Kính Sợ Và Run Rẩy

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
KHÚC TỤNG CA CHO ABRAHAM

❊ ❊ ❊

Nếu như không có ý thức vĩnh hằng trong con người, nếu bên dưới vạn vật chỉ có duy nhất một thứ quyền năng sục sôi dữ dội mà nó, dằn vặt cùng với những dục vọng tăm tối, làm nên tất cả mọi thứ, cả những thứ vĩ đại lẫn những thứ tầm thường, nếu ẩn dưới vạn vật là một sự trống rỗng vô đáy không thể nào thỏa mãn được - vậy thì cuộc sống là gì nếu không phải là nỗi tuyệt vọng? Nếu đúng là như vậy, nếu không có những mối lên kết thiêng liêng kết nối con người lại với nhau, nếu thế hệ này nối tiếp thế hệ khác như lá trong rừng[1], nếu một thế hệ thay thế một thế hệ khác như tiếng chim hót trong rừng, nếu loài người đi qua thế giới này như con thuyền đi qua đại dương, như gió thổi qua sa mạc, một hành động vô tư lự và vô tích sự, nếu sự quên lãng vĩnh hằng luôn thèm khát ẩn nấp rình mò con mồi của nó và chẳng có một quyền năng nào đủ mạnh để giằng lại con mồi kia từ dạ dày của nó - thì cuộc sống trống rỗng và bất tiện biết bao! Nhưng bởi thế nên mọi sự đã chẳng như vậy, và cũng giống như Thiên Chúa đã tạo ra đàn ông và đàn bà, cho nên Ngài cũng tạo nặn anh hùng và thi nhân hay nhà thuyết giáo. Thi nhân hay nhà thuyết giáo chẳng thể làm cái mà người anh hùng làm, hắn chỉ có thể ngợi ca, yêu quý và tìm vui nơi người anh hùng mà thôi. Tuy nhiên hắn cũng hạnh phúc, nào có kém cạnh gì, bởi người anh hùng, có thể nói, là cái bản tính khá hơn của hắn, thứ mà hắn yêu quý, nhưng vui mừng trước cái điều rằng kẻ kia rốt cuộc chẳng phải là hắn, rằng tình yêu của hắn có thể là sự ca tụng. Hắn là thiên tài trong việc hồi tưởng, chẳng có thể làm gì khác hơn ngoài việc hồi tưởng cái đã làm, chẳng làm gì khác hơn ngoài ca tụng cái đã được làm; bản thân hắn chẳng đóng góp được gì, mà chỉ ghen tị với báu vật mà hắn được giao phó. Hắn theo đuổi niềm khao khát của trái tim mình, nhưng khi tìm thấy thứ cần tìm, hắn lang thang trước ngưỡng cửa mọi nhà cùng với bài ca và lời nói của mình để tất cả mọi người đều tụng ca người anh hùng như hắn đang tụng ca, tự hào về người anh hùng như hắn đang tự hào. Đây là thành tựu của hắn, nhiệm vụ khiêm tốn của hắn; đây là sự phục vụ trung thành của hắn trong ngôi nhà của người anh hùng. Nếu hắn thành thật với tình yêu của mình theo cách này, hắn ngày đêm chống lại sự xảo trá của lãng quên đang gạt hắn ra khỏi người anh hùng, thì hắn đã hoàn thành sứ mệnh của mình, thì hắn sẽ được hợp nhất với người anh hùng, kẻ cũng yêu hắn chung thủy y như thế, bởi thi nhân, có thể nói, là cái bản tính khá hơn của người anh hùng, bất lực, thực sự là như thế, giống như ký ức vậy, mà còn được tôn quý lên, giống như là ký ức vậy. Bởi thế chẳng ai vĩ đại mà lại bị lãng quên, và dù có mất nhiều thời gian, dù đám mây hiểu lầm[2] có cuốn đi người anh hùng, thì người yêu quý hắn dẫu sao vẫn cứ tới, và thời gian càng trôi qua, kẻ đó càng chung thủy gắn bó với hắn.

Không! Chẳng ai vĩ đại mà lại bị lãng quên trong thế giới này, nhưng mỗi người lại vĩ đại theo cách riêng của mình, và mỗi người tương xứng với sự vĩ đại của cái mà hắn yêu quý. Bởi kẻ nào yêu bản thân mình thì trở nên vĩ đại bởi chính bản thân hắn, và kẻ nào yêu tha nhân thì trở nên vĩ đại bởi sự tận hiến xả kỷ, nhưng kẻ nào yêu Thiên Chúa thì trở nên vĩ đại hơn cả. Hết thảy những kẻ đó rồi sẽ được nhớ đến nhưng mỗi người trở nên vĩ đại tương xứng với kỳ vọng của hắn. Một người trở nên vĩ đại nhờ việc kỳ vọng vào điều khả dĩ, người khác thì nhờ việc kỳ vọng vào sự vĩnh hằng, nhưng kẻ nào kỳ vọng vào điều bất khả thì trở nên vĩ đại hơn cả. Hết thảy mọi người rồi sẽ được nhớ đến, nhưng mỗi người trở nên vĩ đại tương xứng với sự vĩ đại của cái mà vì nó hắn tranh đấu. Bởi kẻ nào tranh đấu chống lại thế giới thì trở nên vĩ đại nhờ chinh phục được thế giới, và kẻ nào tranh đấu với chính bản thân mình thì trở nên vĩ đại nhờ việc chiến thắng chính bản thân mình, nhưng kẻ nào tranh đấu với Thiên Chúa[3] thì trở nên vĩ đại hơn cả. Bởi thế mới có xung đột trên thế giới này, người chống lại người, một chống lại một ngàn, nhưng kẻ nào tranh đấu với Thiên Chúa thì trở nên vĩ đại hơn cả. Bởi thế mới có xung đột trên mặt đất này: có kẻ chinh phục được tất cả mọi người bằng quyền năng của mình, và có kẻ chinh phục được Thiên Chúa bằng sự bất lực của mình. Có kẻ dựa vào chính mình và đạt được hết thảy, có kẻ, dựa vào sức mạnh của chính bản thân mình, hy sinh hết thảy, nhưng kẻ nào tin vào Thiên Chúa thì vĩ đại hơn cả. Có kẻ vĩ đại bởi sức mạnh của mình, và có kẻ vĩ đại bởi sự thông thái của mình, và có kẻ vĩ đại bởi hy vọng của mình, và có kẻ vĩ đại bởi tình yêu của mình; nhưng Abraham vĩ đại hơn hết thảy, vĩ đại bởi quyền năng của ông mà sức mạnh của nó là sự bất lực[4], vĩ đại bởi sự thông thái của ông mà bí mật của nó là sự dại dột[5], vĩ đại bởi hy vọng của ông mà hình thái của nó là sự điên dại, vĩ đại bởi tình yêu mà nó chính là sự căm ghét chính bản thân mình[6].

