LIỆU CÓ TỒN TẠI MỘT SỰ ĐÌNH BỎ CÓ TÍNH MỤC ĐÍCH LUẬN ĐỐI VỚI LUÂN LÝ HAY KHÔNG?
Luân lý hiểu theo nghĩa thông thường là cái phổ quát và với tư cách là cái phổ quát, nó áp dụng cho tất cả mọi người, mà cũng có thể diễn đạt từ một góc độ khác bằng cách nói rằng nó áp dụng cho mọi thời điểm. Xét về nội tại, nó dựa vào chính tự thân nó; nó chẳng có gì khác bên ngoài cái tự thân vốn dĩ là τέλօς [mục đích tối hậu] của nó, mà là chính tự thân nó, vốn dĩ là τέλօς [mục đích tối hậu] cho tất cả mọi thứ bên ngoài, và khi luân lý tích hợp điều này vào chính tự thân nó, thì nó chẳng thể nào tiến xa hơn được nữa. Được nhìn nhận như là một hữu thể trực tiếp thuộc về vật chất và tâm linh, cái cá thể là cái cá biệt có τέλօς [mục đích tối hậu] của nó nằm trong cái phổ quát, và bổn phận đạo đức của nó là luôn tự biểu đạt chính mình trong đó, để loại bỏ tính cá biệt của nó ngõ hầu trở nên cái phổ quát. Khi cái cá thể đòi hỏi sự cá biệt của hắn vượt lên trên cái phổ quát thì ngay lúc ấy hắn đã phạm tội rồi, và chỉ bằng cách thừa nhận điều này hắn mới có thể khiến bản thân mình hòa hợp trở lại với cái phổ quát. Mỗi khi cái cá thể sau khi đi vào cái phổ quát cảm thấy một sự thôi thúc đòi hỏi được tự khẳng định mình với tư cách là cái cá biệt, thì hắn đang nằm trong tình thế chịu thử thách cám dỗ, mà hắn chỉ có thể thoát ra khỏi bằng cách hối hận mà từ bỏ chính mình với tư cách là cái cá biệt nằm trong cái phổ quát. Nếu đây là điều cao cả nhất có thể nói về con người và sự hiện tồn của hắn, thì luân lý có cùng một bản tính với phúc lành vĩnh cửu của con người, vốn là τέλօς [mục đích tối hậu] vĩnh viễn của hắn tại mọi thời điểm; bởi trong trường hợp đó sẽ là mâu thuẫn khi nói rằng điều đó có thể bị từ bỏ (tức là bị đình bỏ có tính mục đích luận)[1] vì ngay khi điều đó vừa bị đình bỏ thì nó cũng bị tước bỏ luôn rồi, trong khi đó cái bị đình bỏ không bị tước bỏ mà trái lại còn được bảo vệ trong một cái gì đó cao hơn, vốn là τέλօς [mục đích tối hậu] của nó[2].
Nếu đúng như vậy thì Hegel hẳn là có lý khi trong chương về “Phúc thiện và Lương tâm”, ông định tính con người chỉ là cái cá thể và coi sự định tính này là “một dạng đạo đức của quỷ dữ” cần phải bị thủ tiêu trong mục đích luận của đạo đức, để từ đó cá thể nào vẫn ở tầm mức này hoặc sẽ phải mang tội hoặc sẽ ở tình thế phải chịu thử thách cám dỗ. Mặt khác, ông đã sai lầm khi nói về đức tin, sai lầm khi không phản kháng một cách kịch liệt và rõ ràng cái điều rằng Abraham vui hưởng danh vọng và vinh hiển với tư cách tổ phụ của đức tin, trong khi đáng ra ông ta phải bị truy tố và bị kết tội giết người[3].
Bởi đức tin chính là cái nghịch lý rằng cái cá thể đứng cao hơn cái phổ quát - nhưng theo một cách, xin lưu ý điều này, mà hành động này được lặp lại và dẫn tới cái hệ quả là cái cá thể, sau khi đi vào trong cái phổ quát, giờ đây với tư cách là cái cá biệt, tách mình ra đứng cao hơn cái phổ quát. Nếu đây không phải là đức tin, thì Abraham là kẻ bị hư mất và đức tin đã không bao giờ tồn tại trên thế giới này chính bởi vì nó đã luôn tồn tại. Bởi nếu luân lý - tức là đời sống đạo đức[4] - là cái tối cao và không có gì không tương xứng còn lại ở bên trong con người, ngoại trừ cái không tương xứng theo nghĩa cái ác (tức là cái cá biệt mà nó cần phải được biểu đạt trong cái phổ quát), thì người ta chẳng cần đến phạm trù nào khác ngoài những phạm trù mà triết học Hy Lạp đã có hoặc những thứ có thể suy luận ra từ chúng một cách hợp lý. Điều này đáng lý ra Hegel không nên che giấu mới phải, bởi xét cho cùng ông là người đã từng nghiên cứu triết học Hy Lạp.
Người ta không phải là không thường xuyên được nghe những kẻ thích đắm mình trong mớ sáo ngữ hơn là tập trung vào công việc học hành nghiên cứu nói rằng ánh sáng rọi chiếu trên khắp thế giới Cơ Đốc giáo, còn bóng tối thì bao trùm lên đám dân ngoại giáo[5]. Lối diễn đạt này với tôi luôn có gì đó thật kỳ quặc, bởi bất cứ nhà tư tưởng uyên thâm nào, bất cứ nghệ sĩ chân chính nào cũng đều đang tìm cách trẻ hóa mình bằng tuổi thanh xuân bất diệt của người Hy Lạp. Lối nói kiểu như vậy có thể được lý giải bằng cái nguyên cớ rằng người ta không biết phải nói gì mà chỉ là họ bắt buộc phải nói gì đó mà thôi. Hoàn toàn có lý khi nói rằng đám dân ngoại giáo không có đức tin, nhưng nếu ai đó định nói về điều này, thì họ ắt phải biết rõ hơn một chút về việc họ hiểu thế nào về đức tin, bởi nếu không họ cũng sẽ rơi vào chính những lối nói sáo ngữ kiểu như vậy. Thật là dễ dàng để diễn giải toàn bộ cuộc sống, cùng với đức tin ở trong đó, mà không cần có một chút ý niệm vào về đức tin, và kẻ nào trông vào lời ngợi khen vì có được cái khả năng diễn giải ấy thì cũng chưa đến nỗi là kẻ tính toán kém cỏi nhất trên đời này; bởi, như Boileau nói, “un sot trouve toujours un plus sot qui l’admire [một thằng ngu bao giờ cũng tìm được một thằng ngu hơn nó, ấy là kẻ ca tụng nó.]”[6]
Đức tin chính là cái nghịch lý, rằng cái cá thể, với tư cách là cái cá biệt, đứng cao hơn cái phổ quát, được biện minh trước cái phổ quát không phải ở vị trí thấp hơn mà ở vị trí cao hơn cái phổ quát, dù theo cách, xin lưu ý điều này, mà chính cá thể, sau khi được đặt dưới cái phổ quát như là cái cá biệt, giờ đây thông qua cái phổ quát trở nên cái cá thể, vốn được xét đến với tư cách là cái cá biệt, đứng cao hơn cái phổ quát, rằng cái cá thể, với tư cách là cái cá biệt, nằm trong mối liên hệ tuyệt đối với cái tuyệt đối. Vị trí này không thể trung giới được, bởi tất cả sự trung giới[7] xảy ra chính là nhờ cái phổ quát; nó là và vĩnh viễn sẽ mãi vẫn là một nghịch lý, mà tư duy không thể nào lĩnh hội được. Thế nhưng đức tin là cái nghịch lý ấy - hoặc không thì (và đây là những hệ quả mà tôi mong độc giả hãy ghi nhớ in mente [trong đầu], dù rằng với tôi nó quá rườm rà đến nỗi tôi không thể bạ chỗ nào cũng viết ra được) - hoặc không thì đức tin chẳng bao giờ tồn tại chính bởi vì đức tin đã luôn luôn tồn tại, hoặc không thì Abraham là kẻ bị hư mất.
