhé!

Lão Hoàng lúc kể chuyện này, bên cạnh vừa vặn có một người từng đi lính, nghe xong cứ "hì hì" cười mãi, cúi xuống bảo: "Bộ đội có tính vinh dự như thế đấy, thì mẹ nó mới có sức chiến đấu chứ!"

Nhìn cái điệu bộ của vị trinh sát già này, mấy tổ trong phân cục hai, quan hệ cũng chẳng khác gì đoàn kỵ binh của Bát Lộ Quân là mấy.

"Giáo sư" nghe án từ trước đến nay vốn nổi tiếng là văn minh, một điếu thuốc châm lên, nửa ngủ nửa thức, cán bộ cấp dưới báo cáo với ông ấy cũng giữ nguyên cái điệu bộ này. Đổi lại là Trương Lương Cơ... có người sau lưng nói cái giọng của Cục trưởng Trương không gọi là la hét, mà phải gọi là "gầm thét", cách hai tầng lầu cũng có thể làm cho chén trà nhảy cẫng lên.

Nhưng "Giáo sư" thì đừng có nói chuyện, hễ ông ấy mở miệng là có người sắp gặp họa đấy...

Cậu nói cậu không có mặt ở hiện trường, thế cái người trùm quần lót của X lên đầu làm mặt quỷ là ai hả? Đây là ý nói nghi phạm sắp gặp họa rồi.

Phòng hồ sơ tan làm rồi mà cậu đã quay về rồi á? Sao cậu không gọi điện thoại bảo người quản lý quay lại hả? Cậu còn nhớ mình là cảnh sát không cơ chứ? Đây là trinh sát sắp gặp họa rồi.

Lần này, Bí thư An thuật lại đầu đuôi án tình rất rõ ràng, có cảnh sát đã bắt đầu thấp giọng tổng kết kết luận, "Giáo sư" nghe ngóng bỗng nhiên thốt ra một câu: "Đã khám nghiệm hiện trường chưa?"

Hiện trường? Vụ án này có hiện trường sao? Mọi người xung quanh đều ngẩn người ra.

“Giáo sư” không nói hai lời, cầm lấy áo khoác rồi bước thẳng ra ngoài: "Chính là cái chỗ mà (chỉ tay về phía Bí thư An) hắn đứng đấy, tôi qua xem thế nào."

Cái lề đường ở ga Bắc Kinh, hàng nghìn người giẫm vạn người qua, chỗ này mà còn có thể khám nghiệm ra cái gì cơ chứ? Có trinh sát vội vàng đi theo, mặt đầy vẻ khó hiểu.

Có lẽ cảm thấy mình hơi cộc cằn, "Giáo sư" mỉm cười nhẹ, nói một câu: "Tôi biết cái chỗ đó, khu vực giáp ranh ba bên, người quét dọn vệ sinh một ngày cũng chẳng thèm bén mảng đến một lần, cứ qua thử vận may xem sao."

Đến nơi, người qua lại chỉ sợ không dưới một nghìn thì cũng phải tám trăm. Mặt nền gạch xi măng, bốn phía trống hoác không có vật che chắn, theo như lời Bí thư An, đứng ở đây trò chuyện với anh rể vỏn vẹn mấy phút đồng hồ, thì có thể lưu lại thứ gì được chứ?

Nhìn mặt đất ngổn ngang lộn xộn, không giống như vừa mới quét tước, "Giáo sư" thở phào một hơi.

Viên trinh sát đi theo "Giáo sư" đầu óc linh hoạt, thoáng hồi tưởng lại, bỗng nhiên trong lòng có chút dao động.

Đúng lúc này, "Giáo sư" đã lấy nhíp ra, gắp từ dưới đất lên một mẩu thuốc lá, quan sát kỹ lưỡng rồi gật đầu, lại thở dài một hơi, lấy túi vật chứng ra cẩn thận bỏ vào.

Trinh sát nhìn "Giáo sư", đồng tử hơi giãn ra một chút.

"Giáo sư" phì cười: "Cậu đoán xem tôi đang tìm thứ gì nào?"

Trinh sát gật đầu, nói: "Đúng ạ, tôi đoán ngài đến để tìm mẩu thuốc lá mà tên anh rể đã vứt, chẳng phải Bí thư An đã nói rồi sao, anh rể tiện tay vứt mẩu thuốc lá đi, nhận lấy cặp sách, nói tôi phải mang tiền đi nộp tài chính ngay đây."

"Dạy phải lắm", "Giáo sư" mỉm cười. Đừng thấy lạ khi cảnh sát chúng tôi nói chuyện kiểu này, cái đất Bắc Kinh này là trung tâm văn hóa toàn quốc, cảnh sát chạm trán kẻ trộm kiểu gì cũng sẽ trêu chọc vài câu.

Tôi quen một vị cảnh sát, hồi xưa từng bắt được một tên lừa đảo Đường Sơn bị truy nã.

Sau khi hai bên chạm trán, viên cảnh sát nhìn thế nào cũng thấy người này giống hệt trong lệnh truy nã, cơ bản xác nhận xong bắt đầu tra hỏi. Tên này cắn chặt răng kiên quyết mạo nhận là kẻ cửu vạn ở Bắc Kinh chống cự qua lại bảy tám hiệp. Tại sao lại phải cắn chặt răng cơ chứ? Không cắn thì phát âm sẽ bị lộ ngay đấy!

Cho đến khi tên này đọc chữ "Mã Gia Phố (pu)" thành "Mã Gia Bảo (bao)", phát âm theo khẩu âm của hắn thì đọc thành Mã Gia pu chắc chắn sẽ sai lệch. Viên cảnh sát bảo anh đọc không đúng rồi, tên này lại còn cứng cổ tranh luận với viên cảnh sát: "Anh không biết đấy thôi, Bắc Kinh vẫn còn một nơi gọi là Mã Gia Bảo (bao)..."

Viên cảnh sát bảo, anh cởi chiếc giày bên trái ra cho tôi xem nào. Tên này liền cởi ra, đưa qua cho viên cảnh sát.

Viên cảnh sát chộp lấy chiếc giày, giáng thẳng một cái vào mông — tao bảo mày còn ra vẻ văn vẻ nữa đi, tao ở Bắc Kinh ba mươi năm mà chưa từng nghe nói Bắc Kinh lại có chỗ nào gọi là Mã Gia Bảo (bao) cả! Đánh cho cái tội "gỗ mục không thể chạm trổ" của mày này!

Tên lừa đảo lúc này mới phát hiện mình đã sập bẫy, muốn đánh thì viên cảnh sát điềm tĩnh này lật mặt còn hung ác hơn cả thổ phái; muốn chạy thì mất một chiếc giày, hắn lại chẳng phải là Xích Cước Đại Tiên! Đành phải dùng tiếng phổ thông pha giọng Đường Sơn liên tục chắp tay cầu xin tha thứ: "Đại ca, em sai rồi, đại ca, tha cho em đi."

Phong cách cảnh sát Bắc Kinh những năm 80-90, đây cũng có thể coi là một góc nhìn.

Thế nhưng, viên trinh sát kia gãi đầu thắc mắc: "Thế nhưng dưới đất nhiều mẩu thuốc lá thế này, ngài làm sao biết được cái nào với cái nào..."

Đúng vậy đấy, mặt đất này có ít nhất hơn một trăm mẩu thuốc lá cơ mà.

“Giáo sư” mỉm cười, lắc lắc túi vật chứng, nói: "Chính là nó, bởi vì tôi biết nó không giống với bất kỳ mẩu thuốc lá nào khác."

Hơn một trăm mẩu thuốc lá, đưa tay lên là tìm ngay ra được thứ cần tìm, chó nghiệp vụ cũng không có bản lĩnh này, chẳng lẽ "Giáo sư" còn lợi hại hơn cả chó ư?

Nói nhảm, "Giáo sư" đương nhiên là lợi hại hơn chó rồi! Cậu kêu con chó đó lên bục giảng một bài cho mọi người nghe thử xem nào? Đem "Giáo sư" ra so sánh với chó, cậu ăn nói kiểu gì thế hả?

Chuyện này nói ra thực ra rất đơn giản. Thời buổi đó mọi người không giàu có gì, một điếu thuốc lá phải hút đến mức tay không thể cầm nổi nữa mới vứt đi. Danh thủ cờ vây Quá Tích Sinh tiên sinh còn có một tuyệt chiêu, có thể nối liền điếu thuốc mới với mẩu thuốc lá sắp hút xong lại với nhau, nhả khói mịt mờ, tựa như hút mãi không dứt. Cho nên, dù trong trận đấu hút bao nhiêu điếu thuốc đi nữa, thì cuối cùng cũng chỉ có duy nhất một mẩu thuốc lá.

Hiện tượng kỳ quái này từng khiến kỳ thủ người Nhật đối đầu với ông nghĩ mãi không ra.

Còn tên anh rể lừa đảo kia, sau khi cầm được tiền liền vứt ngay điếu thuốc, khả năng vừa vặn hút thừa lại một mẩu mẩu đầu lọc là cực kỳ nhỏ. Trong hơn một trăm mẩu thuốc lá này, lại lẫn lộn một điếu chỉ cháy được một nửa, cho nên, lập tức thu hút sự chú ý của "Giáo sư".

“Giáo sư” người ta vô cùng khiêm tốn, bảo: "Tôi đây là ăn may thôi, ăn may thôi."

Chẳng phải thế sao, trong hơn một trăm mẩu thuốc lá, chỉ có một điếu không giống với người khác, là ăn may; mẩu thuốc lá rơi xuống đất, dập tắt ngọn lửa luôn, không tiếp tục cháy nữa, cũng là ăn may.

Phạt án đôi khi quả thực cần phải có vận may, nhưng chỉ có vận may thôi thì tuyệt đối không đủ. "Tứ đại bà cô Pháo Cục" ở Bắc Kinh, có một người chuyên xem tướng tay cho người ta. Có một lần xem đi xem lại, vẫn không tìm được người phù hợp, đội trưởng bảo xem ra là tay mơ làm rồi, thôi bỏ đi, tìm con đường khác đi. Bà cô người ta tính tình thong thả, mím môi trầm ngâm nửa ngày, cũng không nỡ buông dấu vân tay đó xuống, bảo: "Thế sao được chứ? Tôi tìm lại xem thế nào đã."

Nửa tháng sau, bà cô cầm một bộ hồ sơ bước đến: "Các anh xem, có phải là tên nhóc này không?"

Một dấu vân tay, phá vỡ một vụ án mạng ác tính.

Kẻ phạm tội vừa vặn để lại dấu vân tay, có thể gọi là vận may tốt, nhưng nếu không có vị bà cô thong thả này, thì có lẽ manh mối đó đã tuột mất rồi.

Thuốc lá, chẳng phải loại thuốc lá đặc biệt ngon gì, thậm chí còn không có đầu lọc. "Giáo sư" nhìn mẩu thuốc lá, cười khổ lắc đầu.

Trợ lý liền hỏi, đây chẳng phải là manh mối rồi sao?

"Đúng vậy," "Giáo sư" không chút mặn mà nói, "nhưng manh mối này vừa xuất hiện, thì lại càng cách xa việc phá án hơn."

"Tại sao ạ?"

"Cậu đoán xem?" "Giáo sư" đưa mẩu thuốc lá cho trinh sát, ý là muốn kiểm tra anh ta.

Trinh sát nhìn đi nhìn lại, đưa ra một kết luận: "Nhãn hiệu Đông Bắc, Bắc Kinh chắc là chưa từng bán bao giờ."

"Đúng. Tôi ước chừng tên anh rể này vốn dĩ không làm việc ở Bắc Kinh, cả ba tên này đều từ Đông Bắc đến, lên Bắc Kinh tìm người, hoàn toàn vô vọng."

Ây da, anh kết luận vội vàng thế nhỉ? Trinh sát lấy hết can đảm hỏi, một mẩu thuốc lá không nói lên được vấn đề gì đâu, nhỡ đâu là người khác tặng thuốc cho hắn thì sao.

"Cậu tưởng tôi nhìn thấy thuốc lá nên mới suy diễn thế à? Đó chỉ là một sự kiểm chứng mà thôi."

"Thế thì..."

"Bốn người lần đầu tiên đi ăn cơm, ai trả tiền?"

"Anh rể ạ, hắn nói làm tròn đạo chủ nhà mà."

"Bọn họ ăn cơm ở đâu?"

"Đối diện lối ra vào ga Bắc Kinh, một quán ăn nhỏ, tôi đã đến xem rồi, sau đó Bí thư An mời khách, hai lần đều ở đó."

"Ồ, người bản địa mời khách ăn cơm, lại có kiểu chọn ngay ở cửa ga tàu hỏa sao?"

---❊ ❖ ❊---

Đúng vậy đấy, nói chung là bất kể thành phố nào đi nữa, hàng quán ăn uống ở cửa ga tàu hỏa đều không mấy lấy làm ngon lành cho lắm.

Một chi tiết có thể là ngẫu nhiên, hai chi tiết đều trùng khớp, thì xác suất ngẫu nhiên sẽ không lớn nữa.

Bên phía Bắc Kinh cũng cắt cử người ở lại điều tra thêm, nhưng tôi cảm thấy khả năng anh rể làm việc ở Bắc Kinh là không lớn. Cảm giác cả ba tên này đều là người Đông Bắc, chia nhau ra đến Bắc Kinh để giăng bẫy lừa vị bí thư của chúng ta, thế thì tra cứu kiểu gì đây... "Giáo sư" lắc đầu. Người ta càng tìm manh mối thì càng đến gần việc phá án, còn ông ấy thì hay rồi, đuổi thẳng nghi phạm về tận khu vực Đông Bắc ba tỉnh luôn.

Thế này thì tìm kiểu gì đây?

"Tuy nhiên..." "Giáo sư" nói được nửa câu, liền im bặt không nói tiếp nữa.

Sau này khi nhắc đến vụ án này, "Giáo sư" từng nói với trinh sát rằng đây là một bài học, chỉ cần suy nghĩ thêm một bước nữa thôi là trời cao biển rộng rồi, còn bản thân ông ấy thì sao, chỉ nghĩ thêm nửa bước, chứ không tiến lên phía điều tra thêm chút nữa.

Điều mà "Giáo sư" nghĩ đến là: Ba tên nhóc này gan cũng to thật đấy, nhỡ như Bí thư An đó không sập bẫy, thì tiền vé tàu đi về, cũng chẳng phải là một con số nhỏ đâu nhé.

Chuyện này là thế nào nhỉ? Vụ án được phá, lúc đó mới bừng tỉnh đại ngộ: Thực ra, đây là một manh mối vô cùng quan trọng.

Dù thế nào đi nữa, việc điều tra sàng lọc, liên hệ với cảnh sát Đông Bắc, tìm kiếm ba người này, công việc bắt đầu được tiến hành, nghi phạm đang được khoanh vùng...

Thế nhưng, loại tội phạm gây án ở nơi khác, kiểu chuồn chuồn đạp nước như thế này, mà đem ra phá án thì chẳng khác nào mò kim đáy bể, quả thực không phải là một chuyện dễ dàng gì. Cảnh sát thủ đô tuy lợi hại nhưng cũng không phải là thần tiên, qua lại một tháng trời, ngoài một đống kết luận bị phủ định ra, hoàn toàn không có bất kỳ tiến triển nào.

Còn Bí thư An thì sao?

Bí thư An quyết sống chết không chịu về.

Biết ăn nói thế nào với phụ lão hương thân đây, số tiền đó, có đồng một tệ, có năm hào, toàn bộ tiền của mọi nhà trong thôn có thể gom góp ra được, hầu như đều nằm ở đây cả rồi. Cứ thế lủi thủi quay về với cái mặt tro tàn thì lão An không tự vẫn thì cũng uất ức mà chết.

Cảnh sát cũng là những người thấu tình đạt lý. Bắc Tân Kiều có một văn phòng kiều bào, là đơn vị phối hợp của phân cục hai, thế là họ đưa Bí thư An đến đó ở. Ăn uống miễn phí, tính ra một tháng cũng tốn không ít tiền đâu nhé.

Ai bảo người ta đến Bắc Kinh lại bị lừa đảo lừa mất tiền cơ chứ? Thời đó những vụ án thế này không nhiều, các đồng chí cảnh sát vẫn có chút cảm giác áy náy trong lòng.

Vấn đề là, Bí thư An không hề cảm kích cho lắm, ngày nào ăn cơm xong cũng ngồi xổm ở cửa chờ cảnh sát, đôi mắt càng trợn càng to. Nửa tháng sau, thì to bằng quả chuông đồng luôn rồi.

Các trinh sát cứ cách ba năm ngày lại sang thăm một lần, trong lòng đều có chút chột dạ, có người nói lão già này đừng có mà xảy ra chuyện gì đấy nhé.

Đúng là Tào Tháo đến liền, vừa mới nhắc tới Tào Tháo thì không lâu sau, bỗng có người gọi điện thoại đến phân cục hai, chỉ định yêu cầu "Giáo sư" nghe điện thoại.

Giáo sư cầm ống nghe lên nghe, thì ra là từ đồn công an Địa An Môn gọi tới.

Đã xảy ra trọng án gì lớn vậy?

Không có. Người ta chỉ đơn giản là thông báo cho ông ấy biết: "Vị Bí thư An đó, đã bị chúng tôi bắt giữ rồi, các anh qua xem thế nào đi?"

3. Bí thư đại đội này cũng chẳng phải dạng vừa đâu

Để xác thực chi tiết viên cảnh sát người Triều Tiên đuổi theo chó trong vụ án "Lâm hải tuyết nguyên", tôi từng gọi điện thoại cho một vị trinh sát già từng tham gia xử lý vụ án này ở Bắc Kinh. Nói qua nói lại, tiện thể nhắc đến chuyện của một vị huynh đài có tên mạng là "Hành tẩu 40 quốc", cũng như việc anh ta làm thế nào để qua mặt xin thị chiếu các nước một cách nhẹ nhàng, nhân cơ hội lừa gạt nông dân châu Phi và đủ mọi tình huống khác, nói xong thì đầu dây bên kia im lặng hồi lâu.

Đúng lúc lão Tát tưởng điện thoại bị đứt đường truyền thì bên đó lên tiếng, có vẻ như cũng rất uất ức: "Loại người này tuyệt đối đừng phạm tội — bắt khó quá."

Cúp điện thoại suy nghĩ lại, vụ án "Lâm hải tuyết nguyên", việc đến tận vùng Đông Bắc ba tỉnh để bắt người đã khiến các trinh sát bị vần vò chẳng khác nào Dương Tử Vinh cả. Nếu mà chạm trán với vị chủ nhân lang thang qua 63 quốc gia kia, phỏng chừng các đồng chí cảnh sát chỉ có nước cào tường.

Cũng may, huynh đài Hành tẩu chỉ là một lữ khách, chưa từng nghe nói anh ta có ý định làm chuyện gì vi pháp kỷ luật cả, đúng là may mắn cho cảnh sát nước ta.

Được rồi, quay trở lại chủ đề chính.

Bí thư An bị bắt rồi á?!

Chẳng lẽ người này là kẻ lừa đảo?

Thật là không thể lý nổi, các trinh sát phá vụ án này, thâm niên công tác cộng lại vượt qua một trăm năm, vừa thẩm vấn vừa điều tra nửa tháng trời, hoàn toàn không có lấy một ai trong đầu nghĩ rằng Bí thư An là kẻ lừa đảo cả. Nếu để một người trông có vẻ thật thà chất phác này lừa gạt, thì sau này mọi người ra đường đều phải dùng vải trùm đầu lại mất — loại chuyện này mà cũng nhìn nhầm được cơ chứ, đúng là không còn mặt mũi nào gặp ai nữa rồi.

“Giáo sư” vội vã dẫn theo một trinh sát, lao thẳng đến đồn công an Địa An Môn.

Vừa bước vào sân, liền trông thấy Bí thư An: Chẳng phải là ông ta thì là ai, đang ngồi xổm ở góc tường kìa, khuôn mặt đỏ bừng lên như miếng vải đỏ, nhìn thấy "Giáo sư" xong thì ngậm tịt miệng không nói một lời, hai tay ôm đầu, vội vàng che kín mặt lại.

Nhìn cái điệu bộ này, Bí thư An cũng là kiểu người không còn mặt mũi gặp ai nữa rồi.

Rốt cuộc là chuyện gì thế này?

Viên cảnh sát trẻ tuổi xử lý vụ án đi tới đón chào, với thái độ vô cùng hống hách chỉ tay về phía Bí thư An, quát lên: "Anh kia, ngồi xổm cho đàng hoàng vào!" Vừa quay đầu lại liền đổi ngay sắc mặt, vô cùng ân cần mời "Giáo sư" vào nhà ngồi ghế trên, thái độ cực kỳ cung kính.

Mà người của phân cục hai, hồi đó hễ đến bất kỳ địa bàn nào ở Bắc Kinh, đều được hưởng đãi ngộ này cả. Cho dù chỉ là một viên cảnh sát nhỏ bé, thì đồn trưởng cục trưởng của đối phương cũng sẽ tự mình ra tiếp đón.

Nghe nói về đãi ngộ này, ấn tượng đầu tiên của lão Tát chính là phân cục hai quá mức phách lối — đây rõ ràng là kiểu cấm quân thời Bắc Tống bắt nạt sương quân mà, dù thế nào đi nữa, người ta cũng có cấp bậc đặt ở đó cơ mà.

