LIỆU CÓ TỒN TẠI MỘT BỔN PHẬN TUYỆT ĐỐI VỚI THƯỢNG ĐẾ HAY KHÔNG?[1]
Luân lý là cái phổ quát và vì thế nó cũng là cái thần thánh. Vì thế hoàn toàn đúng khi nói rằng mọi bổn phận rốt cuộc đều là bổn phận đối với Thượng đế; nhưng nếu không thể nói gì hơn được nữa, thì người ta sẽ đồng thời nói rằng đúng ra thì tôi chẳng có bổn phận gì đối với Thượng đế cả. Bổn phận trở nên bổn phận bằng cách được quy chiếu đến Thượng đế, nhưng trong chính tự thân bổn phận ta lại không đi vào trong một mối liên hệ nào với Thượng đế. Yêu người lân cận của mình, chẳng hạn, là một bổn phận[2]. Nó là một bổn phận bằng cách được quy chiếu đến Thượng đế, nhưng trong cái bổn phận này, tôi lại không đi vào trong một mối liên hệ nào với Thượng đế mà với người lân cận của mình, kẻ tôi yêu mến. Nếu trong mối quan hệ này tôi nói rằng vậy bổn phận của tôi là yêu mến Thượng đế, thì điều tôi nói ra chỉ đơn thuần là một sự lặp lại thừa thãi, chừng nào mà “Thượng đế” trong ví dụ này còn được hiểu theo một nghĩa hoàn toàn trừu tượng như là cái thần thánh, tức là cái phổ quát, tức là cái bổn phận. Trong trường hợp này, toàn bộ cuộc sống nhân loại tự nó vo tròn lại trong chính nó giống như một quả cầu hoàn hảo, và luân lý ngay lập tức là cái giới hạn và cũng là cái chứa đựng của nó. Thượng đế trở nên một điểm triệt tiêu vô hình, một ý nghĩ vô năng, quyền lực của Ngài chỉ nằm trong luân lý vốn chứa đựng toàn bộ cuộc sống. Chừng nào còn có kẻ muốn yêu mến Thượng đế theo một nghĩa nào đó khác với cái nghĩa đã đề cập ở trên, thì chừng đó hắn vẫn chỉ đơn thuần là một tay mơ mộng hão huyền, hắn yêu một bóng ma mà, nếu như chỉ có mỗi quyền năng được nói, nó sẽ nói với hắn rằng, “Ta chẳng đòi hỏi tình yêu của ngươi. Hãy ở lại cái nơi mà ngươi vốn thuộc về”. Chừng nào còn có người muốn yêu Thượng đế theo cách khác, thì chừng đó tình yêu này còn đáng ngờ giống như thứ tình yêu mà Rousseau[3] đề cập đến khi ông nói về một kẻ yêu mến bộ tộc Kaffir chứ không phải yêu mến láng giềng của họ.
Vậy thì nếu tất cả điều này là đúng, nếu không có gì không tương xứng trong đời sống con người, ngoại trừ cái không tương xứng chỉ hiện diện ở đó một cách ngẫu nhiên mà chẳng có gì xảy ra tiếp theo trong phạm vi cuộc sống được xem xét trên bình diện ý niệm, thì Hegel đã đúng. Nhưng ông không đúng khi nói về đức tin và khi cho phép Abraham được coi là tổ phụ của đức tin; bởi vì bằng cái sau ông đã đưa ra lời phán quyết lên cả Abraham lẫn đức tin. Trong triết học Hegel das Aussere (die Entäusserung) [cái bên ngoài (sự ngoại hiện)] đứng cao hơn das Innere [cái bên trong]. Điều này thường được minh họa bằng một ví dụ. Đứa trẻ con là das Innere [cái bên trong], người lớn là das Äussere [cái bên ngoài]. Vậy nên chính đứa trẻ được xác định bởi cái bên ngoài, và ngược lại, người lớn, giống như das Äussere [cái bên ngoài], được xác định bằng cái bên trong. Đức tin, ngược lại, là cái nghịch lý rằng cái bên trong đứng cao hơn cái bên ngoài - hoặc, để nhắc lại một lối diễn đạt đã dùng ở trên, số lẻ đứng cao hơn cả số chẵn.
Do đó, theo quan điểm luân lý về cuộc sống, bổn phận của cá thể là tước đi cái đặc tính bên trong của chính mình và thể hiện nó ra bên ngoài. Mỗi khi hắn chần chừ làm việc này, mỗi khi hắn có thiên hướng nán lại hoặc trượt trở lại vào trong cái đặc tính bên trong của cảm xúc, tâm trạng… thì hắn đã phạm tội, hắn đã ở trong tình trạng chịu thử thách cám dỗ rồi. Cái nghịch lý của đức tin là như thế này, rằng có một cái bên trong vốn không cân xứng với cái bên ngoài, một cái bên trong vốn, xin lưu ý điều này, không giống với cái bên trong ban đầu mà là một cái bên trong mới. Điều này không được phép bỏ qua. Triết học hiện đại[4] ngang nhiên tự cho mình cái quyền được thay thế “đức tin” bằng cái trực tiếp[5]. Khi người ta làm như thế thì thật lố bịch khi chối bỏ rằng đức tin tồn tại ở mọi thời đại. Theo cách đó đức tin trở thành người bạn đồng hành tầm thường của cảm xúc, tâm trạng, phong thái, vapeurs [thói bốc đồng]… Trong trường hợp này triết học có lẽ đúng khi nói rằng người ta không nên dừng ở đó. Nhưng không gì có thể biện minh cho triết học trong việc sử dụng cách nói đó. Có trước đức tin là một hành động vô hạn, và chỉ khi đó, đức tin mới bắt đầu xuất hiện, necopinate [bất ngờ], nhờ sự phi lý. Điều này tôi có thể hiểu rõ mà không cần vì thế tuyên xưng rằng bởi vì tôi có đức tin. Nếu đức tin chẳng là gì khác ngoài cái mà triết học vốn ấn định nó, thì ngay cả Socrates[6] cũng đã vượt xa hơn, xa hơn rất nhiều, trong khi đúng ra lại là ngược lại, rằng ông còn chưa đạt tới mức đó. Trên bình diện tri thức, ông thực hiện một hành động vô hạn. Sự vô tri của ông là sự từ bỏ vô hạn. Nghĩa vụ này chỉ riêng nó thôi cũng đã tương xứng với sức mạnh của con người, mặc dầu con người trong thời đại của chúng ta khinh thường nó; nhưng chỉ khi nào nó được thực hiện, chỉ khi nào cá thể thoát ra khỏi chính mình trong cái vô hạn, thì chỉ khi đó thì người ta mới tới được chỗ mà ở đó đức tin khởi đầu.
Vậy thì cái nghịch lý của đức tin là như thế này, rằng cái cá thể đứng cao hơn cái phổ quát, rằng cái cá thể (để gợi nhắc đến một sự khác biệt về mặt thần học mà ngày nay ít ai nhắc đến) xác định mối liên hệ của nó với cái phổ quát bằng mối liên hệ của nó với cái tuyệt đối, chứ không phải xác định mối liên hệ của nó với cái tuyệt đối bằng mối liên hệ của nó với cái phổ quát. Nghịch lý này cũng có thể biểu đạt bằng cách nói rằng có một bổn phận tuyệt đối với Thượng đế; bởi trong sự ràng buộc như thế này của bổn phận cái cá thể tự liên hệ chính mình với tư cách là cái cá thể một cách tuyệt đối với cái tuyệt đối. Trong mối liên hệ này, khi nói rằng yêu kính Thượng đế là một bổn phận thì có nghĩa là có một cái gì đó khác với cái đã được đề cập ở trên; bởi nếu bổn phận này là tuyệt đối thì luân lý sẽ bị hạ xuống vị trí tương đối. Tuy vậy, hệ quả từ đó không phải là cái điều rằng luân lý sẽ bị xóa bỏ; mà đúng hơn nó sẽ nhận được một lối biểu đạt hoàn toàn khác, một lối biểu đạt mang tính nghịch lý, rằng yêu kính Thượng đế, chẳng hạn, có thể khiến người hiệp sĩ đức tin dành tình yêu của mình cho người hàng xóm, một lối biểu đạt đối nghịch lại với cái vốn là, xét về luân lý mà nói, bổn phận của hắn.