Đúng là cá thể rất dễ nhầm lẫn cái nghịch lý ấy với một thử thách cám dỗ, nhưng người ta không nên vì lý do này mà che giấu nó. Cũng rất đúng cái điều rằng nhiều người cùng có chung một cảm giác khó chịu với cái nghịch lý ấy nhưng người ta không nên vì lý do này mà khiến cho đức tin trở nên một cái gì khác để mình cũng có thể có được nó, mà nên thừa nhận rằng mình không thể nào có được nó, trong khi những kẻ có đức tin cần sẵn sàng đặt ra những tiêu chí nào đó để mà từ đó người ta có thể thấy được cái nghịch lý ấy khác với một thử thách cám dỗ như thế nào.
Giờ đây câu chuyện của Abraham chứa đựng một sự đình bỏ có tính mục đích luận kiểu như vậy đối với luân lý. Không thiếu những bộ óc thông minh và những học giả uyên bác đã tìm thấy những điều tương tự như vậy. Sự thông tuệ của họ xuất phát từ cái định đề đẹp đẽ rằng về cơ bản mọi thứ đều như nhau. Nếu người ta nhìn kỹ hơn một chút, thì tôi không tin rằng người ta sẽ có thể tìm thấy một trường hợp tương tự như thế trong toàn bộ thế giới này, trừ một trường hợp sau[8], vốn chẳng chứng minh được điều gì cả, nếu như ta đã chắc chắn rằng Abraham là đại diện của đức tin, và rằng đức tin tìm thấy một sự biểu đạt phù hợp nơi ông, người mà cuộc đời của người ấy không chỉ là cái nghịch lý lớn nhất mà người ta có thể nghĩ ra được mà còn là cái nghịch lý lớn đến mức không ai có thể nghĩ tới được. Abraham hành động nhờ sự phi lý; bởi chính nhờ sự phi lý mà ông với tư cách là cái cá thể đứng cao hơn cái phổ quát. Nghịch lý này không thể trung giới được; bởi ngay khi bắt đầu thực hiện nó ông đã phải thừa nhận rằng mình đang ở tình trạng chịu thử thách cám dỗ, và nếu đúng là như vậy, ông sẽ chẳng bao giờ đi tới chỗ hiến tế Isaac, hoặc nếu có hiến tế Isaac thì ông ắt phải hối hận mà quay trở lại với cái phổ quát. Nhờ sự phi lý ông có lại được Isaac. Abraham do đó không bao giờ là một người anh hùng bi kịch mà là một cái gì đó hoàn toàn khác hẳn, hoặc là tên giết người hoặc là kẻ sùng tín. Cái thuật ngữ nằm ở giữa mà nhờ nó người anh hùng bi kịch được cứu vớt thì Abraham lại chẳng có. Vậy nên tôi có thể hiểu được người anh hùng của bi kịch nhưng lại không thể nào hiểu được Abraham dù rằng trên một bình diện điên khùng nào đó tôi ngợi ca ông còn hơn tất cả những kẻ khác.
Mối quan hệ của Abraham với Isaac, xét về luân lý mà nói, được thể hiện một cách hoàn toàn đơn giản bằng cách nói rằng người cha yêu đứa con trai còn hơn cả chính mình. Nhưng trong phạm vi của mình, luân lý có nhiều mức độ khác nhau, Chúng ta hãy suy xét xem liệu trong câu chuyện này có thể tìm thấy một sự biểu đạt cao hơn về mặt luân lý đến mức có thể giải thích về mặt luân lý hành động của ông, có thể biện minh về mặt luân lý cho ông trong việc rũ bỏ bổn phận mang tính luân lý đối với con mình, mà không vượt xa hơn tính mục đích luận của chính luân lý hay không.
Khi một công cuộc quốc gia đại sự bị cản trở[9], khi một sự nghiệp như vậy lâm vào bế tắc bởi trời không chiều lòng người, khi thần thánh nổi cơn thịnh nộ mang sự êm đềm đầy chết chóc tới nhạo báng hết thảy mọi nỗ lực, khi đấng tiên tri thực hiện nhiệm vụ nặng nề của mình và tuyên bố rằng thần thánh yêu cầu hiến tế một trinh nữ trẻ tuổi - thì khi đó người cha sẽ anh dũng thực hiện hành động hiến tế. Ông sẽ cao thượng che giấu nỗi đau của mình, mặc dù ông hẳn đã ước ao được là “một kẻ tiện dân dám khóc”[10], chứ không phải là một vị hoàng đế, người bắt buộc phải hành động tương xứng với vai trò của hoàng đế. Và mặc dù nỗi đau vẫn chảy thấu lồng ngực ông trong cô độc, bởi trong đám thuộc hạ ông chỉ có ba người bạn tâm giao[11], nhưng rồi chẳng mấy chốc cả dân tộc cũng sẽ biết đến nỗi đau của ông, và còn biết đến cả kỳ công của ông nữa, cái kỳ công rằng vì sự thịnh vượng của dân tộc ông đã nguyện hiến tế nàng, đứa con gái của ông, cô trinh nữ trẻ tuổi khả ái. Ôi bầu ngực quyến rũ! Ôi đôi má đẹp say lòng! Ôi mái tóc vàng rực sáng! (v.687)[12]. Và nước mắt của đứa con gái khiến ông mủi lòng, và người cha ngoảnh mặt đi, nhưng người anh hùng sẽ rút dao ra - khi chuyện này truyền đến nơi quê cha đất tổ, thì những người trinh nữ xinh đẹp xứ Hy Lạp sẽ say mê đỏ bừng đôi má, và nếu người con gái đã đính hôn, thì người yêu cô sẽ không giận dữ mà sẽ tự hào vì được chia sẻ trong kỳ công của người cha, bởi người trinh nữ xét về tình cảm thuộc về chàng nhiều hơn thuộc về người cha.
Khi vị thủ lãnh[13] quả cảm, người đã cứu Israel trong lúc hoạn nạn, vội giao ước với Thiên Chúa cùng một lời khấn hứa, ông sẽ anh dũng biến niềm hân hoan của người trinh nữ trẻ, niềm vui của đứa con gái yêu dấu thành cơn sầu khổ, và toàn bộ Israel sẽ cùng với nàng than khóc cho tuổi thanh xuân trinh trắng của nàng; nhưng tất cả những người đàn ông sinh ra đã là người tự do, tất cả người đàn bà can đảm sẽ ngợi ca Jephtha, và tất cả những trinh nữ của Israel sẽ mong được hành xử như con gái ông đã làm. Bởi có tốt lành gì đâu nếu Jephtha nhờ lời hứa mà vang khúc khải hoàn nhưng lại không giữ được lời hứa ấy? Biết đâu chiến thắng ấy sẽ không một lần nữa bị tước đi khỏi lòng dân tộc?
Khi đứa con trai quên đi bổn phận của mình[14], khi đất nước giao phó cho người cha thanh gươm công lý, khi pháp luật yêu cầu chính bàn tay của người cha phải trừng phạt, thì người cha phải anh dũng mà quên rằng kẻ tội đồ kia là đứa con trai của mình, ông sẽ cao thượng che giấu nỗi đau của mình, nhưng sẽ chẳng có một ai trong dân tộc, ngay cả đứa con trai, sẽ không ngợi ca người cha cả, và mỗi khi luật pháp thành Rome được diễn giải, người ta sẽ nhớ rằng mặc dù có rất nhiều kẻ diễn giải nó một cách uyên thâm hơn, nhưng không ai có thể diễn giải nó một cách vinh quang hơn Brutus.
Nếu, mặt khác, trong khi cơn gió xuôi chiều thổi căng buồm mang hạm đội về đích, Agamemnon đã gửi sứ giả tìm đến Iphigenia để hiến tế nàng; nếu Jephtha, không bị ràng buộc bởi bất kỳ lời hứa nào có tính chất quyết định đối với vận mệnh dân tộc, nói với con gái ông, “Hãy khóc thương cho sự trinh bạch của mi trong vòng hai tháng nữa đi, rồi sau đó ta sẽ hiến tế mi”; nếu Brutus có đứa con trai là người công chính nhưng vẫn ra lệnh cho vệ sĩ hành hình nó - vậy thì ai sẽ hiểu được họ đây? Nếu ba người này, khi được hỏi tại sao họ làm như vậy, đã trả lời rằng, “Đó là một thử thách mà chúng tôi đang phải chịu”, thì liệu người ta có thể hiểu họ hơn được không?