Bởi có đức tin Abraham đi ra khỏi mảnh đất của tổ tiên và trở thành kẻ kiều ngụ trên đất hứa[7], ông bỏ lại một thứ, mang đi một thứ bên mình: ông bỏ lại sự hiểu biết thế tục và mang theo đức tin bên mình - nếu không ông đã chẳng lang thang mà sẽ cho rằng điều này quả là vô lý. Bởi có đức tin ông thành người xa lạ trên miền đất hứa, và chẳng có gì gợi lại cho ông đến những cái mà ông đã từng thân thuộc, mà hết thảy mọi thứ, bằng sự mới mẻ của nó, đã lôi kéo linh hồn ông chìm vào nỗi khao khát u sầu. Thế nhưng ông là người được Thiên Chúa chọn, người đã làm đẹp lòng Thiên Chúa[8]! Phải, nếu ông bị chối bỏ, không được hưởng ân sủng của Thiên Chúa thì ông hẳn đã có thể hiểu điều ấy rõ hơn, nhưng giờ đây tuồng như thể ông và đức tin của ông đang bị nhạo báng. Trên thế giới này cũng có kẻ sống lưu đày[9] xa nơi quê cha đất tổ mà hắn hằng yêu quý. Hắn không bị lãng quên và những khúc Ai Ca[10] của hắn mỗi khi hắn sầu muộn tìm kiếm và thấy lại được cái mà mình đã mất, những khúc Ai Ca ấy cũng chẳng bị lãng quên. Chẳng có khúc Ai Ca nào của Abraham. Chính con người là kẻ khóc than, chính con người là kẻ khóc than bằng tiếng khóc của mình, nhưng kẻ nào có đức tin thì kẻ đó sẽ vĩ đại hơn, kẻ nào nhìn thấy người có đức tin thì kẻ đó sẽ được ân sủng nhiều hơn.

Bởi có đức tin Abraham nhận được lời hứa rằng mọi dân trên thế gian này sẽ nhờ ông mà được phước[11]. Thời gian trôi qua, điều khả hữu vẫn còn đó, Abraham vẫn tin; thời gian trôi qua, nó trở nên phi lý, Abraham vẫn tin. Có một kẻ trên thế giới này cũng có một kỳ vọng[12]. Thời gian trôi qua, ngày nối tiếp đêm, hắn vẫn không đủ ti tiện để mà quên đi kỳ vọng của mình, vậy nên hắn cũng sẽ không bị lãng quên. Rồi hắn sầu muộn và nỗi sầu muộn không làm hắn thất vọng như cuộc sống đã làm, nó làm cho hắn hết thảy mọi thứ có thể; trong sự ngọt ngào của nỗi sầu muộn hắn có cái kỳ vọng đáng thất vọng của mình. Chính con người là kẻ sầu muộn, chính con người sầu muộn với nỗi sầu của mình, nhưng kẻ nào có đức tin thì kẻ đó sẽ vĩ đại hơn, kẻ nào nhìn thấy người có đức tin thì kẻ đó sẽ được ân sủng nhiều hơn. Chẳng có khúc Ai Ca nào của Abraham. Ông đã chẳng ngồi than khóc đếm ngày tháng trôi qua; ông đã chẳng nhìn Sarah bằng cái nhìn ngờ vực, băn khoăn rằng liệu có phải bà đã già đi hay không; ông đã chẳng ngăn chặn cuộc xoay vần của nhật nguyệt[13] để Sarah không trở nên già nua và đáp ứng được kỳ vọng của ông. Ông đã chẳng hát khúc bi ca an ủi Sarah. Abraham già đi, Sarah trở thành trò cười của dân trong vùng, nhưng ông là người Thiên Chúa chọn và là kẻ nhận được lời hứa rằng mọi dân trên thế gian này sẽ nhờ ông mà được phước. Vậy liệu có phải là điều dữ hơn không nếu ông chẳng được Thiên Chúa chọn? Được Thiên Chúa chọn nghĩa là gì? Liệu đó có phải là ước nguyện tuổi thanh xuân của ta bị chối bỏ ở tuổi thanh xuân để ngõ hầu ta hoàn thành nó với xiết bao khó khăn ở tuổi xế chiều hay không? Nhưng Abraham có đức tin và giữ vững lời hứa của mình. Nếu Abraham nao núng thì ông hẳn đã từ bỏ nó rồi. Nếu ông nói với Thiên Chúa, “Vậy thì có lẽ cuối cùng chẳng phải là ý nguyện của Người rằng nó sẽ là như thế, nên tôi sẽ từ bỏ ước vọng của mình. Nó chỉ là ước vọng của riêng tôi, nó là phúc lành của tôi. Linh hồn tôi thành kính; tôi chẳng che giấu ác tâm thầm kín nào chỉ vì Người đã chối nó” - thì ông đã chẳng bị lãng quên, ông hẳn đã cứu được nhiều người bằng tấm gương của mình, nhưng nếu thế thì ông đã chẳng phải là tổ phụ của đức tin. Bởi vĩ đại thay kẻ nào từ bỏ ước vọng của mình, nhưng vĩ đại hơn là kẻ giữ vững nó sau khi đã từ bỏ nó, vĩ đại thay kẻ nào giữ lấy sự vĩnh hằng, nhưng vĩ đại hơn là kẻ giữ lấy sự tạm thế sau khi từ bỏ nó. Rồi kỳ hạn đã được trọn[14]. Nếu Abraham đã chẳng có đức tin thì Sarah hẳn đã chết vì sầu muộn, và Abraham, đờ đẫn vì đau khổ, hẳn đã chẳng hiểu được sự ứng nghiệm mà sẽ cười vào nó như cười vào một giấc mơ thời trai trẻ. Nhưng Abraham có đức tin, bởi thế ông trẻ trung; bởi kẻ nào luôn hy vọng vào điều tốt nhất sẽ trở nên già nua và bị cuộc đời lừa gạt, và kẻ nào luôn chuẩn bị cho điều dữ nhất sẽ già sớm, nhưng kẻ nào có đức tin thì sẽ gìn giữ được tuổi thanh xuân mãi mãi. Vậy thật đáng ngợi ca thay câu chuyện này! Bởi Sarah, dù trải bao năm tháng, vẫn còn trẻ trung để mong mỏi niềm vui của người được làm mẹ, và Abraham, dù tóc đã hoa râm, vẫn còn trẻ để mong ngóng trở thành người cha. Xét trên bình diện bề ngoài, điều kỳ diệu cốt ở việc nó xảy ra đúng như kỳ vọng của họ; theo một nghĩa sâu hơn, điều kỳ diệu của đức tin cốt ở việc Abraham và Sarah vẫn còn trẻ để ước vọng, và đức tin đó đã gìn giữ ước vọng và cả tuổi xuân của họ nữa. Ông chấp nhận sự ứng nghiệm của lời hứa, ông chấp nhận nó bằng đức tin, và nó xảy ra đúng như lời hứa và đúng như đức tin của ông - bởi Moses đã đập cây gậy vào vầng đá[15] nhưng Moses đã chẳng có lòng tin.