Nếu điều này không đúng, thì đức tin chẳng có chỗ trong cuộc sống; và đức tin vì thế là một thử thách cám dỗ, và Abraham là kẻ bị hư mất, bởi ông đã nhượng bộ nó.
Cái nghịch lý này không thể nào trung giới được, bởi nó dựa trên chính cái điều rằng cá thể chỉ là cá thể. Ngay khi mà cá thể này mong muốn thể hiện bổn phận tuyệt đối của mình trong cái phổ quát, để trở nên ý thức được bổn phận này trong đó, thì hắn nhận ra rằng mình đang nằm trong một thử thách cám dỗ và, khi đó, dù cho có kháng cự chống lại nó, hắn cũng chẳng bao giờ đi tới chỗ hoàn thiện cái gọi là bổn phận tuyệt đối, và nếu hắn chẳng kháng cự chống lại nó, thì hắn sẽ phạm tội, mặc dầu hành động của hắn realiter [trên thực tế] hóa ra lại chính là cái vốn là bổn phận tuyệt đối của hắn. Vậy thì Abraham có thể làm được gì đây? Nếu ông nói với người khác, “Tôi yêu Isaac hơn tất cả mọi thứ trên thế giới này, và do đó thật khó khăn cho tôi khi phải hiến tế nó”; thì hẳn kẻ đó sẽ lắc đầu và nói, “Vậy thì tại sao ông lại hiến tế nó?” - hoặc nếu kẻ đó là một tay quỷ quyệt thì y hẳn là sẽ nhìn thấu Abraham và cho rằng ông đang diễn trò nước mắt cá sấu mà nó rõ rành rành mâu thuẫn với hành động của ông.
Trong câu chuyện của Abraham, chúng ta tìm thấy một nghịch lý như vậy. Quan hệ của ông với Isaac, diễn đạt theo kiểu luân lý, là như thế này, rằng người cha phải yêu thương đứa con. Mối quan hệ mang tính luân lý này bị hạ xuống một vị trí tương đối đối lập với mối quan hệ tuyệt đối với Thượng đế. Với câu hỏi “Tại sao?”, Abraham không có câu trả lời nào khác ngoài cái điều rằng đây là một thử thách, một cám dỗ, mà nó, như đã nói ở trên, biểu đạt sự hợp nhất của hai mục đích: rằng việc đó là vì Chúa và vì chính ông. Hai yếu tố này cũng tương quan với nhau theo cách sử dụng ngôn ngữ thông thường. Do đó khi ta thấy một người làm cái gì đó không tương hợp với cái phổ quát, thì ta nói rằng làm gì có chuyện hắn làm điều đó vì Chúa, và qua đó ta ngụ ý rằng hắn làm việc đó vì chính bản thân hắn. Nghịch lý của đức tin đã đánh mất cái yếu tố trung gian, ấy là cái phổ quát. Một mặt nó chứa đựng sự biểu đạt của chủ nghĩa vị kỷ cực đoan (làm một việc kinh khủng vì chính bản thân mình); mặt khác nó lại chứa đựng sự biểu đạt của sự hiến thân tuyệt đối nhất (làm việc đó vì Chúa). Đức tin tự thân nó không thể trung giới vào trong cái phổ quát, bởi khi đó nó sẽ bị loại bỏ. Đức tin chính là cái nghịch lý này, và cá thể hoàn toàn không thể khiến cho chính bản thân mình trở nên dễ hiểu với bất kỳ người nào khác. Người ta khá có thể cho rằng cá thể có thể khiến cho chính bản thân mình trở nên dễ hiểu với một cá thể khác trong cùng một hoàn cảnh. Một quan điểm như vậy hẳn sẽ là không thể tưởng tượng nổi nếu trong thời đại của chúng ta người ta không cố tìm mọi cách để lẻn vào bên trong sự vĩ đại. Một người hiệp sĩ đức tin hoàn toàn có thể không đưa ra bất kỳ sự trợ giúp nào cho một hiệp sĩ khác. Hoặc cá thể trở thành hiệp sĩ đức tin bằng cách chấp nhận cái nghịch lý ấy, hoặc hắn chẳng bao giờ trở thành hiệp sĩ đức tin. Trong những lĩnh vực này việc hợp tác là hoàn toàn bất khả thi. Nếu có bất kỳ lời giải thích rõ ràng về việc hiến tế Isaac, thì lời giải thích ấy cá thể cũng chỉ có thể đưa ra cho chính mình mà thôi. Và thậm chí ngay cả khi người ta có thể xác định được, thậm chí với một sự chính xác nào đó, nói theo ngôn ngữ phổ quát, về việc làm thế nào để hiểu được việc hiến tế Isaac (việc xếp cái cá thể cá biệt, kẻ hoàn toàn đứng ngoài cái phổ quát, dưới những phạm trù phổ quát trong khi hắn phải hành động chính với tư cách là cái cá thể đứng bên ngoài cái phổ quát, trong bất cứ trường hợp nào, cũng là sự tự mâu thuẫn phi lý nhất) thì cái cá thể cũng sẽ chẳng bao giờ có thể đoan chắc được điều này thông qua người khác mà chỉ có thể đoan chắc được nó nhờ chính mình với tư cách là cái cá thể. Do đó ngay cả nếu một người hèn nhát và ti tiện đến độ muốn trở thành hiệp sĩ đức tin bằng trách nhiệm của kẻ khác, hắn sẽ chẳng bao giờ trở thành một hiệp sĩ đức tin được; bởi chỉ cái cá thể cá biệt mới có thể trở nên một hiệp sĩ đức tin, với tư cách là cái cá biệt, mà thôi, và đấy chính là sự vĩ đại của cái cá thể cá biệt ấy, điều này thì tôi có thể hiểu rất rõ mà không cần phải đạt đến tầm mức vĩ đại ấy vì tôi thiếu dũng khí; nhưng đây cũng chính là nỗi khiếp đảm của cái cá thể cá biệt ấy, điều này thì thậm chí tôi còn có thể hiểu rõ hơn nữa kia.