Khi Agamemnon, Jephtha, Brutus vào thời khắc quyết định đã dũng cảm vượt qua nỗi đau, đã dũng cảm đánh mất đứa con yêu dấu và chỉ có duy nhất cái nhiệm vụ bên ngoài phải thực thi, thì sẽ chẳng có tâm hồn cao quý nào trên thế giới này lại không nhỏ nước mắt thương cảm cho nỗi đau của họ, lại không nhỏ nước mắt ngợi ca kỳ công của họ. Nhưng nếu ba người này, vào thời khắc quyết định, cùng với hành động quả cảm của mình họ đã thốt ra lời mọn này, “Nhưng nó sẽ không xảy ra mà”, thì ai sẽ hiểu được họ đây? Nếu như họ tiếp tục giải thích thêm rằng, “Chúng tôi tin vào chuyện này nhờ sự phi lý”, thì ai sẽ hiểu được họ hơn đây? Bởi ai mà chẳng dễ dàng hiểu rằng điều ấy là phi lý nhưng ai mà hiểu được rằng người ta có thể vì cái điều phi lý ấy mà tin vào nó đây?
Sự khác biệt giữa người anh hùng bi kịch và Abraham là cực kỳ hiển nhiên. Người anh hùng bi kịch vẫn nằm trong luân lý. Hắn để cho một sự biểu đạt của luân lý tìm thấy τέλօς [mục đích tối hậu] của nó dưới dạng một sự biểu đạt cao hơn của luân lý; hắn hạ mức mối liên hệ luân lý giữa cha và con trai, hay giữa con gái và cha, xuống một tình cảm có tính biện chứng trong mối liên hệ của nó với ý niệm của đời sống đạo đức. Vì vậy một sự đình bỏ có tính mục đích luận đối với luân lý chắc chắn không thể nào tồn tại ở đây được.
Với Abraham tình thế hoàn toàn khác hẳn. Bằng hành động của mình ông hoàn toàn bước qua luân lý và có được một τέλօς [mục đích tối hậu] cao hơn nằm bên ngoài nó, trong mối liên hệ với cái mà vì nó ông đình bỏ luân lý. Bởi tôi rất muốn biết làm thế nào mà người ta có thể đưa hành động của Abraham vào trong mối hên hệ với cái phổ quát, và liệu có thể tìm thấy một mối liên hệ nào giữa hành động mà Abraham đã làm và cái phổ quát, ngoại trừ cái điều rằng ông đã vượt qua cái phổ quát. Không phải để cứu vớt dân tộc, không phải để duy trì lý tưởng của nhà nước mà Abraham làm việc này; mà cũng chẳng phải để làm nguôi cơn giận của các vị thần đang cuồng nộ. Nếu có một vị thần nào đó đang cuồng giận, thì rốt cuộc ngài chỉ giận dữ với Abraham và toàn bộ hành động của Abraham không nằm trong mối liên hệ với cái phổ quát, mà chỉ đơn thuần là nỗ lực cá nhân mà thôi. Do đó, trong khi người anh hùng bi kịch trở nên vĩ đại bởi đức hạnh đạo đức của mình, thì Abraham trở nên vĩ đại chỉ bởi đức hạnh cá nhân của mình mà thôi. Trong cuộc đời Abraham không có sự biểu đạt nào dành cho luân lý cao hơn cái điều rằng người cha cần phải yêu thương đứa con trai. Điều này không nghi ngờ gì nữa hoàn toàn phù hợp với luân lý xét trên bình diện của đời sống đạo đức. Chừng nào mà cái phổ quát còn hiện diện, thì chừng đó nó còn ẩn trong Isaac, ẩn giấu trong đó như thể nó đang ở trong lòng Isaac vậy, và vì thế nó phải gào lên bằng cái miệng của Isaac, “Đừng làm vậy! Cha đang phá hủy tất cả mọi thứ rồi đó”.
Vậy thì tại sao Abraham lại làm việc này? Vì Thiên Chúa, và - bởi hai cái này hoàn toàn giống nhau - vì chính bản thân mình. Ông làm việc này vì Thiên Chúa bởi Thiên Chúa đòi hỏi ông chứng tỏ đức tin của mình; ông làm việc này vì bản thân mình để từ đó ông có thể chứng tỏ nó. Sự hợp nhất của hai lý do này được biểu đạt một cách hoàn hảo bằng một từ hay được dùng để diễn tả mối quan hệ này: đó là một thử thách, là một sự cám dỗ. Một sự cám dỗ - nhưng điều đó có nghĩa là gì? Chúng ta thường gọi một cái gì đó là sự cám dỗ khi nó khiến một người bỏ bê việc thực hiện bổn phận của mình, nhưng ở đây sự cám dỗ là một thứ luân lý tự thân khiến cho kẻ kia bỏ bê việc thực hiện ý chí của Thượng đế. Nhưng vậy thì bổn phận là gì? Bổn phận chỉ đơn giản là sự biểu đạt cho ý chí của Thượng đế.
Ở đây rõ ràng cần thiết phải có một phạm trù mới để có thể hiểu được Abraham. Một mối hên hệ như vậy với thần thánh thì đám dân ngoại chẳng thể nào mà biết tới được. Người anh hùng bi kịch không tham gia vào bất kỳ mối liên hệ riêng tư nào với thần thánh, mà với hắn luân lý chính là thần thánh, và vì thế cái nghịch lý trong đó có thể trung giới được trong cái phổ quát.
Abraham không thể nào trung giới được, hay nói một cách khác, ông không thể nói ra. Ngay khi tôi nói ra thì tức là tôi đã biểu đạt cái phổ quát, và nếu tôi không làm như vậy thì sẽ chẳng ai hiểu được tôi. Do đó nếu Abraham muốn biểu đạt chính mình trong cái phổ quát, ông sẽ phải nói rằng tình thế của ông là một thử thách cám dỗ, bởi ông không có sự biểu đạt nào cao hơn dành cho cái phổ quát mà lại đứng trên cái phổ quát mà ông vốn đã vượt qua.