Phân cục hai thực ra cũng chẳng thèm bận tâm đến cấp bậc cho lắm.

Từng nghe qua một giai thoại về vị Trưởng phòng cũ của phân cục hai là Thiếu Hoa: Người nhà của một học giả thuộc một trường đại học nổi tiếng ở Bắc Kinh đi làm về, bỗng phát hiện ông ấy đã treo cổ tự vẫn tại nhà. Vị học giả này uy danh lừng lẫy, hoàn toàn không có bất kỳ lý do hay dấu hiệu tự sát nào.

Bởi vì sức ảnh hưởng quá lớn, các bên nhân mã lần lượt xuất động. Phân cục hai tất nhiên cũng không ngoại lệ, Thiếu Hoa tự mình dẫn đội đến hiện trường, hơn nữa còn là người đến nhanh nhất.

Khám nghiệm, kiểm tra, 15 phút sau, Thiếu Hoa nói: Đi.

Cảnh sát canh gác hiện trường liền hỏi: "Đội trưởng Vương, Cục trưởng X đã đang trên đường tới rồi, có cần đợi ông ấy đến, báo cáo xong xuôi rồi hãy đi không?"

Đội trưởng Vương bĩu môi: "Đây cũng gọi là án mạng á? Chẳng qua chỉ là một tai nạn ngạt tình dục thôi mà. Vẫn còn các vụ án khác nữa, không đợi nữa."

Kiêu ngạo chưa?

Thế nhưng Cục trưởng X nghe xong hoàn toàn không hề tức giận chút nào, thậm chí còn chẳng bước chân vào cửa đã quay đầu bỏ đi, để lại một câu:

"Vụ án do Thiếu Hoa định đoạt, không cần thiết phải xem lại."

Sự việc sau đó tra chứng quả nhiên đúng là như vậy, mọi sự vô cùng đơn giản, báo cáo là bệnh nặng qua đời, người nhà im lặng thế là xong.

Nam Đoan Mộc, Bắc Thiếu Hoa, hai vị Tây Môn Xuy Tuyết và Diệp Cô Thành của giới cảnh sát Trung Quốc, những vụ án rơi vào tay họ, hầu như vụ nào cũngTinh thái hệt như trinh thám Sherlock Holmes vậy, tự nhiên sẽ chẳng thèm coi trọng cái vụ án tai nạn đơn giản đến mức chẳng có khúc quanh nào như của "Giáo sư" nữa rồi.

Đáng tiếc trời không cho thọ, không có dịp được diện kiến bậc hào hiệp, nay nếu muốn hoài niệm hai vị, thì chỉ có thể đứng trước bức tượng đồng của Đoan Mộc mà cảm thán vài câu mà thôi — bức tượng đồng này không phải do tổ chức đúc cho, mà là người nhà của nạn nhân trong một vụ án, tình cờ nghe tin Đoan Mộc qua đời, liền đặc biệt lặn lội đến đây, gửi một khoản tiền, chỉ với thỉnh cầu đúc cho cụ ông một bức tượng mà thôi.

Đào lý không nói, dưới đường tự thành lối, quả thực là thế.

Tuy nhiên phần lớn thời gian, phân cục hai khi xuống cơ sở được tiếp đón ở cấp bậc khá cao, là bởi vì sự xuất hiện của họ tại bất kỳ hiện trường vụ án nào, đều đồng nghĩa với việc vụ án này là "trọng án". Địa hạt của mình xảy ra trọng án, đại ca giới cảnh sát địa phương tất nhiên phải ra mặt rồi, hơn nữa còn mang theo ý định học hỏi kinh nghiệm từ phân cục hai nữa. Chuyện này hoàn toàn không liên quan gì đến thói phách lối cả.

Thế nhưng, "Giáo sư" lại cảm thấy viên cảnh sát trẻ tuổi này ngoài sự cung kính ra, còn mang theo ba phần đắc ý vênh váo, gặng hỏi ra mới hiểu rõ cơ sự: Hóa ra người ta đang coi Bí thư An là tên tội phạm trốn chạy bị phân cục hai giam giữ đấy!

Kẻ có thể trốn thoát khỏi phân cục hai, mà lại bị tôi bắt giữ, đây là cảnh giới gì cơ chứ? Đây chẳng khác nào cảm giác của một kẻ mãi nghệ đánh đổ được phương trượng chùa Thiếu Lâm cả.

Nghe nói Bí thư An không phải trốn từ phân cục hai ra, mà là khách của phân cục hai, hai bờ vai của viên cảnh sát trẻ tuổi tức thì sụp xuống. Bí thư An bị bắt, hóa ra lại là vì tội trộm cắp.

Chuyện là ở trung tâm thương mại Địa An Môn, có một đôi vợ chồng trẻ đang mua vải may chăn, phát hiện có người đang ăn trộm ví tiền của mình.

Người phụ nữ đó lập tức nổi giận, trong tay đang cầm một chiếc ô, liền nện cho tên trộm u đầu mẻ trán, rồi lôi xềnh xệch đến đồn công an. Tên trộm đó chính là Bí thư An! Hông nói năng rõ ràng được cái gì, lục soát người ra được một cuốn sổ tay có ghi tên của "Giáo sư" và số điện thoại của phân cục hai, viên cảnh sát liền liên lạc ngay qua đó.

Vụ án này, quả thực chẳng có chút oan ức nào cả.

Ông đường đường là một cán bộ đảng viên, sao lại đi trộm cắp đồ đạc cơ chứ? "Giáo sư" vội vàng bảo người gọi Bí thư An vào để hỏi cho ra lẽ.

Hóa ra, Bí thư An là vì quá sốt ruột. Tiền mất rồi, không có cách nào ăn nói với bà con chòm xóm cả, cảnh sát cũng chẳng có tin tức gì, bản thân mình lại chẳng làm được việc gì, suốt ngày ăn no rồi ngồi nhìn mặt trời lặn, khiến cho Bí thư An lo lắng đến mức phát điên, người đã có chút hoảng loạn rồi. Nhân viên phục vụ của nhà khách thấy người đàn ông này suốt ngày ánh mắt đờ đẫn nhìn ngó nên trong lòng thấy sợ hãi, bèn hiến cho ông ta một ý kiến tồi là ra trung tâm thương mại Địa An Môn đi dạo phố giải khuây.

Đi dạo phố giải khuây ở trung tâm thương mại, đối với những cô gái trẻ trạc tuổi nhân viên phục vụ thì đó là một ý kiến hay, nhưng đối với Bí thư An, thì tuyệt đối là một ý kiến tồi tệ. Các bạn thử nghĩ xem, Bí thư An vốn chẳng có tiền, trong lòng lại đang mang đầy lửa giận, ông ta bước vào trung tâm thương mại, cái tâm trạng này làm sao có thể giải khuây nổi cơ chứ?

Giải khuây chẳng thành, mà lại còn nhìn thấy bao nhiêu người móc tiền ra mua đồ, càng kích thích ông ta hơn. Qua lại vài bận, đầu óc Bí thư An liền trở nên mụ mẫm không tỉnh táo nữa, vậy mà lại nảy sinh ý định đi trộm tiền của người ta để bồi thường cho bà con chòm xóm. Dùng từ ngữ của "Giáo sư" mà nói, ông ta biết trộm cắp thế nào chứ, việc đó vốn dĩ là một công việc kỹ thuật cơ mà. Vừa ra tay liền bị người ta tóm gọn ngay lập tức.

Sự tình đã đến mức này, "Giáo sư" động lòng trắc ẩn, bèn thương lượng với viên cảnh sát trẻ tuổi, nói ông ta đây là lần đầu phạm tội, lại là có nguyên nhân tình thế đưa đẩy, liệu có thể châm chước xử lý nhẹ nhàng hay không?

Viên cảnh sát trẻ tuổi hậm hực nói, thế thì phải thương lượng với người bị hại đã, là do người ta bắt giữ đưa đến mà. Rõ ràng là, điều này so với kỳ vọng tâm lý kiểu "tuệ nhãn vạch trần siêu trộm trốn chạy khỏi phân cục hai" cách xa một trời một vực, viên cảnh sát trẻ tuổi có chút không mấy mặn mà tích cực cho lắm.

Người bị hại ngược lại lại là người rất thấu tình đạt lý, sau khi nghe câu chuyện của Bí thư An thì vô cùng xúc động, người phụ nữ đó thậm chí còn rơi vài giọt nước mắt, chủ động đề nghị không làm khó dễ Bí thư An nữa. Cứ thế, kết quả xử lý cuối cùng là giáo dục rồi phóng thích.

Đương nhiên, "Giáo sư" đã để cho các trinh sát ở cấp dưới nghiêm khắc giáo huấn An thư ký một trận. Trinh sát tuổi tác chỉ bằng một nửa An thư ký, thế nhưng trận giáo huấn này lại khiến An thư ký tâm phục khẩu phục, bởi vì lão thật sự biết mình sai rồi.

Một trận phong ba đã lắng xuống, thế nhưng "Giáo sư" lại nghĩ đến một vấn đề mới: Cứ để An thư ký ở lại nhà khách thế này, cho dù lão không ra ngoài trộm đồ, sớm muộn gì cũng sẽ nghẹn ra bệnh. Phải làm sao đây?

Có một trinh sát hiến kế: Bảo một cảnh sát đi theo An thư ký, lang thang khắp các khu phố sầm uất ở Bắc Kinh, mượn cớ là đi tìm tội phạm, để lão có chút việc làm, chẳng phải sẽ yên ổn rồi sao?

Đây là một ý kiến hay. "Giáo sư" vỗ đùi tán thưởng.

Quả nhiên, một nữ cảnh sát đi theo An thư ký ra ngoài dạo chơi, tâm trạng của ông lão hình như đã ổn định hơn nhiều.

Thế nhưng, "Giáo sư" và mọi chuyện vừa mới yên ổn được hai ngày, lại xảy ra chuyện rồi. Nữ cảnh sát gọi điện tới, nói rằng An thư ký đã đánh nhau với người ta ở ga Bắc Kinh.

Ông lão này, chẳng lẽ cứ làm phiền mãi không thôi sao? "Giáo sư" không kìm được chửi thề một câu.

An thư ký không chịu để yên này khiến "Giáo sư" giận tím mặt.

Nữ cảnh sát báo cáo, nói An thư ký túm chặt lấy vợ chồng nhà kia không chịu buông, khăng khăng nói người ta là kẻ lừa đảo.

Nghe ý của nữ cảnh sát, cô ấy có rất nhiều điều phàn nàn về An thư ký.

"Vậy cô thấy hai vợ chồng kia có phải kẻ lừa đảo không?" "Giáo sư" hỏi.

"Không giống." Nữ cảnh sát nói, "Mấy ngày nay ông ấy đã nhận nhầm bảy, tám kẻ lừa đảo rồi, từ công nhân cho đến Giải phóng quân, đủ mọi thành phần. Hôm qua ngay cả cảnh sát giao thông ở Tân Sách Khẩu cũng bị ông ấy nhận nhầm một người. Nhưng mà trước đây nhận nhầm, tôi nói một tiếng là ông ấy liền xin lỗi người ta. Lần này thì hay rồi, bấu chặt lấy người ta không buông, tôi ấn thế nào cũng không giữ được."

"Vậy cô mời họ đến đồn công an trước nhà ga đi, tôi đến ngay đây." "Giáo sư" nói.

Nữ cảnh sát dẫn ba người đến đồn công an trước nhà ga, vừa lúc Mã Thiên Dân đang trực. Nhìn ra phía sau nữ cảnh sát, chỉ thấy An thư ký giống như kẻ kéo thuyền, bám chết lấy một người đàn ông, miệng lải nhải gọi không ngừng: "Chính là hắn, hắn chính là tên anh rể đó!" Bên cạnh có một người phụ nữ tóc tai bù xù, nhảy chồm chồm, miệng chửi rủa không ngớt những câu "mẹ kiếp", từ vựng mới mẻ, nghe vô cùng thấm thía. Người phụ nữ này một tay túm cổ áo An thư ký, một tay vung một chiếc giày, nện lên lưng An thư ký "bốp bốp" kêu vang.

Lúc đó Mã Thiên Dân đang bắt ô nhiễm tinh thần, vừa thu giữ vài cuốn sách tà môn để xét duyệt, vừa nhìn thấy cảnh tượng này thì phản ứng đầu tiên là: "Từ khi nào mà người bắt thây ma Tương Tây lại chạy đến ga Bắc Kinh thế này?"

Bắt thây ma Tương Tây, nói theo lý thì hình tượng của An thư ký và những người khác không nên để cảnh sát nhân dân liên tưởng đến chủ đề này, thế nhưng... ai mà biết cảnh sát nhân dân đang xem phiên bản nào chứ?

Đang lúc hỗn loạn, "Giáo sư" đến nơi, cảnh tượng đập vào mắt chính là thế này.

Chỉ còn người đàn ông bị túm lấy kia là còn xem như bình tĩnh, hết sức ấn tay An thư ký xuống, khổ sở cầu xin: "Đừng, đừng túm tay áo tôi, chỉ có độc một chiếc áo vải Dacron này thôi, lát nữa còn phải đi gặp Chủ tịch Mao nữa..."

Những năm 80, người đến Bắc Kinh đều muốn mặc bộ quần áo đẹp nhất (vì phải chụp ảnh), phải đến Nhà tưởng niệm Chủ tịch Mao, hầu như đã thành một quy chuẩn cố định.

Quy chuẩn cố định này, phạm vi bao phủ rộng lớn đến mức khiến người ta không thể tưởng tượng nổi.

Mã Thiên Dân từng đụng phải một vụ án như thế này.

Có một ngày, Mã Thiên Dân phát hiện một đối tượng kiểm tra tại cửa ga Bắc Kinh — người này giữa trời hè oi bức mà lại mặc áo khoác dài tay, đã thu hút sự chú ý của anh ta. Trong quá trình kiểm tra, phát hiện trên cánh tay người này có ba vết dao chém.

Mã Thiên Dân hỏi: "Bị thương thế nào vậy?"

Đáp: "Lúc mổ cừu bị chém trúng."

Hỏi: "Lúc mổ, cừu có bị trói lại không?"

Đáp: "Trói rồi."

Mã Thiên Dân rất lịch sự mời vị này vào phòng làm việc, sau đó liền không khách khí mà bắt đầu thẩm vấn. Lão Mã nói, cừu bị trói mà mổ còn có thể tự cắt mình ba nhát à? Anh tưởng là đang làm thịt sói chắc?

Kết quả thẩm vấn, phá được một vụ án giết người cướp củ cực kỳ ác tính, hung thủ cuối cùng đã cúi đầu nhận tội.

Trong quá trình phá án, lão Mã cảm thấy khó hiểu về một chuyện: Hung thủ gây án ở Nội Mông, định trốn chạy sang Đông Bắc, con đường này, vốn dĩ đâu cần phải đi qua Bắc Kinh chứ.

Hung thủ rất thành thật trả lời: "Tôi đến để thăm Chủ tịch Mao."

Lão Mã ngẩn người một hồi lâu, hỏi: "Anh đã đi thăm chưa?"

"Xem rồi," hung thủ đáp: "Vừa bước vào, tôi liền thầm nói, Chủ tịch Mao ơi, kẻ sát nhân đến thăm ngài đây..."

Mã Thiên Dân gật đầu theo, nhưng trong lòng lại nghĩ nếu Chủ tịch ở dưới suối vàng mà biết chuyện, phỏng chừng phải thốt lên rằng, đây là cái thể loại chuyện gì thế này?

Vị bị An thư ký túm lấy này, tuyệt đối không phải là kẻ sát nhân.

"Giáo sư" nói với An thư ký: "Ông buông hắn ra đi."

Đầu An thư ký lắc lư như con vịt lắc đầu: "Không được, tôi buông tay là hắn chạy mất đấy..."

Người đàn ông kia mặt đầy bất lực: "Tôi không chạy, nhiều cảnh sát đang nhìn thế này, tôi chạy kiểu gì chứ?"

Cuối cùng, cảnh sát hứa với An thư ký chắc chắn sẽ không thả họ đi, lúc này lão mới chịu buông tay. Người đàn ông và người phụ nữ phủi chiếc sơ mi nửa buổi, trên áo vẫn lưu lại hai dấu bàn tay đẫm mồ hôi, thế nào cũng không phủi sạch được.

Người đàn ông này cử chỉ điềm tĩnh, thế nhưng "Giáo sư" cảm thấy hai bọn họ có chút vấn đề, thế là tách ra thẩm vấn.

"Giáo sư" cảm thấy có vấn đề chính là độ tuổi của hai người — người đàn ông đó gần bốn mươi, người phụ nữ kia thì trẻ hơn không bao nhiêu. Vào thời điểm đó, độ tuổi này mà mới kết hôn quả thực khiến người ta cảm thấy có chút khác thường.

Tách ra thẩm vấn, mặt người phụ nữ đỏ bừng lên, lúc này mới kể rõ đầu đuôi sự việc. Hóa ra, cô ta tái hôn với người chồng này, bản thân vốn là một góa phụ. Cho nên ở địa phương, cuộc hôn nhân mới này ít nhiều có vẻ bị người ta kỳ thị.

Thẩm vấn người chồng, lời khai không có gì khác biệt. Chỉ là nói đều tại người vợ, theo phong tục địa phương tái hôn không bày tiệc rượu, cho nên mới làm mình làm mẩy nhất định phải đến Bắc Kinh cho bằng được. Bản thân anh ta cảm thấy vốn dĩ không thể bày tiệc rượu là có lỗi với người ta, thì đến thì đến vậy. Hớn hở đến ga Bắc Kinh, kết quả lại đụng phải chuyện xui xẻo thế này.

Đến cuối cùng, người đàn ông kia mới hỏi: "Người kéo tôi vừa nãy, là làm nghề gì thế?"

Có cảnh sát suýt phì cười.

Theo lời kể của trinh sát đi theo "Giáo sư", lúc đó đã hỏi người đàn ông này nửa tiếng đồng hồ, cảm nhận trong lòng của anh ta vẫn nghiêng về việc An thư ký do nóng ruột tức giận nên đã bắt nhầm người.

Trên đời làm gì có chuyện trùng hợp thế này!?

Thế nhưng, đi ra ngoài hỏi An thư ký, lão lại thề thốt đủ điều, nói người đàn ông này chính là tên anh rể đó, mặc dù không nói ra được đặc điểm chỗ nào giống, nhưng chính là giống — không phải giống, thì đích thị là hắn!

Lúc này, "Giáo sư" lại đang cầm bản khẩu cung của người đàn ông kia xem, người này tên là "Kim Vinh", nghề nghiệp rất đàng hoàng, là công nhân phân đoạn xe lửa Tề Tề Cáp Nhĩ, giấy tờ tùy thân đầy đủ, thái độ ôn hòa tự nhiên.

“Giáo sư” đưa bản khẩu cung cho trinh sát và bảo cậu gọi điện thoại để xác minh lại.

Trinh sát vừa ra khỏi cửa, liền nghe thấy tiếng bước chân "thịch thịch thịch" ở phía sau. Quay đầu lại, thấy "Giáo sư" đi theo ra:

"Tiểu X à, đưa đây cho tôi, để tôi tự gọi."

Nhìn vẻ mặt cau mày nhíu chặt của "Giáo sư", có vẻ như đang suy tính điều gì đó.

Điện thoại đã kết nối, kết quả xác minh cho thấy những gì Kim Vinh nói đều là sự thật.

"Giáo sư" liếm liếm môi, hỏi một câu: "Kim Vinh này, ngày thường biểu hiện thế nào?"

"Không ra gì, thích ăn ngon uống say ham chơi, trốn viện giả vờ ốm, đôi khi còn bỏ trốn việc."

"Ồ?" "Giáo sư" lại hỏi một câu, "Anh ta ngày thường hay đi cùng với những ai?"

"Thường xuyên qua lại với hai tên thanh niên ở phân đoạn xe lửa chúng tôi, một tên họ Tề, một tên họ Cát."

Cách vài giây, phía Tề Tề Cáp Nhĩ bổ sung thêm một câu, "Cái tên họ Tề kia chân hơi thọt".

Đoạn trên viết lúc "Giáo sư" gọi điện thoại, quả báo đến rất nhanh — nửa đêm có một vị lão gia tử gọi điện tới, nói Tiểu Tát anh viết sai rồi, cái tên Kim Vinh đó không phải ở phân đoạn xe lửa Tề Tề Cáp Nhĩ, mà là ở phân đoạn xe lửa Mẫu Đơn Giang.

Tôi nói thưa lão gia tử tôi biết rồi, ngài vẫn chưa ngủ à?

"Ồ, tôi mới dậy."

Nhìn đồng hồ, ba giờ đêm, đây là cái thời gian sinh hoạt kiểu gì thế này?!

Người có quy luật sinh hoạt thế này, tôi chỉ nhớ còn có một người, lão Quan.

Lão Quan là một thanh niên trí thức điểm La Bắc, Hắc Long Giang, hình tượng thật thà chất phác, người lùn tịt, đôi mắt híp lại, nhìn người liếc xéo, hai tay thường ngày nhét trong tay áo không thèm rút ra. Lúc tôi gặp ông ấy thì bản thân vẫn còn nhỏ, ông ấy đi theo kỹ thuật viên đến Bắc Kinh mua máy móc, nghe nói lão Quan nhìn máy móc rất chuẩn xác, cho nên mới mang theo ông ấy. Hai người cô của tôi đều đi cày cấy ở Đông Bắc, kỹ thuật viên đến Bắc Kinh, liền mượn trọ ở nhà chúng tôi.