Trong sách Phúc âm Luke 14:26, như tất cả đều biết, có một lời giảng đáng chú ý nói về bổn phận tuyệt đối với Thượng đế: “Nếu có ai đến theo ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh em, chị em mình, và chính sự sống mình nữa, thì không được làm môn đồ ta”. Đây là một câu nói khó nuốt, kẻ nào có thể chịu nghe nó đây[7]? Vì lý do này mà nó rất hiếm khi được nghe. Nhưng sự im lặng này chỉ là một cuộc xâm lăng vô ích. Sinh viên thần học, mặc dù vậy, học để biết rằng những lời này xuất hiện trong Kinh Thánh Tân ước, và nhờ một vài nguồn trợ giúp bình giảng nào đó[8] hắn tìm thấy lời giải thích rằng μισειν [ghét bỏ] trong đoạn đó và một vài thứ khác được sử dụng theo nghĩa per μειωσειν [giảm nhẹ hơn] có nghĩa là minus diligo[ít yêu hơn], posthabeo [ít quý mến hơn], non cob [ít kính trọng hơn], nihili facio [chẳng coi ra gì]. Tuy vậy, ngữ cảnh mà ở đó những lời này xuất hiện có vẻ không làm chứng thực cho lời giải thích trang nhã đó. Trong đoạn văn tiếp ngay sau đó có câu chuyện về một kẻ muốn xây một tòa tháp nhưng lại ngồi tính trước phí tổn xem có đủ của để làm việc đó không, vì e rằng nếu không làm được thì mọi người sẽ chê cười hắn. Mối liên hệ khăng khít giữa câu chuyện này và đoạn trích ở trên có vẻ như chính là để cho thấy rằng lời nói cần phải được tiếp nhận theo nghĩa càng kinh khủng thì càng tốt, để mỗi người có thể tự xem xét rằng liệu mình có thể xây được cái tháp đó không.
Nếu kẻ bình giải ngoan đạo và tử tế ấy, vốn tin rằng mình có thể chuyển lậu Cơ Đốc giáo vào thế giới bằng cách mặc cả như vậy, thành công trong việc thuyết phục một người rằng xét về mặt ngữ pháp, xét về mặt ngôn ngữ học, và κατ’αναλογιαν [xét về mặt tương đồng] thì đấy chính là ý nghĩa của đoạn đó, thì hy vọng rằng hắn cũng sẽ thành công trong việc thuyết phục vẫn chính người kia rằng Cơ Đốc giáo là một trong những thứ thảm hại nhất trên thế giới này. Bởi lời giáo huấn trong một trong những cơn bột phát đầy mê hoặc nhất của nó, nơi mà ý thức về giá trị vĩnh hằng của nó dâng cao mạnh mẽ nhất, cũng chẳng có gì khác để nói ngoài một lời ồn ào chẳng có ý nghĩa gì ngoài việc cho thấy rằng người ta sẽ kém tử tế hơn, kém ân cần hơn và thờ ơ nhiều hơn; lời giáo huấn mà vào thời điểm nó làm như thể sẽ nói ra một cái gì đó kinh khủng, nhưng lại chỉ kết thúc bằng sự ngớ ngẩn hơn là kinh hãi - lời giáo huấn đó đương nhiên chẳng đáng để tôi phải đứng dậy[9].
Lời ấy thật kinh khủng, song tôi hoàn toàn tin rằng có thể hiểu được mà không cần thiết phải gán cho nó cái ngụ ý rằng kẻ nào hiểu nó sẽ có đủ dũng khí để làm theo cái mà hắn hiểu. Tuy nhiên, người ta cần phải đủ trung thực để thừa nhận cái mà nó nói đến và thừa nhận rằng nó thực sự vĩ đại, mặc dù người ta chẳng có dũng khí để thực hiện nó. Kẻ nào hành xử như thế sẽ không phải tách mình ra khỏi vai trò tham gia trong câu chuyện tuyệt đẹp này, bởi theo một cách nào đó, nó chứa đựng sự an ủi dành cho kẻ không có đủ dũng khí để khởi sự xây cái tòa tháp. Nhưng hắn cần phải trung thực, và không được diễn giải sự thiếu dũng khí này như một điều hèn hạ, bởi ngược lại nó là lòng kiêu hãnh, trong khi dũng khí của đức tin là cái dũng khí khiêm tốn duy nhất.
Dễ thấy rằng nếu đoạn này có một ý nghĩa nào đó, thì nó phải được hiểu theo nghĩa đen. Chính Thượng đế mới là đấng đòi hỏi tình yêu tuyệt đối. Kẻ nào khi đòi hỏi tình yêu của một người cho rằng tình yêu ấy cũng cần được chứng tỏ bằng việc người kia phải trở nên lãnh đạm với tất cả những thứ cho đến nay vẫn thân thiết người đó - thì kẻ ấy không chỉ là kẻ vị kỷ mà còn ngu xuẩn nữa, và kẻ nào yêu cầu một tình yêu như thế thì cũng đã đồng thời ký vào lệnh hành hình chính bản thân mình chừng nào mà cuộc đời hắn còn được bao bọc bởi cái tình yêu đầy khao khát ấy. Chẳng hạn, một người chồng yêu cầu vợ mình phải lìa xa cha mẹ[10], nhưng nếu hắn định coi đó là một bằng chứng cho tình yêu phi thường của cô nàng với hắn, rằng cô nàng vì hắn mà trở nên một đứa con gái lãnh đạm, thờ ơ v.v… thì hắn là kẻ ngu xuẩn nhất trong những kẻ ngu xuẩn. Nếu hắn có một ý niệm nào về tình yêu, thì hắn hẳn sẽ mong muốn phát hiện ra rằng với tư cách một người con gái và một người chị em gái, cô ấy đều thực hiện hoàn hảo bổn phận yêu thương và sẽ nhìn thấy trong đó cái bằng chứng chắc chắn rằng cô sẽ yêu hắn hơn tất cả mọi người khác trong vương quốc này. Vậy nên cái được coi là dấu hiệu của sự vị kỷ và ngu xuẩn ở một con người có thể nhờ sự trợ giúp của một nhà bình giải mà lại được người ta coi là một sự biểu đạt đáng kính về Thượng đế.
Nhưng làm thế nào để ghét họ?[11] Ở đây tôi sẽ không bàn đến sự khác biệt về mặt nhân tính giữa yêu và ghét - không phải vì tôi có gì phản đối nó, bởi ít nhất thì nó cũng là một sự khác biệt đầy đam mê, mà là vì nó mang tính vị kỷ và không phù hợp ở đây. Tuy thế, nếu tôi coi nhiệm vụ ấy là một nghịch lý thì tôi lại hiểu nó, tức là, tôi hiểu nó theo cách mà người ta hiểu một nghịch lý. Bổn phận tuyệt đối có thể khiến người ta làm điều mà luân lý ngăn cấm, nhưng không cách nào có thể khiến người hiệp sĩ đức tin ngừng yêu. Điều này được Abraham thể hiện rất rõ. Vào cái thời khắc mà ông sẵn sàng hiến tế Isaac, sự biểu đạt luân lý cho việc ông đang làm là thế này: ông ghét Isaac. Nhưng nếu ông thực sự ghét Isaac thì ông có thể chắc chắn rằng Thiên Chúa đã chẳng đòi hỏi ông làm việc này, bởi Cain[12] và Abraham đâu có giống nhau. Isaac đứa trẻ mà ông hẳn phải yêu dấu với toàn bộ linh hồn mình; khi Thiên Chúa đòi hỏi Isaac thì ông hẳn phải yêu nó nếu có thể thậm chí còn yêu nó hơn nữa, và chỉ khi đó ông mới có thể hiến tế nó; bởi chính tình yêu dành cho Isaac, vốn nằm đối lập một cách nghịch lý với tình yêu của ông dành cho Thiên Chúa, khiến cho hành động của ông trở nên một sự hiến tế. Nhưng nỗi thống khổ và niềm kinh hãi trong cái nghịch lý này chính là, xét về mặt nhân tính mà nói, ông hoàn toàn không thể khiến bản thân mình trở nên có thể hiểu được. Chỉ đúng vào thời điểm khi hành động của ông nằm trong sự đối lập tuyệt đối với cảm xúc của ông thì chỉ khi đó hành động của ông mới thực sự là một sự hiến tế, nhưng hiện thực hành động của ông chính là thứ mà nhờ nó ông thuộc về cái phổ quát, và xét trên bình diện đó ông là và vẫn sẽ mãi là kẻ giết người.