Rồi có niềm hân hoan trong nhà Abraham, khi Sarah trở thành cô dâu trong đám cưới vàng của họ.

Nhưng không chỉ là như vậy. Thêm một lần nữa Abraham phải chịu thử thách. Ông chiến đấu chống lại cái thế lực xảo quyệt tạo ra mọi thứ, với kẻ thù luôn cảnh giác chẳng bao giờ ngủ say, với ông già sống lâu hơn hết thảy mọi thứ - ông chiến đấu chống lại thời gian và gìn giữ đức tin của mình. Giờ đây hết thảy nỗi kinh hoàng của cuộc tranh đấu dồn vào trong một khoảnh khắc. “Và Thiên Chúa thử lòng Abraham và phán rằng, Hãy bắt Isaac, đứa con trai duy nhất của ngươi, đứa con ngươi yêu dấu nhất, và đi đến xứ Moriah, và dâng đứa con làm của lễ thiêu ở trên một hòn núi mà ta sẽ chỉ cho”.

Vậy là mất trắng - thậm chí còn kinh hoàng hơn cả khi điều đó chưa bao giờ xảy ra[16]! Vậy là Thiên Chúa chỉ đùa cợt Abraham! Ngài làm phép lạ khiến cho điều phi lý trở thành hiện thực và bây giờ đến lượt Ngài hủy diệt nó. Nó thực sự ngớ ngẩn nhưng Abraham đã chẳng cười cợt vào nó như Sarah đã cười cợt khi lời hứa được rao truyền[17]. Vậy là mất trắng! Bảy mươi năm tin tưởng kỳ vọng, mừng vui ngắn ngủi trong sự ứng nghiệm của đức tin. Vậy ai là kẻ đã giật cây gậy nương tựa của ông già kia, ai là kẻ yêu cầu chính ông phải bẻ gẫy nó? Ai là kẻ đã làm cho mái đầu hoa râm của một người trở nên tuyệt vọng, ai đã yêu cầu chính ông phải làm điều ấy? Chẳng lẽ không có chút thương xót nào dành cho bậc trưởng thượng đáng kính, chẳng có chút nào dành cho đứa trẻ vô tội kia sao? Thế nhưng Abraham là người được Thiên Chúa chọn, và chính Thiên Chúa là kẻ áp đặt thử thách. Giờ thì mất trắng! Toàn bộ ký ức vinh quang của hậu thế, lời hứa dành cho dòng giống của Abraham - chỉ là một ý thích bất chợt, một ý nghĩ thoáng qua của Đấng Thiên Chúa, mà giờ đây Abraham phải hủy bỏ. Kho báu vinh quang đó, vốn cũng già nua như đức tin trong trái tim của Abraham, già hơn Isaac rất nhiều, rất nhiều năm, trái ngọt của cuộc đời Abraham, được thánh hóa bằng những buổi cầu kinh, chín dần trong tranh đấu, lời chúc phúc trên đôi môi Abraham - trái ngọt này giờ đây sẽ bị hái đi sớm và sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Bởi có nghĩa gì đâu nếu Isaac phải hy sinh? Cái giờ khắc buồn đau nhưng vẫn tràn đầy hạnh phúc đó khi mà Abraham phải từ bỏ hết thảy những gì thân quý với ông, khi mà mái đầu tôn kính của ông một lần nữa lại ngước lên, khi mà sắc mặt của ông tỏa ánh hào quang như của Đấng Thiên Chúa, khi mà ông dồn toàn bộ linh hồn mình vào trong một ân sủng toàn năng để có thể thi ân giáng phúc cho Isaac suốt đời - giờ ấy vẫn chưa tới! Bởi ông thực sự phải từ bỏ Isaac, nhưng theo cách mà chính ông sẽ là người bị bỏ lại; cái chết sẽ chia lìa họ, nhưng theo cách mà Isaac sẽ là nạn nhân của nó. Ông già ấy sẽ chẳng được, hân hoan trước khi chết, đặt tay ban phước lành cho Isaac, mà ông sẽ, mệt mỏi với cuộc sống, đặt bàn tay hung bạo lên Isaac. Và ấy chính là Thiên Chúa đang thử thách ông đó! Phải, khổ thay, khổ thay cho vị thiên sứ đã tới trước mặt Abraham mà rao truyền tin đó! Ai dám làm thiên sứ gieo nỗi sầu muộn này nữa đây? Nhưng ấy chính là Thiên Chúa đang thử thách Abraham đó.

