Không Nhà

Lượt đọc: 539 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Jacquie Red Feather

❊ ❊ ❊

Jacquie Red Feather bay đến Phoenix từ Albuquerque vào buổi tối trước khi hội nghị bắt đầu, hạ cánh sau chuyến bay dài hàng giờ trên một đường băng mờ sương giữa màu xanh lá cây và hồng. Khi máy bay chậm lại, cô đóng cửa sổ và nhìn chăm chú vào lưng ghế trước mặt. “Bảo vệ họ khỏi bị ngược đãi”. Đó là chủ đề chính của hội nghị năm nay. Cô đoán nó là về chứng tự ngược đãi bản thân. Nhưng có phải vấn đề thực sự là hành động tự tử? Cô mới đọc một bài báo nói đến vấn nạn tự tử trầm trọng trong cộng đồng người bản địa. Bao nhiêu năm qua đã có vô số các chương trình được liên bang tài trợ nhằm ngăn hành động tự sát bằng biển tuyên truyền và đường dây nóng hỗ trợ? Bảo sao tình hình lại trở nên tồi tệ hơn. Ta không thể vờ rằng đời mình vẫn ổn trong khi thực tế thì không như vậy. Đây là một hội nghị của Cơ quan Quản lý dịch vụ Sức khỏe Tâm thần và Lạm dụng chất gây nghiện, họ yêu cầu cô phải có mặt với cương vị cố vấn.

Người phụ nữ kiểm tra danh tính cô tại khách sạn mang thẻ tên là Florencia gắn trên áo. Cô ta có mùi bia, thuốc lá và nước hoa.

Có thể Florencia đã uống rượu khi làm việc, hoặc cô ấy đi làm trong tình trạng say xỉn, điều đó khiến Jacquie thích cô ấy. Jacquie đã không uống suốt mười ngày. Florencia khen tóc Jacquie đẹp, mái tóc mới được nhuộm đen để che những sợi bạc và cắt ngắn ngang vai. Jacquie luôn lúng túng trước một lời khen.

“Đỏ quá nhỉ!” - Cô nói đến những chậu hoa trạng nguyên đằng sau Florencia, Jacquie không thích chúng vì chúng trông quá giả tạo.

“Chúng tôi gọi nó là flores de noche buena, loài hoa của đêm linh thiêng, bởi vì chúng nở hoa vào dịp Giáng sinh.”

“Nhưng giờ là tháng Ba mà!” - Jacquie nói.

“Tôi nghĩ nó là một trong những loài hoa đẹp nhất!” - Florencia nhận xét.

Lần tái nghiện gần đây nhất của Jacquie đã không để lại hậu quả nghiêm trọng. Cô đã không bị mất việc, hay phá hỏng xe của mình. Cô đã tỉnh táo trở lại, mười ngày dài như một năm khi ta lúc nào cũng chỉ muốn uống.

Florencia nói với Jacquie, người đang đổ mồ hôi đầm đìa, rằng hồ bơi mở cửa đến mười giờ. Mặt trời đã lặn, nhưng nhiệt độ vẫn cao. Trên đường đến phòng, Jacquie thấy hồ bơi vắng người.