Do đó, mặc dầu Abraham gợi lên trong tôi niềm ngưỡng mộ, thì cùng lúc ông cũng khiến tôi kinh hoàng. Kẻ nào chối bỏ chính mình và hy sinh chính mình cho bổn phận thì sẽ từ bỏ cái hữu hạn để nắm bắt cái vô hạn và kẻ đó sẽ được đảm bảo một cách đầy đủ. Người anh hùng bi kịch từ bỏ cái chắc chắn để đổi lấy cái còn chắc chắn hơn, và con mắt của người quan sát tin tưởng dõi theo hắn. Nhưng kẻ nào từ bỏ cái phổ quát để nắm bắt cái gì đó còn cao hơn nhưng lại không phải là cái phổ quát - hắn đang làm gì vậy? Nó còn có thể là gì khác hơn nếu không phải là một thử thách cám dỗ? Và nếu nó đúng là cái khác, nhưng cá thể lại mắc sai lầm, thì sự cứu chuộc nào sẽ dành cho hắn đây? Hắn chịu đựng tất cả những nỗi đau của người anh hùng bi kịch, hắn biến mọi nỗi hân hoan của hắn trên thế giới này thành hư không, hắn từ bỏ mọi thứ, và có lẽ vào đúng khoảnh khắc đó hắn đã tự mình tước đi niềm hân hoan cao cả mà đối với hắn nó quý giá đến nỗi hắn sẵn sàng mua nó với bất cứ giá nào. Người quan sát không thể nào hiểu nổi hắn mà con mắt người đó cũng chẳng tin tưởng mà dõi theo hắn. Có lẽ điều mà người có đức tin dự định làm là hoàn toàn không thể thực hiện được, bởi rốt cuộc nó là cái mà người ta không thể nào hiểu được. Hoặc giả nó có thể thực hiện được, nhưng nếu cá nhân hiểu sai ý thần linh - thì sự cứu chuộc nào sẽ dành cho hắn đây? Người anh hùng bi kịch cần có nước mắt và đòi hỏi chúng và đâu rồi con mắt ghen tị khô cạn đến nỗi chẳng thể nào khóc than cùng Agamemnon? Nhưng đâu rồi con người với linh hồn bối rối đến nỗi dám cả gan khóc thương cho Abraham? Người anh hùng bi kịch hoàn tất hành động của mình vào một thời điểm xác định đúng lúc, nhưng cùng với thời gian hắn đã làm một việc không kém phần quan trọng, hắn đến thăm người đàn ông mà tâm hồn bị vây khốn bởi nỗi sầu khổ, lồng ngực của ông không thở nổi vì kìm nén những tiếng nức nở buồn đau, ý nghĩ của ông đong đầy nước mắt đè nặng trên con người ông; người anh hùng bi kịch xuất hiện trước mặt ông, xua tan cơn mê muội sầu khổ, nới lỏng xiềng xích, nhỏ hai hàng lệ và trong nỗi đau của người anh hùng bi kịch người đàn ông khốn khổ kia quên đi nỗi đau của mình. Người ta không thể than khóc cho Abraham. Người ta đến với ông bằng một thứ horror religiosus [tôn giáo kinh hoàng], như dân Israel tiến đến núi Sinai[15]. Vậy thì điều gì sẽ xảy ra nếu như người đàn ông cô đơn kia leo lên núi Moriah, mà đỉnh của nó vút lên tận trời cao giữa bình nguyên Aulis, điều gì sẽ xảy ra nếu như ông không phải là một kẻ mộng du mà là người bước đi vững chãi trên vực thẳm dù cho có những kẻ đặt chân lên núi, run rẩy nhìn xuống dưới mà lòng đầy sợ hãi và trong cơn sùng kính và kinh sợ đã không dám gọi đến ông - điều gì sẽ xảy ra nếu người đàn ông này bị rối tâm loạn trí, điều gì sẽ xảy ra nếu ông mắc sai lầm? Xin tạ ơn người, một lần nữa xin tạ ơn người, kẻ đã chìa tay ra cho một con người bị giày xéo và bỏ lại trần truồng trơ trụi bởi nỗi sầu đời, chìa tay ra đưa cho người đó mảnh lá lời để có thể che đậy cơn cùng khó[16]. Xin tạ ơn người, Shakespeare[17] vĩ đại, người có thể biểu đạt mọi thứ, hết thảy mọi thứ, một cách chính xác như nó là - thế nhưng cơn cớ gì mà người lại không bao giờ biểu đạt nỗi đau đớn này? Có lẽ nào người để dành nó cho chính người - giống như người ta yêu dấu mà tên người ấy mỗi khi được thế giới gọi ra ta không tài nào chịu nổi? Bởi thi nhân mua lấy sức mạnh của lời để nói ra hết thảy những bí mật kinh hoàng của người khác với cái giá là một điều bí mật nhỏ mọn của riêng mình mà hắn không thể nào thốt ra, và thi nhân chẳng phải là một sứ đồ, hắn chỉ xua ma đuổi quỷ bằng sức mạnh của ma quỷ mà thôi[18].
Nhưng giờ đây khi luân lý vì thế mà bị đình bỏ một cách có tính chất mục đích luận, thì cá thể nằm trong một cái vốn đã bị đình bỏ làm sao có thể tồn tại được? Hắn tồn tại như là cái cá biệt trong sự đối lập với cái phổ quát. Liệu khi đó hắn có phạm tội không? Bởi xét trên bình diện ý niệm thì đây là một hình thái của tội lỗi, cũng giống như việc một đứa trẻ mặc dù không phạm tội bởi nó vẫn còn chưa ý thức được về sự tồn tại của chính mình hiểu theo nghĩa thông thường nhưng sự tồn tại của nó, xét trên bình diện ý niệm, vẫn cứ là tội lỗi, và luân lý đòi hỏi quyền của nó đối với đứa trẻ kia từng giây từng phút một. Nếu người ta chối bỏ rằng hình thái tội lỗi này có thể được lặp lại [ở người lớn] theo cách mà nó không phải là tội lỗi, thì lời tuyên án đã giáng xuống Abraham rồi. Vậy thì làm thế nào Abraham tồn tại được? Ông đã có đức tin. Đây là cái nghịch lý đã giữ ông đứng trên đỉnh nhọn và là cái nghịch lý mà ông không thể làm sáng tỏ cho bất cứ kẻ nào khác được, bởi cái nghịch lý này là cái nghịch lý mà ông xét như cái cá thể tự đặt mình vào trong mối liên hệ tuyệt đối với cái tuyệt đối. Liệu ông có được biện minh không? Sự biện minh của ông một lần nữa lại là cái nghịch lý; bởi nếu ông được biện minh thì đó không phải là vì ông là một cái gì đó thuộc về cái phổ quát, mà là vì ông là cái cá thể cá biệt.
Vậy thì làm thế nào mà cá thể có thể tự bảo đảm cho chính mình rằng hắn được biện minh? Thật dễ dàng khi đồng nhất toàn bộ cuộc sống thành ý niệm nhà nước hoặc ý niệm xã hội[19]. Nếu điều này được thực hiện, thì nó cũng dễ dàng được trung giới, bởi khi đó người ta không phải chạm trán một chút nào với cái nghịch lý rằng cái cá thể với tư cách là cái cá biệt đứng cao hơn cái phổ quát, mà tôi cũng có thể biểu đạt nó một cách thích hợp trong cái định đề Pythagoras[20] rằng số lẻ hoàn hảo hơn số chẵn. Nếu trong thời đại của chúng ta người ta thỉnh thoảng nghe thấy một lời kháng biện thích đáng với cái nghịch lý này, thì thể nào nó cũng có hàm ý sau: “Nó sẽ được phán xét bằng kết quả”. Một người anh hùng, kẻ trở nên một σκάνδαλον [điều chướng tai gai mắt] đối với thời đại của hắn, khi ý thức được rằng hắn là một nghịch lý mà người ta không thể nào hiểu được sẽ ngạo nghễ mà gào lên với đám người đương thời rằng, “Kết quả chắc chắn sẽ chứng tỏ rằng tôi được biện minh”. Trong thời đại của chúng ta, khá hiếm khi được nghe một tiếng gào như vậy, bởi lẽ thời đại của chúng ta không tạo ra anh hùng, cái này vốn là khiếm khuyết của nó, và bù lại nó có ưu điểm là tạo ra được ít tranh biếm họa. Trong thời đại ngày nay, khi nghe thấy câu này, “Nó sẽ được phán xét dựa trên kết quả”, thì ta sẽ ngay lập tức biết rõ kẻ mà mình đang có hân hạnh được tiếp chuyện. Những kẻ nói chuyện kiểu như vậy có mà đông nhung nhúc, và tôi sẽ gọi bọn chúng bằng một cái tên chung là Docents [giảng viên][21]. Bọn chúng sống trong tư tưởng của mình, với một cuộc sống được bảo đảm, chúng có một vị trí vững chắc và một tương lai được bảo đảm trong một đất nước có kỷ cương trật tự, đã có hàng thế kỷ và thậm chí hàng thiên niên kỷ ngăn cách giữa chúng và những chấn động của cuộc sinh tồn; chúng chẳng sợ những thứ như vậy có thể lặp lại; bởi khi đó cảnh sát và báo chí sẽ nói gì đây? Công việc cả đời của bọn chúng là phán xét người vĩ đại, và phán xét họ dựa trên kết quả. Lối hành xử như vậy đối với người vĩ đại đã phản lại cái hợp phần kỳ lạ của sự kiêu mạn và sự khốn khổ: kiêu mạn vì bọn chúng tưởng rằng mình được người ta kêu gọi đưa ra lời phán xét, khốn khổ vì bọn chúng cảm thấy cuộc đời mình chẳng có liên quan gì, dù chỉ ở mức độ xa xôi, tới cuộc đời người vĩ đại cả. Kẻ nào có được dù chỉ một chút erectioris ingenii [tư chất cao quý] sẽ chẳng bao giờ trở thành giống nhuyễn thể lạnh lẽo và nhớt nhát, và khi hắn đến gần người vĩ đại, hắn không bao giờ thoát ra khỏi cái ý nghĩ rằng kể từ buổi Sáng thế đã hình thành nên cái quy luật rằng kết quả luôn đến sau cùng, và rằng nếu người ta thực sự học được cái gì đó từ người vĩ đại, thì chính cái khởi thủy mới là cái mà người ta phải cực kỳ chú ý đến. Nếu kẻ nào hành động để tự phán xét mình dựa trên kết quả, kẻ đó sẽ chẳng bao giờ khởi sự được. Mặc dầu kết quả có thể khiến cho toàn thể thế giới trở nên hân hoan, nó cũng không thể giúp ích gì cho người anh hùng, bởi người anh hùng chỉ biết kết quả khi toàn bộ mọi thứ đã kết thúc, và không phải bởi điều ấy mà hắn trở thành anh hùng mà hắn trở thành anh hùng bởi cái điều rằng hắn đã khởi sự.