Hơn thế, đoạn trong sách Luca cần phải được hiểu theo cách mà người ta nhận thức rằng người hiệp sĩ đức tin chẳng có được bất kỳ sự biểu đạt nào cao hơn cái phổ quát (cũng như luân lý) mà ở đó hắn có thể cứu vớt được chính bản thân mình. Do đó, chẳng hạn, nếu chúng ta giả sử rằng Nhà thờ yêu cầu một sự hiện tế như vậy từ một trong các thành viên của nó, thì chúng ta sẽ chỉ có trong trường hợp này một người anh hùng bi kịch mà thôi. Bởi ý niệm về Nhà thờ không khác biệt mấy về mặt định lượng so với ý niệm về Nhà nước. Chừng nào mà cá thể còn có thể đi vào trong nó bằng một sự trung giới giản đơn và chừng nào mà cá thể còn hiện diện ở trong cái nghịch lý thì chừng đó hắn vẫn còn chưa thể vươn tới cái ý niệm về Nhà thờ; hắn không thể thoát ra khỏi cái nghịch lý, mà phải tìm trong nó hoặc phúc lành của hắn hoặc sự diệt vong của hắn. Một anh hùng giáo hội như vậy biểu đạt cái phổ quát trong hành động của mình, và sẽ không ai trong Nhà thờ - thậm chí cả cha mẹ hắn v.v… - không hiểu được hắn. Nhưng hắn chẳng phải là một hiệp sĩ đức tin, và hắn cũng có câu trả lời khác với câu trả lời của Abraham: hắn không nói rằng đây là một thử thách hay một thử thách cám dỗ mà hắn đang phải trải qua.
Người ta thường cố tránh việc trích lại những đoạn văn như đoạn trong sách Luke. Họ e ngại việc để mọi người tự do không ràng buộc gì, sợ rằng điều xấu xa nhất có thể xảy ra ngay khi cái cá thể cảm thấy thích hành xử với tư cách là cái cá thể. Hơn nữa, người ta nghĩ rằng tồn tại với tư cách là cái cá thể là điều dễ nhất trên đời, và vì thế người ta bắt buộc phải trở nên cái phổ quát. Tôi không thể chia sẻ cả nỗi sợ ấy lẫn quan điểm ấy, đều cùng với một lý do. Kẻ nào học được rằng để tồn tại với tư cách là cái cá thể là một thứ kinh khủng nhất trong hết thảy mọi thứ thì kẻ đó sẽ không sợ hãi mà nói rằng nó là thứ vĩ đại nhất trong hết thảy mọi thứ, nhưng rồi hắn cũng sẽ nói điều đó theo cách mà lời của hắn sẽ chắc chắn không phải là một cạm bẫy cho kẻ nào đang hoang mang, mà sẽ giúp hắn hiện hữu trong cái phổ quát, mặc dầu lời của hắn tạo rất ít cơ hội cho sự vĩ đại. Người nào không dám nhắc đến những đoạn văn như thế cũng sẽ không dám đề cập đến Abraham, và việc nghĩ rằng thật dễ dàng tồn tại với tư cách là cái cá thể ngụ ý một sự thừa nhận gián tiếp rất đáng ngờ với chính hắn; bởi kẻ nào thực sự có lòng tự trọng và quan tâm đến linh hồn của mình thì kẻ đó sẽ tin chắc rằng bất cứ ai sống dưới sự kiểm soát của chính mình trong thế giới rộng lớn này cũng sẽ sống nghiêm ngặt và ẩn dật hơn cả một trinh nữ chốn khuê phòng. Đúng là có thể có ai đó cần đến sự cưỡng bách, những người này, nếu để cho rảnh chân, sẽ ăn chơi sa đọa trong khoái cảm vị kỷ như loài súc vật phóng túng; nhưng một người cần phải chứng tỏ một cách chân xác rằng hắn không thuộc về số những kẻ kia bằng cái sự rằng hắn biết cách nói về nó với lòng kính sợ và run rẩy; và vì lòng tôn kính với sự vĩ đại người ta nên nói ra để nó không bị lãng quên do nỗi e sợ gây ra sự tổn hại, sự tổn hại này vốn sẽ chẳng thể nào xuất hiện nếu nó được nói ra bằng sự thấu hiểu rằng nó thực sự vĩ đại và bằng sự thấu hiểu về nỗi kinh hoàng của nó, kẻ nào không biết về nỗi kinh hoàng này thì cũng sẽ chẳng biết gì về sự vĩ đại cả.
Chúng ta hãy xem xét kỹ lưỡng hơn một chút về nỗi thống khổ và niềm kinh hãi trong cái nghịch lý của đức tin. Người anh hùng bi kịch từ bỏ chính mình để biểu đạt cái phổ quát, người hiệp sĩ đức tin từ bỏ cái phổ quát để trở nên cái cá biệt. Như đã nói ở trên, mọi thứ tùy thuộc vào việc nó được đặt vào vị trí nào. Kẻ nào tin rằng để là cái cá thể là điều khá dễ dàng thì trong bất kỳ trường hợp nào cũng đều có thể chắc chắn rằng hắn không phải là hiệp sĩ đức tin, bởi những kẻ lêu lổng và những thiên tài lang bạt không phải là người của đức tin. Người hiệp sĩ đức tin, trái lại, biết rằng thật là vinh hiển khi thuộc về cái phổ quát. Hắn biết rằng thật là đẹp đẽ và tốt lành khi trở nên cái cá thể có khả năng chuyển hóa chính bản thân mình vào trong cái phổ quát, cái cá thể vốn, nói một cách hình tượng, đích thân tạo ra một ấn bản sáng sủa và lịch lãm của chính mình, ít khiếm khuyết hết mức có thể và mọi người đều có thể đọc được nó. Hắn biết rằng thật dễ chịu khi trở nên có thể hiểu được với chính mình trong cái phổ quát theo cách mà từ đó hắn hiểu được cái phổ quát và bất cứ cá thể nào hiểu được hắn thì sẽ hiểu được cái phổ quát thông qua hắn, và cả hai cùng hân hoan trong sự yên ổn của cái phổ quát. Hắn biết rằng thật là tuyệt vời khi được sinh ra là cái cá thể có chốn quê nhà ở cái phổ quát, chốn nương náu thân thương của hắn, mỗi khi hắn muốn lưu lại ở đây thì nó ngay lập tức sẵn sàng dang rộng vòng tay chào đón. Nhưng hắn cũng biết rằng cao hơn cái đó là một con đường quanh co cô độc, hẹp và dốc; hắn biết rằng thật là kinh khủng khi được sinh ra đơn độc ở bên ngoài cái phổ quát, khi bước đi mà không gặp bất kỳ kẻ lữ hành nào. Hắn biết rất rõ mình đang ở đâu và mình liên hệ với mọi người như thế nào. Nói theo ngôn ngữ của nhân gian, hắn là kẻ điên khùng và không thể khiến cho chính mình trở nên có thể hiểu được với bất kỳ ai. Thế nhưng “điên khùng” là một lối diễn đạt nhẹ nhàng nhất dành cho hắn. Nếu hắn không được nhìn nhận như thế, thì hắn là một kẻ đạo đức giả, và càng leo cao trên con đường đó, hắn càng trở nên một kẻ đạo đức giả kinh khủng.