Rất lâu sau khi bỏ bố ruột cô, mẹ vẫn lằng nhằng với người bố của cô em gái cùng mẹ khác cha. Opal mới chỉ là một đứa bé còn ẵm ngửa và Jacquie lên sáu, họ đã ở trong một khách sạn gần sân bay Oakland. Mẹ nói với họ về việc chuyển khỏi nơi này mãi mãi. Về việc trở lại căn nhà ở Oklahoma. Nhưng ngôi nhà của Jacquie và em gái chỉ là một toa xe trống trong bãi đậu bỏ hoang. “Nhà” cũng là những chuyến đi bất tận trên xe buýt. “Nhà” là ba người họ ngủ ở một nơi ngẫu nhiên khi đêm xuống. Và cái đêm ở khách sạn, với hi vọng về chuyến đi mang họ thoát khỏi cuộc sống mà mẹ cô đã kéo con gái mình vào, là một trong những đêm tuyệt vời nhất trong cuộc đời Jacquie. Mẹ cô đã ngủ thiếp đi. Trước đó, cô đã nhìn thấy một cái bể bơi, một hình chữ nhật màu xanh dương sáng lấp lánh trên đường tới phòng. Trong khi trời thì lạnh, cô tình cờ nhìn thấy cái biến viết “Bể nước nóng”. Jacquie xem tivi, đợi cho mẹ ngủ thiếp đi với Opal trong lòng, rồi cô lẻn ra hồ bơi. Không có ai quanh đó. Jacquie cởi giày và tất ra, nhúng một ngón chân xuống làn nước, rồi nhìn lên cánh cửa phòng họ. Cô nhìn ngắm tất cả các khung cửa phòng đối diện với hồ bơi. Không khí buổi đêm lạnh lẽo và tĩnh lặng. Vẫn mặc nguyên quần áo trên người trừ đôi giày và tất, cô bước xuống bậc thang bể bơi. Đó là lần đầu tiên Jacquie đầm mình trong một cái bể bơi. Jacquie không biết bơi, cô chỉ muốn được ở dưới nước. Cô lặn xuống, mở mắt quan sát bàn tay mình và những chùm bong bóng nổi lên trong ánh sáng xanh kỳ diệu đó.

Lên đến phòng, cô ném túi xách sang một bên, cởi giày và nằm lên giường. Jacquie bật tivi, tắt tiếng, cô nằm yên thế và nhìn lên trần nhà một lúc, cảm khái trước phong cách trang trí trắng tinh tối giản của căn phòng. Cô nghĩ về Opal. Về đám trẻ. Không biết chúng đang làm gì. Vài tháng vừa qua, sau nhiều năm im lặng, họ bắt đầu liên lạc. Opal chăm sóc ba đứa cháu ruột mà Jacquie chưa bao giờ gặp.

Em đang làm gì vậy? Jacquie nhắn tin cho Opal. Cô để điện thoại lên giường và lấy đồ bơi ra khỏi vali. Bộ áo tắm một mảnh in sọc đen trắng. Cô đứng trước gương và mặc nó vào. Sẹo lẫn hình xăm kéo dài quanh cổ, bụng, cánh tay đến tận mắt cá chân của cô. Những hình xăm lông vũ trên cẳng tay là cho mẹ và em gái, còn những ngôi sao trên mu bàn tay thì chỉ đơn giản là những ngôi sao. Hình mạng nhện trên chân là đau nhất.

Jacquie đi đến cửa sổ để xem liệu hồ bơi còn vắng người cùng lúc điện thoại rung trên giường.

Orvil tìm thấy mấy cái chân nhện ở trên chân nó, tin nhắn trả lời.

WTF!? Jacquie nhắn lại. Câu chuyện quả thực không rõ nghĩa. Là sao nhỉ? Cô tra cứu trên điện thoại theo cụm từ “chân nhện ở chân” nhưng không ra kết quả gì.

Phải đấy, em không biết. Mấy thằng nhóc nghĩ rằng nó có gì đấy liên quan đến ndn.

Jacquie mỉm cười. Cô ấy chưa bao giờ thấy người bản xứ viết tắt chữ Indian là ndn trước đây.

Có lẽ thằng nhóc sẽ có được sức mạnh như người nhện, Jacquienhắn tin.

Chị cũng đã có được sức mạnh vì bị nhện cắn à?

Gì cơ? Không. Chị đi bơi đây.