Nhưng Abraham có đức tin, và ông tin bởi cuộc đời này. Phải, nếu như đức tin của ông chỉ dành cho cuộc sống tương lai, thì hẳn là ông đã vứt bỏ hết thảy để nhanh chóng rời bỏ thế giới này, cái thế giới mà ông vốn chẳng thuộc về. Nhưng đức tin của Abraham không phải là kiểu như vậy, nếu thực sự tồn tại một thứ đức tin kiểu như vậy; bởi thực ra không phải là đức tin mà là triển vọng xa nhất của đức tin thấp thoáng trông thấy đối tượng của nó ở nơi chân trời xa xôi nhất, nhưng lại bị chia cắt với nó bởi một vực thẳm rộng hoác mà ở đó sự tuyệt vọng tiếp tục trò chơi của mình. Nhưng Abraham có đức tin chính bởi cuộc đời này - niềm tin rằng ông sẽ già đi trên mặt đất này, được mọi người kính trọng, được ban phước bằng dòng giống của mình, được tưởng nhớ mãi mãi trong Isaac, thứ quý giá nhất cuộc đời ông, đứa trẻ mà ông ôm lấy bằng thứ tình yêu mà với nó nếu nói rằng ông chung thủy hoàn thành bổn phận yêu thương của người cha đối với đứa con trai của mình thì đó chỉ là một lối diễn đạt nghèo nàn, bởi thực sự đúng như trong lời phán bảo, “đứa con trai ngươi yêu dấu nhất”. Jacob có mười hai đứa con trai, và ông yêu một đứa trong số đó[18]; Abraham chỉ có duy nhất một đứa, đứa con trai mà ông yêu dấu.

Nhưng Abraham có đức tin và ông đã không hoài nghi; ông tin vào điều phi lý. Nếu Abraham có lòng ngờ vực - thì hẳn ông đã làm một cái gì khác, một cái gì đó vinh quang, bởi Abraham có thể làm gì ngoài những điều vĩ đại và vinh quang! Ông hẳn đã tiến thẳng đến núi Moriah, ông hẳn đã bổ củi, đốt lửa giàn thiêu, rút dao ra - ông hẳn đã khóc than với Thiên Chúa: “Xin đừng chối bỏ sự hiến tế này, đây chẳng phải là thứ quý giá nhất mà tôi có, tôi biết rõ điều này, bởi một lão già có là gì so với một đứa trẻ sinh ra từ lời hứa của Người; nhưng đây là thứ quý giá nhất tôi có thể hiến dâng Người. Hãy để cho Isaac không bao giờ biết được điều này, hãy để nó có được niềm an ủi ở tuổi thanh xuân”. Ông hẳn đã đâm dao vào chính bầu ngực mình. Ông hẳn đã được tụng ca khắp thế giới này, và tên ông hẳn sẽ chẳng bị lẵng quên; nhưng được tụng ca là một chuyện, còn trở thành ngôi sao dẫn đường cứu rỗi những kẻ đau khổ lại là chuyện khác.

Nhưng Abraham có đức tin. Ông chẳng cầu nguyện cho ông, để hy vọng sẽ lay chuyển được Đấng Thiên Chúa - chỉ có đúng một lần khi hình phạt thích đáng được ban xuống thành Sodom và Gomorrha thì Abraham mới đứng ra cầu xin trước Chúa[19].

Chúng ta đọc trong Kinh Thánh: “Và Thiên Chúa thử thách Abraham, và phán với ông, Abraham, Abraham, ngươi ở đâu? Và ông đáp, Có tôi đây”. Các anh em, những người mà tôi muốn nói với, liệu điều ấy có đúng với các anh em không? Khi ở lối đằng xa các anh em nhìn thấy thiên cơ trĩu nặng đang dần tới, liệu các anh em có gọi ngọn núi, hãy đổ xuống tôi, hay kêu ngọn đồi, hãy phủ lên tôi không?[20] Hoặc giả các anh em mạnh mẽ hơn, liệu rằng chân các anh em có chậm bước trên đường, liệu chúng có, nói một cách hình tượng, mong về lối cũ không? Khi một lời gọi tới các anh em, liệu các anh em có đáp lại không, hoặc giả các anh em có đáp lại bằng một giọng nhỏ bé, thầm thì không? Abraham thì không như thế: bằng một giọng sang sảng ông đáp lại một cách hân hoan, sôi nổi, đầy tin tưởng, “Có tôi đây”. Chúng ta đọc tiếp: “Và Abraham dậy sớm”[21] - như thể đi tới một lễ hội, cho nên ông vội vã, và từ sáng sớm ông đã đến nơi được nói tới, tới núi Moriah. Ông chẳng nói gì với Sarah, chẳng nói gì với Eleazar - rốt cuộc thì ai có thể hiểu được ông đây, bởi há chẳng phải bản chất của thử thách đã yêu cầu ông giữ lời thề im lặng hay sao? “Ông bổ củi, ông trói Isaac, ông châm giàn thiêu, ông rút dao ra”. Hỡi các thính giả của tôi! Đã có nhiều người cha tin rằng mất đứa con trai là mất đi hết thảy những gì yêu dấu nhất với họ trên thế giới này, là bị tước mất mọi hy vọng cho tương lai; nhưng đó vẫn không phải là đứa con sinh ra từ lời hứa của Thiên Chúa như là Isaac đối với Abraham. Có rất nhiều người cha mất con, nhưng đó là bởi Thiên Chúa, là ý chí không thể thay đổi được, không thể thấu hiểu được của Đấng Toàn Năng, là bàn tay của Ngài đã mang đứa trẻ đi. Với Abraham thì chẳng phải như vậy. Bởi ông đã được dành cho một thử thách khắc nghiệt hơn, và số phận của Isaac nằm dưới con dao trong tay Abraham. Và ông đứng đó, người đàn ông già nua, với niềm hy vọng duy nhất của mình! Nhưng ông đã chẳng hoài nghi, ông đã chẳng lo lắng nhìn về bên phải hay bên trái, ông đã chẳng thỉnh cầu trời cao xem xét lại. Ông biết đây là Thiên Chúa Đấng Toàn Năng đang thử thách ông; ông biết đây là sự hy sinh khắc nghiệt nhất mà Ngài yêu cầu nơi ông; nhưng ông cũng biết không sự hy sinh nào là quá khắc nghiệt khi Thiên Chúa đòi hỏi điều đó - và ông đã rút dao ra.