Hơn nữa, kết quả (chừng nào nó còn là câu trả lời hữu hạn cho câu hỏi vô hạn) trong sự biện chứng của nó, hoàn toàn không tương thích với sự tồn tại của người anh hùng. Hoặc có thể nào việc Abraham có được Isaac bằng phép màu chứng tỏ rằng Abraham đã được biện minh trong việc liên hệ chính mình với tư cách là cái cá thể với cái phổ quát? Nếu như Abraham thực sự hiến tế Isaac, thì liệu ông có ít được biện minh hơn không?
Nhưng người ta lại tò mò về kết quả, hệt như kiểu họ tò mò về kết cục của một cuốn sách - họ chẳng muốn biết chút gì về nỗi thống khổ, niềm kinh hãi, và cái nghịch lý. Họ đùa bỡn một cách đầy mỹ học với kết quả, nó giống giải thưởng xổ số không chỉ ở chỗ nó tới theo cách không thể dự đoán được mà còn ở chỗ nó đến một cách dễ dàng nữa; và khi nghe thấy kết quả họ cảm thấy như được khai sáng. Nhưng ngay cả gã tội phạm cướp đền đến mức bị kết án khổ sai trong xiềng xích nào cũng chưa thể hèn hạ bằng những kẻ cướp đền theo cách như thế và thậm chí ngay cả Judas[22] kẻ bán Thầy mình lấy ba mươi đồng bạc cũng không thể đê tiện hơn những kẻ bán chác sự vĩ đại theo cách như thế.
Với tôi thật là khó chịu khi phải nói một cách phi nhân về sự vĩ đại, khi để vẻ huy hoàng của nó tối lịm dần thành một thể dạng mịt mùng ở chốn xa xôi, hay biểu đạt nó như sự vĩ đại mà bỏ qua cái thành tố con người vốn có vai trò vô cùng quan trọng - không có cái thành tố con người ấy thì sự vĩ đại không còn là sự vĩ đại nữa; bởi không phải cái xảy đến với tôi khiến tôi trở nên vĩ đại mà cái tôi làm mới khiến tôi trở nên vĩ đại, và hiển nhiên chẳng ai lại đi tin rằng một người trở nên vĩ đại bởi vì hắn trúng giải đặc biệt khi mua vé số. Ngay cả đối với một người được sinh ra trong những hoàn cảnh khiêm tốn, tôi cũng sẽ yêu cầu hắn không vì thế mà trở nên phi nhân với chính mình đến độ chỉ ở chốn xa xôi cách trở mới có thể nghĩ về lâu đài của nhà vua và mơ màng về sự vĩ đại của nó, và từ đó muốn tôn vinh và đồng thời phá bỏ nó luôn bởi vì hắn đã tôn vinh nó một cách hết sức ti tiện. Tôi cũng sẽ yêu cầu hắn phải có nhân tính đủ để bước đi và hành xử ở đó một cách tự tin và đàng hoàng. Hắn cũng không được trở nên phi nhân đến mức trâng tráo mà mong muốn vi phạm quy tắc kính trên nhường dưới bằng cách chạy thẳng một mạch từ ngoài đường vào lâu đài của nhà vua - bằng cách đó hắn mất nhiều hơn là nhà vua; trái lại, hắn nên kiếm tìm niềm khinh khoái trong việc quan sát mọi quy tắc cư xử đúng mực với một nhiệt tâm đầy hoan hỉ và tự tin, đó chính cái sẽ làm cho hắn trở nên bộc trực và chân thành. Đây chỉ đơn thuần là một phép ẩn dụ tương đồng, bởi cái khác biệt ở đây chỉ là một sự biểu đạt rất không hoàn hảo của khoảng cách tinh thần. Tôi yêu cầu mọi người không nên tự nghĩ về mình một cách phi nhân đến độ không dám bước vào những lâu đài đó, nơi không chỉ ký ức của những kẻ được chọn đang sống ở đó mà còn là nơi chính những kẻ được chọn đang sống ở đó. Hắn không được nóng vội đến độ trâng tráo tiến vào trong và cho rằng mình ở cùng một đẳng cấp với họ; ngược lại hắn nên vui mừng mỗi khi cúi rạp mình trước họ, nhưng hắn cũng nên bộc trực và tự tin và luôn là một cái gì đó hơn là một bà giúp việc; bởi nếu hắn không muốn là một cái gì đó hơn thế thì hắn sẽ chẳng bao giờ được phép bước vào đó. Và điều sẽ giúp hắn làm được việc đó chính là nỗi kinh hoàng và thống khổ mà những kẻ vĩ đại được thử thách ở trong đó, bởi nếu không, nếu hắn có một chút nghị lực trong mình, thì họ sẽ chỉ gợi lên nỗi ghen tị chính đáng nơi hắn mà thôi. Và những gì chỉ có thể vĩ đại khi đã ở cách xa, những gì mà người ta muốn đề cao thành vĩ đại nhờ vào những lối diễn đạt rỗng tuếch, thì những cái đó đã bị chính những con người đó phá hủy hết sạch rồi.
Trên thế gian, ai có thể vĩ đại sánh bằng người phụ nữ được ân sủng này, Mẹ Thiên Chúa, Đức Mẹ Đồng trinh Maria? Thế nhưng người ta nói về bà như thế nào? Nói rằng bà được ân sủng nhiều hơn so với những người đàn bà khác không làm cho bà trở nên vĩ đại và nếu không phải là quá ư kỳ cục cái sự rằng người nghe cũng có thể suy nghĩ một cách phi nhân hệt như kẻ nói, thì mỗi cô gái trẻ đều có thể hỏi, “Cơn cớ gì mà tôi lại không phải là người được ân sủng nhiều hơn chứ?”. Và nếu tôi không còn gì khác để nói, thì hẳn là tôi sẽ không gạt bỏ một câu hỏi như vậy vì cho rằng nó thật ngu xuẩn, bởi đối với vấn đề ân sủng, xét một cách trừu tượng, thì mọi người đều được hưởng như nhau. Cái mà họ bỏ qua là nỗi thống khổ, niềm kinh hãi, và cái nghịch lý. Suy nghĩ của tôi cũng thuần khiết như của bất kỳ ai, và ý nghĩ của bất kỳ người nào suy nghĩ theo cách đó chắc chắn cũng sẽ trở nên thuần khiết; nếu không, điều kinh hoàng có thể đang đợi hắn; bởi kẻ nào đã một lần gợi nhắc đến những hình ảnh đó trong đầu sẽ không thể nào loại chúng ra khỏi đầu được nữa, và nếu hắn phạm tội chống lại chúng, chúng sẽ trả thù bằng cơn giận dữ lặng câm, còn kinh hoàng hơn sự om xòm của mười nhà phê bình hiểm ác cộng lại. Đúng là Maria đã sinh ra đứa trẻ một cách mầu nhiệm, nhưng nó không xảy ra với bà “như thế thường của đàn bà”[23], và thời gian này chính là thời gian của những nỗi thống khổ, niềm kinh hãi, và cái nghịch lý. Đúng là vị thiên sứ là thần hầu việc, nhưng ngài không phải là thần lăng xăng để mà lần lượt đi gặp tất cả trinh nữ trẻ của Israel và nói rằng, “Chớ có khinh miệt Maria. Điều xảy đến với bà là một sự phi thường”. Nhưng thiên sứ chỉ đến với Maria, và chẳng ai có thể hiểu bà. Rốt cuộc, đã có người đàn bà nào từng bị xúc phạm như Maria chưa? Và há chẳng phải không đúng sao, cũng trong trường hợp này, cái điều rằng kẻ nào được Thiên Chúa ân sủng thì đồng thời cũng bị Ngài nguyền rủa? Đây là quan điểm của thần khí về Maria, và bà hoàn toàn không phải là - tôi thực sự căm phẫn khi nói ra điều này, nhưng tôi thậm chí còn căm phẫn hơn khi thấy người ta đã nhìn nhận về bà một cách thiếu suy nghĩ và vô trách nhiệm như vậy - bà hoàn toàn không phải là một thiếu phụ ngồi tiêu khiển trong bộ đồ lộng lẫy và chơi đùa với đứa con của Chúa. Mặc dù vậy, khi bà nói, “Tôi đây là tôi tớ của Chúa”[24] - thì khi ấy bà đã trở nên vĩ đại, và tôi nghĩ rằng người ta sẽ chẳng gặp chút khó khăn nào trong việc giải thích tại sao bà lại trở nên Mẹ Thiên Chúa. Bà chẳng cần đến những tụng ca trần thế, cũng như Abraham chẳng cần đến nước mắt nhân gian, bởi bà chẳng phải là một anh thư, và ông cũng chẳng phải là một anh hùng, nhưng cả hai đều trở nên vĩ đại hơn kẻ anh hùng, chẳng phải vì họ được miễn phải chịu nỗi thống khổ, niềm kinh hãi, và cái nghịch lý, mà họ trở nên vĩ đại hơn chính nhờ trải qua những cái đó.