Jacquie ngồi bằng hai gối trước cái tủ lạnh mini. Cô nhớ lại lời mẹ từng nói. “Mạng nhện là một ngôi nhà và cũng là một cái bẫy.” Mặc dù cô không thực sự chắc ý mẹ là gì, nhưng cô đã hiểu nó theo cách riêng của mình trong nhiều năm qua, có lẽ hiểu xa hơn cả những gì mẹ muốn nói. Riêng lúc này, Jacquie là con nhện và cái tủ lạnh mini là tấm mạng. Tủ lạnh có rượu, được uống rượu cảm giác như được về nhà. Nhưng việc uống rượu cũng là cái bẫy. Đại loại thế. Chỉ cần cố gắng không mở tủ lạnh ra. Và cô ấy đã không.

Jacquie đứng cạnh hồ bơi, nhìn ánh sáng lung linh phản chiếu trên mặt nước chao đảo. Hai cánh tay cô khoanh ngang bụng, trông xanh xao đầy mạch máu. Cô nhích từng bước xuống bậc thang bể bơi, từ từ đầm mình rồi bơi dọc thành bể sang bờ bên kia và ngược trở lại. Cô trồi lên để hít thở, quan sát mặt nước di chuyển một lúc, rồi lại lặn xuống nhìn những chùm bong bóng thành hình, nổi lên, biến mất.

Khi hút một điếu thuốc bên bể bơi, cô nghĩ về quãng đường đi taxi từ sân bay đến đây, thấy một cửa hàng rượu chỉ cách khách sạn hai dãy nhà. Cô có thể đi bộ tới đó. Điều cô thực sự muốn là một điếu thuốc sau khi uống hết sáu lon bia. Cô muốn giấc ngủ trở nên dễ dàng như khi chếnh choáng. Trên đường trở về phòng, cô lấy một lon Pepsi và một túi trái cây khô từ máy bán hàng tự động. Nằm trên giường, cô lướt qua mọi kênh, dừng một chút ở chỗ nọ kia, chuyển kênh khác mỗi khi quảng cáo xuất hiện, ăn trái cây sấy và uống Pepsi. Ngay sau đó, sự thèm ăn của Jacquie bị đánh thức và cô nhớ ra rằng mình chưa ăn bữa tối. Cô không thể ngủ dù mắt nhắm nghiền trong suốt một tiếng, mãi đến lúc đặt một chiếc gối lên mặt cô mới thiếp đi. Cô thức dậy vào bốn giờ sáng bởi cảm giác nặng nề khó thở, Jacquie ném chiếc gối sang tận phía bên kia góc phòng, sau đó đứng dậy đi vệ sinh và dành hai giờ tiếp theo cố gắng thuyết phục bản thân quay lại giấc ngủ. Cũng có thể, cô đã thực sự ngủ nhưng lại mơ rằng mình trằn trọc.

Jacquie tìm thấy một chỗ ngồi ở phía cuối phòng hội thảo. Có ông già Indian đội mũ bóng chày đứng trên bục, một tay giơ lên như đang cầu nguyện, trong khi tay kia vẩy nước từ chai nhựa vào đám đông. Cô chưa bao giờ thấy điều gì như vậy trước đây.

Đôi mắt Jacquie lang thang khắp phòng. Cô quan sát lối trang trí của người bản địa. Căn phòng rộng, trần nhà cao treo những chiếc đèn chùm khổng lồ, mỗi chiếc bao gồm tám cái bóng đèn hình chữ nhật được bao quanh bởi một dải kim loại lượn sóng với những đường cắt hoa văn đặc trưng của văn hoá thổ dân - hình vẽ biểu trưng cho chủ nghĩa phồn thực, đường zic zac và xoắn ốc - tất cả phản chiếu trên tường và trần, nơi được sơn màu đỏ nâu như màu máu khô. Thảm trải sàn thì dày đặc những đường uốn lượn, những hình học đa dạng, như thảm của mọi sòng bạc hay rạp chiếu phim.