Nghe người lớn trong nhà kể lại, cô gửi thư dặn dò, nói lão Quan này người rất tốt, nhưng thích nửa đêm dậy đi dạo uống rượu, bảo mọi người đừng thấy lạ, ông ấy có cái tật xấu này.

Thế là tôi rất tò mò về lão Quan. Một buổi sáng Chủ nhật, cả nhà định đi công viên, lão Quan nhìn thấy, híp mắt nói: "Đừng đi nữa, chiều nay trời mưa to đấy."

Người lớn nhìn trời, quang mây tạnh ráo; nhìn báo chí, trên dự báo thời tiết chẳng có gì cả, thế nên bảo cứ ra ngoài xem sao, không được thì lại về.

Lão Quan cười một tiếng, hai bên má hằn lên hai đường vân rất dài, không nói gì nữa.

Buổi trưa đến công viên, bắt đầu nổi gió, bỗng nhiên mây đen bốn bề kéo đến, một giờ, mưa như trút nước. Lần đó, chúng tôi đành phải tránh mưa hơn hai tiếng đồng hồ ở quán ăn bán bánh bao cải mùa đông trong công viên Trung Sơn. Chuyện này bị một người chú họ cũng là thanh niên trí thức ở đó vô tình biết được, liền tiện miệng nói: "Lão Quan ấy à, ông ấy biết xem trời đấy."

Sau này mỗi khi nhắc đến Gia Cát Lượng gọi gió gọi mưa, Tát lại không kìm được mà nhớ đến lão Quan.

Lão Quan thực ra chẳng có điểm nào giống Gia Cát Lượng cả. Thập niên 70 ông ấy mỗi tháng kiếm được hơn 60 đồng, sống độc thân, tuyệt đối là hộ giàu có. Thế nhưng cứ có lương là đi mua rượu trước, một cân rưỡi khoai lang đốt giá 30 cân, một ngày phải uống một cân rượu. Số tiền còn lại, mỗi tháng ăn bảy cân lương thực, nấu cháo, lúc nào muốn uống thì múc một bát. Còn lại những thứ khác, ông ấy thích đồ lòng trong căn tin đại loại thế, ông ấy cũng không kén chọn, cho thêm ít cọng rau, thêm chút xì dầu, muối hầm hầm lên, ăn cũng thấy vô cùng thơm ngon.

Công việc của lão Quan là canh giữ sân kho, âm ba mươi, bốn mươi độ, quấn chiếc áo bông to sụ có thể ngủ ngoài đồng hoang, vô cùng yên ổn.

Hồi đó hay có đặc vụ Liên Xô quậy phá, La Bắc nằm ở khu vực biên giới Trung - Xô, một nhóm thanh niên trí thức được huấn luyện như dân binh vũ trang, thỉnh thoảng, ban chỉ huy lại cử họ đi tuần tra bờ sông cùng một cán bộ ban vũ trang. Thực chất chính là nằm rạp ở đó xem có đặc vụ vượt biên hay không. Lão Quan chẳng biết có quan hệ gì, ban chỉ huy cũng cho ông ấy đi, còn cấp cho một khẩu súng ngắn.

Mỗi khi đến lúc này, càng về nửa đêm, mắt lão Quan lại càng sáng quắc.

Có một lần, đang nằm rạp thì bỗng "bằng" một tiếng súng nổ. Mọi người ngoảnh lại nhìn, lão Quan đang thổi khói trên nòng súng.

Mọi người đều là súng không đạn, sao ông ta lại có đạn thật cơ chứ?!

Cán bộ ban vũ trang hớt hãi chạy tới, vừa định hỏi chuyện, thì ở bên cánh khác có tiếng nữ dân binh kêu thất thanh.

Nhìn kỹ lại, ngay trong rừng dẻ bên cạnh các nữ dân binh, lảo đảo đứng dậy một con báo. Con báo đi đứng cứng đờ, run lẩy bẩy như bị sốt rét, lạng choạng vài bước rồi chúi đầu ngã lăn xuống đất.

Lúc này, trạm biên phòng Liên Xô đối diện đã còi báo động vang trời, đèn pha chiếu tứ tung, trong ánh chớp, mơ hồ nhìn thấy một hốc mắt của con báo đã biến thành một cái lỗ đen ngòm, đang rỉ máu tươi ra ngoài...

Sau sự việc, có người nói lão Quan trước kia từng tham gia Kháng Liên, hỏi đến ban chỉ huy, ban chỉ huy bảo Kháng Liên nào chứ? Lão Quan từng tham gia Kháng Liên hồi nào? Ông ta là thổ phỉ đấy!

Vừa bước vào thập niên 80, lão Quan liền chết. Cũng vì nguyên nhân này, lão Quan rốt cuộc là người của Kháng Liên hay là thổ phỉ, từ đó không ai có thể làm rõ được nữa.

Lão Quan bị xuất huyết não, vừa tròn sáu mươi tuổi, có người nói là uống rượu mà chết, không để lại nửa câu trăn trối. Chỉ là mấy năm trước từng nói với người ta, bảo cái nghề của ông ta, sống đến tuổi này coi như là lãi rồi.

Nghĩ lại vị lão gia tử gọi điện cho tôi lúc ba giờ đêm, đại khái là, cảnh sát và thổ phỉ, là hai loại người có lối sống vô quy luật nhất trên thế giới này nhỉ.

Nhớ nhầm phân đoạn xe lửa tuyệt đối không phải chuyện nhỏ, Tề Tề Cáp Nhĩ trước kia là thủ phủ tỉnh Hắc Long Giang, phân đoạn xe lửa đặt ở đó chính là một cơ quan. Mà phân đoạn xe lửa Mẫu Đơn Giang đương nhiên nằm ở Mẫu Đơn Giang, nơi này, trước kia vốn nổi tiếng với việc sản sinh ra thổ phỉ. Tác giả tiểu thuyết "Lâm Hải Tuyết Nguyên" Khúc Ba, lúc bấy giờ chính là phó tham mưu trưởng đoàn 2 quân khu Mẫu Đơn Giang. Trong bộ tiểu thuyết này, thổ phỉ còn lên kế hoạch đến Mẫu Đơn Giang cướp ngục, giải cứu tên thủ lĩnh phỉ Hứa Đại Mã Bổng bị bắt sống. Cho đến nay, mộ của anh hùng trinh sát Dương Tử Vinh vẫn còn ở vùng này.

Theo lời kể của phân đoạn xe lửa Mẫu Đơn Giang, ba tên hay tụ tập lại với nhau này, lần lượt tên là Kim Vinh, Tề Ngọc Tiên và Cát Đồng Tâm, ở địa phương đều tương đối bị người ta dị nghị.

An thư ký có thể đụng độ nghi phạm ở ga Bắc Kinh, tuy nói là quá trùng hợp, nhưng cái tên Kim Vinh này lại vừa khéo có hai người bạn, một họ Tề, một họ Cát, chẳng phải cũng quá trùng hợp sao?

"Giáo sư" trầm ngâm một lát, thông báo cho phân đoạn xe lửa Mẫu Đơn Giang giữ kín tuyệt đối cơ mật, đừng đánh rắn động cỏ, nếu có thể, lập tức giám sát hai tên Tề và Cát, bản thân anh sẽ qua đó ngay.

Bên kia nghe vậy cũng vô cùng căng thẳng, lập tức hỏi có chuyến tàu nào đi Mẫu Đơn Giang tối nay không, khỏi cần mua vé, đi chuyến tối nay luôn.

"Giáo sư" quay lại nơi thẩm vấn Kim Vinh, nhìn Kim Vinh cười mỉm, nói tạm thời giam giữ anh ta lại.

Trinh sát hồi tưởng lại, Kim Vinh trước đó còn nói chuyện trôi chảy, bỗng chốc cúi gằm đầu xuống.

Có hy vọng rồi! Báo cáo lên cấp trên, "Giáo sư" dẫn theo bốn, năm tinh binh mãnh tướng, thẳng tiến Mẫu Đơn Giang.

Nhưng vừa đến nơi, đội trưởng Lưu của công an đường sắt Mẫu Đơn Giang đã đợi sẵn trên sân ga, vừa gặp mặt liền nói: "Xin lỗi, hai tên nhóc đó, chạy rồi."

4. Xé "ào ào", cạy "cộc cộc", lật "sột sột"... Khám xét triệt để

"Giáo sư" và những người khác trước khi đến Mẫu Đơn Giang đã bố trí lực lượng cảnh sát địa phương hỗ trợ vây bắt trong đêm. Nhà Tề Ngọc Tiên ở gần hơn, cảnh sát địa phương lập tức xuất kích nhưng lại vồ hụt. Theo lời vợ Tề Ngọc Tiên kể, một tiếng trước, Cát Đồng Tâm đột nhiên vội vã chạy đến nhà họ Tề, cơm nước cũng không kịp ăn, kéo Tề Ngọc Tiên đi ngay, nói là có việc gấp phải đi công tác.

Đi công tác đương nhiên là giả, từ các dấu hiệu cho thấy, hai kẻ đó đã nhận được tin tức cảnh sát, bỏ trốn rồi.

Chẳng lẽ có nội gián quán triệt đường dây địch ta?!

Nghe tin Tề và Cát đã chạy thoát, các cảnh sát từ Bắc Kinh đến đều ngẩn người: Tin tức này lọt ra ngoài bằng cách nào?

Không thể nào.

Theo suy tính của họ, động thái của cảnh sát Bắc Kinh coi như đã đủ nhanh, cũng đủ kín đáo. Bên kia Kim Vinh vừa bắt là đã khống chế ngay, vợ chồng đều được ăn ngon uống ngọt đãi đày tử tế, thế nhưng đố ai lọt ra được nửa lời. Đồng thời, thông qua chứng cứ các phía, vợ chồng Kim Vinh đến Bắc Kinh không hề có đồng hành — nói nhảm, có ai đi tuần trăng mật lại mang theo một cái bóng đèn chứ.

Cho dù là xác minh thân phận của Kim Vinh với phân đoạn xe lửa, hay liên lạc với cảnh sát địa phương, đều lặp đi lặp lại nhấn mạnh vấn đề bảo mật, ai nấy đều là tay lão luyện cả, không đến mức để lộ bí mật chứ.

Vẫn còn một kênh lộ bí mật — trước khi xuất phát, "Giáo sư" từng báo cáo với lãnh đạo cấp cục cấp ti ở đồn.

Cục trưởng Cục Công an thành phố Bắc Kinh hoặc Trưởng phòng 2 chính là nội gián của một băng nhóm lừa đảo máy kéo nào đó ở Đông Bắc...

Chuyện thế này, nghĩ đến cũng khiến người ta đau đầu.

Sau đó, phát hiện ra những suy nghĩ này đều không thực tế, "Giáo sư" cảm thán giá như Mã Thiên Dân có mặt trong tổ thì tốt biết mấy, Phòng 2 tuy tinh nhuệ, nhưng giao du với những kẻ xuất thân đường sắt kiểu này vẫn còn quá ít.

Phát hiện nghi phạm mất tích, cảnh sát lập tức bố trí kiểm tra các tuyến đường giao thông xung quanh Mẫu Đơn Giang, tranh thủ chặn bắt hai tên Tề và Cát trên đường chúng trốn chạy.

Đoàn của "Giáo sư" khi đến nơi thì được biết, nhà Cát Đồng Tâm do ở khá xa, cảnh sát địa phương trên đường đi bị hỏng xe nên vẫn chưa tiến hành khám xét, nhưng đã có cảnh sát đi xe mô tô đến giám sát nhà ở của hắn. Nếu người vẫn ở đó thì chắc chắn không chạy thoát được.

Đánh giá từ tình hình lúc đó, khả năng hai nghi phạm vẫn trốn trong nhà Cát Đồng Tâm là không cao, nhưng "Giáo sư" vẫn lập tức bố trí đột kích bất ngờ vào lúc bốn giờ sáng, hy vọng sẽ thu được bất ngờ. Bắt giữ vào rạng sáng là truyền thống lâu đời của cảnh sát Bắc Kinh, bởi vì đây là lúc con người chìm vào giấc ngủ sâu nhất, khả năng chống cự kém nhất.

Đồng thời, "Giáo sư" bắt đầu thực hiện một công việc mà sau này được cho là vô cùng quan trọng — xác thực các thành viên của băng nhóm tội phạm.

Đã đến mức này rồi mà vẫn phải xác thực ư?

Đương nhiên là thế. Chỉ có suy đoán logic thôi thì không thể thay thế cho chứng cứ được. Sau này đã chứng minh, cái tên Kim Vinh bị người vợ hai kéo xề xệch đến Bắc Kinh đó, chính là nhân vật cốt lõi của băng nhóm tội phạm này.

Kim Vinh bị An thư ký nhận ra, vừa có thể nói là lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó lọt, lại vừa có thể coi là xui xẻo đến cực điểm, chẳng khác nào nhắc nhở mọi người số đen thì đừng oán trách xã hội. Thực ra, kẻ này vừa bình tĩnh vừa táo bạo, trong tình huống bị nhận diện mà vẫn làm ra vẻ vô tội, giành được thiện cảm của rất nhiều người xung quanh, suýt chút nữa đã lừa gạt được cảnh sát. Quan trọng hơn là, khi phát hiện không thể trốn thoát, hắn đã khéo léo phát đi tín hiệu mình đã bị cảnh sát khống chế, dẫn trực tiếp đến việc hai tên Tề và Cát bỏ trốn. Cho dù đối mặt với sự thẩm vấn của cảnh sát, hắn vẫn từng bước vững chắc, chống cự đến cùng, khăng khăng cắn chặt An thư ký đã nhận nhầm người. Nếu hai tên Tề và Cát không thể quy án, lại không có chứng cứ sắt đá, thì rất khó bắt hắn phải cúi đầu nhận tội.

Kim Vinh trong toàn bộ quá trình gây án, từ đầu đến cuối không hề lộ tên thật, khiến cho An thư ký chỉ có thể nói "hắn chính là tên 'anh rể' đó". Còn hai tên Tề và Cát dùng tên giả nhưng lại không đổi họ, đã trở thành manh mối phá án, rõ ràng kinh nghiệm phạm tội không bằng Kim Vinh.

Cho đến khi "Giáo sư" và những người khác quay về Bắc Kinh, Kim Vinh vẫn đang kì kèo dây dưa với cảnh sát Bắc Kinh. Cuối cùng, chứng cứ vụ án lừa đảo máy kéo rành rành ra đó, đã phá vỡ phòng tuyến tâm lý của hắn. Sau đó, từ miệng kẻ này đã khai ra rất nhiều vụ án hình sự ác tính.

Tuy nhiên, Kim Vinh ở địa phương là người ngụ cư, còn Tề và Cát là người bản xứ, bọn họ cũng có sở trường riêng của mình. Đừng quên, Mẫu Đơn Giang mấy chục năm trước, nổi tiếng với việc sinh ra thổ phỉ, tổ tiên của rất nhiều cư dân nơi đây, đều từng giao du với thổ phỉ!

Sự thật chứng minh, khi "Giáo sư" đến Mẫu Đơn Giang, cả hai người bọn họ đều đã dựa vào bản lĩnh gia truyền, dễ dàng né tránh các trạm chốt kiểm soát của cảnh sát, chui vào biển rừng mênh mông của Tiểu Hưng An Lĩnh.

Do đó, việc cảnh sát chốt chặn kiểm tra, đối với hai tên Tề và Cát mà nói, hoàn toàn không cấu thành mối đe dọa nào.

Thứ thực sự đạt được tiến triển, là việc "Giáo sư" và những người khác tiến hành xác thực về phía các nghi phạm hình sự.

"Giáo sư" hỏi trưởng phân đoạn xe lửa Mẫu Đơn Giang: "Phân đoạn của các anh có ảnh chụp tập thể không?"

"Có, nhưng là ảnh hơn một trăm người, không được rõ lắm, nếu anh cần ảnh riêng của ba tên Kim, Tề, Cát, chúng tôi có lưu hồ sơ."

"Không, cứ ảnh chụp tập thể là tốt nhất." Nghe nói trong ảnh có hơn một trăm người, "Giáo sư" liền bật cười.

Tại sao anh ta lại cười? Cảnh sát nước ta quy định, khi nhận diện nghi phạm, bắt buộc phải có hơn mười người trong ảnh mới được coi là hợp lệ, hơn một trăm người này, quá phù hợp rồi.

Chúng ta xem phim truyền hình Mỹ, trong đó có phân cảnh gom một hàng nghi phạm ra để chỉ nhận, thường sẽ cảm thấy khá mới lạ. Thực ra cảnh sát nước ta từ lâu đã làm như vậy rồi, chỉ là vì lý do không tiết lộ kỹ thuật trinh phá, nên không đưa lên màn ảnh rộng mà thôi.

Trong đó cũng xảy ra không ít trò cười.

Có một lần, bỗng nhiên lan truyền tin đồn một vị tổng tài nào đó bị cách chức điều tra, đây quả thực là chuyện vô căn cứ. Điều tra tới điều tra lui, hóa ra là một nhân viên nọ khi đi nhận diện nghi phạm trộm cắp, đã phát hiện vị tổng tài đường đường chính chính lại có mặt trong đó.

Người dân thường theo lẽ tự nhiên cho rằng, những người được đưa ra để nhận diện, ngoài tội phạm thật ra, những người khác cũng đều là nghi phạm bị bắt vào đây. Thực ra, để gom đủ số người cho việc nhận diện, cảnh sát thường xuyên "bắt" những người làm án của các vụ án khác, tài xế ở cửa, khách đến thăm đến để "bắt" đủ số lượng, bọn họ đại khái cũng không có ý kiến gì.

Hôm đó, tổng tài đến bàn chuyện "xây dựng chung", đúng lúc bắt gặp việc nhận diện người, cảnh sát bèn mời vị tài xế đóng giả một chân, vị tổng tài này vốn hiếu động lại tò mò, liền nói tính cả tôi vào có được không...

Không ngờ người đến nhận diện lại chính là nhân viên công ty bọn họ, tổng tài không quen người ta, nhưng người ta thì ngày nào cũng xem ảnh tổng tài, thế là...

Cảnh sát sau đó cảm thấy vô cùng chán nản: Bị cách chức điều tra thật, thì cũng đâu thuộc thẩm quyền quản lý của cục công an đâu, anh tung tin đồn thì cũng phải có chút tố chất chứ.

Để chứng minh cuối cùng thành phần gây án trong vụ án này không có khả năng nhận nhầm, "Giáo sư" đã gọi An thư ký đến, bảo ông nhìn xem, trong bức ảnh tập thể này có tên họ Tề và tên họ Cát mà ông nói hay không?

An thư ký liếc mắt một cái là nhận ra ngay, đây là tên họ Tề, đây là tên họ Cát.

Lại hỏi người ở phân đoạn xe lửa: "Hai người này có phải không?"

Liên tục gật đầu.

Được rồi, vụ án này không còn nghi ngờ gì nữa, chỉ đợi rạng sáng ra tay thôi.

Bốn giờ còn phải đi khám xét nhà Cát Đồng Tâm, ngày hôm nay, từ thẩm vấn cho đến báo cáo, từ Bắc Kinh đến Mẫu Đơn Giang, quá mệt mỏi rồi, các cảnh sát mặc nguyên quần áo nằm ngả lưng, nghỉ ngơi một lát.

“Giáo sư” hình dung rằng, bản thân cảm thấy chỉ chợp mắt một cái, vừa mở mắt ra, đập vào mắt là cả phòng đầy ánh nắng.

Sắc mặt "Giáo sư" lúc đó liền thay đổi — chẳng phải bốn giờ đi bắt người sao? Trời đã sáng thế này rồi, sao không có ai gọi chúng ta một tiếng thế vậy hả?!

Nhìn thấy trời đã sáng, "Giáo sư" bất chấp cả phong độ, đá mỗi người một cước gọi đám cảnh sát Bắc Kinh bên cạnh dậy, trong lòng vẫn còn thắc mắc sao người của cảnh sát địa phương vẫn chưa xuất hiện.

Một tên cảnh sát nhỏ tuổi bị đá thức dậy nhìn đồng hồ, kinh hô: "Sao mới hơn hai giờ thế này, đồng hồ của em đứng kim rồi!"

Mấy cảnh sát khác cũng xem đồng hồ, không khỏi trố mắt nhìn nhau, đồng hồ của ai cũng chỉ hơn hai giờ.

“Xem ra không phải đồng hồ đứng kim, mà là chỗ này có tà khí...” Cảnh sát đầu tiên phát hiện thời gian có vấn đề thốt lên.

“Giáo sư” nhíu mày — đây là cái giọng điệu gì thế! Cảnh sát Bắc Kinh tập thể nhiễm tà khí ở Mẫu Đơn Giang á?

Trước có bắt thây ma ở ga tàu, sau có trúng tà ở Mẫu Đơn Giang, chỉ vì cái này mà Cục công an thành phố kiểu gì cũng phải bắt Phòng 2 chỉnh đốn lại tác phong đảng mới được.