Vĩ đại thay nhà thơ, khi phô bày người anh hùng bi kịch của hắn cho đám đông ngợi ca, đã dám nói rằng, “Hãy khóc than cho người, bởi người xứng đáng với điều đó”. Bởi vĩ đại thay khi dành nước mắt cho kẻ nào đáng để ta rỏ nước mắt. Vĩ đại thay nhà thơ dám kiềm tỏa đám đông không cho họ manh động, dám khiển trách đám người kia, yêu cầu mỗi người hãy tự xét mình xem liệu có đáng được khóc than cho người anh hùng hay không. Bởi dòng nước thải của bọn thương vay khóc mướn sẽ làm ô uế chốn linh thiêng. Nhưng vĩ đại hơn cả là người hiệp sĩ đức tin dám nói với kẻ quý tộc đang khóc than cho mình, “Chớ có khóc than cho ta, mà hãy khóc than cho chính ngươi đó”[25].
Ta vô cùng xúc động, ta quay trở lại thời kỳ tươi đẹp trước kia, một mong mỏi ngọt ngào dẫn dắt ta tới mục tiêu mong muốn, được thấy Đấng Kitô đi dạo trên đất hứa. Ta quên đi nỗi thống khổ, niềm kinh hãi, và cái nghịch lý. Để không bao giờ mắc sai lầm, điều ấy liệu có dễ dàng không? Kìa con người đang bước đi giữa đám đông kia, người chính là Thiên Chúa đó, điều ấy há chẳng phải đáng kinh hãi lắm sao? Được ngồi cùng bàn ăn với Người, điều ấy há chẳng phải đáng kinh hãi lắm sao? Để trở thành một Đấng Tông Đồ, điều ấy liệu có dễ dàng không? Nhưng kết quả đó, mười tám thế kỷ[26] - nó giúp, nó giúp cho sự lừa dối hạ tiện mà thiên hạ dùng để tự lừa dối mình và lừa dối người khác. Tôi thấy mình không có đủ dũng khí để mong ước trở thành kẻ đương thời với những sự kiện đó, nhưng vì thế tôi sẽ không gay gắt phán xét những kẻ mắc sai lầm, hay suy nghĩ một cách ti tiện về những người thấu hiểu chân lý.
Nhưng giờ thì tôi quay trở về với Abraham. Trong thời gian trước khi có kết quả, thì hoặc Abraham trong mọi thời khắc là một tên giết người, hoặc chúng ta đứng trước cái nghịch lý cao hơn tất cả mọi sự trung giới.
Câu chuyện của Abraham do đó chứa đựng sự đình bỏ có tính mục đích luận đối với luân lý. Ông, với tư cách là cái cá thể, đứng cao hơn cái phổ quát. Đây là cái nghịch lý không thể trung giới được. Không thể giải thích được làm thế nào ông vào được trong nó cũng giống như không thể giải thích được làm thế nào ông vẫn ở bên trong nó. Nếu đây không phải là tình thế của Abraham, thì ông thậm chí còn chẳng được là người anh hùng bi kịch mà chỉ là kẻ giết người. Thật là thiếu suy nghĩ khi mong muốn tiếp tục được gọi ông là tổ phụ của đức tin, thật là thiếu suy nghĩ khi nói ra điều này với những kẻ chỉ quan tâm đến lời nói. Một người có thể trở thành một anh hùng bi kịch bằng chính sức mạnh của mình - nhưng không thể trở thành hiệp sĩ đức tin theo cách đó được. Khi một người đi trên con đường mà, trên một bình diện nào đó, chính là con đường gian nan của người anh hùng bi kịch thì nhiều người sẽ có thể khuyên nhủ hắn; nhưng kẻ nào đi theo con đường hẹp của đức tin thì chẳng ai có thể khuyên nhủ được hắn, chẳng ai có thể hiểu được hắn. Đức tin là một phép màu, thế nhưng không người nào bị loại trừ khỏi nó; bởi thứ hợp nhất toàn bộ cuộc sống con người lại chính là đam mê[27], và đức tin là một đam mê.
❀ ❀ ❀
[1] 1. Bác thợ may mà Kierkegaard để cập ở đây là bác thợ may trong truyện cổ tích “Bác thợ may lên Trời” trong tập Truyện cổ Grimm của anh em nhà Grimm.
[2] 2. Heraclitus (khoảng 535-475, TCN) là một nhà triết học vĩ đại người Hy Lạp thời Tiền Socrates. Ông là người đầu tiên đưa ra tư tưởng về sự vận động biến đổi không ngừng của sự vật với câu nói nổi tiếng, “Không ai tắm hai lấn trên cùng một dòng sông”. Ông được mang biệt danh “nhà triết học tới nghĩa” vì phương pháp trình bày rất phức tạp và khó hiểu mặc dù tư tưởng của ông vô cùng sâu sắc.
[3] 3. Tham khảo thêm tác phẩm Cratylus § 402 (thuộc dòng các tác phẩm đối thoại với Socrates, hay rộng hơn là đối thoại theo kiểu Socrates) của Plato.
[4] 4. Người học trò này là nhà triết học Cratylus, một người Athene cùng thời với Socrates. Cratylus chủ yếu được biết đến nhờ được nhắc tên trong tác phẩm Cratylus (thuộc dòng các tác phẩm đối thoại với Socrates, hay rộng hơn là đối thoại theo kiểu Socrates) của Plato.
[5] 5. Chi tiết này nằm trong tác phẩm Geschichte der Philosphie của Tenneman.
[6] 6. Trường phái Elea (Eleatic school) được coi là một trong những trường phái triết học nổi tiếng nhất Hy Lạp thời Tiền Socrates do nhà triết học Parmenides xứ Elea (người sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ sáu và thứ năm trước Công Nguyên) sáng lập ra. Một trong những nhà triết học nổi tiếng nhất thuộc trường phái này là nhà triết học Zeno xứ Elea (490 - 430 TCN), người nổi tiếng vì đã xây dựng những nghịch lý trừu tượng trong đó cho rằng sự vận động là bất khả, trong đó nổi tiếng nhất là nghịch lý Achilles không bao giờ đuổi kịp con rùa (còn gọi là nghịch lý Zeno). Aristotle gọi ông là người phát minh ra phép biện chứng. Bertrand Russell đánh giá những nghịch lý trừu tượng của ông là “tinh tế và sâu sắc đến mức không thể đong đếm được”. Ông có lẽ là người đầu tiên đưa ra phương pháp lập luận chứng minh bằng phản chứng. Người bác bỏ nghịch lý Achilles không bao giờ đuổi kịp con rùa là Diogenes, người sáng lập ra phái Khuyển nho (Cynics).
[7] 7. Ám chỉ Iphigenia trong vở kịch Iphigenia ở Tauris của Euripides. Người em trai mà Iphigenia định hiến tế ở đây là Orestes.
[8] 8. Nhận định này được Aristotle để cập trong tác phẩm Lịch sử tự nhiên (Natural History), quyển V, chương 4.
[9] 9. Câu này dịch theo bản dịch của Walter Lowrie và bản dịch của Hong và Hong. Trong hai bản dịch, một của Alasstair Hannay và một của Sylvia Walsh, câu này được dịch thành, “Nó khiến người ta tin vào hiện thực và có đủ dũng khí để chiến đấu chống lại tất cả những nỗi thống khổ của hiện thực, hơn là chống lại những nỗi đau thiếu sinh khí mà người ta đã tự gánh lấy vì trách nhiệm”.