Ai đã mang tới sức mạnh cho cánh tay Abraham? Ai đã nâng cánh tay ông lên để nó không rơi thõng xuống bên mình ông?[22] Ai nhìn thấy cảnh này mà chẳng trở nên đờ đẫn. Ai đã mang đến sức mạnh cho linh hồn Abraham, để cặp mắt ông không tối mờ đi, để ông chẳng nhìn thấy Isaac lẫn con cừu hiến tế? Ai nhìn thấy cảnh này mà chẳng trở nên đui mù. Thế nhưng có lẽ hiếm thay kẻ đã trở nên đờ đẫn và mù lòa, và còn hiếm hơn nữa người kể lại chuyện đã diễn ra như nó đáng được kể ra. Tất cả chúng ta đều biết - đó chỉ là một thử thách mà thôi.

Nếu như Abraham khi đứng trên núi Moriah đã hoài nghi, nếu như ông lưỡng lự nhìn quanh, nếu như ông tình cờ phát hiện ra con cừu trước khi rút dao ra, nếu Thiên Chúa cho phép ông hiến tế nó thay vì Isaac - thì hẳn ông đã về nhà, mọi thứ sẽ vẫn như cũ, ông vẫn có Sarah, ông vẫn giữ lại được Isaac, nhưng sự đã thay đổi làm sao! Bởi cuộc trở về của ông hẳn sẽ là cuộc tháo chạy, sự cứu chuộc của ông là sự tai ương, phần thưởng dành cho ông là sự coi thường, tương lai của ông có lẽ là sự hư mất. Thì ông hẳn sẽ chẳng còn được chứng nghiệm đức tin của mình hay ân sủng của Thiên Chúa nữa, mà sẽ chỉ còn thấy sự kinh hoàng khi đi đến núi Moriah. Thì Abraham hẳn sẽ chẳng bị lãng quên, núi Moriah cũng vậy, ngọn núi này hẳn sẽ được nhắc đến, chẳng giống như núi Ararat nơi con thuyền Noah tấp tới[23], mà sẽ được nói đến như một nỗi kinh hoàng bởi nơi đây Abraham đã hoài nghi.

***

Tổ phụ Abraham tôn kính! Trên đường về nhà từ núi Moriah người đã chẳng cần đến một khúc tụng ca khả dĩ an ủi người trong nỗi đau mất mát; bởi người đã giành được hết thảy và giữ lại Isaac - chẳng phải vậy sao? Đấng Thiên Chúa sẽ chẳng bao giờ lấy cậu ấy đi khỏi người, mà người sẽ ngồi xuống bàn hân hoan cùng cậu ấy trong lều của người, bởi người xứng đáng ở trong kiếp sau đến mãi mãi. Tổ phụ Abraham tôn kính! Hàng ngàn năm đã trôi qua kể từ ngày đó, nhưng người đã chẳng cần đến một kẻ yêu quý muộn màng để giành lại ký ức về người ra khỏi quyền năng của sự lãng quên, bởi mọi ngôn ngữ đều tưởng nhớ đến người - thế nhưng người xứng đáng có được kẻ yêu quý người một cách vinh hiển hơn bất kỳ ai khác; từ kiếp sau trở đi người làm cho hắn vĩnh viễn hạnh phúc trong lòng người[24]; còn giờ đây trong kiếp này người làm mê hoặc cặp mắt và trái tim hắn bằng sự thần diệu trong kỳ công của người. Tổ phụ Abraham tôn kính! Tổ phụ thứ hai của loài người! Người, kẻ đầu tiên cảm nhận được và kẻ đầu tiên được chứng nghiệm nỗi say mê phi thường mà nó khinh ghét cuộc giao tranh khủng khiếp với những mãnh lực thiên nhiên cuồng nộ và với những quyền năng sáng thế hòng chống lại Thiên Chúa; người, kẻ đầu tiên đã biết đến cái niềm say mê cao viễn nhất ấy, sự biểu đạt thiêng liêng, thanh khiết, và khiêm tốn của cơn giận dữ thần thánh[25] mà đám dân ngoại vẫn ngợi ca - xin hãy tha thứ cho hắn kẻ sẽ tụng ca người, nếu hắn thực hiện điều đó chưa được tương xứng. Hắn ăn nói khiêm nhường, như thể đó là mong muốn của lòng hắn; hắn ăn nói ngắn gọn, bởi nó thích hợp với hắn, nhưng hắn sẽ chẳng bao giờ quên rằng người cần đến một trăm năm để có được đứa con trai lúc tuổi già ngoài mong đợi, rằng người đã phải rút dao ra trước khi giữ lại được Isaac; hắn sẽ chẳng bao giờ quên rằng trong một trăm ba mươi năm người đã chẳng vượt xa hơn đức tin.