Suy ngẫm một chút, chuyện này hoàn toàn chẳng dính dáng gì đến tác phong đảng không đoan chính cả. Mẫu Đơn Giang nằm gần cực đông nước ta, hơn nữa vĩ độ cao, mùa hè mặt trời mọc rất sớm, đây là hiện tượng tự nhiên bình thường. Nghe nói đến Mạc Hà, còn có hiện tượng cực ngày nữa cơ, mặt trời 24 giờ đều đi dạo trên trời.

Trời đã sáng rồi, tính toán trăm đường vẫn sơ sót một đường, kế hoạch bắt giữ lúc rạng sáng vì hiện tượng tự nhiên mà xuất hiện sơ hở cực lớn. "Tam Quốc Diễn Nghĩa" có câu: Không biết thiên văn, không thể làm tướng; không biết địa lý, không thể làm tướng, quả nhiên không sai.

Mặc dù đã hiểu rõ đây là hiện tượng tự nhiên, "Giáo sư" vẫn vội vã tìm đại ca dẫn đầu hình cảnh địa phương là đội trưởng Lưu, yêu cầu lập tức bắt đầu hành động.

Đội trưởng Lưu thì không có ý kiến gì, thế nhưng "Giáo sư" vừa xuống tàu thì lão Lưu đã nêu quan điểm của mình:

Cả hai tên này đều đã chạy trốn rồi. Cho dù chưa chạy, với kinh nghiệm của ông ta ở địa phương, đã phái người giám sát rồi, bắt sớm hay bắt muộn đều không phải vấn đề.

Cảnh sát từ Bắc Kinh đến tuy số lượng không nhiều, nhưng đều là tinh nhuệ của Phòng 2, nếu có người dẫn đường, thì việc điều tra lùng sục một vụ như thế này chỉ là chuyện nhỏ như con thỏ. Nhưng vì tôn trọng cảnh sát địa phương và các quy định liên quan, hai bên vẫn tiến hành hành động liên hợp. Đội trưởng Lưu tôn trọng cảnh sát thủ đô, mời "Giáo sư" đảm nhận tổng chỉ huy hành động, bản thân anh ta vô điều kiện tuân thủ.

Đội ngũ vừa xuất phát, cảnh sát Bắc Kinh liền ngẩn người.

Chỉ nghe một tiếng hô lệnh, 40 hình cảnh Mẫu Đơn Giang vũ trang tận răng đạn lên nòng, đằng đằng sát khí nhảyót lên xe, trên chiếc xe đi đầu uy nghi lắp một khẩu súng máy hạng nhẹ! Đoàn xe còi hú inh õng suốt dọc đường, thẳng tiến về ngôi làng nơi nhà họ Cát tọa lạc.

Ai biết thì đây là đi bắt kẻ lừa đảo, ai không biết lại còn tưởng là đi trấn áp bạo loạn ấy chứ!

Nói cho cùng, cảnh sát Bắc Kinh cũng là những kẻ từng trải qua sóng gió, chuyện đứng canh gác bảo vệ thân vương tổng thống chẳng có gì mới mẻ, thế nhưng cảnh sát Bắc Kinh cũng có điểm thua kém cảnh sát ngoại tỉnh: Dưới chân Thiên tử, trong việc sử dụng trang thiết bị cảnh sát, quy định của thủ đô cực kỳ nghiêm ngặt. Lần trước viết về "Chân Gió" Thập Bát Lý Điếm, có cảnh sát già đọc xong lắc đầu quầy quậy, cho rằng miêu tả của lão Tát không toàn diện, nói lúc chúng tôi bắt "Chân Gió", hoàn toàn không cho phép mang súng, qua lại một hồi khiến tên nhóc này "quen" luôn, làm cho nó hiểu rõ quy luật công tác của cảnh sát, sau này rất khó bắt.

Nếu ngay từ đầu đã dùng súng, thì sớm đã quật ngã tên nhóc này rồi, còn dung túng cho nó hoành hành mười năm sao?

Mặc dù vậy, cảnh sát Bắc Kinh đối với việc quản lý trang thiết bị cảnh sát luôn vô cùng nghiêm ngặt, dẫu sao thì thứ đồ phát ra tiếng nổ này ở nơi chốn phồn hoa thủ đô được coi là vật hung khí.

Cho nên, mặc dù Phòng 2 phụ trách các vụ án lớn án trọng điểm của thành phố Bắc Kinh, "Giáo sư" và những người khác đi lùng sục bắt bớ, nhiều lắm cũng chỉ mang theo vài khẩu súng lục, nào đã từng thấy qua khí thế rầm rộ thế này, cứ như đi đánh sói vậy?

Nhìn cảnh sát Mẫu Đơn Giang trên xe lấy lựu đạn ra kiểm tra ngòi nổ, một cảnh sát Bắc Kinh cuối cùng không nhịn được cất tiếng hỏi, nói chúng ta chẳng phải chỉ đi khám xét một tên lừa đảo thôi sao, sao lại có khí thế lớn thế này, còn phải động đến súng máy nữa cơ chứ.

Tên cảnh sát Mẫu Đơn Giang có khuôn mặt giống hệt Tiểu Thẩm Dương nghiêng đầu nhìn đồng hành Bắc Kinh, ôm súng bắt đầu kể lại ngọn ngành:

"Mậu Đồn Cát gia, là nơi dễ chọc vào chắc? Các người... không mang súng mà dám đến hốt ổ nhà họ Cát á?! Tổ tiên người ta là Tọa Sơn Điêu trướng hạ bát đại pháo đầu lão Cát mũi tẹt, các anh đi xem "Lâm Hải Tuyết Nguyên" ấy, chính là lúc tiểu đội bao vây tấn công đột phá vòng vây chạy ra ngoài, bị bắn chết ngay cửa đại sảnh Uy Hổ đó. Mặc dù bây giờ suy vi rồi, nhưng mẹ của Cát Đồng Tâm vẫn còn, mụ già đó bây giờ thì tẻ nhạt vậy thôi, hồi xưa cưỡi ngựa trên tuyết, hai tay cầm hai súng, đó mới là một nhân vật gai góc đấy (tiếng Đông Bắc, có ý là khó đối phó). Lần khám xét ngày hôm nay, mụ già đó tuyệt đối không có chuyện lịch sự cho chúng ta bước chân vào cửa đâu, đội trưởng Lưu gan lớn, muốn đội trưởng Tào chỉ huy, phải mang theo cả súng cối của ban vũ trang đến ấy chứ. Hay là, bọn tôi cho các anh mượn hai khẩu súng, đỡ phải lát nữa đánh nhau vướng tay vướng chân..."

Cảnh sát Bắc Kinh bị tên cảnh sát Mẫu Đơn Giang này hù dọa cho nổi da gà khắp người, ngẩng đầu nhìn về phía "Giáo sư", lại thấy lão gia tử cười như không cười nhìn về phía này, lắc lắc đầu, trong miệng lẩm bẩm một câu: "Bảo sao lão An cứ bị người Mẫu Đơn Giang các cậu hù cho ngơ ngác cơ chứ?" Lão gia tử từng tóm không ít tên lừa đảo băng nhóm Đông Bắc, thừa hiểu những kẻ có ngoại hình thế này giỏi nhất là khua môi múa mép, đứa nào đứa nấy đều không đáng tin cậy.

Thực tế, tình hình địa phương quả thực có chút đặc biệt: Mẫu Đơn Giang nằm giáp biên giới Trung - Nga, hiểm trở trấn giữ ba sông.

Hồi đó Chủ tịch Mao đề xướng chiến tranh nhân dân, để phòng ngừa tư tu sửa biên giới, 20 năm xây dựng biên phòng, tạo nên hàng triệu dân binh vũ trang, thôn nào mà không có vài khẩu súng mới là chuyện lạ. Phong tục dân gian ở đây vô cùng mạnh mẽ, hiếu chiến dũng mãnh, lại có những truyền thống kháng Nhật đánh giặc của Kháng Liên, thổ phỉ quậy phá trên đất đen, cho nên cảnh sát khi phá án ở địa phương, từ trước đến nay đều dùng thiết quyền súng thép, luật pháp nghiêm minh, nếu không làm vậy thì không đủ để thể hiện uy thế trấn áp chuyên chính. Muốn thực sự động thủ thì lại hiếm như phượng hoàng lông rồng. Đương nhiên lần hành động này quy mô xuất động của cảnh sát Mẫu Đơn Giang đặc biệt lớn, cũng là để nể mặt Phòng 2 Bắc Kinh, có ý khoe khoang phong thái cảnh sát địa phương. Cái gọi là "Mậu Đồn Cát gia" đại loại một nửa là tin đồn, lại bị cảnh sát Mẫu Đơn Giang thêm thắt để hù dọa đồng nghiệp Bắc Kinh.

Tuy nhiên, sự thật đã chứng minh, nhà họ Cát này quả thực không dễ chọc, Cát Đồng Tâm cũng thực sự có chút gan dạ của dòng dõi đời đời làm phỉ.

Ba giờ ba mươi phút rạng sáng, tổ hành động liên hợp của cảnh sát hai nơi Bắc Kinh và Hắc Long Giang đã đến Mậu Đồn, trước tiên nghe báo cáo từ nhân lực giám sát. Nhà họ Cát là một tòa viện độc lập, bên ngoài vây quanh hàng rào cành lê gai, bên trong có ba gian nhà, từ tình hình quan sát thấy, Cát Đồng Tâm cả ngày không ló mặt, người nhà của hắn cũng không có hành vi che giấu tiêu hủy chứng cứ nào.

"Giáo sư" hạ lệnh: "Hành động!"

Cổng lớn nhà họ Cát đóng chặt, gọi loa ba lần không mở, cảnh cáo không hiệu quả, "Giáo sư" ra lệnh phá cửa!

Ngay lúc các cảnh sát bắt đầu hành động, chỉ nghe thấy một tiếng quát tháo của phụ nữ lớn tuổi trong sân, sau đó, hai bóng đen như mũi tên nhảy vọt qua bức tường rào, lao thẳng về phía cảnh sát đang làm nhiệm vụ.

Tên cảnh sát Bắc Kinh ban nãy bị đồng nghiệp Mẫu Đơn Giang hù cho giật mình mắt tinh cực độ, liếc mắt một cái liền nhìn rõ thứ lao đến thế mà lại là hai con chó dữ toàn thân lông đen, cao đứng thẳng ngang vai.

Nghe nói, loài chó có họ hàng gần nhất với tổ tiên của chúng là sói châu Á chính là chó Eskimo sống ở Bắc Cực, chó ở Hắc Long Giang tuy không thuộc giống chó Eskimo, nhưng các giống chó miền Bắc do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, lại càng gần gũi với loài sói hơn.

Cảnh sát Bắc Kinh theo phản xạ lùi lại một bước, vô tình đảo mắt nhìn sang, vừa vặn nhìn thấy đồng nghiệp Mẫu Đơn Giang ở phía sau.

Anh ta nhìn thấy một chuyện vô cùng kỳ lạ — hai con chó dữ tợn đang hùng hổ lao tới, thế nhưng trên mặt mấy vị cảnh sát Mẫu Đơn Giang lại lộ ra biểu cảm vui mừng.

“Giáo sư” chợt nhớ ra, trong số cảnh sát Mẫu Đơn Giang dưới quyền đội trưởng Lưu, có mấy người là tộc Triều Tiên...

Phát hiện có chó, mấy cảnh sát địa phương cười ha hả, cũng chẳng dùng súng, ra vẻ có sự chuẩn bị từ trước rút ra hai cây cán xẻng từ bên hông thùng xe, nghênh ngang xông lên đối đầu với chó.

Hai con chó ban nãy còn mở to cái miệng rộng, chảy nước dãi lao mãnh liệt về phía cảnh sát Bắc Kinh, khí thế hung hăng, lúc này đột nhiên phát hiện phía sau là cảnh sát tộc Triều Tiên, tức thì giống như đầu bị gõ cho một gậy, bẻ ngoặt 90 độ quay đầu bỏ chạy.

Hóa ra chó cũng biết bắt nạt người ngoại tỉnh đấy chứ.

Người tộc Triều Tiên giỏi ăn thịt chó, giỏi nấu thịt chó, đó là chuyện nổi tiếng. Ở Thẩm Dương có một người anh em tộc Triều Tiên tên là lão Ngô, từng dẫn tôi đi ăn một lần món lẩu thịt chó kiểu Triều Tiên, kết quả là nguyên cả con chó mang cả da cho vào nồi, hoàn toàn khác với tưởng tượng ban đầu về lẩu thịt chó. Quả nhiên ăn uống thả cửa, chỉ là ăn xong toàn thân nóng bừng bừng, cứ muốn cào tường. Hôm sau lão Ngô cười lớn, nói cố tình bảo người ta bỏ vào đó một củ sâm cao ly tự nhiên...

Nói chó có thể ngửi ra cảnh sát tộc Triều Tiên thì có hơi quá đáng, nhưng nghe nói chó đối với những kẻ chuyên giết chó quả thực có thể ngửi ra được, nếu người mổ thịt chó trong chợ đi dạo trong thôn, cả thôn chó đều sẽ cụp đuôi trốn đi.

Mụ già trong sân vẫn đang quát tháo, nhưng chó thì đã không còn nghe lời mụ ta nữa rồi. Cũng may là phản ứng của hai con chó nhanh nhạy, mặc dù cảnh sát cầm gậy lớn đuổi theo phía sau, nhưng nhất thời vẫn không đuổi kịp. Thấy cảnh sát càng đuổi càng gần, hai con chó hoảng loạn không biết trốn đi đâu đành thực hiện một cú "nhảy vọt kiểu Jani", từ đỉnh hàng rào lại nhảy tót ngược trở lại.

Các cảnh sát tông cửa xông vào, xông thẳng vào trong sân, không bắt nghi phạm, chỉ hô "bắt chó!"

Đích thị là thế trận "đóng cửa đánh chó".

Hai con chó mấy lần định nhảy tường trốn thoát, đều bị cảnh sát dùng gậy đánh ngã bổ nhào từ giữa không trung. Cuối cùng, bầy chó phát huy trình độ siêu đẳng, chỉ số thông minh bùng nổ, cắn đứt một cọc hàng rào, cứ thế lách người chui ra ngoài từ khe hở.

Đội trưởng Lưu hô hào thuộc hạ bắt đầu làm việc. Mấy cảnh sát, nhìn từ xa thấy hai con chó chạy lên đỉnh một gò đất nhỏ gần đó, tru lên thảm thương, ý vẫn chưa thỏa mãn. Cảnh sát trên xe cảnh sát dùng súng máy ngắm nghía hồi lâu, cuối cùng vẫn ngượng ngùng không nỡ ra tay, có lẽ cảm thấy trong thời đại hòa bình mà dùng súng máy bắn chó thì ít nhiều có chút làm rùm beng chuyện bé.

Một người phụ nữ mặt cắt không còn giọt máu bước lên, hỏi cảnh sát đến đây làm gì. Sau này mới biết đây là vợ của Cát Đồng Tâm, nhìn thái độ thì vẫn còn hợp tác. Thế nhưng, chưa đợi hai bên nói chuyện, một cái bỗng đái từ trên trời rơi xuống.

Cảnh sát tay mắt lanh lẹ lách người tránh sang một bên, chỉ thấy một mụ già mặt mày đằng đằng sát khí nhảyổm dậy, đây chính là "Song thương lão thái quân" trong truyền thuyết của Mậu Đồn Cát gia.

Sau sự việc, cảnh sát dưới quyền "Giáo sư" nói, song thương lão thái quân cái nỗi gì, chẳng qua chỉ là cảnh sát địa phương hù dọa chúng ta mà thôi, chẳng qua chỉ là một mụ già Đông Bắc đanh đá một chút mà thôi, thế nhưng mụ ta vớ được cái gì là ném thẳng vào đầu chúng ta cái đó, ở xa thì ném ở gần thì nhổ nước bọt, miệng chửi rủa những lời tục tĩu đổi mới liên hồi, quả thực là một mụ già gai góc.

Mấy vị cảnh sát địa phương kia xem ra vẫn chưa thoát khỏi sự hưng phấn từ vụ đánh chó, theo mệnh lệnh "Khống chế mụ ta!" của đội trưởng Lưu, vung cán xẻng xông lên. Mụ già đó giật mình, vòng quanh gốc cây quần thảo với cảnh sát, di chuyển nhanh như bay, vừa chạy vừa chửi, cục diện vậy mà không hề rơi vào thế hạ phong.

Vợ của Cát Đồng Tâm cũng hùa theo, la hét ầm ĩ nói cảnh sát đánh người già rồi.

Mặc dù mới rạng sáng, người nông thôn Đông Bắc dậy sớm, không ít người dân đã vây quanh xem náo nhiệt.

Có người vây xem, cảnh sát địa phương cũng không dễ chịu gì, chỉ thẳng vào mặt bảo hai người phụ nữ kia ngoan ngoãn một chút, bằng không sẽ san bằng nhà các người.

Việc san bằng nhà hình như có sức uy hiếp khá lớn, giọng của mụ già hạ thấp đi mấy phân.

Cứ như vậy, trong tiếng chửi rủa đội trưởng Lưu bắt đầu hỏi chuyện, biết được Cát Đồng Tâm từ hôm qua đã không về nhà, từng gọi một cuộc điện thoại, nói là đi công tác rồi, còn lại thì hoàn toàn không biết gì cả.

Đội trưởng Lưu hỏi "Giáo sư": "Bước tiếp theo làm thế nào? Anh quyết định đi."

"Giáo sư" nói cậu thấy thế nào?

Đội trưởng Lưu nói, mang theo lệnh khám xét, thì khám xét thôi.

"Giáo sư" nói được.

Thế là bắt đầu khám xét. Bên này khám xét, bên kia chống nạnh chửi mắng, náo nhiệt vô cùng.

Kết quả chẳng thu được gì.

Đội trưởng Lưu hỏi "Giáo sư": Bước tiếp theo làm thế nào? Anh quyết định đi.

"Giáo sư" nói cậu thấy thế nào?

Đội trưởng Lưu nói, khám xét triệt để!

"Giáo sư" nói khám xét triệt để á? Được.

Cảnh sát Bắc Kinh nghe thấy thì vô cùng mới lạ, trong lòng thầm nghĩ khám xét triệt để là cái gì, không hiểu.

Đến khi cảnh sát Mẫu Đơn Giang bắt đầu luyện tập mới bừng tỉnh đại ngộ: Bên này dựng một chiếc ghế đắp, trần nhà xé "ào ào" vứt sạch, bên kia "cộc cộc cộc", cạy tung cả bếp lò lên. Trong sân "sột sột sột", rau cải trắng vừa trồng, tất cả đều bị xới tung lên...

Ồ, hóa ra đây gọi là khám xét triệt để à!

Sau này mới biết, đám cảnh sát Mẫu Đơn Giang này, cũng có chút bị mụ già nhà Cát Đồng Tâm mắng cho nổi đóa lên rồi, mày đanh đá phải không? Để tao cho mày biết thế nào là lợi hại hơn cả mày!

Vấn đề là với cảnh sát Bắc Kinh của "Giáo sư" thì có chút không chắc chắn lắm, cảnh sát Bắc Kinh tuân thủ quy tắc, thầm nghĩ nếu lần này vẫn không khám xét ra được thứ gì, thì đền bù kiểu gì đây? Hèn chi đội trưởng Lưu cứ hở ra là xin ý kiến chỉ đạo, hóa ra là bắt chúng ta phải gánh trách nhiệm đây mà.

Anh ta lúc này vẫn luôn nhìn "Giáo sư", trong lòng thầm nghĩ tổ trưởng có kinh nghiệm, chắc chắn biết "khám xét triệt để" nghĩa là gì chứ nhỉ?

Kết quả, anh ta nhìn thấy trên mặt "Giáo sư", thoạt đầu cũng xuất hiện một thoáng kinh ngạc, thế nhưng, lóe lên rồi biến mất, sau đó, liền bình tĩnh trở lại, bất động bắt đầu chằm chằm nhìn vào mụ già đanh đá đó.

Mụ già này biểu diễn quả thực đủ phong phú, lúc thì muốn lột quần áo, lúc thì muốn đâm đầu vào người cảnh sát, thế nhưng, có gì đáng xem đâu chứ?

"Giáo sư" lại xem đến mức vô cùng hào hứng, hình như hoàn toàn không lo lắng về mớ hỗn độn do "khám xét triệt để" gây ra.

Sau đó, "Giáo sư" mới nói: "Đã đến mức này rồi, đằng nào thì sai lầm cũng phạm rồi, còn nghĩ ngợi làm gì nữa? Bắt mụ già này trước đã, giải quyết được vụ án rồi, cái gì cũng tốt."

Thực ra, nhìn màn biểu diễn muôn hình vạn trạng của mụ già này, lúc đó mấy vị ở Phòng 2 vô cùng tiếc nuối, thầm nghĩ không mang theo hai nữ học viên theo thì quá tiếc. Xung quanh "Giáo sư" vốn dĩ có không ít nữ cảnh sát ba đầu sáu tay, ván bài gặp cao thủ, có trời mới biết sẽ xảy ra náo nhiệt gì.

Nói thế hình như nữ cảnh sát Phòng 2 còn đàn ông hơn cả đàn ông, điều này là sai. Nữ cảnh sát Phòng 2 có nhiệm vụ đối ngoại, lúc tuyển chọn rất chú trọng ngoại hình, phần lớn sẽ không xuất hiện nhân vật có vẻ ngoài giống đàn ông hơn cả đàn ông. Cái gọi là "bông hoa của nữ cảnh sát Phòng 2", đó là chuyện rất nổi tiếng.