Cô nhìn quanh đám đông. Có khoảng hai trăm người, họ ngồi quanh những chiếc bàn tròn với nước, trái cây và bánh quy xếp trên đĩa giấy. Jacquie nhận ra đây là loại hội nghị nào. Hầu hết người tham gia là phụ nữ Indian lớn tuổi. Rồi phụ nữ da trắng cũng lớn tuổi. Có cả đàn ông Indian (lớn tuổi nốt). Không có người trẻ. Mọi người dường như quá nghiêm túc hoặc không đủ nghiêm túc. Đây là những người có nghề nghiệp ổn định, họ đến đây vì muốn giữ công việc của mình hoặc vì các nhà tài trợ yêu cầu, hơn là mong muốn giúp đỡ các gia đình Indian thực sự. Jacquie cũng vậy. Cô hiểu và ghét sự thật này.

Diễn giả đầu tiên, một người đàn ông trông có vẻ phù hợp đứng ở góc phố hơn là ở một hội nghị, bước lên bục. Ta không mấy khi gặp những người như anh ta trên sân khấu. Gã đi giày Jordans và mặc một bộ đồ thể thao Adidas. Gã có một hình xăm mờ gần như không thể thấy, kéo dài từ tai trái lên đến đỉnh đầu hói, đó có thể là vết nứt vỡ, hoặc mạng nhện, hoặc một nửa cái vương miện cuốn dây gai. Cứ vài giây, gã lại tròn miệng rồi lau nó bằng ngón cái, như thể có nước bọt dư ở đó, hoặc như thể, gã lau miệng để ngăn mình khạc nhổ và trở nên lếch thếch.

Gã bước đến trước cái mic, dành một phút dài đầy gượng gạo để quan sát đám đông: “Tôi thấy rất nhiều người Indian ở đây. Điều đó làm tôi rất vui. Khoảng hai mươi năm trước, tôi đã tham dự một hội nghị như thế này, và ở đó chỉ có một biển những khuôn mặt người da trắng. Lúc ấy, tôi mới chỉ là một cậu thanh niên, lần đầu tiên được đi máy bay và xa khỏi Phoenix quá vài ngày. Tôi đã bị buộc phải tham gia một chương trình thuộc về dự án viện trợ thanh thiếu niên mà tôi đã nhận. Chương trình đó được tổ chức tại một hội nghị ở thủ đô DC.[1], một sự kiện tầm quốc gia. Họ đã chọn tôi và vài thanh niên khác không phải vì kỹ năng lãnh đạo hay cam kết của chúng tôi với dự án, hay vì chúng tôi muốn tham dự, mà vì chúng tôi là những người hiếm hoi sót lại của bộ tộc mình. Tất nhiên chúng tôi chỉ ngồi trên sân khấu, lắng nghe những câu chuyện thành công của giới trẻ, lắng nghe nhân viên dự án ca ngợi chương trình đó tuyệt vời như thế nào. Nhưng trong khi tôi đang bận rộn với chuyến đi, em trai tôi, Harold, đã tìm thấy khẩu súng tôi cất trong tủ. Cậu bé đã dùng khẩu súng tự bắn vào giữa hai mắt mình. Cậu bé mới mười bốn tuổi!” - Gã ngừng nói, quay khỏi mic để ho. Jacquie vặn mình trên ghế.