❀ ❀ ❀

[1] 1. Bác thợ may mà Kierkegaard để cập ở đây là bác thợ may trong truyện cổ tích “Bác thợ may lên Trời” trong tập Truyện cổ Grimm của anh em nhà Grimm.

[2] 2. Heraclitus (khoảng 535-475, TCN) là một nhà triết học vĩ đại người Hy Lạp thời Tiền Socrates. Ông là người đầu tiên đưa ra tư tưởng về sự vận động biến đổi không ngừng của sự vật với câu nói nổi tiếng, “Không ai tắm hai lấn trên cùng một dòng sông”. Ông được mang biệt danh “nhà triết học tới nghĩa” vì phương pháp trình bày rất phức tạp và khó hiểu mặc dù tư tưởng của ông vô cùng sâu sắc.

[3] 3. Tham khảo thêm tác phẩm Cratylus § 402 (thuộc dòng các tác phẩm đối thoại với Socrates, hay rộng hơn là đối thoại theo kiểu Socrates) của Plato.

[4] 4. Người học trò này là nhà triết học Cratylus, một người Athene cùng thời với Socrates. Cratylus chủ yếu được biết đến nhờ được nhắc tên trong tác phẩm Cratylus (thuộc dòng các tác phẩm đối thoại với Socrates, hay rộng hơn là đối thoại theo kiểu Socrates) của Plato.

[5] 5. Chi tiết này nằm trong tác phẩm Geschichte der Philosphie của Tenneman.

[6] 6. Trường phái Elea (Eleatic school) được coi là một trong những trường phái triết học nổi tiếng nhất Hy Lạp thời Tiền Socrates do nhà triết học Parmenides xứ Elea (người sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ sáu và thứ năm trước Công Nguyên) sáng lập ra. Một trong những nhà triết học nổi tiếng nhất thuộc trường phái này là nhà triết học Zeno xứ Elea (490 - 430 TCN), người nổi tiếng vì đã xây dựng những nghịch lý trừu tượng trong đó cho rằng sự vận động là bất khả, trong đó nổi tiếng nhất là nghịch lý Achilles không bao giờ đuổi kịp con rùa (còn gọi là nghịch lý Zeno). Aristotle gọi ông là người phát minh ra phép biện chứng. Bertrand Russell đánh giá những nghịch lý trừu tượng của ông là “tinh tế và sâu sắc đến mức không thể đong đếm được”. Ông có lẽ là người đầu tiên đưa ra phương pháp lập luận chứng minh bằng phản chứng. Người bác bỏ nghịch lý Achilles không bao giờ đuổi kịp con rùa là Diogenes, người sáng lập ra phái Khuyển nho (Cynics).

[7] 7. Ám chỉ Iphigenia trong vở kịch Iphigenia ở Tauris của Euripides. Người em trai mà Iphigenia định hiến tế ở đây là Orestes.

[8] 8. Nhận định này được Aristotle để cập trong tác phẩm Lịch sử tự nhiên (Natural History), quyển V, chương 4.

[9] 9. Câu này dịch theo bản dịch của Walter Lowrie và bản dịch của Hong và Hong. Trong hai bản dịch, một của Alasstair Hannay và một của Sylvia Walsh, câu này được dịch thành, “Nó khiến người ta tin vào hiện thực và có đủ dũng khí để chiến đấu chống lại tất cả những nỗi thống khổ của hiện thực, hơn là chống lại những nỗi đau thiếu sinh khí mà người ta đã tự gánh lấy vì trách nhiệm”.

[10] 10. Hai người ở đây là hai người ở đoạn trước, tức là đôi trai gái thầm yêu nhau và thầm hy sinh cho nhau bằng cách không tiết lộ tình cảm của mình cho người kia biết.

[11] 11. Xem Kinh Thánh, sách Mark 1:11. “Lại có tiếng từ trên trời phán rằng: Ngươi là Con yêu dấu của ta, làm đẹp lòng ta mọi đàng”.

[12] 12. Xem Kinh Thánh, sách Thủ lãnh (Judges) 11:38. “Jephtha đáp rằng: Con cứ đi. Rồi người để nàng đi hai tháng. Vậy, nàng đi cùng chị em bạn mình, khóc sự đồng trinh mình tại trên núi”.

[13] 13. Ở Hy Lạp, cành olive tượng trưng cho sự khẩn nài.

[14] 14. Những hành động và quan điểm như thế vẫn có thể là chủ đề cho cuộc luận bàn về mỹ học. Tuy nhiên, việc đức tin và toàn bộ đời sống của đức tin có thể là chủ đề cho một cuộc luận bàn như thế hay không thì tôi xin được bỏ ngỏ. Chỉ là, bởi vì với tôi luôn là một niềm vui sướng khi được bày tỏ lòng biết ơn đến người mà tôi mang ơn, tôi muốn cảm ơn Lessing vì một vài gợi ý về một vở kịch mang tính Cơ Đốc giáo được tìm thấy trong tác phẩm Hamburgische Dramaturgie (Kịch nghệ Hamburg) của ông. Mặc dù vậy, ông vẫn giữ vững cái nhìn của mình lên khía cạnh thần thánh đơn thuần của cuộc đời này (chiến thắng hoàn hảo) và vì thế ông có những nghi ngại; có lẽ ông hẳn đã thể hiện một sự phán xét khác nếu như ông ý thức nhiều hơn nữa đến khía cạnh con người thuần túy (theologia viatorum [Thần học của những kẻ hành hương]). Không nghi ngờ gì nữa điều ông nói là rất ngắn gọn và có phần lảng tránh, nhưng bởi tôi luôn vui mừng khi có được sự đồng hành của Lessing, tôi nắm lấy cơ hội ấy ngay lập tức. Lessing không chỉ là một trong những trí tuệ thông thái nhất mà nước Đức có, ông không chỉ sở đắc một sự chính xác hiếm thấy trong kiến thức của mình (bởi lý do này mà người ta có thể hoàn toàn tin tưởng ông và những phân tích đánh giá của ông mà không sợ bị lừa bịp bởi những trích dẫn đại khái không rõ nguồn, bởi những lối diễn đạt nửa vời được rút ra từ những trích yếu không đáng tin cậy, hoặc bị đánh lạc hướng bởi những lời đại ngôn ngu xuẩn về những điều mới mẻ mà những người đi trước đã dẫn giải từ lâu rồi, thậm chí còn sâu sắc hơn rất nhiều) - mà ông còn đồng thời sở đắc một tài năng vô cùng khác thường trong việc lý giải điều chính ông hiểu rõ. Ông dừng lại ở đó. Trong thời đại chúng ta người ta lại vượt xa hơn và lý giải nhiều hơn điều mà họ hiểu. [Ghi chú của Kierkegaard.]