[10] 10. Hai người ở đây là hai người ở đoạn trước, tức là đôi trai gái thầm yêu nhau và thầm hy sinh cho nhau bằng cách không tiết lộ tình cảm của mình cho người kia biết.
[11] 11. Xem Kinh Thánh, sách Mark 1:11. “Lại có tiếng từ trên trời phán rằng: Ngươi là Con yêu dấu của ta, làm đẹp lòng ta mọi đàng”.
[12] 12. Xem Kinh Thánh, sách Thủ lãnh (Judges) 11:38. “Jephtha đáp rằng: Con cứ đi. Rồi người để nàng đi hai tháng. Vậy, nàng đi cùng chị em bạn mình, khóc sự đồng trinh mình tại trên núi”.
[13] 13. Ở Hy Lạp, cành olive tượng trưng cho sự khẩn nài.
[14] 14. Những hành động và quan điểm như thế vẫn có thể là chủ đề cho cuộc luận bàn về mỹ học. Tuy nhiên, việc đức tin và toàn bộ đời sống của đức tin có thể là chủ đề cho một cuộc luận bàn như thế hay không thì tôi xin được bỏ ngỏ. Chỉ là, bởi vì với tôi luôn là một niềm vui sướng khi được bày tỏ lòng biết ơn đến người mà tôi mang ơn, tôi muốn cảm ơn Lessing vì một vài gợi ý về một vở kịch mang tính Cơ Đốc giáo được tìm thấy trong tác phẩm Hamburgische Dramaturgie (Kịch nghệ Hamburg) của ông. Mặc dù vậy, ông vẫn giữ vững cái nhìn của mình lên khía cạnh thần thánh đơn thuần của cuộc đời này (chiến thắng hoàn hảo) và vì thế ông có những nghi ngại; có lẽ ông hẳn đã thể hiện một sự phán xét khác nếu như ông ý thức nhiều hơn nữa đến khía cạnh con người thuần túy (theologia viatorum [Thần học của những kẻ hành hương]). Không nghi ngờ gì nữa điều ông nói là rất ngắn gọn và có phần lảng tránh, nhưng bởi tôi luôn vui mừng khi có được sự đồng hành của Lessing, tôi nắm lấy cơ hội ấy ngay lập tức. Lessing không chỉ là một trong những trí tuệ thông thái nhất mà nước Đức có, ông không chỉ sở đắc một sự chính xác hiếm thấy trong kiến thức của mình (bởi lý do này mà người ta có thể hoàn toàn tin tưởng ông và những phân tích đánh giá của ông mà không sợ bị lừa bịp bởi những trích dẫn đại khái không rõ nguồn, bởi những lối diễn đạt nửa vời được rút ra từ những trích yếu không đáng tin cậy, hoặc bị đánh lạc hướng bởi những lời đại ngôn ngu xuẩn về những điều mới mẻ mà những người đi trước đã dẫn giải từ lâu rồi, thậm chí còn sâu sắc hơn rất nhiều) - mà ông còn đồng thời sở đắc một tài năng vô cùng khác thường trong việc lý giải điều chính ông hiểu rõ. Ông dừng lại ở đó. Trong thời đại chúng ta người ta lại vượt xa hơn và lý giải nhiều hơn điều mà họ hiểu. [Ghi chú của Kierkegaard.]
[15] 15. Quyển V, chương 4. Tác phẩm này đã được xuất bản ở Việt Nam với nhan đề Chính trị luận. Chi tiết mà Kierkegaard đề cập có thể xem thêm trong Chính trị luận của Aristotle do Nông Duy Trường dịch và chú giải, NXB Thế giới 2013, trang 273.
[16] 16. Ở đây Kierkegaard có sự nhầm lẫn hoặc có thể ông cố ý thêm thắt vào một vài chi tiết để minh họa cho luận điểm của mình. Thực ra, trong tác phẩm Chính trị học, Aristotle chỉ kể rằng trên đường đi rước dâu, chú rể thấy chuyện gì đó cho là điềm bất thường nên quay lại không chịu rước dâu nữa. Nhưng Kierkegaard lại thêm vào chi tiết chú rể được các nhà tiên tri cảnh báo về tai họa sẽ xảy ra và trong nguyên tác ông dùng từ Augur để chỉ các nhà tiên tri này. Đúng ra, từ Augur này chỉ các thầy tu ở La Mã cổ đại; các thầy tu này là những người tiên tri sự kiện tương lai bằng cách diễn giải các dấu hiệu, nhưng Kierkegaard lại áp dụng từ này cho câu chuyện xảy ra ở Hy Lạp.
[17] 17. Theo như Aristotle, thảm họa lịch sử xảy ra như sau. Để trả thù, gia đình cô dâu cho một cái bình thờ của đền thờ lẫn vào đồ đạc nhà bếp nhà chú rể, và chú rể bị kết tội ăn cắp đồ thờ. Tuy nhiên, điều này chẳng quan trọng gì, bởi vấn đề không phải là gia đình này khôn ngoan hay ngu dại xét trong cách họ trả thù. Gia đình này chỉ đạt được ý nghĩa lý tưởng khi nó được đưa vào trong cái biện chứng của người anh hùng. Hơn nữa, nó đủ mang tính chất định mệnh đến mức chú rể gieo mình vào hiểm nguy trong khi hắn lại đang muốn tránh khỏi hiểm nguy bằng cách không cưới xin gì nữa, và đồng thời nó cũng mang tính chất định mệnh đến mức mà cuộc sống của hắn đi tới chỗ gặp gỡ thần thánh theo một lối kép: đầu tiên thì bằng lời nói của nhà tiên tri, và sau đó bằng việc bị kết tội ăn cắp đồ thờ. [Ghi chú của Kierkegaard.]
[18] 18. Ý là hôn nhân là do thiên định.
[19] 19. Xem Kinh Thánh, sách Matthew 19:6. “Vậy, loài người không nên phân rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời đã phối hiệp!”.
[20] 20. Kierkegaard tin rằng cuộc hôn nhân của ông bị thần thánh ngăn cản.
[21] 21. Axel và Valborg là hai nhân vật chính trong vở bi kịch năm hồi của Adam Oehlenschläger, Axel og Valborg, Oehlenschlägers Tragødier, IX (Copenhagen: 1841-49; ASKB1601-05), V, trang 4-111. Axel và Valborg có họ hàng gần với nhau do đó bị Nhà thờ không cho phép làm đám cưới chừng nào họ chưa được phép của giáo hoàng. Tuy nhiên, sau đó, người ta phát hiện ra rằng họ được làm phép rửa tội như anh trai và em gái (rửa tội trong cùng một ngày ở cùng một nhà thờ), điều này lại càng cản trở cuộc hôn nhân của họ (xem trang 9 và 49).