Người hiệp sĩ đức tin biết rằng thật hứng khởi khi từ bỏ chính mình cho cái phổ quát, và rằng cần phải có lòng quả cảm để làm việc đó, nhưng hắn cũng biết rằng sự yên ổn có ở trong đó, chính bởi vì đó là một sự từ bỏ dành cho cái phổ quát. Hắn biết rằng thật vinh hiển khi được mọi trí tuệ cao quý thấu hiểu và cũng tương tự như vậy, ngay cả kẻ chiêm ngưỡng cũng nhờ thế mà trở nên cao quý. Điều này hắn biết và hắn cảm thấy như thể bị ràng buộc; hắn ao ước giá như cái bổn phận đó được dành cho hắn. Vậy nên Abraham chắc hẳn thỉnh thoảng ao ước rằng giá như bổn phận ấy là việc phải yêu quý Isaac, giống như điều mà một người cha sẽ làm và nên làm, bổn phận ấy có thể hiểu được với tất cả mọi người, có thể được ghi nhớ mãi mãi cùng với thời gian; ông chắc hẳn đã ao ước rằng bổn phận ấy là hiến tế Isaac cho cái phổ quát, rằng ông có thể xui khiến những người cha hướng tới những kỳ công lẫy lừng - và ông hầu như kinh hoàng bởi cái ý nghĩ rằng với ông những mong ước như vậy chỉ là những thử thách cám dỗ và phải được coi là như thế, bởi ông biết rằng ấy là một con đường đơn độc mà ông bước đi và rằng ông chẳng đạt được gì cho cái phổ quát hết mà chỉ là chính ông đang chịu thử thách và đang chịu thử thách cám dỗ mà thôi. Vậy trước kia Abraham đã đạt được gì cho cái phổ quát? Hãy để tôi nói theo ngôn ngữ của nhân gian về vấn đề này, hết sức nhân gian. Ông đã mất bảy mươi năm để có được đứa con trai ở tuổi già. Cái mà những người đàn ông khác có được một cách chóng vánh và vui hưởng nó trong một thời gian dài thì ông phải mất đến tận bảy mươi năm mới có được. Và tại làm sao? Tại vì ông đang chịu thử thách và đang chịu thử thách cám dỗ. Điều đó há chẳng phải điên rồ sao? Nhưng Abraham có đức tin, còn Sarah thì đã dao động rồi và đã cho ông lấy Hagar làm tì thiếp - nhưng vì thế mà ông cũng phải đuổi nàng ấy đi. Ông có được Isaac, rồi thì ông lại phải chịu thử thách cám dỗ một lần nữa. Ông biết rằng thật là vinh hiển khi biểu đạt cái phổ quát, thật là vinh hiển khi được sống cùng Isaac. Nhưng đó không phải là bổn phận ấy. Ông biết rằng thật là vương giả khi hiến tế một đứa con trai như vậy cho cái phổ quát, chính ông sẽ tìm thấy sự yên nghỉ trong đó, và tất cả mọi người sẽ yên nghỉ trong sự đồng tình trước hành động của ông, như một nguyên âm yên nghỉ trong phụ âm của nó[13], nhưng đó không phải là bổn phận ấy - ông đang được thử thách. Vị tướng quân La Mã nổi tiếng với cái tên Kẻ Trì Hoãn[14] ngăn cản quân thù bằng kế hoãn binh - nhưng so với vị tướng kia thì Abraham quả là một người cực kỳ hay trì hoãn! - chỉ có điều ông không cứu giúp gì cho đất nước cả. Đây là toàn bộ những cái chứa đựng trong một trăm ba mươi năm. Kẻ nào có thể chịu được nó đây? Chẳng lẽ những người cùng thời với ông, nếu có thể gọi họ như vậy, lại chẳng không nói về ông như thế này, “Abraham đang trì hoãn vĩnh viễn; khi rốt cuộc ông cũng có được một đứa con trai - chuyện này kéo dài rất lâu - thì ông lại muốn hiến tế nó. Vậy thì ông có bị thần kinh không? Và chí ít ra thì ông cũng phải giải thích tại sao ông lại muốn làm việc ấy - nhưng đằng này thì ông lại cứ khăng khăng nói rằng đây là một thử thách”. Abraham cũng chẳng thể giải thích nhiều hơn được, bởi cuộc đời ông tựa như một cuốn sách nằm trong tay thần thánh và sẽ chẳng bao giờ trở thành publici juris [tài sản công].
Đây chính là cái thật sự kinh khủng. Kẻ nào không nhìn ra điều ấy thì bất luận thế nào cũng có thể chắc chắn rằng hắn không phải là hiệp sĩ đức tin, nhưng kẻ nào nhìn ra ắt sẽ không chối bỏ rằng ngay cả kẻ được thử thách nhất trong số những người anh hùng bi kịch cũng vẫn nhảy nhót bước đi tung tăng, trong khi người hiệp sĩ đức tin thì lại đang chậm chạp bò về phía trước. Và nếu hắn nhận thức được điều này và nhận ra rằng mình không có đủ dũng khí để hiểu nó, thì hắn chí ít cũng cảm nhận được niềm vinh quang phi thường mà người hiệp sĩ này giành được khi trở thành người thân thiết của Thiên Chúa, khi trở thành bằng hữu của Thượng đế[15], và - nói theo ngôn ngữ của nhân gian - khi hắn gọi Thiên Chúa ở trên trời bằng “Đằng ấy”[16], trong khi ngay cả người anh hùng bi kịch cũng chỉ gọi Ngài bằng ngôi số ba.
Người anh hùng bi kịch sẽ nhanh chóng kết thúc và cuộc chiến của hắn cũng sắp đến hồi tàn; hắn thực hiện hành động vô hạn và giờ đây được hưởng yên bình trong cái phổ quát. Người hiệp sĩ đức tin, trái lại, luôn luôn trong tình trạng thức tỉnh, bởi hắn thường xuyên được thử thách, và tại mọi thời điểm hắn đều có cơ hội ăn năn mà trở về với cái phổ quát, và cơ hội này cũng có thể là một thử thách cám dỗ giống như chân lý vậy. Hắn chẳng tìm thấy một sự khai sáng nào về điều ấy từ bất kỳ người nào, bởi nếu có thì hắn đã ở bên ngoài cái nghịch lý rồi.
