Kính Sợ Và Run Rẩy

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TỰA

❊ ❊ ❊

Không chỉ đơn thuần trong lĩnh vực thương mại mà ngay cả trong thế giới tư tưởng, thời đại của chúng ta đang diễn ra em wirklicher Ausverkauf [một vụ bán tháo thực sự]. Hết thảy mọi thứ đều có thể mua được ở mức rẻ mạt đến nỗi người ta ngờ rằng cuối cùng liệu có còn ai muốn trả giá nữa hay không. Mọi tay định giá đầu cơ, những kẻ vốn tận hướng dõi theo những xu thế quan trọng của triết học hiện đại, mọi Privatdocent [Giảng viên tư phí][1], giáo sinh và sinh viên, mọi kẻ ngoại đạo và những người đương chức trong triết học, đều không hài lòng với việc hoài nghi hết thảy mà muốn vượt xa hơn nữa. Có lẽ là thiếu thức thời và không phải lúc khi hỏi họ rằng họ đang đi về đâu, nhưng chắc hẳn là nhã nhặn và khiêm tốn khi coi việc họ hoài nghi hết thảy là chuyện đương nhiên, bởi nếu không hẳn là kỳ cục khi nói đến chuyện vượt xa hơn nữa của họ. Tất cả bọn họ đều thực hiện hành động ban đầu này, và có lẽ với một sự dễ dàng đến mức họ không thấy cần thiết phải đưa ra bất kỳ lời nào về chuyện làm thế nào để thực hiện được nó; bởi ngay cả những kẻ tìm kiếm - một cách đầy âu lo và với niềm quan ngại sâu sắc - một sự khai sáng nhỏ nhoi, cũng không thể tìm thấy bất cứ thứ gì như vậy cả, không một dấu hiệu chỉ lối đưa đường, không một đơn thuốc dinh dưỡng nhỏ mọn, chỉ cho người ta biết phải làm thế nào để thực hiện cái nhiệm vụ phi thường đó. “Nhưng Descartes[2] đã làm được”. Descartes, một nhà tư tưởng đáng kính, khiêm tốn và thẳng thắn, người mà những gì được ông viết ra chắc chắn không ai đọc mà lại không thấu động tâm can, đã làm cái mà ông nói và nói cái mà ông làm. Than ôi, ông trời, đó là một điều vô cùng hiếm hoi trong thời đại của chúng ta! Descartes, như ông đã khẳng định nhiều lần, đã không hoài nghi một chút nào về vấn đề đức tin. “Memores tamen, ut jam dictum est, huic lumini naturali tamdiu tantum esse credendum, quamdiu nihil contrarium a Deo ipso revelatur… Praeter caeter autem, memoriae nostrae pro summa regula est infigendum, ea quae nobis a Deo revelata sunt, ut omnium certissima esse credenda; et quamvis forte lumen rationis, quam maxime clarum et evidens. aliud quid nobis suggerere videretur, soli tamen auctoritati divinae potius quam proprio nostro judicio fidem esse adhibendam”. [Mặc dù vậy, nên nhớ rằng, như tôi đã từng nói, ánh sáng thiên nhiên này sẽ chỉ được tin tưởng chừng nào chính Thượng đế chưa khải thị điều gì ngược lại… Hơn nữa, chúng ta phải hằng ghi nhớ như một quy luật tối thượng, rằng cái gì được Thượng đế khải thị cho chúng ta thì đó là thứ chắc chắn nhất trong vạn vật; và chúng ta phải đặt lòng tin vào quyền lực Thần thánh, chứ không phải vào suy xét của chính mình mặc dù ánh sáng lý tính đối với chúng ta lại có vẻ như cho thấy, một cách vô cùng rõ ràng, một cái gì đó ngược lại[3].] Ông không gào lên “Cháy rồi!” mà cũng chẳng bắt mọi người phải hoài nghi; bởi Descartes là một nhà tư tưởng câm lặng và đơn độc, chứ đâu phải một tay gác đêm ồn ĩ; ông khiêm tốn thừa nhận rằng phương pháp của ông chỉ quan trọng với riêng mình ông mà thôi và phần nào là kết quả của mớ tri thức lộn xộn trong những năm tháng đầu đời của ông. “Ne quis igitur putet me hic traditurum aliquam methodum quam unusquisque sequi debeat ad recte regendum rationem; illam enim tantum quam ipsemet secutus sum exponere decrevi… Sed simul ac illum studiorum curriculum absolvi (sc. juventutis), quo decurso mos est in eruditorum cooptare, plane aliud coepi cogitare. Tot enim me dubiis totque erroribus imblicatum esse animadverti, ut omnes discendi conatus nihil aliud mihi profuisse judicarem, quam quad ignorantiam meam magis magisque detexissem”. [Mục đích của tôi ở đây không phải là đề xuất ra Phương pháp mà tất cả mọi người đều phải theo để thực hiện hành vi Lý trí của mình một cách đúng đắn mà tôi chỉ đơn thuần chỉ ra cách mà tôi đã nỗ lực thực hiện hành vi ấy của chính mình mà thôi… Nhưng ngay sau khi tôi hoàn tất công việc học hành, vào cái lúc mà người ta thường được xếp vào hàng các bậc trí giả, thì tôi đã hoàn toàn thay đổi quan điểm của mình. Bởi tôi thấy rằng mình bị vướng vào nhiều hoài nghi và sai lầm đến nỗi có vẻ như đối với tôi mọi nỗ lực học hành chẳng có tác dụng gì khác ngoài việc khiến tôi càng ngày càng phát hiện ra sự ngu dốt của chính mình mà thôi[4].]