“Những gì tôi muốn nói ở đây là về cách tiếp cận của chúng ta, kể từ ngày đầu tiên đã luôn như thế này: Trẻ em nhảy ra khỏi cửa sổ của một tòa nhà đang cháy, rơi xuống và chết. Ta nghĩ rằng vấn đề là việc trẻ em nhảy khỏi cửa sổ. Để rồi ta cố gắng tìm cách ngăn đám trẻ nhảy. Nghĩa là thuyết phục chúng rằng thà bị thiêu sống còn hơn là bỏ đi khi mọi thứ trở nên nóng quá sức chịu đựng. Ta đã giăng lưới lên cửa sổ để kìm hãm chúng, tìm ra những cách thuyết phục chúng đừng nhảy. Chúng đã chọn con đường chết và biến mất thay vì sống với những gì ta có ở đây, cuộc đời này, cuộc đời ta tạo ra cho chúng, cuộc đời chúng buộc phải kế thừa. Và ta đã không đưa tay giúp đỡ những cái chết trẻ, như tôi đã không giúp đỡ em trai mình, dù ta đã hiện diện ở đó, liên quan đến mọi chuyện. Im lặng không chỉ là im lặng, im lặng cũng là không lên tiếng. Giờ đây, tôi làm việc trong uỷ ban phòng chống hành động tự tử. Tôi có đến mười lăm người thân đã tự tử trong suốt cuộc đời mình, không kể em trai ruột. Cộng đồng mà tôi làm việc cùng gần đây ở Nam Dakota nói rằng họ rất đau buồn khi phải trải qua mười bảy vụ tự sát chỉ trong tám tháng. Nhưng làm cách nào để ta dạy cho con cái sự yêu đời? Ở những hội nghị như thế này? Trong văn phòng? Qua email và tại các sự kiện cộng đồng, phải hiểu thấu tình thế cấp bách, tinh thần sẵn lòng làm bất cứ điều gì với bất cứ giá nào. Hay là mặc kệ dự án? Có lẽ chúng ta nên gửi tiền trực tiếp cho những gia đình, người cần nó và biết phải làm gì với nó. Tất cả chúng ta đều hiểu số tiền đó đi về đâu, để trả lương và tổ chức kiểu hội nghị này. Tôi xin lỗi. Tôi cũng được trả tiền, và thật ra, mẹ kiếp, vấn đề này không nên được thảo luận với sự lịch thiệp hay trang trọng. Ta không thể bị lạc lối vì lợi ích cá nhân mà phản đối, ngày ngày bỏ mặc tình hình, như thể ta buộc phải làm những gì đang làm. Ta đã chọn hành động như vậy, những lựa chọn ảnh hưởng trực tiếp lên cộng đồng. Ta đang quyết định thay chúng. Luôn luôn như vậy. Đó là những gì đám trẻ cảm thấy. Rằng chúng không có quyền quyết định. Hãy nghĩ xem điều duy nhất còn lại mà chúng có thể làm là gì? Ta cần thực sự làm thứ ta đang nói đến. Và nếu ta không thể, thì tất cả mọi chuyện sẽ phục vụ lợi ích cá nhân, ta cần phải bước sang một bên để những người thực sự quan tâm đến cộng đồng, những người sẵn lòng hành động, hãy để họ đến và giúp đỡ. Đụ mẹ đám người còn lại!”