Vậy nên, đầu tiên và trước hết, người hiệp sĩ đức tin có được niềm đam mê cần thiết để quy tập toàn bộ cái luân lý mà hắn vi phạm vào trong một cái đơn nhất, để có thể tự xác quyết với bản thân rằng hắn thực sự yêu quý Isaac bằng toàn bộ linh hồn mình[17]. Nếu không thể thực hiện điều đó thì hắn sẽ phải chịu thử thách cám dỗ. Tiếp đó, hắn có đủ niềm đam mê để tạo ra toàn bộ sự xác quyết này ngay lập tức và vì thế khiến cho nó hoàn toàn có hiệu lực ngay từ khoảnh khắc đầu tiên. Nếu không thể làm điều đó, hắn sẽ chẳng bao giờ khởi sự được, bởi hắn liên tục phải bắt đầu lại từ đầu. Người anh hùng bi kịch cũng phải quy tập thứ luân lý mà hắn đã vượt qua một cách có tính chất mục đích luận thành một cái đơn nhất, nhưng trong trường hợp này hắn có được nơi trú ngụ trong cái phổ quát. Người hiệp sĩ đức tin thi chỉ có mỗi một mình, và nỗi kinh hoàng là ở chỗ đó. Phần lớn mọi người sống với một bổn phận luân lý mà nhờ đó họ có thể để cho nỗi ưu phiền ngày nào đủ cho ngày đó[18], nhưng họ không bao giờ đạt tới cái sự tập trung say mê ấy, cái ý thức mãnh liệt ấy. Cái phổ quát trên một bình diện nào đó giúp cho người anh hùng bi kịch đạt được điều này, nhưng người hiệp sĩ đức tin thì chỉ đơn độc một mình trong mọi chuyện. Người anh hùng thực hiện kỳ công và tìm thấy sự yên nghỉ trong cái phổ quát, người hiệp sĩ đức tin thì luôn sống trong căng thẳng. Agamemnon từ bỏ Iphigenia và nhờ đó tìm thấy bình yên trong cái phổ quát, rồi ông tiến hành hiến tế nàng. Nếu Agamemnon không thực hiện hành động ấy, nếu linh hồn ông vào đúng thời khắc quyết định, thay vì có sự tập trung say mê cao độ, lại bị hút vào trong cái câu chuyện nhảm nhí tầm thường rằng ông có mấy đứa con gái và vielleicht das Auserordentliche [có lẽ điều phi thường] có thể xảy ra - thì ông tất nhiên chẳng phải là anh hùng mà chỉ là một kẻ được hưởng trợ tế thôi[19]. Abraham cũng có sự tập trung của người anh hùng, dù rằng trong trường hợp của ông nó còn khó khăn hơn rất nhiều, bởi ông không hề có bất kỳ nơi trú ngụ nào trong cái phổ quát; nhưng ông thực hiện thêm một hành động nữa mà nhờ nó ông tập trung toàn bộ linh hồn mình vào điều thần diệu. Nếu Abraham chẳng làm như vậy, thì ông chỉ là một Agamemnon mà thôi, miễn là có thể giải thích được làm thế nào mà việc ông sẵn sàng hiến tế Isaac lại có thể biện minh được khi mà nó chẳng đem lại lợi lộc gì cho cái phổ quát cả.
Cái điều liệu rằng cá thể đang chịu thử thách cám dỗ hay cá thể đã là một hiệp sĩ đức tin rồi thì chỉ có cá thể mới có thể tự mình quyết định được mà thôi. Tuy nhiên có thể xây dựng từ cái nghịch lý này một vài tiêu chí nào đó mà ngay cả những người không ở trong cái nghịch lý ấy cũng có thể hiểu được. Người hiệp sĩ đức tin đích thực luôn bị cô lập tuyệt đối; còn người hiệp sĩ dởm lại là kẻ thích lôi bè kéo cánh. Khuynh hướng bè phái này là một nỗ lực nhảy ra khỏi con đường hẹp của cái nghịch lý và trở thành anh hùng bi kịch với cái giá rẻ mạt. Người anh hùng bi kịch biểu đạt cái phổ quát và hy sinh chính bản thân mình cho nó. Gã Punchinello[20] bè phái kia, thay vì thế, có nhà hát riêng, tức là có vài người bạn tốt và dăm người đồng chí, những kẻ đại diện cho cái phổ quát cũng giống như những nhân chứng công khai trong vở Gulddaasen (Hộp thuốc lá vàng)[21] đại diện cho sự công chính. Người hiệp sĩ đức tin, mặt khác, là cái nghịch lý; hắn là cái cá thể, tuyệt đối không là gì khác ngoài cái cá thể, mà không có bất kỳ mối quan hệ hay bất kỳ rắc rối nào. Đây là một thứ kinh khủng mà gã ma-nơ-canh bè phái kia không thể nào chịu được. Bởi thay vì học từ nỗi kinh sợ ấy cái điều rằng y không thể nào thực hiện được một kỳ công vĩ đại rồi thì thẳng thắn thừa nhận điều đó - một hành động mà tôi đương nhiên không thể làm gì khác hơn là ủng hộ, bởi đó chính là cái mà tôi đã làm - gã ma-nơ-canh nghĩ rằng bằng việc hợp nhất với một vài tay ma-nơ-canh khác hắn có thể làm được việc đó. Nhưng việc đó hoàn toàn không có tác dụng gì. Trong thế giới tinh thần không trò bịp nào được châm chước cả. Một tá thành viên bè phái kia nối vòng tay nhau, họ chẳng biết bất cứ cái gì về những thử thách tinh thần đơn độc đang đợi người hiệp sĩ đức tin và người hiệp sĩ ấy chẳng dám lảng tránh nó, chính vì sẽ còn kinh khủng hơn nếu hắn táo bạo dấn mình tiến tới. Đám thành viên bè phái này làm cho nhau điếc tai bằng những tiếng ồn ào và sự huyên náo, xóa đi nỗi lo sợ bằng những tiếng la hét, và cái đám loi choi những đứa đầy tinh thần thể dục ấy[22] nghĩ rằng chúng đang đột chiếm cả trời xanh và đang đi trên cùng một con đường với người hiệp sĩ đức tin, kẻ trong sự cô độc của vũ trụ không nghe thấy bất kỳ tiếng người nào mà chỉ bước đi đơn độc với cái trách nhiệm kinh hoàng của mình.
Vế phần người hiệp sĩ đức tin, hắn bắt buộc phải dựa vào chính mình mà thôi; hắn cảm thấy nỗi đau khi không thể làm cho mình trở nên có thể hiểu được đối với người khác, nhưng hắn không hề khát khao phù phiếm muốn được chỉ bảo tha nhân. Nỗi đau đối với hắn chính là sự khẳng quyết; những khát khao phù phiếm hắn chẳng thèm biết tới, bởi đầu óc hắn quá nghiêm túc nên không thể nào biết đến những thứ như thế. Tay hiệp sĩ đức tin dởm dễ dàng phản lại chính mình bằng việc ngay lập tức thành thục cái việc mà hắn vừa mới được học hỏi; hắn chẳng hiểu một chút nào về chuyện này, chẳng hiểu cái điều rằng nếu một cá thể khác định đi trên cùng một con đường, hắn sẽ hoàn toàn trở nên giống như cá thể kia và không cần bất kỳ ai chỉ lối đưa đường, tuyệt nhiên không cần sự chỉ lối đưa đường nào từ một kẻ muốn cản trở. Tới đây thì đám này nhảy sang một bên, bọn chúng không chịu được sự đày đọa của kẻ không được thấu hiểu, mà thay vào đó bọn chúng dễ dàng chọn lấy những ngợi ca nơi trần thế cho sự thành thục của chúng. Người hiệp sĩ đức tin đích thực là kẻ chứng nhân chứ không bao giờ là kẻ chỉ giáo, và nằm bên trong đó là lòng nhân từ sâu sắc của hắn, mà nó đáng giá hơn rất nhiều so với sự quan tâm vặt vãnh đến hạnh phúc và khổ đau của người khác vốn được đề cao dưới cái mỹ danh là cảm thông, trong khi thực tế nó chẳng là gì ngoài sự phù phiếm. Kẻ nào chỉ muốn là chứng nhân ắt sẽ vì thế mà thừa nhận rằng chẳng ai, kể cả những kẻ thấp hèn nhất, cần sự cảm thông của người khác, hoặc chịu để cho người khác hạ thấp phẩm giá của mình hòng tự nâng giá trị của người ta lên. Nhưng bởi cái mà chính hắn giành được thì hắn cũng không giành được nó với cái giá rẻ mạt, cho nên hắn cũng chẳng bán nó đi với giá rẻ mạt; hắn không ti tiện đến mức nhận lấy sự ngợi ca của người đời và đổi lại dành cho họ sự khinh miệt không nói ra; hắn biết rằng cái gì thực sự vĩ đại thì cái đó là thứ mà tất cả mọi người đều được phép vươn tới một cách bình đẳng.