Điều mà những người Hy Lạp cổ đó, những kẻ cũng có chút am hiểu nhất định về triết học, coi là một nghĩa vụ trong cả đời người, nhận thấy rằng sự thành thục trong việc hoài nghi không thể đạt được trong ngày một ngày hai, điều mà người biện sĩ kỳ cựu đạt được[5], kẻ đã duy trì được sự cân bằng trong hoài nghi vượt qua hết thảy những luận cứ hợp lý, kẻ đã can đảm chối bỏ sự chắc chắn của tri giác và tư duy, kẻ đã không khoan nhượng chống lại nỗi âu lo của lòng ái kỷ và những lời ám chỉ của sự cảm thông - vậy mà chính điều ấy lại là xuất phát điểm cho tất cả mọi người trong thời đại chúng ta.

Trong thời đại chúng ta, chẳng ai hài lòng với việc dừng lại ở đức tin mà còn muốn vượt xa hơn nữa. Có lẽ sẽ là hấp tấp khi hỏi rằng những người này đang định đi đâu, nhưng đối với tôi đó hẳn là biểu hiện của sự tao nhã và có văn hóa khi giả định rằng hết thảy mọi người đều có đức tin, bởi nếu không sẽ thật kỳ cục khi nói đến chuyện vượt xa hơn nữa. Vào thời xa xưa, điều này hoàn toàn khác. Đức tin khi đó là nghĩa vụ trong cả đời người, bởi người ta giả định rằng sự thành thục trong đức tin không thể đạt được trong ngày một ngày hai. Khi mà kẻ già nua đã từng kinh qua thử thách cám dỗ ở vào thời khắc cận tử, đã chiến đấu anh dũng trong trận mạc và và đã giữ vững đức tin[6], trái tim hắn vẫn còn đủ trẻ trung để không quên cái niềm kính sợ và run rẩy[7] đã từng chế ngự lớp đầu xanh tuổi trẻ, còn người trưởng thành thì đã học được cách chế ngự nó, nhưng không ai có thể trưởng thành đến độ có thể dứt bỏ được nó cả - trừ phi tới cái mức mà người ta thành công trong việc vượt xa hơn đức tin càng sớm càng tốt. Nơi mà những kẻ tôn kính này đã đạt tới lại chính là điểm xuất phát mà hết thảy mọi người trong thời đại của chúng ta bắt đầu để thực hiện công cuộc vượt xa hơn ấy.