Cảnh sát Tuyên Vũ ở Bắc Kinh được coi là hạng nhất, thế nhưng một cảnh sát già họ Trịnh ở Tuyên Vũ khi nhớ lại lần đầu tiên gặp người vợ ở Phòng 2 của mình, vẫn cảm thấy vô cùng vương vấn.

Lúc đó lão Trịnh vẫn là Tiểu Trịnh, đang làm hộ tịch cho người ta, bỗng thấy ngoài cửa đến một chiếc xe cảnh sát, ba bốn người trông giống lãnh đạo bước xuống tìm đồn trưởng của họ. Hỏi ra mới biết là người của Phòng 2, đến để tìm hiểu tình hình của một nghi phạm tại địa phương.

Người lái xe là một nữ cảnh sát thực tập nhỏ tuổi, xem ra vụ án này không liên quan gì đến cô ta, liền ngồi trong phòng của Tiểu Trịnh để đợi. Nữ cảnh sát nhỏ này trông xinh xắn như một chiếc bình hoa, đi đứng yểu điệu thướt tha, bị cảnh sát trong đồn nhìn thêm mấy cái còn sẽ đỏ mặt, ngoan ngoãn ngồi ở đó, khiến Tiểu Trịnh cảm thấy rất thú vị. Một lát sau, có lẽ cảm thấy hơi nóng, liền lấy một chiếc khăn tay ra quạt mát, thế mà lại mang theo một mùi hương đàn hương thoang thoảng.

Đây đâu giống cảnh sát chứ. Tiểu Trịnh cảm thấy buồn cười nhưng cũng vô cùng có hứng thú với nữ cảnh sát nhỏ này — anh hùng khó qua ải mỹ nhân, cảnh sát cũng không ngoại lệ.

Nữ cảnh sát nhỏ đó chú ý thấy Tiểu Trịnh đang nhìn mình, mặt càng đỏ hơn, cúi gằm mặt như thể không ngẩng lên nổi...

Đang nhìn rất thú vị, kẻ gây rối đến rồi.

Ngoài cửa bỗng truyền đến một trận tiếng động ồn ào, có người lớn tiếng gầm thét.

Tiểu Trịnh buông văn bản xuống, đi ra ngoài xem xét, hóa ra là một tên "vào tù ra tội" trong khu quản lý. Tên nhóc này hôm qua dùng gạch đập rách đầu hàng xóm (đánh bị thương), bởi vì phán định là thương tích nặng, hôm nay phải đưa đến phân cục. Tên cao lớn da đen này không chịu, đứng đó cãi tay đôi với cảnh sát. Hai cảnh sát kẹp hắn ta định đưa lên xe cảnh sát, hai chân hắn ta đứng trước cửa xe cảnh sát như hai cái cột nhà, nhất thời kéo không nổi!

Tiểu Trịnh đang định đến giúp một tay, chợt nghe đằng sau vang lên một giọng nói dịu dàng thì thầm: "Đúng là đồ phế vật XX..."

Một làn gió thơm lướt qua, nữ cảnh sát nhỏ đó phất người bay qua, tay phải chớp nhoáng một cước móc đũng quần, tay trái ở lưng đẩy một cái, tên cao lớn gập người lại, "o้า" lên một tiếng liền bị ném thẳng lên xe cảnh sát...

Dưới đất đầy mảnh kính mắt vỡ vụn...

Đêm tân hôn, Tiểu Trịnh nói với vợ, sức lực một tay em không nhỏ đâu, anh lúc đó nhìn mà tâm phục khẩu phục.

Nữ cảnh sát nhỏ đỏ mặt, nhỏ giọng nói: "Sức khéo mà thôi, nào phải một tay đâu, chỉ dùng có hai ngón tay thôi..."

Nói đi cũng phải nói lại, hậu quả do "khám xét triệt để" gây ra có thể tưởng tượng được, bão táp, sóng thần, động đất, chiến tranh...

Nhưng kết quả vẫn chẳng tìm thấy gì.

Đội trưởng Lưu hỏi "Giáo sư": "Bước tiếp theo làm thế nào, anh quyết định đi."

"Giáo sư" nói: "Cậu đi, đào cái hố xí trong viện của nhà hắn lên cho tôi!"

"Hố xí???" Nhà nông thôn Đông Bắc nhà nào nhà nấy nhà tiêu đều nằm trong viện, có ý nghĩa phân bón tốt không chảy ruộng ngoài. Đương nhiên, về mặt vệ sinh thì không thể quá chuyên nghiệp được. Nhà tiêu nhà Cát Đồng Tâm ở giữa là một cái hố xí, xung quanh là một vòng hàng rào đan bằng cành cây, trên mái lợp một tấm vải bạt, kết cấu vô cùng đơn sơ. Đang giữa mùa hè oi bức, đội trưởng Lưu khịt khịt mũi, gọi hai cảnh sát trẻ tuổi, "Hai cậu, qua đó dọn cái hố xí nhà hắn đi..."

"Lão Lưu anh không tự mình xuống à?" "Giáo sư" bóp hai tay, khớp xương kêu răng rắc, "Khám xét triệt để mà còn không tìm ra cái gì, đồ đạc nhà bọn chúng giấu kỹ lắm đấy, nếu thực sự ở trong đó có thứ gì, người thiếu kinh nghiệm sơ sẩy một cái là bỏ qua ngay. Cậu nói xem có phải không?"

"Thế còn anh thì sao?" Đội trưởng Lưu hỏi ngược lại.

"Tôi đứng cạnh nhìn thôi, có trách nhiệm thì hai chúng ta chịu chung." "Giáo sư" rút ra một điếu thuốc, quẹt diêm châm lửa hút, lại đưa cho đội trưởng Lưu một điếu.

Đội trưởng Lưu nhận lấy điếu thuốc, nhe nhếch miệng, hai người nhìn nhau trìu mến, cười ha hả, cảm thấy tâm ý tương thông.

Đại khái trong lòng hai người đang nghĩ: Hừ, người Đông Bắc, muốn chơi khăm tôi à? Cho cậu lên lớp trước một bài học; hừ, người Bắc Kinh, quả nhiên không phải dạng vừa đâu, huynh đệ xin lĩnh giáo.

Cười xong, đội trưởng Lưu ngậm điếu thuốc, vác một cây xẻng lớn, quay vòng vòng trên đỉnh đầu, gọi mấy cảnh sát, lao thẳng về phía hố xí đó.

Lúc khám xét chú ý đến nhà tiêu, đây tuyệt đối không phải sáng kiến của riêng "Giáo sư", hồi xưa khi giặc Nhật càn quét khu Kế Trung, cũng có cái tật xấu này.

Nghe nói ở quê nhà Kế Trung của chúng tôi, giặc Nhật càn quét vào thôn, vào viện là lao ngay ra nhà tiêu nữ trước...

Các đồng chí quen thuộc với phim người lớn Nhật Bản có lẽ sẽ có chút suy ngẫm sâu xa.

Đừng nghĩ quân giặc biến thái quá thế chứ, đây là trinh sát chiến thuật cực kỳ nghiêm túc của quân đội Nhật lúc bấy giờ.

Trinh sát chiến thuật sao lại cứ phải lao vào nhà tiêu nữ làm gì?

Bởi vì từ đó có thể phán đoán xem có đội võ công từng ở đó hay không.

Tình hình ở quê hương chúng tôi khác với Đông Bắc, nhà tiêu nam nữ ở Kế Trung được tách riêng, nhà tiêu nam nằm ở trên đường phố, còn nhà tiêu nữ thì lại nằm ở trong nhà. Điều này là do thương buôn ở đây thường xuyên lui tới, hành khách không dứt. Thương nhân đều là nam giới. Người quê lòng tham, nhà tiêu nam đặt ở trên đường phố, có thể giữ lại một phần phân bón nông nghiệp này, không để nó mang đi mất sang làng khác. Mà phong tục dân gian Kế Trung tính phong kiến tương đối mạnh, nhà tiêu nữ thiết kế ở trong viện, có ý hạn chế nữ trướng trong nhà ít ra ngoài lộ mặt.

Đương nhiên, đây phải là thôn xóm và tụ trấn tương đối lớn, thôn nhỏ thì không chú trọng thế này.

Hồi đó đội võ công Bát Lộ Quân hoạt động có một quy luật: Đại đội chuyên ở thôn nhỏ, tiểu đội chuyên ở thôn lớn. Điều này là bởi vì, đại đội ở thôn nhỏ, một khi khống chế được đầu thôn ngõ xóm, toàn bộ ngôi làng sẽ trở thành thiên hạ của Bát Lộ, mở hội, phân phát cơm, giảm tô giảm tức, công tác triển khai ra toàn thôn. Ngược lại, đội ngũ chỉ có mấy người, thì sẽ ở thôn lớn, tìm một hộ gia đình kiên cố hoặc nhà cao cửa rộng của địa chủ để lẻn vào, cử một lính gác trèo lên mái nhà trấn áp, lặng lẽ ở lại mà ngay cả người trong thôn cũng không hề hay biết.

Vấn đề là đội võ công sau khi ở lại, chỉ có thể ẩn nấp, không thể tùy tiện ra đường — ở vùng nông thôn của bất kỳ quốc gia nào, thời chiến xuất hiện gương mặt mới đều rất dễ bị chú ý.

Ẩn nấp là sở trường của đội võ công. Thế nhưng ở lâu ngày, kiểu gì cũng phải giải quyết chuyện năm nghìn nỗi niềm ăn uống chứ. Đội võ công không thể ra ngoài đành phải mượn nhà tiêu nữ trong sân của chủ nhà để sử dụng.

Lâu dần, giặc Nhật dần dần nắm được quy luật — vào thôn trước tiên tìm nhà tiêu nữ, một khi phát hiện trên tường bên trong có vết nước tiểu, thì có nghĩa là nơi đây từng có đội võ công ở! Nghe nói, đây còn là do trung tướng Cương Thôn Ninh Tự thích suy ngẫm tự mình tổng kết ra đấy.

Chuyện này, Phùng Chí trong cuốn "Địch Hậu Võ Công Đội" cũng từng miêu tả qua.

Tuy nhiên, việc "Giáo sư" khám xét nhà vệ sinh nhà Cát Đồng Tâm chắc chắn không liên quan gì đến kinh nghiệm của giặc Nhật cả.

Anh ta rút ra kết luận là nhờ quan sát biểu hiện của mụ già đó.

"Giáo sư" vẫn luôn chằm chằm nhìn biểu hiện của mụ già nhà họ Cát. Ý định ban đầu của anh ta là xem cảnh sát động vào chỗ nào thì mụ già sẽ căng thẳng. Thế nhưng nhìn tới nhìn lui không thấy sơ hở nào, khiến anh ta cảm thấy hơi thất vọng.

Tuy nhiên, cuối cùng anh ta cũng phát hiện ra có chút kỳ lạ: Cứ cách một khoảng thời gian, mụ già lại cố ý hoặc vô tình liếc mắt nhìn vào trong sân, thỉnh thoảng lại liếc nhìn vợ Cát Đồng Tâm một cái.

Nhìn vợ Cát Đồng Tâm rất tự nhiên, thuộc về kiểu giao tiếp và trao đổi, thế nhưng mụ ta nhìn vào trong sân để làm gì chứ? Sau mấy lần, "Giáo sư" cảm thấy, thứ mà mụ ta nhìn, chính là cái hố xí này.

Mụ già nhìn hố xí làm gì? Muốn đi vệ sinh à? Chắc không phải đâu.

Để chứng minh phỏng đoán của mình, "Giáo sư" cố tình không nhìn tình hình khám xét bên này, đi dạo trong viện như đang tản bộ hai vòng — mỗi lần đến gần cái nhà vệ sinh đó, tiếng chửi rủa sẽ nhỏ đi một chút...

"Giáo sư" giả vờ vô tình, vịnh vào hàng rào của nhà vệ sinh một cái.

Khoảnh khắc đó, trong tiếng chửi rủa đột nhiên mang theo một chút tiếng rung.

Có hy vọng rồi!

"Giáo sư" ra vẻ như không có chuyện gì quay lại, liền giao cho đội trưởng Lưu nhiệm vụ khó quên này.

Các cảnh sát đồng loạt ra tay, chớp mắt nhà vệ sinh nhà họ Cát đã bị tháo dỡ về trạng thái nguyên liệu thô. Vật ô uế bên trong vứt tung tóe khắp cả sân.

Hố nhà vệ sinh đã dọn sạch đến đáy, thế nhưng vẫn chẳng có gì cả.

Đội trưởng Lưu xòe hai tay chạy tới, có vẻ muốn hỏi ý kiến của "Giáo sư".

“Giáo sư” khịt khịt mũi, không để anh ta đến gần: “Bảo cậu đào nó lên cơ mà. Đào lên, có ý nghĩa gì, cậu không hiểu à?”

"Ơ ơ ơ" Đội trưởng Lưu hình như bừng tỉnh đại ngộ, một tư thế gấu đen đứng nghiêm, quay đầu lại lao thẳng về phía hố xí.

Lần này, thì thực sự là đào rồi. Thậm chí gạch xây hố xí cũng đều tháo dỡ ra hết, tháo xong hai bên vị trí đặt chân, bắt đầu tháo tấm đá phía dưới, tháo tấm đá xong tiếp tục đào sâu xuống...

“Giáo sư” cúi đầu châm thuốc, ngước mắt cũng không thèm nhìn.

Anh ta từ sớm đã chú ý thấy từ lúc bắt đầu đào hố xí, mụ già đó liền không la không hét nữa, chỉ đứng đó thở hồng hộc.

Nếu không có ma quỷ, họ Hầu của lão đây sẽ viết ngược lại! "Giáo sư" châm thuốc, thong thả hút một hơi.

"Cạch..." Chiếc xẻng lớn của đội trưởng Lưu, đột nhiên va phải thứ gì đó.

[TIÊU ĐẺ]: Bản "Lâm hải tuyết nguyên" phiên bản thực tế

Nghe thấy câu nói ấy, toàn bộ sự chú ý của những người xung quanh đều bị thu hút lại. Đội trưởng Lưu cẩn thận dùng xẻng khều vật đó lên, nhìn kỹ, trông giống một viên gạch mà lại không giống gạch, bên ngoài được bọc bằng nilon hết lớp này đến lớp khác.

Bất chấp trên xẻng toàn là uế vật bẩn thỉu, "Giáo sư" lao vụt tới, giơ tay chộp ngay lấy thứ đó — cảnh sát chính hiệu đều có tác phong này. Chuyên gia phá án nổi tiếng Bắc Kinh Thiết Ưng từng hồi ức, khi khám nghiệm một vụ án mạng ở một hồ chứa nước nọ, thi thể đã bị xà phòng hóa hoàn toàn. Để lấy chứng cứ nguyên vẹn, anh ta cúi xuống vớt từng miếng, vớt được nửa chừng, trên bờ gọi ăn cơm rồi, mang đến một thùng tôn lớn đựng toàn bánh bao bọc to. Lão Ưng nói các anh chờ chút, tôi phải đi rửa tay.

Thế là, anh ta rửa tay ngay dưới dòng nước hồ chứa cạnh thi thể, dùng khăn lau khô, chộp lấy cái bánh bao, vừa ăn vừa phân tích án tình.

Sau đó, vậy mà lại lục ra được từ trong đống phân giải của thi thể xà phòng hóa một tấm vé xem phim đã nhòe nhoẹt hoàn toàn, nhờ đó mà phá được vụ án.

Lão Ưng khi nhắc tới chuyện này vô cùng đắc ý, ý là các anh xem, dù điều kiện có thế nào tôi ăn cơm cũng phải rửa tay trước, không giống bọn pháp y các anh, tôi có tinh thần văn minh...

Vấn đề là lúc đó chúng tôi cũng đang ăn cơm, một miếng bánh đậu xanh, đều bị một mình lão Ưng ăn sạch, lão Tát không nuốt nổi miếng nào.

Ban nãy, bà cụ kia còn đang nhảy cưng cưng chửi rủa: "Tao đi kiện tụng chúng mày..." lúc bắt đầu bới nhà xí, thì bỗng im bặt. Đến khi nhìn thấy "Giáo sư" cầm cái gói đó qua, liền tự động ngồi thụp xuống đất, cúi gằm đầu xuống. Quả không hổ là gia đình thổ phỉ đời trước, rất hiểu rõ chính sách.

Không màng đến chuyện sạch hay bẩn, "Giáo sư" và đội trưởng Lưu mở gói đồ ra, bên trong bọc một chiếc hộp đựng cơm, hai người đều bật cười — ai mà lại đi chôn hộp cơm dưới đống phân, chắc chắn là có vấn đề.

Mở hộp cơm ra xem, con dấu giả, phiếu lĩnh hàng, phiếu xuất kho, đều nằm trọn bên trong...

"Giáo sư" sau đó đã nói trong buổi họp tổng kết rằng, lúc đó tôi mới thực sự thở phào nhẹ nhõm. Kim Vinh vừa kết hôn, chưa có nhà, chuẩn bị chuyển về nhà vợ, ở ký túc xá công ty thì không có điều kiện cất giấu đồ đạc; nhà Tề Ngọc Tiên ở chung cư, những chỗ cất được đều đã lục soát qua nhưng chẳng thu được gì. Nếu ở nhà họ Cát mà không lục ra được chứng cứ sắt đá, thì vụ án này chưa chắc đã dễ ăn nói với cấp trên. Hơn nữa, cái kiểu "lục soát triệt để" của cảnh sát Đông Bắc bọn họ, quả thực đã đem cái đầu của mấy anh em chúng tôi buộc vào thắt lưng quần rồi...

Bây giờ tang chứng vật chứng đều đã đủ cả, mọi người coi như không đi công cốc, vụ án có tiến triển thuận lợi. Cảnh sát áp giải tang vật cùng người nhà họ Cát về cục để điều tra.

Về chuyện này, tôi từng hỏi nhân viên cảnh sát cung cấp tư liệu rằng: "Tại sao khi Cát Đồng Tâm trốn chạy, lại phải giấu tang chứng ở chỗ này? Cố tình chơi trò trốn tìm với cảnh sát, hay là sợ người ta không có chứng cứ để bắt hắn?"

Vị ở Đội Hai nghe vậy liền cười, nói đây tuyệt đối không phải là thứ hắn giấu lúc trốn chạy, mà trái lại, chính vì hắn bỏ trốn trong hoảng hốt nên mới không kịp tiêu hủy tang chứng. Hắn giấu thứ này là phù hợp với tâm lý tội phạm. Bởi vì hầu như tất cả tội phạm đều có một đặc điểm chung: thích lặp lại thủ đoạn gây án đã thành công. Bọn họ giữ lại những con dấu, phiếu lĩnh hàng này, mục đích là chuẩn bị tiếp tục dùng thủ đoạn đó để lừa đảo.

Trước khi đi, Cát Đồng Tâm từng gọi điện về nhà, địa phương lúc đó chưa có điều kiện lắp điện thoại trong nhà, chỉ có thể dùng điện thoại công cộng để nhắn tin gọi lại, nhưng ngặt nỗi người quản lý điện thoại lúc đó lại bị gọi đi chỗ khác nên không biết bọn họ đã nói gì.

Cát Đồng Tâm đoán chừng sẽ dặn vợ mình tiêu hủy tang chứng, hơn nữa việc hắn giấu đồ dưới hố xí, người nhà chắc chắn phải biết, bằng không khi lục soát thì bà cụ nhà bọn họ không thể có phản ứng như thế được. Chỉ là bà cụ nhà họ Cát và vợ hắn không mang đồ ra tiêu hủy trước mà thôi.

Bạn thử nghĩ xem, cái hố xí to đùng đầy ắp phân như thế, có dễ đào bới lên không?

Có chứng cứ trong tay, việc bắt người liền trở nên đường đường chính chính. Nhìn thấy lực lượng cảnh sát địa phương uy vũ khí thế, vợ Cát Đồng Tâm không dám giở trò nữa, trên xe cảnh sát cứ rúc hết người về phía "Giáo sư", có lẽ cảm thấy người này trông còn có vẻ văn minh hơn.

Cũng chính vì nguyên nhân này, "Giáo sư" cảm thấy người phụ nữ này chính là một đột phá khẩu, sau đó trong quá trình thẩm vấn đã tập trung khai thác, khai ra được rất nhiều điều. Ví dụ như nguyên nhân Cát Đồng Tâm và Tề Ngọc Tiên bỏ trốn, chính là do người phụ nữ này cung cấp.

Hai người bọn họ nhận được tin tức bằng cách nào?

Theo lời thuật lại của Cát Đồng Tâm, việc truyền tin này lại có liên quan đến Kim Vinh.

Chẳng lẽ có viên cảnh sát nào là đồng hoả của Kim Vinh ư?

Không phải thế, người truyền tin ấy cho đến tận lúc đó vẫn không hề biết mình bị người ta lợi dụng làm quân cờ.

Hóa ra, Kim Vinh vừa bước ra khỏi nhà ga Bắc Kinh, đụng độ Bí thư An liền biết tình huống không ổn. Thảo nào, để cho một nhân vật bị dồn ép đến mức phải đi cả lên trung tâm thương mại Địa An Môn để trộm cắp đinh thượng liễu nễ, còn muốn chạy thoát sao? Lão An túm chặt lấy Kim Vinh không buông, ông ta hoàn toàn không có thời gian để tìm người đi nhắn tin.