Vậy nên hoặc là có một thứ bổn phận tuyệt đối với Thượng đế, và nếu đúng là có một thứ như vậy thì nó chính là cái nghịch lý được mô tả ở đây, rằng cái cá thể với tư cách là cái cá biệt đứng cao hơn cái phổ quát và cái cá thể với tư cách là cái cá biệt nằm trong mối liên hệ tuyệt đối với cái tuyệt đối - hoặc là đức tin chẳng bao giờ tồn tại bởi nó vốn đã luôn tồn tại, hoặc là Abraham là kẻ bị hư mất, hoặc là người ta phải giải thích đoạn văn trong chương 14 sách Luke theo cách mà tay bình giải trang nhã kia đã làm, và giải thích những đoạn tương ứng và tương tự theo cùng một kiểu[23].
❀ ❀ ❀
[1] 1. Bác thợ may mà Kierkegaard để cập ở đây là bác thợ may trong truyện cổ tích “Bác thợ may lên Trời” trong tập Truyện cổ Grimm của anh em nhà Grimm.
[2] 2. Heraclitus (khoảng 535-475, TCN) là một nhà triết học vĩ đại người Hy Lạp thời Tiền Socrates. Ông là người đầu tiên đưa ra tư tưởng về sự vận động biến đổi không ngừng của sự vật với câu nói nổi tiếng, “Không ai tắm hai lấn trên cùng một dòng sông”. Ông được mang biệt danh “nhà triết học tới nghĩa” vì phương pháp trình bày rất phức tạp và khó hiểu mặc dù tư tưởng của ông vô cùng sâu sắc.
[3] 3. Tham khảo thêm tác phẩm Cratylus § 402 (thuộc dòng các tác phẩm đối thoại với Socrates, hay rộng hơn là đối thoại theo kiểu Socrates) của Plato.
[4] 4. Người học trò này là nhà triết học Cratylus, một người Athene cùng thời với Socrates. Cratylus chủ yếu được biết đến nhờ được nhắc tên trong tác phẩm Cratylus (thuộc dòng các tác phẩm đối thoại với Socrates, hay rộng hơn là đối thoại theo kiểu Socrates) của Plato.
[5] 5. Chi tiết này nằm trong tác phẩm Geschichte der Philosphie của Tenneman.
[6] 6. Trường phái Elea (Eleatic school) được coi là một trong những trường phái triết học nổi tiếng nhất Hy Lạp thời Tiền Socrates do nhà triết học Parmenides xứ Elea (người sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ sáu và thứ năm trước Công Nguyên) sáng lập ra. Một trong những nhà triết học nổi tiếng nhất thuộc trường phái này là nhà triết học Zeno xứ Elea (490 - 430 TCN), người nổi tiếng vì đã xây dựng những nghịch lý trừu tượng trong đó cho rằng sự vận động là bất khả, trong đó nổi tiếng nhất là nghịch lý Achilles không bao giờ đuổi kịp con rùa (còn gọi là nghịch lý Zeno). Aristotle gọi ông là người phát minh ra phép biện chứng. Bertrand Russell đánh giá những nghịch lý trừu tượng của ông là “tinh tế và sâu sắc đến mức không thể đong đếm được”. Ông có lẽ là người đầu tiên đưa ra phương pháp lập luận chứng minh bằng phản chứng. Người bác bỏ nghịch lý Achilles không bao giờ đuổi kịp con rùa là Diogenes, người sáng lập ra phái Khuyển nho (Cynics).
[7] 7. Ám chỉ Iphigenia trong vở kịch Iphigenia ở Tauris của Euripides. Người em trai mà Iphigenia định hiến tế ở đây là Orestes.
[8] 8. Nhận định này được Aristotle để cập trong tác phẩm Lịch sử tự nhiên (Natural History), quyển V, chương 4.
[9] 9. Câu này dịch theo bản dịch của Walter Lowrie và bản dịch của Hong và Hong. Trong hai bản dịch, một của Alasstair Hannay và một của Sylvia Walsh, câu này được dịch thành, “Nó khiến người ta tin vào hiện thực và có đủ dũng khí để chiến đấu chống lại tất cả những nỗi thống khổ của hiện thực, hơn là chống lại những nỗi đau thiếu sinh khí mà người ta đã tự gánh lấy vì trách nhiệm”.
[10] 10. Hai người ở đây là hai người ở đoạn trước, tức là đôi trai gái thầm yêu nhau và thầm hy sinh cho nhau bằng cách không tiết lộ tình cảm của mình cho người kia biết.
[11] 11. Xem Kinh Thánh, sách Mark 1:11. “Lại có tiếng từ trên trời phán rằng: Ngươi là Con yêu dấu của ta, làm đẹp lòng ta mọi đàng”.
[12] 12. Xem Kinh Thánh, sách Thủ lãnh (Judges) 11:38. “Jephtha đáp rằng: Con cứ đi. Rồi người để nàng đi hai tháng. Vậy, nàng đi cùng chị em bạn mình, khóc sự đồng trinh mình tại trên núi”.
[13] 13. Ở Hy Lạp, cành olive tượng trưng cho sự khẩn nài.
[14] 14. Những hành động và quan điểm như thế vẫn có thể là chủ đề cho cuộc luận bàn về mỹ học. Tuy nhiên, việc đức tin và toàn bộ đời sống của đức tin có thể là chủ đề cho một cuộc luận bàn như thế hay không thì tôi xin được bỏ ngỏ. Chỉ là, bởi vì với tôi luôn là một niềm vui sướng khi được bày tỏ lòng biết ơn đến người mà tôi mang ơn, tôi muốn cảm ơn Lessing vì một vài gợi ý về một vở kịch mang tính Cơ Đốc giáo được tìm thấy trong tác phẩm Hamburgische Dramaturgie (Kịch nghệ Hamburg) của ông. Mặc dù vậy, ông vẫn giữ vững cái nhìn của mình lên khía cạnh thần thánh đơn thuần của cuộc đời này (chiến thắng hoàn hảo) và vì thế ông có những nghi ngại; có lẽ ông hẳn đã thể hiện một sự phán xét khác nếu như ông ý thức nhiều hơn nữa đến khía cạnh con người thuần túy (theologia viatorum [Thần học của những kẻ hành hương]). Không nghi ngờ gì nữa điều ông nói là rất ngắn gọn và có phần lảng tránh, nhưng bởi tôi luôn vui mừng khi có được sự đồng hành của Lessing, tôi nắm lấy cơ hội ấy ngay lập tức. Lessing không chỉ là một trong những trí tuệ thông thái nhất mà nước Đức có, ông không chỉ sở đắc một sự chính xác hiếm thấy trong kiến thức của mình (bởi lý do này mà người ta có thể hoàn toàn tin tưởng ông và những phân tích đánh giá của ông mà không sợ bị lừa bịp bởi những trích dẫn đại khái không rõ nguồn, bởi những lối diễn đạt nửa vời được rút ra từ những trích yếu không đáng tin cậy, hoặc bị đánh lạc hướng bởi những lời đại ngôn ngu xuẩn về những điều mới mẻ mà những người đi trước đã dẫn giải từ lâu rồi, thậm chí còn sâu sắc hơn rất nhiều) - mà ông còn đồng thời sở đắc một tài năng vô cùng khác thường trong việc lý giải điều chính ông hiểu rõ. Ông dừng lại ở đó. Trong thời đại chúng ta người ta lại vượt xa hơn và lý giải nhiều hơn điều mà họ hiểu. [Ghi chú của Kierkegaard.]