Người viết cuốn sách này chẳng phải là nhà triết học lấy một chút mảy may, hắn chẳng hiểu gì về Hệ thống[8], chẳng biết liệu nó có thực sự hiện hữu hay không, liệu nó đã hoàn tất hay chưa; hắn đã có đủ cho đầu óc yếu ớt của mình cái ý nghĩ rằng đầu óc thiên hạ ngày nay mới thật phi thường làm sao, bởi tất cả mọi người đều có một ý nghĩ phi thường đến nhường ấy. Mặc dù ai đó có thể chuyển toàn bộ nội dung của đức tin sang dạng ý niệm thì cũng không có nghĩa là hắn đã hiểu được đức tin và hiểu được làm thế nào mà hắn đi vào trong đức tin hoặc làm thế nào mà đức tin đi vào trong hắn. Người viết cuốn sách này chẳng phải là nhà triết học lấy một chút mảy may; hắn chỉ là, poetice et eleganter [theo một cách đầy thi vị và tao nhã], một gã văn sĩ tay ngang, kẻ chẳng viết nên hệ thống mà cũng chẳng mang đến những triển vọng[9] cho hệ thống, kẻ chẳng dốc lòng vì hệ thống mà cũng chẳng gắn mình với nó. Hắn viết bởi với hắn đó là một thứ xa xỉ mà nó càng dễ chịu và đáng chú ý bao nhiêu, thì càng ít người mua và đọc cái hắn viết bấy nhiêu. Hắn có thể dễ dàng tiên đoán số phận của mình vào cái thời mà đam mê đã bị xói mòn bởi việc học, vào cái thời mà tác giả muốn có độc giả phải cẩn thận khi viết để cuốn sách có thể dễ dàng đọc lướt trong lúc chợp mắt sau bữa trưa, và phải cẩn thận tạo dáng đi đứng bề ngoài cho giống bức họa người làm vườn trẻ tuổi lịch lãm trên tờ Adresseavisen (Người quảng cáo)[10], tay cầm mũ và những lá thư giới thiệu với những lời nhận xét tốt đẹp từ chỗ làm cũ, tự tiến cử mình với đám đông tôn kính. Hắn tiên đoán được số phận mình - rằng hắn sẽ bị lãng quên tuyệt đối. Hắn có một linh cảm kinh khủng, rằng giới phê bình ghen ăn tức ở sẽ nhiều lần cho hắn nếm cảm giác đòn vọt; hắn run rẩy trước cái ý nghĩ còn khủng khiếp hơn, rằng một tay chép thuê liều lĩnh nào đó, kẻ chuyên nuốt những đoạn văn, kẻ mà để cứu vớt sự học luôn sẵn sàng làm với những trang viết của người khác điều mà Trop[11] “để giữ gìn khiếu thẩm mỹ” đã cao thượng kiên quyết làm với cuốn sách có nhan đề Sự diệt vong của nhân loại, chính kẻ đó sẽ băm tác giả ra thành từng đoạn một, và sẽ làm việc đó với sự cứng nhắc của một người vì lợi ích của thuật chấm câu đã chia bài diễn văn của mình bằng cách đếm từ, để sao cho cứ năm mươi từ là một dấu chấm và ba mươi nhăm từ là một dấu chấm phẩy.

Tôi rạp mình với lòng tôn kính sâu sắc nhất trước toàn bộ hệ thống soát đồ ở trạm hải quan mà phản đối rằng, “Đây không phải là Hệ thống, nó tuyệt nhiên chẳng liên quan gì đến Hệ thống. Tôi cầu chúc hết thảy mọi phước lành tới Hệ thống và tới các cổ đông Đan Mạch trên chiếc xe bus này[12] - bởi nó sẽ hầu như chẳng bao giờ trở nên một tòa tháp cả[13]. Tôi kính chúc họ hết thảy mọi may mắn và tất cả sự thịnh vượng”.

Trân trọng,

Johannes De Silentio[14]

❀ ❀ ❀

[1] 1. Bác thợ may mà Kierkegaard để cập ở đây là bác thợ may trong truyện cổ tích “Bác thợ may lên Trời” trong tập Truyện cổ Grimm của anh em nhà Grimm.

[2] 2. Heraclitus (khoảng 535-475, TCN) là một nhà triết học vĩ đại người Hy Lạp thời Tiền Socrates. Ông là người đầu tiên đưa ra tư tưởng về sự vận động biến đổi không ngừng của sự vật với câu nói nổi tiếng, “Không ai tắm hai lấn trên cùng một dòng sông”. Ông được mang biệt danh “nhà triết học tới nghĩa” vì phương pháp trình bày rất phức tạp và khó hiểu mặc dù tư tưởng của ông vô cùng sâu sắc.

[3] 3. Tham khảo thêm tác phẩm Cratylus § 402 (thuộc dòng các tác phẩm đối thoại với Socrates, hay rộng hơn là đối thoại theo kiểu Socrates) của Plato.

[4] 4. Người học trò này là nhà triết học Cratylus, một người Athene cùng thời với Socrates. Cratylus chủ yếu được biết đến nhờ được nhắc tên trong tác phẩm Cratylus (thuộc dòng các tác phẩm đối thoại với Socrates, hay rộng hơn là đối thoại theo kiểu Socrates) của Plato.

[5] 5. Chi tiết này nằm trong tác phẩm Geschichte der Philosphie của Tenneman.

[6] 6. Trường phái Elea (Eleatic school) được coi là một trong những trường phái triết học nổi tiếng nhất Hy Lạp thời Tiền Socrates do nhà triết học Parmenides xứ Elea (người sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ sáu và thứ năm trước Công Nguyên) sáng lập ra. Một trong những nhà triết học nổi tiếng nhất thuộc trường phái này là nhà triết học Zeno xứ Elea (490 - 430 TCN), người nổi tiếng vì đã xây dựng những nghịch lý trừu tượng trong đó cho rằng sự vận động là bất khả, trong đó nổi tiếng nhất là nghịch lý Achilles không bao giờ đuổi kịp con rùa (còn gọi là nghịch lý Zeno). Aristotle gọi ông là người phát minh ra phép biện chứng. Bertrand Russell đánh giá những nghịch lý trừu tượng của ông là “tinh tế và sâu sắc đến mức không thể đong đếm được”. Ông có lẽ là người đầu tiên đưa ra phương pháp lập luận chứng minh bằng phản chứng. Người bác bỏ nghịch lý Achilles không bao giờ đuổi kịp con rùa là Diogenes, người sáng lập ra phái Khuyển nho (Cynics).