Tuy nhiên, tên này quả thực rất thông minh, thấy không chạy thoát được, hắn vừa giằng co vừa cố tình kéo Bí thư An cùng đoàn người hướng về phía phòng nghỉ của nhân viên phục vụ trên tàu. Ở đó, vừa vặn có một kíp nhân viên tàu tuyến Đông Bắc vừa từ trên tàu xuống. Kim Vinh thường xuyên chạy qua lại giữa Bắc Kinh và Đông Bắc, thiên hạ đường sắt là một nhà, việc kiếm được một chiếc giường nằm là chuyện thường ngày, hơn nữa hắn lại giỏi giao thiệp, thế nên có không ít người trong số đó quen biết hắn.

Hắn kéo hướng về phía này, cộng thêm tiếng hô của Bí thư An, nữ cảnh sát bên cạnh và vợ Kim Vinh người khuyên kẻ náo, đã thu hút sự chú ý của rất nhiều người, tất nhiên trong đó có cả đám nhân viên phục vụ tàu. Đúng như đã nói ở trên, biểu hiện của Kim Vinh ở nhà ga vô cùng ngây thơ vô tội, đến cảnh sát suýt chút nữa cũng bị hắn qua mặt, thế nên đám nhân viên phục vụ này cười hi ha, đều coi như xem náo nhiệt.

Người Đông Bắc có một thói quen, rất thích xem náo nhiệt, xem xong lại còn thích đi loan truyền khắp nơi.

Ngặt một nỗi, người làm trong ngành đường sắt lại có thêm một điều kiện thuận lợi: người ta gọi nhân viên đường sắt là "ông lớn đường sắt", đứng độc lập một cõi giữa các ban ngành, có hệ thống thông tin liên lạc riêng của mình. Do đó, nhân viên đường sắt gọi điện thoại nội bộ trong hệ thống là hoàn toàn miễn phí. Hệ thống này vô cùng hoàn thiện, đến thời kỳ kinh tế hàng hóa, Bộ Đường sắt cảm thấy để thế này tự dùng thì phí phạm, bèn đem ra kinh doanh kiếm lời. Thử nghiệm một chút liền thấy việc buôn bán không bình thường chút nào — phải biết rằng nơi nào có đường sắt thì nơi đó có tuyến thông tin của đường sắt, độ bao phủ này không một công ty dân doanh hay công ty bên ngoài nào có thể tranh chống nổi. Đây chính là China Railcom (Viễn thông Đường sắt Trung Quốc) có thể tranh hùng với China Telecom trong lĩnh vực dịch vụ đường truyền ngày nay, là cây hái ra tiền của Bộ Đường sắt.

Việc gì cứ miễn phí thì chắc chắn sẽ bị lạm dụng, thế nên vào thời điểm mà mọi người gọi điện thoại công cộng vẫn phải tính từng phút, việc nhân viên đường sắt cháo điện thoại từ Quảng Châu đến Cáp Nhĩ Tân là chuyện cơm bữa. May là đất nước chúng ta không có thuộc tính thuộc địa, bằng không chắc chắn sẽ xảy ra chuyện dùng điện thoại vượt đại dương để tám chuyện của một tiếp viên tàu hỏa nào đó.

Thế là, có nhân viên phục vụ tàu quen biết Kim Vinh đã không kìm được gọi điện cho Cục Đường sắt Cáp Nhĩ Tân: "Vui lắm, cái tên Kim Vinh bên đoàn xe của các anh đã bị cảnh sát bắt ở ga Bắc Kinh rồi, vợ Kim Vinh diễn cảnh thây ma nhảy múa thế nọ thế chai..."

Mới mẻ như vậy tự nhiên truyền đi rất nhanh, chẳng mấy chốc Cát Đồng Tâm và Tề Ngọc Tiên đã nghe ngóng được. Hai người nghe xong tình hình này, ngẫm lại liền thấy không ổn! Thằng nhóc Kim Vinh này chắc chắn đã bị vạch trần rồi! Hai người cũng coi như quyết đoán, đến nhà Tề Ngọc Tiên lấy ít tiền, nhà Cát Đồng Tâm cũng chẳng thèm về mà chuồn thẳng.

Chiêu này của Kim Vinh vốn không nắm chắc tuyệt đối, nhưng tỷ lệ thành công lại rất cao, cũng coi như am hiểu sâu sắc binh pháp.

Chuyện này, thực ra đúng là chẳng ai phải chịu trách nhiệm cả.

Tất nhiên, đây là lời khai sau này của vợ Cát Đồng Tâm. Lúc mới bị bắt đưa về cục, cô ta chưa chắc đã không có ý định ngoan cố chống cự một chút. Suốt dọc đường "Giáo sư" dùng lời lẽ ôn hòa trò chuyện với cô ta, người vợ này thì ba hoa chích choè chuyện đâu đâu, còn chuyện chính thì cắn chặt răng không hở dù chỉ nửa lời.

“Giáo sư” vẫn giữ thái độ ôn hòa, không hề tính toán so đo, thấy bà cụ cứ nhìn về phía này, bèn lại bắt chuyện với bà cụ. Lần này, "Giáo sư" biến thành trạm phát thanh — chỉ có mỗi tiếng nói của mình, dứt khoát không có lời đáp lại.

Xuống tàu, về đến cục, "Giáo sư" bảo tách hai người bọn họ ra dẫn đi theo hai ngả.

Sau đó đội trưởng Lưu đưa bà cụ đi giam lại trước, "Giáo sư" dẫn người vợ đó vào phòng làm việc ngồi xuống, còn bảo chiến sĩ phục vụ châm cho một ly trà.

Đội trưởng Lưu bước vào, "Giáo sư" chỉ tay về phía vợ Cát Đồng Tâm: "Cô, gọi hai nữ cảnh sát đưa cô ta sang phòng bên cạnh, lục soát triệt để!"

“Cảng” — chiếc ly trà trong tay vợ Cát Đồng Tâm lập tức rơi xuống đất...

Người xưa ném chén làm hiệu lệnh là để giết người, còn ở công an cục mà làm trò này thì vợ Cát Đồng Tâm rõ ràng vừa không có sự chuẩn bị giết người lại vừa chẳng có bản lĩnh đó, chắc chắn không phải vì nguyên nhân này.

Về sau mọi người giải thích, nói người phụ nữ này đánh rơi ly nước, nguyên nhân có lẽ có hai điều.

Thứ nhất là vợ Cát Đồng Tâm từng tận mắt chứng kiến thế nào là lục soát triệt để, ước chừng sắp phải nếm trải một trận "lục soát triệt để" lên người mình, sợ đến mức cảm thấy xương sườn có lẽ sắp bị tháo rời ra.

Thứ hai là vợ Cát Đồng Tâm vẫn luôn cảm thấy "Giáo sư" là một người tương đối văn minh, bỗng nhiên lại chơi một vố như thế này với cô ta, sự chênh lệch quá lớn khiến cô ta không thể tiếp thu nổi (nguyên văn lời "Giáo sư" còn cay độc hơn nhiều, lão Tát ngại không dám lặp lại, đành gọi là lục soát triệt để).

Dù sao thì câu thét "Anh là đồ lưu manh..." của vợ Cát Đồng Tâm còn chưa kịp thốt ra khỏi cổ họng, đã bị hai nữ cảnh sát kéo xềnh xệch đi mất.

Đội trưởng Lưu nhìn "Giáo sư", "Giáo sư" mỉm cười — có ai nhìn vợ của nghi phạm mà ánh mắt lại giống như nhìn hố xí thế không hả? Anh cứ yên tâm đi, nhất định sẽ lục ra được đồ đạc.

Nửa tiếng sau, hai nữ cảnh sát áp giải vợ Cát Đồng Tâm mặc cảnh phục trở về.

Nhanh thế đã làm thủ tục "nhập ngũ" cho người ta rồi sao?!

Tất nhiên là không phải, công việc ở công an cục gọi là công chức, bây giờ muốn làm thì phải thi tuyển đấy nhé.

Vậy sao vợ Cát Đồng Tâm lại ăn mặc thế này?

Hết cách rồi, bộ quần áo trên người cô ta đã không thể dùng được nữa. Theo lời của trinh sát viên, thì đã bị xé rách tả tơi như cái khăn gói đồ rồi... đây mới gọi là lục soát triệt để chứ. Tuy nhiên, không thể trách các trinh sát viên ra tay tàn nhẫn, người Đông Bắc hồi đó thịnh hành tự may quần áo, trong cổ áo, cạp quần thường giấu bìa cứng, lỡ như giấu thứ khác thì không xé ra xem làm sao biết được?

Kết quả, ngay trong lớp lót cổ cứng của chiếc áo sơ mi mà vợ Cát Đồng Tâm mặc, người ta đã lục ra được một tờ biên lai gửi tiền ngân hàng. Tính số tiền và xem thời gian, khỏi cần hỏi cũng biết đây là tang khoản.

Lúc này, vợ Cát Đồng Tâm nhìn "Giáo sư", giống hệt như chuột thấy mèo. "Giáo sư" vẫn nhã nhặn lịch sự như vậy, thế nhưng câu hỏi thì cứ dồn dập nối tiếp nhau.

Người vợ đó đành phải khai sạch.

Mẹ chồng của Cát Đồng Tâm rất lợi hại, từ lúc bước vào, ánh mắt vẫn nhắm hờ hững như đang tu hành, một lời cũng không thốt ra.

Tuy nhiên, "Giáo sư" dứt khoát lười thèm đếm xỉa đến bà ta. Đằng này đã khai ra như trúc ống đổ đậu rồi, bà còn ở đó làm mình làm mẩy cái gì chứ?

Chỉ trong một buổi chiều, toàn bộ những chuyện mà vợ Cát Đồng Tâm nên biết đều đã được thẩm vấn rõ ràng. Cô ta là nhân viên tạp vụ ở ga Mẫu Đơn Giang, cho nên chuyện Cát Đồng Tâm và đồng bọn lợi dụng tuyến đường sắt để buôn lậu đầu cơ, buôn bán vé chợ đen thế nào cô ta đều biết rõ. Kim, Cát, Tề ba người luôn tụ tập với nhau, cảm giác hình như đã làm những "vụ làm ăn lớn", cứ cách một khoảng thời gian là trong tay lại rất rủng rỉnh tiền tiêu.

Thế nhưng ba kẻ này hùa nhau đi gây án, về nhà lại không hề nói với người nhà, người nhà cũng không hỏi, chuyện này thuộc dạng ngầm hiểu với nhau. Ví dụ như thứ giấu dưới hố xí thì cô ta biết, nhưng cụ thể là gì, cô ta chưa từng hỏi nhiều.

Cụ thể tung tích của Cát Đồng Tâm và đồng bọn ở đâu, người vợ này chỉ nghe Cát Đồng Tâm nói bọn họ muốn "vào núi".

Trải qua quá trình đối chiếu với các nhân chứng vật chứng khác, "Giáo sư" và đội trưởng Lưu cho rằng lời khai của vợ Cát Đồng Tâm khá đáng tin cậy. Hai nhà Tề, Cát có không ít họ hàng ở khu vực miền núi, có lẽ bọn họ đã trốn sang nhà người thân rồi.

Tuy nhiên, bọn họ đồng thời cũng nắm được thông tin rằng, cả Cát và Tề đều là những tên "thổ địa" sành sỏi ở địa phương, vô cùng quen thuộc với địa hình đường sá, biết rõ từng con đường nhỏ đi vào núi. Thế nên, các trạm kiểm soát dựng lên để chặn bắt ở xung quanh mới không thể chặn được hai kẻ này.

Vậy thì cảnh sát đành phải tự mình đi lùng sục thôi.

Gần tối, chó nghiệp vụ mượn từ Cáp Nhĩ Tân đã tới. Trong lúc "Giáo sư" và đồng đội đang thẩm vấn gấp rút vợ Cát Đồng Tâm, đội trưởng Lưu đã bắt đầu tổ chức đội tìm kiếm. Đội tìm kiếm này số lượng không nhiều nhưng cực kỳ tinh nhuệ, ngay cả "Giáo sư" và mọi người mỗi người cũng mượn một khẩu súng từ cảnh sát địa phương. Ngay trong đêm đó liền bắt đầu truy kích tìm kiếm.

Dưới sự truy vết của chó nghiệp vụ, cảnh sát lần lượt tìm thấy thức ăn và xe đạp do tội phạm vứt lại. Nhưng manh mối đã bị đứt đoạn ở gần một tuyến đường sắt trong núi. Cảnh sát địa phương phán đoán, hai kẻ đó đã bám càng tàu hỏa. Loại tàu hỏa này không phải là tàu khách chúng ta thường thấy, mà là xe lửa chở gỗ khổ hẹp loại nhỏ. Ở vùng rừng núi Đông Bắc, loại tàu hỏa mini trông như đồ chơi này, "chim sẻ tuy nhỏ nhưng ngũ tạng đầu đủ", đến nay vẫn đang được sử dụng. Tốc độ của nó khá chậm, cơ bản không có nhân viên quản lý. Thế nên việc bám càng loại tàu này không cần đến thân thủ của du kích đường sắt.

“Giáo sư” từng đọc tiểu thuyết "Lâm hải tuyết nguyên" của Khúc Ba, trong đó từng nhắc đến loại xe lửa nhỏ này. Cách nhau hơn 30 năm, kiểu dáng của xe lửa nhỏ vẫn chẳng có gì thay đổi.

Mang theo một chút hoài niệm ấy, "Giáo sư" cất tiếng hỏi: "Chiếc xe lửa nhỏ này thông đến đâu thế?"

Huyện Hải Lâm, chính là cái chỗ Uy Hổ Sơn của Uy Sơn Điêu ấy.

Hả? "Giáo sư" lập tức nhớ đến truyền thuyết "Bát đại kim cang mũi tẹt lão Cát". Chẳng lẽ Cát Đồng Tâm thực sự có quan hệ gì với Uy Sơn Điêu?

Mang theo tâm lý nửa đùa nửa thật hỏi cảnh sát Mẫu Đơn Giang, cảnh sát địa phương vô cùng lúng túng, nói đùa thôi đùa thôi, còn có người nói ông nội của Tề Ngọc Tiên là tham mưu trưởng Uy Sơn Điêu Tề Đại Ma Tử cơ, chẳng qua chỉ trùng họ mà thôi, chẳng có ai kiểm chứng cả. Tuy nhiên, hai nhà ở Uy Hổ Sơn đúng là có họ hàng.

“Giáo sư” trầm ngâm suy nghĩ một lúc, vừa triển khai bố trí thiên la địa võng, vừa trực tiếp dẫn đội, xuất phát đi Hải Lâm!

Sau này có người nói, hành vi của "Giáo sư" thuộc dạng lấy việc công làm việc tư. Đi Hải Lâm, thứ nhất là để tra xem Cát và Tề có trốn sang bên đó không; thứ hai, "Giáo sư" là một "fan cứng" của Dương Tử Vinh, muốn đi xem cái nơi diễn ra "Đăng sơn diệt hổ bách kê yến" (tiệc trăm gà đánh hổ lên núi) rốt kết cục là thế nào.

Tuy nhiên, kết quả lại vô cùng chán nản.

Tề và Cát không có tung tích gì ở nhà họ hàng địa phương cả. Uy Hổ Sơn thì có thật, nhưng trong tiểu thuyết phóng đại quá mức. Cái gọi là Uy Hổ sảnh đồn lũy kiên cố minh án ám bảo ấy, "Giáo sư" dẫn người khom lưng đi vào một vòng, lúc bước ra liền nói, chỗ này mà mở tiệc bách kê yến á? Sao tôi lại cảm thấy nhét một trăm con gà vào cũng còn chật chội nhỉ?

Hơn nữa khi trở về Mẫu Đơn Giang mới biết, cục công an Bắc Kinh từng gọi điện tới hỏi tiến độ phá án. Viên cảnh sát Mẫu Đơn Giang nghe điện thoại lưỡi cứng đơ, tiện miệng thốt một câu: "Bọn họ đi Hải Lâm xem Uy Hổ Sơn rồi..." Người đầu dây bên kia lúc ấy nổi giận đùng đùng, ném lại một câu: "Cho chúng nó cơ hội làm Dương Tử Vinh đấy, nếu không bắt được người, thì khỏi cần về nữa..."

Chuyện này làm ra nông nỗi này đây... "Giáo sư" và đội trưởng Lưu nhìn nhau không nói nên lời, cũng chẳng thể trút giận lên cái tên nói lắp lưỡi lớn ấy được.

Trầm ngâm hồi lâu, "Giáo sư" lên tiếng: "Thả vợ của Cát Đồng Tâm ra đi."

Vợ của Cát Đồng Tâm, thực sự được thả ra như vậy đấy. Cô ta vốn là nhân viên đường sắt ở nhà ga, bây giờ vẫn đi làm bình thường, hoàn toàn là một mẫu vật tiêu biểu cho chính sách khoan hồng tự thú.

Thực ra, cảnh sát mặc thường phục đã bám sát từ lâu, chỉ chờ xem có ai đến tiếp xúc với cô ta hay không.

Liên tục mười mấy ngày trời, đến bóng ma cũng chẳng thấy đứa nào.

Vụ Cát Đồng Tâm gặp chuyện không may này, người ở ga ai nấy đều ngầm hiểu trong lòng, chẳng ai muốn dây dưa phiền phức vào người. Thế nên mỗi ngày vợ Cát Đồng Tâm đều rất tự giác đến sớm về muộn, làm việc nghiêm túc, nhưng hầu như chẳng có ai thèm đếm xỉa đến cô ta, nhìn vào cũng thấy khá đáng thương.

Vậy phải làm sao đây? Lẽ nào chúng ta lại đi chủ động bắt chuyện với cô ta? Các trinh sát viên cười khổ.

Mọi người đều có chút sốt ruột. Nhìn lại "Giáo sư", ngày nào cũng châm một ấm trà, ngồi trò chuyện Đông Tây Nam Bắc với cảnh sát hình sự địa phương, thỉnh thoảng còn giúp người ta giải quyết dăm ba vụ án lớn nhỏ.

Đó là loại án gì nhỉ?

Có một vụ án "Người rừng", nghe rất mới lạ. Người ta đồn rằng ở một ngôi làng nọ, ngô trồng trên nương và nấm phơi thường xuyên không cánh mà bay. Lâu dần, người ta phát hiện có một bóng đen thường xuyên đến trộm đồ, cái gọi là hành động nhanh như chớp, thường từ trên cây lao xuống gây án. Một khi có người theo dõi truy đuổi, sẽ leo trèo hú hét bỏ đi. Người địa phương gọi là "Người rừng", không dám đến gần cũng không dám tổn hại. "Giáo sư" và đồng đội đã đến đó một chuyến, nhanh chóng phá được vụ án. Hóa ra đó là một dân làng ở ngôi làng bên cạnh, hồi nhỏ lớn lên ở vùng Hà Bắc, Sơn Đông, thích học võ thuật, từng theo học một người hành nghề biểu diễn võ nghệ múa võ bán nghệ trên đường phố trước giải phóng một thời gian, học được cả kỹ năng bay lượn khinh công trong rừng cây. Sau khi đến Đông Bắc, không muốn bỏ phí võ nghệ, bèn đem những kỹ năng học được áp dụng vào việc trộm gà bắt chó, vậy mà lại liên tục thành công.

Thế là biến thành "Người rừng".

Còn về việc "Giáo sư" và đồng đội phá án thế nào, các trinh sát viên lại cảm thấy không đáng nhắc tới — chẳng qua chỉ là đến trên cây tiến hành kiểm tra dựa trên môn khoa học dấu vết mà thôi, người biết thì không khó, người khó thì không biết. Tất nhiên việc trèo cây cũng tốn chút sức lực mà thôi.

Cảnh sát địa phương vô cùng khâm phục, còn đối với "Giáo sư" và đồng đội mà nói, vụ án kiểu này chẳng khác nào bắt được một tên thần côn giả thần giả quỷ, không có tầng ý nghĩa sâu xa gì cả.

Họ đồng thời cũng dưới sự hỗ trợ của cảnh sát địa phương, cắt cử người tiếp tục đi sâu vào núi hướng Hải Lâm tìm kiếm. Kết quả chỉ phát hiện được mấy bãi đất trống trong rừng nguyên sinh, xem ra là nơi từng được khai hoang từ nhiều năm trước, bên trong mọc lộn xộn ngô, khoai lang và những thứ tương tự, nhưng không có ai quản lý, người địa phương gọi đó là "ruộng người rừng". Nguồn gốc của nó thì mỗi người nói một phách, có người cho rằng thực sự có loài động vật nửa người nửa vượn sinh sống ở đây, có người cho rằng là thổ phỉ, lính Nhật hay thậm chí là nhân viên kháng liên "đánh giặc đến mức sợ hãi" bèn chạy trốn vào núi khai hoang lập nghiệp trốn tránh cho đến tận thập niên 80.

Thực tế, theo phán đoán của cảnh sát, kẻ xướng tên khởi xướng chẳng qua chỉ là những kẻ lang thang trôi nổi sinh ra trong thời kỳ "Cách mạng Văn hóa" mà thôi. Có những kẻ không biết làm ruộng, khai hoang gieo trồng một hai năm, thấy đất đai đã cạn kiệt dinh dưỡng liền đổi chỗ khác.

Chỉ là, về mặt vụ án thì vẫn hoàn toàn bế tắc.