[15] 15. Quyển V, chương 4. Tác phẩm này đã được xuất bản ở Việt Nam với nhan đề Chính trị luận. Chi tiết mà Kierkegaard đề cập có thể xem thêm trong Chính trị luận của Aristotle do Nông Duy Trường dịch và chú giải, NXB Thế giới 2013, trang 273.

[16] 16. Ở đây Kierkegaard có sự nhầm lẫn hoặc có thể ông cố ý thêm thắt vào một vài chi tiết để minh họa cho luận điểm của mình. Thực ra, trong tác phẩm Chính trị học, Aristotle chỉ kể rằng trên đường đi rước dâu, chú rể thấy chuyện gì đó cho là điềm bất thường nên quay lại không chịu rước dâu nữa. Nhưng Kierkegaard lại thêm vào chi tiết chú rể được các nhà tiên tri cảnh báo về tai họa sẽ xảy ra và trong nguyên tác ông dùng từ Augur để chỉ các nhà tiên tri này. Đúng ra, từ Augur này chỉ các thầy tu ở La Mã cổ đại; các thầy tu này là những người tiên tri sự kiện tương lai bằng cách diễn giải các dấu hiệu, nhưng Kierkegaard lại áp dụng từ này cho câu chuyện xảy ra ở Hy Lạp.

[17] 17. Theo như Aristotle, thảm họa lịch sử xảy ra như sau. Để trả thù, gia đình cô dâu cho một cái bình thờ của đền thờ lẫn vào đồ đạc nhà bếp nhà chú rể, và chú rể bị kết tội ăn cắp đồ thờ. Tuy nhiên, điều này chẳng quan trọng gì, bởi vấn đề không phải là gia đình này khôn ngoan hay ngu dại xét trong cách họ trả thù. Gia đình này chỉ đạt được ý nghĩa lý tưởng khi nó được đưa vào trong cái biện chứng của người anh hùng. Hơn nữa, nó đủ mang tính chất định mệnh đến mức chú rể gieo mình vào hiểm nguy trong khi hắn lại đang muốn tránh khỏi hiểm nguy bằng cách không cưới xin gì nữa, và đồng thời nó cũng mang tính chất định mệnh đến mức mà cuộc sống của hắn đi tới chỗ gặp gỡ thần thánh theo một lối kép: đầu tiên thì bằng lời nói của nhà tiên tri, và sau đó bằng việc bị kết tội ăn cắp đồ thờ. [Ghi chú của Kierkegaard.]

[18] 18. Ý là hôn nhân là do thiên định.

[19] 19. Xem Kinh Thánh, sách Matthew 19:6. “Vậy, loài người không nên phân rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời đã phối hiệp!”.

[20] 20. Kierkegaard tin rằng cuộc hôn nhân của ông bị thần thánh ngăn cản.

[21] 21. Axel và Valborg là hai nhân vật chính trong vở bi kịch năm hồi của Adam Oehlenschläger, Axel og Valborg, Oehlenschlägers Tragødier, IX (Copenhagen: 1841-49; ASKB1601-05), V, trang 4-111. Axel và Valborg có họ hàng gần với nhau do đó bị Nhà thờ không cho phép làm đám cưới chừng nào họ chưa được phép của giáo hoàng. Tuy nhiên, sau đó, người ta phát hiện ra rằng họ được làm phép rửa tội như anh trai và em gái (rửa tội trong cùng một ngày ở cùng một nhà thờ), điều này lại càng cản trở cuộc hôn nhân của họ (xem trang 9 và 49).

[22] 22. Hơn nữa, từ điểm này người ta có thể thực hiện những hành động biện chứng theo một chiều hướng khác. Trời xanh tiên báo một tai họa đi liền sau đám cưới của hắn, vậy nên trên thực tế hắn có thể từ bỏ đám cưới mà không cần từ bỏ cô gái vì lý do này, đúng hơn là sống với nàng trong mối quan hệ lãng mạn mà với kẻ tình nhân thì nó quá là vừa ý. Tuy nhiên, điều này lại mang hàm ý xúc phạm với cô gái bởi vì hắn không biểu đạt cái phổ quát trong tình yêu của mình với nàng. Tuy vậy, chuyện này lại là một đề tài cho cả thi sĩ lẫn nhà luân lý học, kẻ vốn dĩ muốn bảo vệ hôn nhân. Nói chung, nếu thi ca chú ý đến tôn giáo và nội tâm cá nhân, nó sẽ tìm được những chủ đề quan trọng hơn rất nhiều so với những cái mà hiện nay nó đang bận tâm. Trong thi ca người ta thường lặp đi lặp lại một câu chuyện sau: Một người đàn ông dính phải một cô gái mà hắn đã từng yêu, hoặc có lẽ chưa bao giờ thực sự yêu, bởi giờ đây hắn nhìn thấy một cô gái khác, cô này đúng là cô gái lý tưởng của hắn. Một người đàn ông phạm phải một sai lầm trong đời; nó đúng đường nhưng sai nhà, bởi ở ngay ngôi nhà đối diện; trên tầng hai có cô gái lý tưởng đang sống - đây chính là chủ đề mà người ta cho là thích hợp trong thi ca. Một kẻ tình nhân phạm phải một sai lầm, hắn nhìn thấy người yêu của mình qua ánh nến và nghĩ rằng cô ấy có mái tóc đen, nhưng, kìa, khi nhìn kỹ lại thì hóa ra cô ấy lại có mái tóc vàng - nhưng em gái cô ấy, đấy mới là người phụ nữ lý tưởng cơ! Cái này cũng được xem là một chủ đề thích hợp trong thi ca. Theo quan điểm của tôi thì bất kỳ gã đàn ông nào như vậy đều là một thằng xỏ lá mặt dày, kẻ vốn dĩ không đáng được tha thứ ở ngoài đời thực mà đáng bị la ó đuổi khỏi sân khấu khi hắn định tỏ vẻ khệnh khạng trong thi ca. Chỉ có đam mê chống lại đam mê mới làm nên xung đột thi ca, chứ không phải là một đám lộn nhộn những tiểu tiết trong cùng một đam mê. Vào thời Trung cổ chẳng hạn, khi một cô gái sau khi đã trải qua cảm giác đang yêu chắc mẩm rằng mọi tình yêu trần thế đều là tội lỗi và muốn có một tình yêu thần thánh hơn, thì đây là một xung đột thi ca, và cô gái cũng mang tính thơ, bởi cuộc đời cô nằm trong cái ý niệm. [Ghi chú của Kierkegaard.]