[15] 15. Quyển V, chương 4. Tác phẩm này đã được xuất bản ở Việt Nam với nhan đề Chính trị luận. Chi tiết mà Kierkegaard đề cập có thể xem thêm trong Chính trị luận của Aristotle do Nông Duy Trường dịch và chú giải, NXB Thế giới 2013, trang 273.
[16] 16. Ở đây Kierkegaard có sự nhầm lẫn hoặc có thể ông cố ý thêm thắt vào một vài chi tiết để minh họa cho luận điểm của mình. Thực ra, trong tác phẩm Chính trị học, Aristotle chỉ kể rằng trên đường đi rước dâu, chú rể thấy chuyện gì đó cho là điềm bất thường nên quay lại không chịu rước dâu nữa. Nhưng Kierkegaard lại thêm vào chi tiết chú rể được các nhà tiên tri cảnh báo về tai họa sẽ xảy ra và trong nguyên tác ông dùng từ Augur để chỉ các nhà tiên tri này. Đúng ra, từ Augur này chỉ các thầy tu ở La Mã cổ đại; các thầy tu này là những người tiên tri sự kiện tương lai bằng cách diễn giải các dấu hiệu, nhưng Kierkegaard lại áp dụng từ này cho câu chuyện xảy ra ở Hy Lạp.
[17] 17. Theo như Aristotle, thảm họa lịch sử xảy ra như sau. Để trả thù, gia đình cô dâu cho một cái bình thờ của đền thờ lẫn vào đồ đạc nhà bếp nhà chú rể, và chú rể bị kết tội ăn cắp đồ thờ. Tuy nhiên, điều này chẳng quan trọng gì, bởi vấn đề không phải là gia đình này khôn ngoan hay ngu dại xét trong cách họ trả thù. Gia đình này chỉ đạt được ý nghĩa lý tưởng khi nó được đưa vào trong cái biện chứng của người anh hùng. Hơn nữa, nó đủ mang tính chất định mệnh đến mức chú rể gieo mình vào hiểm nguy trong khi hắn lại đang muốn tránh khỏi hiểm nguy bằng cách không cưới xin gì nữa, và đồng thời nó cũng mang tính chất định mệnh đến mức mà cuộc sống của hắn đi tới chỗ gặp gỡ thần thánh theo một lối kép: đầu tiên thì bằng lời nói của nhà tiên tri, và sau đó bằng việc bị kết tội ăn cắp đồ thờ. [Ghi chú của Kierkegaard.]
[18] 18. Ý là hôn nhân là do thiên định.
[19] 19. Xem Kinh Thánh, sách Matthew 19:6. “Vậy, loài người không nên phân rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời đã phối hiệp!”.
[20] 20. Kierkegaard tin rằng cuộc hôn nhân của ông bị thần thánh ngăn cản.
[21] 21. Axel và Valborg là hai nhân vật chính trong vở bi kịch năm hồi của Adam Oehlenschläger, Axel og Valborg, Oehlenschlägers Tragødier, IX (Copenhagen: 1841-49; ASKB1601-05), V, trang 4-111. Axel và Valborg có họ hàng gần với nhau do đó bị Nhà thờ không cho phép làm đám cưới chừng nào họ chưa được phép của giáo hoàng. Tuy nhiên, sau đó, người ta phát hiện ra rằng họ được làm phép rửa tội như anh trai và em gái (rửa tội trong cùng một ngày ở cùng một nhà thờ), điều này lại càng cản trở cuộc hôn nhân của họ (xem trang 9 và 49).
[22] 22. Hơn nữa, từ điểm này người ta có thể thực hiện những hành động biện chứng theo một chiều hướng khác. Trời xanh tiên báo một tai họa đi liền sau đám cưới của hắn, vậy nên trên thực tế hắn có thể từ bỏ đám cưới mà không cần từ bỏ cô gái vì lý do này, đúng hơn là sống với nàng trong mối quan hệ lãng mạn mà với kẻ tình nhân thì nó quá là vừa ý. Tuy nhiên, điều này lại mang hàm ý xúc phạm với cô gái bởi vì hắn không biểu đạt cái phổ quát trong tình yêu của mình với nàng. Tuy vậy, chuyện này lại là một đề tài cho cả thi sĩ lẫn nhà luân lý học, kẻ vốn dĩ muốn bảo vệ hôn nhân. Nói chung, nếu thi ca chú ý đến tôn giáo và nội tâm cá nhân, nó sẽ tìm được những chủ đề quan trọng hơn rất nhiều so với những cái mà hiện nay nó đang bận tâm. Trong thi ca người ta thường lặp đi lặp lại một câu chuyện sau: Một người đàn ông dính phải một cô gái mà hắn đã từng yêu, hoặc có lẽ chưa bao giờ thực sự yêu, bởi giờ đây hắn nhìn thấy một cô gái khác, cô này đúng là cô gái lý tưởng của hắn. Một người đàn ông phạm phải một sai lầm trong đời; nó đúng đường nhưng sai nhà, bởi ở ngay ngôi nhà đối diện; trên tầng hai có cô gái lý tưởng đang sống - đây chính là chủ đề mà người ta cho là thích hợp trong thi ca. Một kẻ tình nhân phạm phải một sai lầm, hắn nhìn thấy người yêu của mình qua ánh nến và nghĩ rằng cô ấy có mái tóc đen, nhưng, kìa, khi nhìn kỹ lại thì hóa ra cô ấy lại có mái tóc vàng - nhưng em gái cô ấy, đấy mới là người phụ nữ lý tưởng cơ! Cái này cũng được xem là một chủ đề thích hợp trong thi ca. Theo quan điểm của tôi thì bất kỳ gã đàn ông nào như vậy đều là một thằng xỏ lá mặt dày, kẻ vốn dĩ không đáng được tha thứ ở ngoài đời thực mà đáng bị la ó đuổi khỏi sân khấu khi hắn định tỏ vẻ khệnh khạng trong thi ca. Chỉ có đam mê chống lại đam mê mới làm nên xung đột thi ca, chứ không phải là một đám lộn nhộn những tiểu tiết trong cùng một đam mê. Vào thời Trung cổ chẳng hạn, khi một cô gái sau khi đã trải qua cảm giác đang yêu chắc mẩm rằng mọi tình yêu trần thế đều là tội lỗi và muốn có một tình yêu thần thánh hơn, thì đây là một xung đột thi ca, và cô gái cũng mang tính thơ, bởi cuộc đời cô nằm trong cái ý niệm. [Ghi chú của Kierkegaard.]
[23] 23. Ở đây Kierkegaard tham khảo chi tiết này từ tác phẩm Kịch nghệ Hamburg (Hamburgische Dramaturgie) của Lessing, tập I, mục 22. Bá tước xứ Essex ở đây là Robert Devereux (1565-1601), nhà quý tộc người Anh và là bồi thần sủng ái của Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhất (1533-1603). Ông được cho là người có một mối tình bí mật sâu đậm với Nữ hoàng Elizabeth - người vốn được nhân dân Anh quốc coi là đồng trinh vì bà không kết hôn. Năm 1601, ông tiến hành một cuộc đảo chính đòi Nữ hoàng phong ông là người bảo hộ của nước Anh nhưng đã thất bại và Nữ hoàng lúc này đã không còn kiên nhẫn với người tình phóng đãng của mình nữa. Chính bà đã ký bản án tử hình ông. Ông bị chặt đầu ngay trước cung điện.