Có người hỏi "Giáo sư" anh không sốt ruột à? "Giáo sư" đáp anh không thấy ngày nào tôi cũng đi tìm hiểu tình hình đấy phỏng? Lỡ như không bắt được người, tôi sẽ ở lại Cục Đường sắt Mẫu Đơn Giang làm việc suốt đời luôn...

Lúc đó vị lãnh đạo ở Bắc Kinh thủ đoạn độc ác tàn nhẫn, ai mà phá không được án lại còn trèo đi xem Uy Hổ Sơn, hậu quả có thể tưởng tượng được. "Giáo sư" cũng là lo xa tính trước mà thôi.

Đây tất nhiên là câu nói đùa, trọng tâm vẫn đặt lên người vợ của Cát Đồng Tâm.

Công sức bỏ ra không phụ lòng người. Cuối cùng, vào buổi sáng ngày thứ 11, vợ Cát Đồng Tâm vừa chuẩn bị tan làm, bỗng có người ở ga gọi cô ta, nói có người tìm.

Vợ Cát Đồng Tâm lập tức đi ra, trinh sát viên cũng bắt đầu áp sát, chuẩn bị ra tay.

Người tới, không phải là Cát Đồng Tâm hay Tề Ngọc Tiên, mà là một gã đại hán cao mét tám, người này tự xưng là "lão Lý", tướng mạo thô kệch, mặt đầy nếp nhăn, trên người còn vác theo ba con cáo chết!

Người tới nói vài câu với vợ Cát Đồng Tâm, đưa cho cô ta một thứ, rồi tự mình tìm đến một khu chợ tự sinh tự diệt vừa mới khôi phục giao dịch, cứ thế thành thạo đi tìm người bán cáo.

Đây là người thế nào đây? Không nhớ trong quan hệ xã hội của Cát Đồng Tâm lại có một nhân vật như thế này.

Vừa chằm chằm theo dõi gã đại hán bán cáo, các trinh sát viên vừa tiếp cận vợ Cát Đồng Tâm. Gặng hỏi ra mới biết, thứ mà người này mang đến cho vợ Cát Đồng Tâm, hóa ra lại là một chiếc đồng hồ đeo tay. Người đó nói chiếc đồng hồ này do một nhà nghiên cứu của Viện Khoa học Trung Quốc nhờ mang tới, bảo là bị hỏng, nhờ vợ Cát Đồng Tâm tìm người sửa hộ.

Vợ Cát Đồng Tâm nhận ra ngay, chiếc đồng hồ này chính là đồ trong nhà cô ta!

Có manh mối rồi. Các trinh sát viên lần lượt phấn khích hẳn lên. "Hắn có nói sau khi sửa xong đồng hồ thì mang đến đâu không?"

“Không, hắn chỉ bảo tôi cầm lấy, lúc hắn ‘đi công tác’ về sẽ lấy.”

Xác định không có ai khác theo dõi, các trinh sát viên liền tạm giữ gã bán cáo lại.

Điều bất ngờ là, khi phát hiện nhân viên công an không phải đến bắt mình vì tội "đầu cơ trục lợi", người này lúc đó không hề có ý định phản kháng, tỏ ra vô cùng phối hợp. Mãi sau mới vỡ lẽ ra, hắn quả thực hoàn toàn không biết gì về vụ án. Cát Đồng Tâm bảo hắn mang đồng hồ đi sửa, thực chất mục đích là để tìm người thăm dò tình hình, xem vợ hắn có còn bị giam giữ hay không. Theo logic của hắn, nếu vợ hắn được thả, thì có nghĩa là nhân viên công an đã rút đi rồi, tình hình không còn quá căng thẳng.

Trong quá trình thẩm vấn, gã đại hán họ Lý này thừa nhận, đúng là có hai kẻ có ngoại hình giống hệt Cát Đồng Tâm và Tề Ngọc Tiên đã tìm hắn để nhờ vả việc này. Hơn nữa, kẻ đó tự xưng là nhà nghiên cứu của Viện Khoa học, vào núi để khảo sát khí tượng. Nghe nói người này có liên quan đến vụ án, lão Lý vô cùng kinh ngạc.

“Hắn đang ở đâu?”

“Ở ngọn núi quê tôi ấy.”

“Quê anh ở đâu?”

“Giáp Bì Câu, chính là cái ngôi làng của Lý Dũng Kỳ trong Trí thú Uy Hổ Sơn ấy. Ở Đông Bắc có không ít Giáp Bì Câu, nhưng cái Giáp Bì Câu này thông với xe lửa nhỏ, vùng lân cận còn có miếu Hà Thần, dân làng đều nói, đây chính là nguyên mẫu thực sự của Giáp Bì Câu trong ‘Lâm hải tuyết nguyên’.”

“Bác ơi, có thể dẫn chúng tôi đi được không?”

“Đương nhiên là được chứ.” Lão Lý bán cáo nói, đoạn nhíu mày một cái, nhưng có một điều kiện.

Vừa nói, hắn vừa lườm nguýt trinh sát viên vừa nói chuyện với mình lúc nãy một cái.

Sau này "Giáo sư" đánh giá, thông minh quá hóa thông minh hại, con người ta ở trong bụi gai, càng giãy giụa thì bị đâm càng sâu.

Nếu Cát Đồng Tâm cứ mãi trốn chui trốn lủi trong rừng cây, thì quả thực rất khó bắt hắn. Cái chiêu đá đường dò đường bằng cách ngụy trang mang đồng hồ đi sửa của hắn, đã trao cho chúng ta cơ hội. Thực ra, đây là một vấn đề về sự kiên nhẫn. Phía cảnh sát thì muốn phá án, phía tội phạm thì muốn trốn tránh, cả hai bên đều chịu áp lực tâm lý, đều xem ai là kẻ có thể chịu đựng được đến cùng. Những lúc thế này, cảnh sát chuyên nghiệp thường sẽ chiếm thế thượng phong, rất nhiều vụ án, chính là được phá ra như thế đấy.

Thực ra, cuộc đọ sức dựa trên sự kiên nhẫn này, không chỉ ở Trung Quốc mới có, mà ở nước ngoài cũng thế.

Có một người bạn, vì lý do nào đó mà vào đồn cảnh sát ở Nhật Bản, lúc ra sân hóng gió luôn thấy một lão đại vạm vỡ đi dạo thong thả. Điều thú vị là cảnh sát nhìn thấy ông ta đều sẽ khom người cúi chào tỏ ý, ông ta cũng thản nhiên đón nhận, thần sắc lạnh lùng.

Vì tò mò, tìm cơ hội làm thân với vị đại ca này (việc này ở trại tạm giam Nhật Bản đòi hỏi phải có chút kỹ thuật, tình tiết cụ thể tôi không kể nữa), mới biết vị này hóa ra lại là một kiểm sát viên nổi danh lừng lẫy ở Nhật Bản, vì sau lưng làm quân sư quạt mo cho xã hội đen nên mới bị thanh trừng bắt giữ. Thực ra việc ông ta có phạm tội hay không là chuyện phụ, mấu chốt là có một kẻ thông hiểu tường tận tình hình cảnh sát như ông ta ở đó, cảnh sát bắt vị đầu sỏ xã hội đen nào ông ta cũng đều có cách cứu ra được.

Đã bị bắt thì đương nhiên có chứng cứ, hơn nữa còn là trọng án, thế nhưng mãi vẫn chưa thể tuyên án nổi. Nguyên nhân chính là vì vị này răng sắt miệng đồng, cảnh sát hoàn toàn bất lực trước sự kiên nhẫn của ông ta. Cảnh sát của bất kỳ quốc gia nào cũng đều là chuyên gia mài mòn ý chí con người, có thể chịu đựng mà sống sót đi ra từ tay bọn họ, thì đúng là phải có bản lĩnh của Giang Thử, Hứa Vân Phong.

Mặc dù vị kiểm sát viên này không phải là đảng viên cộng sản. Thế nhưng vị này cứ thế ngạnh cổ chống chọi từng ngày từng ngày một, hơn nữa trước những đòn tấn công kỳ lạ muôn hình vạn trạng của cảnh sát Nhật Bản, sự kiên định của ông ta cứng như thép nguội.

Đây quả thực không phải là con người nữa mà!

Cuối cùng vào một ngày nọ, vị này được tại ngoại bảo lãnh. Lúc chia tay, người bạn hỏi ông ta: "Sao ông có thể chịu đựng nổi thế? Dựa vào kinh nghiệm làm kiểm sát viên những năm xưa, quen thuộc thủ đoạn của bọn họ à?"

Vị đại ca này mỉm cười ôn hòa, nói, những kẻ đã từng làm trong ngành này càng hiểu rõ hơn hết, càng sợ hãi thủ đoạn của bọn họ, bởi vì chỉ có chúng ta mới biết rõ người một nhà có thể làm ra những chuyện khiến người ta không thể chịu đựng nổi đến mức nào. Thế nhưng, mặc cho bọn họ làm thế nào đi nữa, mỗi một buổi sáng, tôi đều sẽ viết tên người nhà của mình lên tường một lượt, mẹ tôi, vợ tôi, con tôi, sau đó thề với bọn họ rằng: Để sau này các con được sống trong sạch quang minh chính đại, không vì có người cha là ta mà cảm thấy hổ thẹn, hôm nay dù thế nào ta cũng sẽ không mở miệng nói một lời nào. "Mỗi ngày lặp lại lời thề này, chính là nguyên nhân giúp tôi có thể kiên cường chống chọi lại, không có gì khác đâu, em trai ạ."

Kẻ cắn răng chịu đựng đến cùng này, tên là "Tanaka Morikazu". Nhân vật này xuất thân nghèo khó, từng đảm nhiệm chức vụ kiểm sát viên tổ điều tra đặc biệt của cơ quan kiểm sát tối cao chính phủ Nhật Bản, cũng từng đảm nhiệm chức vụ cố vấn pháp lý cho băng đảng Yamaguchi-gumi. Sau khi ra khỏi trại tạm giam, ông ta đã viết một cuốn sách mang tựa đề "Phản chuyển", miêu tả lại cuộc đời từ cảnh sát chuyển hóa sang xã hội đen của chính mình, đây là cuốn sách bán chạy nhất Nhật Bản năm 2008.

Nghe nói, thời gian gần đây Tanaka lại vào tù rồi. Lần này, liệu có thể kiên cường chống chọi được nữa hay không, thì thực sự không ai có thể biết trước được.

Khi trò chuyện với "Giáo sư" về Tanaka Morikazu, lão gia hỏa này xuýt xoa kinh ngạc, rất muốn có dịp gặp mặt một lần. Ông cho rằng trong quá trình thẩm vấn chuyên nghiệp của cảnh sát, có thể xuất hiện một dạng dị loại như vậy, rất đáng để mang về nghiên cứu một phen.

Có thể khẳng định rằng, Cát Đồng Tâm và Tề Ngọc Tiên đang ẩn náu trong biển rừng kia, không có được ý chí sắt đá như Tanaka.

Trong tình cảnh khao khát tột độ tin tức từ thế giới bên ngoài, bọn họ ngày càng trở nên nôn nóng bứt rứt, cuối cùng không kìm chế được mà đi ra nước đi sai lầm này.

Thứ mà "Giáo sư" chờ đợi, chính là nước đi sai lầm này.

Mặc dù ông không nắm chắc phần trăm tuyệt đối, nhưng ông tin chắc bản thân mình đang nắm giữ ưu thế tuyệt đối so với nhóm Cát, Tề.

Đó là bởi vì, hoạt động vây bắt liên tục không ngừng nghỉ của cảnh sát đã ép hai kẻ Tề, Cát phải dấn thân vào sâu trong biển rừng xa lánh bóng người. Con người là động vật bầy đàn, trong môi trường cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài, sự sụp đổ về mặt tâm lý sẽ đến nhanh hơn.

Thời kỳ "Cách mạng Văn hóa", từng có một nhóm Hồng vệ binh đi vào Myanmar "tham gia cách mạng", cuối cùng lại giữa chốn vần vũ của thế sự mà trở thành trùm ma túy bản địa. Trong đó có một tên đầu sỏ biệt hiệu là Lưu Hắc Tử, thủ đoạn thanh trừng thủ hạ vô cùng tàn độc, ở địa phương tiếng tăm vang dội đến mức có thể khiến trẻ con đang khóc ban đêm phải nín bặt. Khi hắn thất thế, đã bị tổ chức tập đoàn ma túy phán hình phạt tử hình — không phải là giết, mà là nhét vào một cái hố đất hoang sâu tới mấy chục mét, mặc cho hắn từ từ chết đi.

Chỉ mới trôi qua chưa đầy 24 tiếng đồng hồ, Lưu Hắc Tử vốn nổi tiếng hung hãn đã cắn vào động mạch cổ tay mình tự sát.

Một phóng viên đã nhờ người treo mình lơ lửng thả xuống hố đất nơi Lưu Hắc Tử chết để trải nghiệm cảm giác đó. Anh ta bị thả chầm chậm từng chút một vào trong hố đất tối đen như mực. Trong thế giới hoàn toàn tĩnh mịch không một tiếng động, không nhìn thấy gì này, rất nhanh anh ta đã cố gắng tạo ra âm thanh, nhưng chính âm thanh do bản thân tạo ra lại khiến anh ta cảm thấy hoảng loạn và điên cuồng hơn nữa. Chỉ mới hai tiếng đồng hồ, viên phóng viên sắp sửa suy sụp tinh thần đã gào thét van xin kéo anh ta lên, sau đó ngã quỵ bên miệng hố, mồ hôi đầm đìa như tắm. Anh ta cứ tưởng bản thân đã ở bên trong suốt cả một ngày trời.

Hai kẻ Cát và Tề ở trong núi sâu rừng rậm, cảm nhận có lẽ cũng sẽ tương tự như thế này.

Trong lúc chờ đợi đối thủ sơ hở, "Giáo sư" từ lâu đã tổ chức một đội tiểu tinh nhuệ, bao gồm chính ông và hai cảnh sát hình sự xuất sắc đến từ Bắc Kinh, cùng với một số nhân viên cảnh sát địa phương. Bước tiếp theo của bọn họ, chính là đi sâu vào biển rừng, đến Giáp Bì Câu để truy bắt hai tên Tề Cát quy án.

Lão Lý bán cáo, chính là người dẫn đường cho bọn họ.

Lão Lý đưa ra điều kiện là có thể dẫn đường, nhưng có một yêu cầu. Cảnh sát vô cùng có thiện cảm với bác Lý bán cáo này, bèn nói: "Có yêu cầu gì, bác cứ nói đi, chúng tôi sẽ cố gắng đáp ứng."

Lão Lý đáp: "Đừng gọi là bác nữa nhé, người miền núi, mặt già trước tuổi, tôi còn chưa đầy 30 tuổi đâu đấy, gọi như thế tôi thấy tổn thọ lắm..."

Cảnh sát...

Đoàn người với tốc độ nhanh nhất, thẳng tiến Giáp Bì Câu!

Đáng nói là, việc hai kẻ Tề, Cát mắc sai lầm, thoạt nhìn có vẻ mang tính ngẫu nhiên, nhưng thực chất lại có liên quan đến một loạt hành động vô hiệu hóa trước đó của cảnh sát. Bất luận là tìm kiếm hay chốt chặn đường sá, ngoài việc hy vọng thu được manh mối, còn nhằm mục đích tạo cơ hội cho hai kẻ Tề, Cát mắc sai lầm. Đây chính là cái gọi là "Bức tự quyết" (chiêu ép buộc) trong 17 bí quyết trinh phá mà "Giáo sư" đã đúc kết lại.

Năm xưa, vụ án tiêm kim dính HIV từng gây chấn động Bắc Kinh, cũng chính bằng phương thức này mà tóm được tội phạm.

Đến tuyến đường sắt xe lửa nhỏ ở Giáp Bì Câu, ngày hôm đó người dân địa phương cảm thấy sự việc có chút kỳ lạ:

Hôm nay sao vẫy tay mà xe lửa không dừng lại thế nhở?

Câu nói này nghe có vẻ kỳ lạ — vẫy tay dừng tàu hỏa á? Cứ tưởng mình là Lý Ngọc Hoà đấy à? Nhưng ở cái góc khuất rừng núi Đông Bắc này thì chẳng có gì là kỳ lạ cả. Trong rừng, con người là loài động vật quý hiếm, nếu cần đi nhờ một đoạn, lúc xe lửa nhỏ tới chỉ cần vẫy tay là được, lái tàu phần lớn sẽ dừng lại chờ bạn lên tàu, giống như đi taxi vậy.

Tàu hôm nay tất nhiên sẽ không dừng rồi, đây là chuyến tàu chuyên dụng mà ngành đường sắt mở riêng cho "Giáo sư" và đồng đội, đi Giáp Bì Câu để bắt người. Chạy nhanh như bay thế này mà còn sợ hai kẻ Cát, Tề chạy thoát nữa là, quy củ này tự nhiên không thể áp dụng theo kiểu bình thường được.

Từ đằng xa, cảnh sát địa phương nói với "Giáo sư" rằng, cây cầu kia chính là nơi tham mưu trưởng của Uy Sơn Điêu dẫn bộ hạ chặn xe lửa nhỏ, đánh súng làm nổ tung đường sắt khiến Phó quan Luyến trốn thoát, anh hùng tiêu diệt thổ phỉ Cao Ba của tiểu đội đã hy sinh ở đây.

Qua cầu đến Giáp Bì Câu, trời đã nửa đêm.

Thế nhưng cảnh sát vẫn đến muộn một bước.

Chiếu theo manh mối lão Lý cung cấp, lúc tìm đến túp lều trên núi để tìm hai tên "nhà khoa học" đó, thì tro tàn lửa nguội người đi nhà trống từ bao giờ, chẳng rõ tung tích đi đâu.

Cảnh sát bốn bề lùng sục, mục tiêu vẫn hoàn toàn bặt vô âm tín.

Lúc quay về, liền thấy "Giáo sư" nắm một vốc đất trong tay mà nhào nặn.

“Giáo sư” nói, tôi coi như biết thế nào là đất bóp ra mỡ rồi, chỗ này quả thực rất màu mỡ.

“Giáo sư” nói tôi hoàn toàn không lo lắng gì cả, đã đuổi đến tận đây rồi, đường cùng núi tận thế này, hai kẻ đó từ đây còn có thể chạy đi đâu được nữa? Chẳng lẽ còn mọc thêm đôi cánh để bay chắc? Chạy thoát tất nhiên là phiền phức rồi, nhưng đã có khoanh vùng phạm vi rồi, bắt được người chẳng qua chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

“Giáo sư” miệng thì nói không sốt ruột, thế nhưng không thể nói là không đau đầu.

Cái sự đau đầu này bắt nguồn từ những quần chúng nhân dân ở Giáp Bì Câu.

Quần chúng ở Giáp Bì Câu, trong tiểu thuyết "Lâm hải tuyết nguyên", là những người quần chúng tốt nhất, giúp tiểu đội tu sửa đường sá chuẩn bị vật tư rồi cùng đi đánh thổ phỉ, cái sự nhiệt tình và tích cực ấy cho đến tận hôm nay vẫn y nguyên như ngày xưa.

Chỉ là... nhiệt tình quá mức.

Vừa về đến Giáp Bì Câu, cảnh sát địa phương liền gọi bí thư chi bộ thôn triệu tập dân binh và "Giáo sư" cùng mọi người lại mở họp, ý là để mọi người cung cấp manh mối, hỗ trợ phá án. Thế nhưng cái khí thế mọi người đến dự họp, cứ khiến "Giáo sư" cảm thấy không quen cho lắm — dân binh ở đây mỗi người một khẩu súng, cứ thế bày đồ nghề lau chùi súng ống đạn dược ngay trước mặt cảnh sát, ra vẻ mặt hầm hầm khí thế hừng hực. Phải biết rằng cảnh sát Bắc Kinh nếu muốn dùng súng thì thủ tục cực kỳ phức tạp, cứ nhìn mấy chục khẩu súng bán tự động đồng loạt thế này, "Giáo sư" tất nhiên cảm thấy vô cùng đau đầu. Nếu thực sự để bọn họ phối hợp hành động, chẳng phải sẽ biến hai tên Cát, Tề thành cái tổ ong vò vẽ hay sao! Hơn nữa, nếu ở Bắc Kinh, đây tuyệt đối là hành vi vi phạm quản lý vũ khí. Nhìn trang bị rồi nhìn huấn luyện thế kia, nếu bảo tôi tước vũ khí của họ, điều động một đội cảnh sát hình sự chưa chắc đã thắng nổi. "Giáo sư" vừa không quen vừa miên man suy nghĩ.

Đây chính là tính chất đặc thù của vùng biên cương mà thôi. Xung quanh thời kỳ "Trân Bảo Đảo", trong số dân binh không thiếu những kẻ từng đối đầu giáp lá cà với quân Liên Xô cũ. Việc người dân biên giới Đông Bắc mang súng vốn là truyền thống địa phương.

Điểm duy nhất khiến người ta thấy an ủi đó là trong một môi trường thế này, hai kẻ Cát, Tề cũng không dám gây án bừa bãi nữa.