[23] 23. Ở đây Kierkegaard tham khảo chi tiết này từ tác phẩm Kịch nghệ Hamburg (Hamburgische Dramaturgie) của Lessing, tập I, mục 22. Bá tước xứ Essex ở đây là Robert Devereux (1565-1601), nhà quý tộc người Anh và là bồi thần sủng ái của Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhất (1533-1603). Ông được cho là người có một mối tình bí mật sâu đậm với Nữ hoàng Elizabeth - người vốn được nhân dân Anh quốc coi là đồng trinh vì bà không kết hôn. Năm 1601, ông tiến hành một cuộc đảo chính đòi Nữ hoàng phong ông là người bảo hộ của nước Anh nhưng đã thất bại và Nữ hoàng lúc này đã không còn kiên nhẫn với người tình phóng đãng của mình nữa. Chính bà đã ký bản án tử hình ông. Ông bị chặt đầu ngay trước cung điện.

[24] 24. Truyền thuyết Agnes và Người cá là một truyền thuyết rất phổ biến trong các bài dân ca và các tác phẩm văn chương ở Đan Mạch. Nhà văn Hans Christian Andersen cũng từng lấy truyền thuyết này đặt tên cho một đoạn ca kịch của ông.

[25] 25. Người ta cũng có thể ứng xử với huyền thoại này theo một cách khác. Người cá không muốn quyến rũ Agnes, mặc dù trước đây hắn đã quyến rũ rất nhiều người. Hắn không còn là người cá nữa, hoặc hắn là, nói vô phép, một người cá khốn khổ, kẻ vốn đã từ lâu ngồi dưới đáy biển sâu và sầu khổ. Tuy nhiên, hắn biết (bởi huyền thoại trên thực tế có nói đến điều này),α rằng hắn có thể được cứu vớt bằng tình yêu của một cô gái ngây thơ. Nhưng lương tâm của hắn cảm thấy ăn năn vì đã làm điều tồi tệ đối với những cô gái trẻ và vì thế hắn không dám đến gần họ nữa. Rồi hắn gặp Agnes. Đã rất nhiều lần, khi nằm ẩn mình trong đám lau sậy hắn trông thấy nàng bước đi bên bờ biển, vẻ đẹp của nàng, vẻ điềm tĩnh trầm lặng của nàng, làm cho hắn say đắm; nhưng chỉ có nỗi sầu muộn thống ngự tâm hồn hắn mà thôi, chẳng có một khao khát điên cuồng nào khuấy động trong đó cả. Và rồi khi người cá thở dài lẫn vào tiếng rì rào của lau sậy, nàng lắng tai về hướng đó, đứng lặng yên và mơ màng, quyến rũ hơn bất cứ người đàn bà nào và lại đẹp như một thiên thần giải thoát, kẻ vốn dĩ khơi gợi sự tự tin nơi người cá. Người cá lấy hết dũng khí, hắn tới gần Agnes, hắn có được tình yêu của nàng, hắn hy vọng mình được giải thoát. Nhưng Agnes đâu phải là một thiếu nữ trầm lặng, nàng yêu thích tiếng gầm của biển, và điều khiến nàng hài lòng với hơi thở dài buồn bã của những con sóng ấy là chỉ vì nó khiến cho tiếng gầm vang nơi lồng ngực của nàng trở nên mạnh mẽ hơn mà thôi. Nàng sẽ rời khỏi đây và đi xa, nàng sẽ điên cuồng lao ra ngoài vào cõi vô hạn với người cá, người nàng yêu dấu - vậy nên nàng kích động người cá. Nàng khinh thường đức khiêm nhường của hắn, và giờ đây lòng kiêu hãnh của hắn trỗi dậy. Thế là biển cả gầm rú, những con sóng ngầu bọt và người cá ôm lấy Agnes lao xuống làn nước sâu cùng với nàng. Chưa bao giờ hắn điên cuồng đến thế, chưa bao giờ hắn tràn trề khát vọng đến thế, bởi hắn hy vọng nhờ cô gái này mà tìm thấy sự giải thoát. Hắn nhanh chóng chán Agnes, nhưng chẳng ai tìm thấy xác nàng, bởi nàng biến thành một nàng tiên cá, kẻ chuyên đi dụ dỗ đàn ông bằng những bài hát của mình. [Ghi chú của Kierkegaard.] Chú thích: α Chi tiết này thực ra ở trong câu chuyện cổ tích “Người đẹp và Quái thú”, chứ không phải trong huyền thoại “Agnes và Người cá”.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.