[7] 7. Ám chỉ Iphigenia trong vở kịch Iphigenia ở Tauris của Euripides. Người em trai mà Iphigenia định hiến tế ở đây là Orestes.

[8] 8. Nhận định này được Aristotle để cập trong tác phẩm Lịch sử tự nhiên (Natural History), quyển V, chương 4.

[9] 9. Câu này dịch theo bản dịch của Walter Lowrie và bản dịch của Hong và Hong. Trong hai bản dịch, một của Alasstair Hannay và một của Sylvia Walsh, câu này được dịch thành, “Nó khiến người ta tin vào hiện thực và có đủ dũng khí để chiến đấu chống lại tất cả những nỗi thống khổ của hiện thực, hơn là chống lại những nỗi đau thiếu sinh khí mà người ta đã tự gánh lấy vì trách nhiệm”.

[10] 10. Hai người ở đây là hai người ở đoạn trước, tức là đôi trai gái thầm yêu nhau và thầm hy sinh cho nhau bằng cách không tiết lộ tình cảm của mình cho người kia biết.

[11] 11. Xem Kinh Thánh, sách Mark 1:11. “Lại có tiếng từ trên trời phán rằng: Ngươi là Con yêu dấu của ta, làm đẹp lòng ta mọi đàng”.

[12] 12. Xem Kinh Thánh, sách Thủ lãnh (Judges) 11:38. “Jephtha đáp rằng: Con cứ đi. Rồi người để nàng đi hai tháng. Vậy, nàng đi cùng chị em bạn mình, khóc sự đồng trinh mình tại trên núi”.

[13] 13. Ở Hy Lạp, cành olive tượng trưng cho sự khẩn nài.

[14] 14. Những hành động và quan điểm như thế vẫn có thể là chủ đề cho cuộc luận bàn về mỹ học. Tuy nhiên, việc đức tin và toàn bộ đời sống của đức tin có thể là chủ đề cho một cuộc luận bàn như thế hay không thì tôi xin được bỏ ngỏ. Chỉ là, bởi vì với tôi luôn là một niềm vui sướng khi được bày tỏ lòng biết ơn đến người mà tôi mang ơn, tôi muốn cảm ơn Lessing vì một vài gợi ý về một vở kịch mang tính Cơ Đốc giáo được tìm thấy trong tác phẩm Hamburgische Dramaturgie (Kịch nghệ Hamburg) của ông. Mặc dù vậy, ông vẫn giữ vững cái nhìn của mình lên khía cạnh thần thánh đơn thuần của cuộc đời này (chiến thắng hoàn hảo) và vì thế ông có những nghi ngại; có lẽ ông hẳn đã thể hiện một sự phán xét khác nếu như ông ý thức nhiều hơn nữa đến khía cạnh con người thuần túy (theologia viatorum [Thần học của những kẻ hành hương]). Không nghi ngờ gì nữa điều ông nói là rất ngắn gọn và có phần lảng tránh, nhưng bởi tôi luôn vui mừng khi có được sự đồng hành của Lessing, tôi nắm lấy cơ hội ấy ngay lập tức. Lessing không chỉ là một trong những trí tuệ thông thái nhất mà nước Đức có, ông không chỉ sở đắc một sự chính xác hiếm thấy trong kiến thức của mình (bởi lý do này mà người ta có thể hoàn toàn tin tưởng ông và những phân tích đánh giá của ông mà không sợ bị lừa bịp bởi những trích dẫn đại khái không rõ nguồn, bởi những lối diễn đạt nửa vời được rút ra từ những trích yếu không đáng tin cậy, hoặc bị đánh lạc hướng bởi những lời đại ngôn ngu xuẩn về những điều mới mẻ mà những người đi trước đã dẫn giải từ lâu rồi, thậm chí còn sâu sắc hơn rất nhiều) - mà ông còn đồng thời sở đắc một tài năng vô cùng khác thường trong việc lý giải điều chính ông hiểu rõ. Ông dừng lại ở đó. Trong thời đại chúng ta người ta lại vượt xa hơn và lý giải nhiều hơn điều mà họ hiểu. [Ghi chú của Kierkegaard.]

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.