6. Chẳng lẽ hắn biết "Tị hùng quyết"?

Đau đầu mới chỉ là khúc dạo đầu, tiếp theo là phần yêu cầu cung cấp manh mối. Dân binh người một câu ta một lời, những chuyện bọn họ nói, lại càng khiến người ta đau đầu hơn nữa. Không biết là ai bắt đầu lạc đề, mọi người lại bàn về hoạt động của đặc vụ Liên Xô gần đây, thậm chí có người còn nói ngày hôm trước trong rừng cây có đặc vụ bắn pháo hiệu...

Đây chính là đầu thập niên 80 đấy nhé, "Giáo sư" - người hiểu biết ít nhiều về tình hình biên giới - một mặt vô cùng cảm động trước ý thức phòng thủ địch tình của dân binh, mặt khác cũng vô cùng buồn bực suy nghĩ, thời buổi này người Liên Xô phái đặc vụ đến Giáp Bì Câu để làm gì cơ chứ.

Thế nhưng "Giáo sư" chẳng lẽ lại đi nói với người ta rằng chúng tôi là cảnh sát hình sự, việc bắt đặc vụ liên quan gì đến chúng tôi đúng không nào?

Cuộc sống trong núi đơn điệu u uất, một ngôi sao băng cũng có thể khơi mào cho biết bao ảo tưởng kỳ lạ, dân binh nói vậy cũng không có gì là lạ.

Đang nói chuyện giở dở ương ương, bỗng có một người thím bước vào, bảo rằng mấy anh muốn tìm hai tên "nhà khoa học" đó phải không? Chồng tôi vừa về, anh ấy bảo là biết.

Chồng của thím này tên là "Lưu Tam", là một thợ săn, vừa từ trên núi xuống, nghe nói cuộc họp đang tìm hai tên "nhà khoa học" đó, liền lập tức bảo vợ mình đến thông báo tình hình trước.

Lưu Tam đến muộn hơn chốc lát chậm chạp bước vào nhà, ngồi xổm dựa lưng vào mép bếp lò, vừa dùng sống lưng cọ cọ ngứa vào mép bếp lò, vừa nói với các cảnh sát rằng, tối ngày hôm qua anh ta đã chạm trán với hai tên "nhà khoa học" đó trên núi, bây giờ, bọn họ đã dọn đến cái hầm ngầm (địa oa tử) do Lưu Tam dựng lên rồi.

Các cảnh sát lập tức tinh thần phấn chấn hẳn lên.

“Giáo sư” trầm ngâm một lúc, hỏi, sao bọn họ lại đổi chỗ ở? Có phải đã phát hiện ra tình hình gì rồi nên sợ cảnh sát mới phải chuyển nhà không?

Lưu Tam gãi gãi đầu, thong thả đáp, tình hình thì đúng là có, nhưng hình như chẳng liên quan gì đến các anh cả. Hai người bọn họ chuyển nhà, là vì tối hôm qua lúc đi vào rừng cây đã đụng độ chút rắc rối nhỏ.

Lưu Tam gọi đó là "rắc rối nhỏ", nhưng sau này "Giáo sư" và đồng đội mới biết, tối hôm đó Cát Đồng Tâm đi vào rừng cây đi tiểu, không ngờ lại chạm mặt ngay một con gấu.

Sau khi bắt được Cát Đồng Tâm, anh ta đã nhớ lại sự kiện chạm trán với gấu chó, nói rằng lúc đó bản thân vừa cởi thắt lưng chuẩn bị giải quyết nỗi buồn, bỗng ngửi thấy một mùi hôi thối nồng nặc.

Trong lúc ngạc nhiên quay đầu nhìn lại, một con gấu già trước ngực có mang dấu hiệu thời trang Li Ning màu trắng (có người nói trông giống Nike hơn, nhưng để ủng hộ hàng nội địa, chúng ta cứ gọi là Li Ning vậy) nghênh ngang bước ra từ trong rừng cây, ngay phía sau lưng hắn chưa đầy 20 mét!

Nhìn từ biểu hiện của Cát Đồng Tâm sau khi chạm trán với gấu, cái gọi là tổ tiên hắn có quan hệ với bát đại kim cang của Uy Sơn Điêu, chắc chắn chỉ là tin đồn nhảm mà thôi.

Vở kịch mẫu mực màu đỏ "Trí thú Uy Hổ Sơn" có đoạn "Đăng sơn diệt hổ", anh hùng diệt hổ trong đó chính là Dương Tử Vinh không sai, nhưng đám người Uy Sơn Điêu cũng không phải dạng vừa — nghe thấy tiếng hổ gầm, thổ phỉ chẳng hề bỏ chạy, mà ngược lại còn nhao nhao bước tới gần, lúc ấy mới có tình tiết ngựa ô hí vang sau khi Dương Tử Vinh đánh hổ, thổ phỉ xuất hiện, Dương Tử Vinh xảy ra màn đối đầu giáp lá cà với đám phỉ bang Uy Hổ Sơn.

Hổ thấy vậy, thì đối mặt với gấu, nghĩ đến con cháu của mũi tẹt lão Cát, cũng không nên quá hèn nhát chứ.

Thế nhưng Cát Đồng Tâm khi miêu tả cảnh tượng lúc đó, lại bảo rằng sau khi nhìn thấy gấu, chỉ cảm thấy trước mắt xuất hiện một làn sương trắng, rồi chẳng còn biết gì nữa.

Biểu hiện kiểu gì thế này cơ chứ, con gái tôi mới năm tuổi, đến sở thú nhìn thấy gấu chó nhảy cưng cưng hò reo, còn có tâm lý tốt hơn cái tên tội phạm lừa đảo này nữa là.

Dù sao thì khi Cát Đồng Tâm tỉnh lại, cảm thấy da mặt ẩm ướt, việc đầu tiên hắn làm là đưa tay sờ mặt mình. Nghe nói gấu chó gặp người, sẽ dùng chiếc lưỡi toàn gai ngược liếm mặt người ta. Động tác của Cát Đồng Tâm lúc đó run lẩy bẩy, sợ nhất là sờ phải một nhúm xương thịt máu me bê bết.

Kết quả, da vẫn là da, thịt vẫn là thịt, cử động khắp người, ngoại trừ đũng quần ướt sũng lạnh ngắt ra, thì cũng chẳng có vấn đề gì lớn.

Lúc này hắn mới dám mở mắt ra, vừa hay nhìn thấy một người đàn ông Đông Bắc một tay giơ chiếc ấm đun nước đã mở nắp, một tay cầm chiếc mũ quạt gió cho hắn. Người này, tự nhiên chính là Lưu Tam. Lên núi săn lợn rừng, lại thấy trên sườn dốc có người nằm sóng sượt, Lưu Tam cũng giật mình thót tim.

Người từ nơi khác đến Giáp Bì Câu cực kỳ ít, cho nên ai nấy đều vô cùng nhiệt tình. Lưu Tam cứu Cát Đồng Tâm, nhét cho hắn một lát nhân sâm lâu năm ngậm trong miệng, lúc này mới hỏi rõ lai lịch của hắn.

Nghe Cát Đồng Tâm lắp bắp tự nhận thân phận chuyên gia khí tượng của Viện Khoa học, Lưu Tam kính nể vô cùng, vội vàng dìu hắn đến cái túp lều mà lão Lý bán cáo dựng lên, và gặp Tề Ngọc Tiên.

Ba người kiểm tra từ trên xuống dưới, phát hiện Cát Đồng Tâm vậy mà lại nguyên vẹn không tổn hại gì, rõ ràng gấu chó không hề tiến hành tổn hại hay xâm phạm thân thể đối với hắn — Tôn Ngộ Không có phép tránh gió, chẳng lẽ Cát Đồng Tâm biết "Tị hùng quyết" (bí quyết tránh gấu) thật à? Hay là con gấu chó đó vốn dĩ không hề tồn tại, chỉ là ảo giác của Cát Đồng Tâm?

Thời gian bị giam cầm trong rừng cây quá lâu, xuất hiện ảo giác thì cũng chẳng có gì lạ.

Vẫn là Lưu Tam tinh mắt, nhanh chóng phát hiện túi quần của Cát Đồng Tâm đã bị xé rách tả tơi, trông dáng vẻ đó, chính là vết móng vuốt và răng của gấu, điều chứng tỏ rằng anh ta không hề bị ảo giác.

Nghĩ đến khoảng cách giữa túi quần và một cơ quan quan trọng nào đó, hai người Tề, Cát không khỏi cảm thấy da đầu tê dại lạnh toát.

Thế nhưng, tại sao gấu chó lại chỉ xé rách túi quần của Cát Đồng Tâm, mà không tiến thêm bước nữa chứ? Ba người suy ngẫm hồi lâu mới cơ bản hiểu rõ nguyên nhân ngọn ngành.

Hóa ra, trong rừng sâu Đông Bắc côn trùng vô cùng nhiều, hơn nữa đa phần đều thích lao vào người con người, khiến Cát Đồng Tâm và Tề Ngọc Tiên phiền phức không chịu nổi. Không biết là hai kẻ bọn họ ai nghĩ ra một mẹo vặt — viên long não có thể chống côn trùng.

Thế là, trước khi quyết định lẻn vào Giáp Bì Câu ẩn náu, hai người đã mua một gói viên long não, nhét lung tung vào khắp các túi quần áo trên người. Mặc dù tác dụng không lớn, nhưng có còn hơn không.

Cái túi quần này của Cát Đồng Tâm, vừa hay nhét tới mấy viên long não.

Lưu Tam - người rất quen thuộc với cuộc sống trong rừng — cho rằng thứ mà Cát Đồng Tâm gặp phải lúc đó, rất có thể là một con gấu đã ăn no căng bụng. Tính cách của loài động vật này có phần giống trẻ con, ăn no rồi thì không vô cớ ra tay hành hung, nhưng cũng sẽ không thấy có người nằm bên cạnh mà mặc kệ không thèm đếm xỉa — nó ăn no nên đang thừa năng lượng dư thừa đây mà. Con gấu chó tò mò chắc chắn đã tới xem Cát Đồng Tâm, nhưng trong lúc nếm thử những viên long não trong túi quần hắn thì đã mất đi hứng thú — điều này rất bình thường, ước chừng nếu tôi ăn phải một viên long não, cũng sẽ mất đi sự tò mò luôn ấy chứ.

Mặc dù thoát chết trong gang tấc, nhưng hai người Cát, Tề vô cùng hoảng sợ hoang mang. Cát Đồng Tâm hỏi Lưu Tam, bảo rằng người dân quê ban nãy sắp xếp cho bọn tôi ở đây nói rằng xung quanh đây không có mãnh thú cơ mà, con gấu này từ đâu chui ra thế hả?

Lưu Tam cũng không hiểu, nói chốn này của bọn tao từ trước đến nay làm gì có gấu, sao mấy người vừa tới, thì gấu cũng tới theo thế?

Câu này nghe có hơi cay nghiệt, Cát Đồng Tâm người ta có phải gánh xiếc dạo đâu, làm sao mà đi đến đâu dắt theo gấu đến đấy được cơ chứ.

Cuối cùng, vòng quanh túp lều một vòng, Lưu Tam gật gật đầu, nói tao hiểu rồi, cứ theo cái cách sinh sống thế này của hai người các cậu, thì có mà rước toàn bộ gấu trong vùng núi này đến đây mất thôi.

Cát Đồng Tâm bọn họ lại chẳng phải hũ mật, sao có thể rước toàn bộ gấu trên núi đến được cơ chứ? Hóa ra xung quanh túp lều của hai vị "nhà khoa học" này, đâu đâu cũng thấy vỏ táo ăn dở, bánh quy mốc meo, thậm chí là cả hộp thịt hộp ăn dở dang.

Ở thành phố vứt rác bừa bãi thì thôi đi, còn ở trong rừng mà vứt rác bừa bãi, sẽ thu hút động vật hoang dã ở gần tới đấy. Nếu liên tục vứt rác ở một chỗ nào đó trong rừng suốt hơn chục ngày trời, thì không rước gấu đến mới là chuyện lạ đấy.

Lưu Tam nói các cậu cứ chờ mà xem, bây giờ con gấu này vẫn đang lảng vảng ở bên ngoài, ngày mai, khéo mà nó đột nhập vào trong túp lều luôn cho xem.

Một câu nói dọa khiến hai người Cát, Tề nhìn nhau ngơ ngác, liên tục hỏi phải làm sao bây giờ. Lưu Tam bảo dễ thôi, các cậu dọn vào thôn ở chẳng phải là xong rồi sao? Kiến nghị này tuy hay, nhưng hai người lại không muốn chấp nhận. Tề Ngọc Tiên nói nhiệm vụ của chúng tôi là quan sát dã ngoại, dọn vào thôn ở thì làm sao hoàn thành được nhiệm vụ đây?

Cuối cùng Lưu Tam nghĩ ra một cách. Khi anh ta vào núi săn bắn, trên ngọn núi gần đây cũng có một cái "lổ" (hang ổ), có thể ở người được. Anh ta đề nghị hai người Tề Cát dọn sang đó.

Tề Ngọc Tiên vẫn còn do dự đôi chút, bởi vì hắn ta muốn đợi lão Lý bán cáo mang thư về cơ. Cát Đồng Tâm đã giục giã liên hồi giục mau chóng chuyển nhà rồi. Có liên lạc được hay không là chuyện phụ, việc nửa đêm gấu chó đến thăm nhà mới là vấn đề lớn đấy.

Thế là hai người liền dọn đến túp lều kia của Lưu Tam ngay trong đêm, tạm thời ở lại đó. Không ngờ, "Giáo sư" và đồng đội lại đến trước một bước sau một bước.

Lưu Tam nói, nếu các anh không tới, tôi cũng chuẩn bị gọi hai dân binh đi kiểm tra bọn chúng rồi đấy, tôi nghi ngờ bọn chúng là đặc vụ Liên Xô. Nhưng lúc chuyển nhà tôi đã xem qua, bọn chúng đều không có vũ khí.

Sáng sớm hôm sau, Lưu Tam dẫn cảnh sát thẳng tiến hướng về túp lều của mình.

Đi đến gần, Lưu Tam nói, ở ngay kia kìa, không biết bọn chúng có còn ở bên trong không nữa.

“Đâu cơ?” "Giáo sư" đi ở phía trước cảm thấy chỉ số thông minh của mình có vấn đề rồi — xung quanh toàn là cây cổ thụ chọc trời, bóng dáng túp lều ở chỗ nào cơ chứ?

Còn chưa đợi Lưu Tam đáp lời, tựa như một hiện tượng siêu nhiên nào đó, trước mắt mọi người bỗng chốc hoa lên, đột ngột mọc vọt lên một bóng người!

Từ dưới đất chui lên á? "Giáo sư" ngẩn người.

Chưa kịp để ông phản ứng lại, hai bóng đen trái phải lao vút đi như mũi tên, lập tức đè ngửa kẻ đó xuống đất, chỉ nghe thấy có tiếng ai đó hô lên: "Tề Ngọc Tiên, đây là Tề Ngọc Tiên!"

Vừa mới quật ngã được một tên, chớp mắt dưới đất lại ngoi lên một kẻ nữa. Lần này, ngược lại chẳng có ai lao vào quật ngã cả, nhưng kẻ đó lại ngoan ngoãn giơ hai tay lên, toàn thân run rẩy như bị sốt rét.

“Giáo sư” nhận ra rồi: cái kẻ run như cầy sấy này, chính là Cát Đồng Tâm.

Còn về nguyên nhân hắn run như cầy sấy thì cũng chẳng có gì lạ, quay đầu nhìn lại, bảy tám cảnh sát và dân binh địa phương, mỗi người một khẩu súng đều đang nhắm thẳng vào Cát Đồng Tâm. Đầu, ngực, bụng, tứ chi, chỗ nào cũng lọtỏm trong vòng ngắm của đầu ruồi. Ước chừng chỉ cần có một kẻ tinh thần căng thẳng bóp cò, Cát Đồng Tâm sẽ có kết quả là một cái tổ ong vò vẽ hoặc một cái cháo lòng mà thôi.

“Giáo sư” thầm nghĩ đổi lại là mình thì chắc gì đã trấn tĩnh hơn hắn.

Trong số bảy tám cảnh sát dân binh địa phương đang cầm súng chĩa vào Cát Đồng Tâm, chỉ có đồn trưởng cảnh sát địa phương là một tay cầm súng, tay kia giơ ngón cái lên — hành động đó là hướng về phía hai cảnh sát Bắc Kinh đang đè Tề Ngọc Tiên xuống đất, đang khen ngợi động tác dứt khoát gọn gàng của trợ thủ bên "Giáo sư" đấy.

“Giáo sư” không rút súng ra, ngược lại còn cảm thấy hơi buồn cười.

Lời bạt: "Giáo sư" rời đội

“Giáo sư” khi nhận phỏng vấn của lão Tát đã nói: "Cái khung cảnh đó thú vị thật đấy. Địa phương đầy bùn đất đen ngòm, Tề Ngọc Tiên bị đè xuống đất, ngẩng đầu lên nhìn, mặt dính toàn bùn đen, chỉ có hai tròng mắt trắng dã sáng lấp lánh; còn Cát Đồng Tâm thì sao, mặt cắt không còn giọt máu trắng bệch như miếng đậu phụ, chỉ có hai tròng con ngươi đenngỏm đặt chỏng chơ bên trên, trông giống hệt một đôi hạt bàn tính. Cái sự đen trắng phân minh này trông hay ho đáo để."

Hai kẻ đột ngột chui ra, hoàn toàn chẳng có gì là lạ cả. Bởi vì túp lều của Lưu Tam là kiểu nửa bán địa đạo nửa ngầm, nhìn từ trong rừng cây thì chỉ giống như một chỗ nhô lên, hoàn toàn không thể nhận ra đó là một công trình kiến trúc. Nghe thấy bên ngoài có động tĩnh, Tề Ngọc Tiên tưởng là Lưu Tam tới, vừa mở túp lều bước ra ngoài, liền bị người ta quật ngã luôn. Cát Đồng Tâm hoàn toàn không có sự kháng cự nào, ngoan ngoãn bò ra ngoài — kẻ từng bị gấu chó dọa cho một vố rồi, đối với rất nhiều chuyện đã nhìn thấu rồi, chẳng phải chỉ là vạn tệ tiền bạc thôi sao, hơn nữa Kim Vinh mới là chủ mưu chính, cùng lắm thì vào tù ăn cơm tù, còn hơn là đem mình đi cho gấu ăn chứ bộ.

“Giáo sư” từng hỏi Lưu Tam, cái loại túp lều này, có phải là do Uy Sơn Điêu để lại không? Đôi mắt Lưu Tam trợn trừng trừng:

“Ông nội tao là người kháng liên lão thành đấy...”

Bắt được hai kẻ này, việc đầu tiên cần làm là thay quần áo cho bọn chúng, tắm rửa sạch sẽ. Theo cách nói của "Giáo sư" là "Đầu hôi chân thối, đừng nói là gấu, mấy con động vật ăn xác thối cũng có thể bị hai đứa chúng nó thu hút đến ấy chứ". Ông bịt mũi chỉ vào bọn chúng nói, "Cái dạng này thế này rồi, mà còn dám nhận mình là người của Viện Khoa học cơ đấy, ai mà tin được chứ?"

Lão Lý bán cáo gãi gãi đầu, nói lúc đó tôi đã tin đến ba phần rồi đấy.

“Tại sao cơ chứ?” "Giáo sư" vô cùng khó hiểu.

Lão Lý bán cáo đáp: "Nghe đài báo nói, mấy vị đại nhà khoa học đó, ai nấy đều ngốc ngốc ngếch ngếch, đa phần đều là những kẻ sinh hoạt không thể tự lo liệu được..."

Câu nói này mà để người của Viện Khoa học nghe thấy, không biết sẽ có cảm nhận thế nào đây.

Áp giải hai tên tội phạm về Bắc Kinh, cấp trên đã tập hợp toàn bộ người trong đội ra ngoài cửa đón chào, vỗ tay hoan nghênh, khiến "Giáo sư" được một phen nở mày nở mặt vô cùng. Còn về việc sau khi ba tên tội phạm gặp nhau thì làm sao mà khai ráo chỉ sau một lượt thẩm vấn, Bí thư An làm thế nào mà nhất quyết đòi gối đầu lên đống tiền đó để ngủ, thì đó đã không còn là chuyện quan trọng nữa rồi.

Sau khi phá án xong, "Giáo sư" gọi điện thoại cho một người bạn học cũ. Vị bạn học cũ đó là phó hiệu trưởng Đại học Công an, đã hẹn "Giáo sư" qua đó giảng bài từ lâu lắm rồi.

“Giáo sư” bảo lúc hai đứa nhỏ xông lên quật ngã Tề Ngọc Tiên, tôi đã hạ quyết tâm rồi, đi trường học giảng bài thôi, bàn về phản ứng nhanh nhạy, tôi đã không bằng bọn chúng nữa rồi.

Lão Tát đùa rằng: "Anh ghen tỵ với bọn trẻ đấy phỏng?"

“Làm gì có chuyện đó chứ.” "Giáo sư" mỉm cười nhẹ nhàng, ánh mắt vượt qua tôi, nhìn hướng về phía sau, cất lời: "Đó là minh chứng cho thấy đội Hai chúng ta có hậu duệ kế thừa xứng đáng."

Quay đầu nhìn lại, dưới ánh đèn, bức tường kia treo một tấm ảnh chụp chung của hai người bọn họ, có lẽ được chụp lúc anh rời đội. "Giáo sư" ở phía trên ngồi ở chính giữa, trên mặt cũng mang nụ cười y như vậy...

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.