[22] 22. Hơn nữa, từ điểm này người ta có thể thực hiện những hành động biện chứng theo một chiều hướng khác. Trời xanh tiên báo một tai họa đi liền sau đám cưới của hắn, vậy nên trên thực tế hắn có thể từ bỏ đám cưới mà không cần từ bỏ cô gái vì lý do này, đúng hơn là sống với nàng trong mối quan hệ lãng mạn mà với kẻ tình nhân thì nó quá là vừa ý. Tuy nhiên, điều này lại mang hàm ý xúc phạm với cô gái bởi vì hắn không biểu đạt cái phổ quát trong tình yêu của mình với nàng. Tuy vậy, chuyện này lại là một đề tài cho cả thi sĩ lẫn nhà luân lý học, kẻ vốn dĩ muốn bảo vệ hôn nhân. Nói chung, nếu thi ca chú ý đến tôn giáo và nội tâm cá nhân, nó sẽ tìm được những chủ đề quan trọng hơn rất nhiều so với những cái mà hiện nay nó đang bận tâm. Trong thi ca người ta thường lặp đi lặp lại một câu chuyện sau: Một người đàn ông dính phải một cô gái mà hắn đã từng yêu, hoặc có lẽ chưa bao giờ thực sự yêu, bởi giờ đây hắn nhìn thấy một cô gái khác, cô này đúng là cô gái lý tưởng của hắn. Một người đàn ông phạm phải một sai lầm trong đời; nó đúng đường nhưng sai nhà, bởi ở ngay ngôi nhà đối diện; trên tầng hai có cô gái lý tưởng đang sống - đây chính là chủ đề mà người ta cho là thích hợp trong thi ca. Một kẻ tình nhân phạm phải một sai lầm, hắn nhìn thấy người yêu của mình qua ánh nến và nghĩ rằng cô ấy có mái tóc đen, nhưng, kìa, khi nhìn kỹ lại thì hóa ra cô ấy lại có mái tóc vàng - nhưng em gái cô ấy, đấy mới là người phụ nữ lý tưởng cơ! Cái này cũng được xem là một chủ đề thích hợp trong thi ca. Theo quan điểm của tôi thì bất kỳ gã đàn ông nào như vậy đều là một thằng xỏ lá mặt dày, kẻ vốn dĩ không đáng được tha thứ ở ngoài đời thực mà đáng bị la ó đuổi khỏi sân khấu khi hắn định tỏ vẻ khệnh khạng trong thi ca. Chỉ có đam mê chống lại đam mê mới làm nên xung đột thi ca, chứ không phải là một đám lộn nhộn những tiểu tiết trong cùng một đam mê. Vào thời Trung cổ chẳng hạn, khi một cô gái sau khi đã trải qua cảm giác đang yêu chắc mẩm rằng mọi tình yêu trần thế đều là tội lỗi và muốn có một tình yêu thần thánh hơn, thì đây là một xung đột thi ca, và cô gái cũng mang tính thơ, bởi cuộc đời cô nằm trong cái ý niệm. [Ghi chú của Kierkegaard.]
[23] 23. Ở đây Kierkegaard tham khảo chi tiết này từ tác phẩm Kịch nghệ Hamburg (Hamburgische Dramaturgie) của Lessing, tập I, mục 22. Bá tước xứ Essex ở đây là Robert Devereux (1565-1601), nhà quý tộc người Anh và là bồi thần sủng ái của Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhất (1533-1603). Ông được cho là người có một mối tình bí mật sâu đậm với Nữ hoàng Elizabeth - người vốn được nhân dân Anh quốc coi là đồng trinh vì bà không kết hôn. Năm 1601, ông tiến hành một cuộc đảo chính đòi Nữ hoàng phong ông là người bảo hộ của nước Anh nhưng đã thất bại và Nữ hoàng lúc này đã không còn kiên nhẫn với người tình phóng đãng của mình nữa. Chính bà đã ký bản án tử hình ông. Ông bị chặt đầu ngay trước cung điện.
[24] 24. Truyền thuyết Agnes và Người cá là một truyền thuyết rất phổ biến trong các bài dân ca và các tác phẩm văn chương ở Đan Mạch. Nhà văn Hans Christian Andersen cũng từng lấy truyền thuyết này đặt tên cho một đoạn ca kịch của ông.
[25] 25. Người ta cũng có thể ứng xử với huyền thoại này theo một cách khác. Người cá không muốn quyến rũ Agnes, mặc dù trước đây hắn đã quyến rũ rất nhiều người. Hắn không còn là người cá nữa, hoặc hắn là, nói vô phép, một người cá khốn khổ, kẻ vốn đã từ lâu ngồi dưới đáy biển sâu và sầu khổ. Tuy nhiên, hắn biết (bởi huyền thoại trên thực tế có nói đến điều này),α rằng hắn có thể được cứu vớt bằng tình yêu của một cô gái ngây thơ. Nhưng lương tâm của hắn cảm thấy ăn năn vì đã làm điều tồi tệ đối với những cô gái trẻ và vì thế hắn không dám đến gần họ nữa. Rồi hắn gặp Agnes. Đã rất nhiều lần, khi nằm ẩn mình trong đám lau sậy hắn trông thấy nàng bước đi bên bờ biển, vẻ đẹp của nàng, vẻ điềm tĩnh trầm lặng của nàng, làm cho hắn say đắm; nhưng chỉ có nỗi sầu muộn thống ngự tâm hồn hắn mà thôi, chẳng có một khao khát điên cuồng nào khuấy động trong đó cả. Và rồi khi người cá thở dài lẫn vào tiếng rì rào của lau sậy, nàng lắng tai về hướng đó, đứng lặng yên và mơ màng, quyến rũ hơn bất cứ người đàn bà nào và lại đẹp như một thiên thần giải thoát, kẻ vốn dĩ khơi gợi sự tự tin nơi người cá. Người cá lấy hết dũng khí, hắn tới gần Agnes, hắn có được tình yêu của nàng, hắn hy vọng mình được giải thoát. Nhưng Agnes đâu phải là một thiếu nữ trầm lặng, nàng yêu thích tiếng gầm của biển, và điều khiến nàng hài lòng với hơi thở dài buồn bã của những con sóng ấy là chỉ vì nó khiến cho tiếng gầm vang nơi lồng ngực của nàng trở nên mạnh mẽ hơn mà thôi. Nàng sẽ rời khỏi đây và đi xa, nàng sẽ điên cuồng lao ra ngoài vào cõi vô hạn với người cá, người nàng yêu dấu - vậy nên nàng kích động người cá. Nàng khinh thường đức khiêm nhường của hắn, và giờ đây lòng kiêu hãnh của hắn trỗi dậy. Thế là biển cả gầm rú, những con sóng ngầu bọt và người cá ôm lấy Agnes lao xuống làn nước sâu cùng với nàng. Chưa bao giờ hắn điên cuồng đến thế, chưa bao giờ hắn tràn trề khát vọng đến thế, bởi hắn hy vọng nhờ cô gái này mà tìm thấy sự giải thoát. Hắn nhanh chóng chán Agnes, nhưng chẳng ai tìm thấy xác nàng, bởi nàng biến thành một nàng tiên cá, kẻ chuyên đi dụ dỗ đàn ông bằng những bài hát của mình. [Ghi chú của Kierkegaard.] Chú thích: α Chi tiết này thực ra ở trong câu chuyện cổ tích “Người đẹp và Quái thú”, chứ không phải trong huyền thoại “Agnes và Người cá”.
[26] 26. Mỹ học thỉnh thoảng vẫn ứng xử với một chủ đề tương tự bằng thói đỏng đảnh thông thường của nó. Người cá được Agnes cứu vớt, và toàn bộ câu chuyện kết thúc bằng một đám cưới hạnh phúc. Một đám cưới hạnh phúc! Việc ấy chắc chắn vô cùng dễ dàng. Tuy nhiên, nếu luân lý định nói lời phát biểu chúc mừng đám cưới, thì tôi cho rằng đó sẽ là một chuyện hoàn toàn khác. Mỹ học choàng chiếc áo tình yêu lên người cá, và vì thế mọi thứ bị lãng quên. Đồng thời, nó cũng thật khinh suất khi cho rằng ở đám cưới mọi thứ diễn ra giống như trong một phiên đấu giá mà ở đó mọi thứ được bán đi khi chiếc búa gõ xuống. Tất cả những thứ nó quan tâm là kẻ tình nhân đến được với nhau, những cái còn lại không đáng bận tâm. Giá mà nó có thể nhìn thấy cái gì xảy ra sau đó - nhưng nó chẳng có thời gian cho việc đó, nó ngay lập tức tất bật tiến hành công việc tác hợp một cặp tình nhân mới. Mỹ học là một ngành khoa học kém chung thủy nhất trong mọi ngành khoa học. Tất cả những kẻ say đắm yêu nó, theo một nghĩa nào đó, đều trở nên bất hạnh, trong khi kẻ nào không bao giờ yêu nó thì kẻ đó là và sẽ mãi vẫn là một pecus [kẻ có đầu óc bã đậu]. [Ghi chú của Kierkegaard.]
[27] 27. Trong phần thảo luận trước, tôi đã cố ý tránh nhắc đến vấn đề tội lỗi và hiện thực của nó. Toàn bộ cuộc thảo luận tập trung vào Abraham, và tôi có thể tiếp cận ông bằng những phạm trù trực tiếp, tức là, chừng nào tôi còn có thể hiểu được ông. Ngay khi tội lỗi xuất hiện, luân lý sụp đổ trên chính nỗi ăn năn; bởi sự ăn năn là sự biểu đạt luân lý cao nhất, nhưng chính thế mà nó là sự tự mâu thuẫn luân lý sâu sắc nhất. [Ghi chú của Kierkegaard.]