Jacquie đã ra khỏi phòng trước khi khán giả bắt đầu vỗ tay đầy do dự, miễn cưỡng. Khi chạy, bảng tên của cô lắc lư quanh cổ, đập vào cằm. Về đến phòng, cô đóng cửa lại và trượt người xuống, ngồi trên sàn và bật khóc nức nở. Cô dán mắt vào hai đầu gối và những dải ánh sáng màu tím, đen, xanh lục, hồng nở rộ sau đôi mí nhắm, chúng tụ lại thành hình ảnh, rồi thành ký ức. Đầu tiên, Jacquie thấy cái lỗ lớn, tiếp đến là thân hình hao gầy của con gái cô. Những đốm đỏ, hồng trải dài hai cánh tay con bé. Làn da con bé trắng, xanh và vàng, với những đường gân nổi. Jacquie đã ở đó để xác nhận danh tính thi thể. Đó là con gái cô, là cơ thể nhỏ bé mà cô đã mang trong mình chỉ sáu tháng. Cô đã xem các bác sĩ gắn kim tiêm vào cánh tay con bé, họ đặt nó trong lồng ấp. Giây phút mà tất cả những gì cô muốn trên đời, Jacquie chưa từng muốn thứ gì dữ dội đến thế, là khao khát cho bé con mới sinh của mình được sống. Nhân viên điều tra nhìn Jacquie, cây bút và hồ sơ kẹp trong tay. Cô đã dành một khoảng thời gian dài nhìn chằm chằm vào đâu đó giữa thi thể và bản hồ sơ để kìm khỏi hét lên, cố gắng không ngước mắt và thấy khuôn mặt con gái. Cái lỗ ấy. Cú bắn chính giữa hai mắt. Giống như một con mắt thứ ba, hay là hốc mắt thứ ba, nhưng trống rỗng. Chú nhện bịp bợm, Veho mà khi xưa mẹ thường kể cho cô và Opal nghe, cậu ta luôn trộm những đôi mắt để nhìn mọi thứ rõ hơn. Veho là những người đàn ông da trắng đã đến và bắt thế giới cũ phải nhìn qua đôi mắt của họ. Nhìn. Xem đây, như thế này, đầu tiên bạn sẽ cho tôi tất cả đất đai của bạn, sau đó là sự chú ý của bạn, cho đến khi bạn quên cách nhìn. Cho đến khi mắt bạn cạn khô, bạn không thể nhìn lại phía sau bạn và phía trước thì trống rỗng. Kim chích, chai lọ, điếu hút, là thứ duy nhất còn ý nghĩa. Ngồi trong xe, Jacquie đấm mạnh tay vào cái vô lăng thép cho đến khi cô không thể tiếp tục. Cô đã làm ngón tay cái của mình vỡ nát trên vô lăng.

Đó là mười ba năm trước. Cô không đụng vào một giọt rượu suốt sáu tháng sau đó. Khoảng thời gian lâu nhất kể từ khi Jacquie bắt đầu uống rượu. Nhưng rồi, cô lái xe thẳng đến cửa hàng rượu, dành mọi tối trong sáu năm tiếp theo cho những ly whisky. Cô lái chiếc xe bus AC Transit theo tuyến 57, ra khỏi rồi trở về Oakland sáu ngày một tuần. Uống đến mức lãng quên mọi chuyện mỗi đêm, tỉnh dậy mỗi sáng để làm việc. Một ngày nọ, cô ngủ thiếp đi bên bánh lái và đâm chiếc xe buýt vào cột điện thoại. Sau một tháng điều trị nội trú, cô rời khỏi thành phố Oakland. Cho đến tận bây giờ, Jacquie vẫn không biết, không nhớ làm cách nào mà mình đến Albuquerque. Có giai đoạn, cô nhận được việc làm tiếp tân tại một Phòng khám Y tế Indian do quỹ Dịch vụ sức khoẻ Bản xứ tài trợ, sau đó, không qua một lớp đào tạo chính quy nào và chỉ thông qua một khóa học trực tuyến mà cô được trả tiền để tham gia, Jacquie đã trở thành cố vấn chuyên làm việc với những ca lạm dụng chất gây nghiện.

Ở trong phòng, ngồi đối diện với cửa ra vào, cô nhớ lại tất cả những bức hình của bọn trẻ mà Opal đã gửi qua mail trong suốt mấy năm vừa qua, những bức hình cô từng từ chối xem. Cô đứng dậy, tiến đến cái máy tính xách tay nằm trên bàn. Trong tài khoản thư điện tử, cô tìm kiếm tên Opal. Jacquie mở từng mail có biểu tượng file đính kèm. Cô dõi theo đám trẻ qua từng năm. Ngày sinh nhật, khi mới biết đi xe đạp và những bức vẽ đầu tiên của chúng. Có đoạn phim ngắn quay lại cảnh chúng chạy vào bếp và ngủ trên giường tầng, tất cả trong một phòng. Ba đứa trẻ vây quanh một cái máy tính, ánh sáng màn hình phản chiếu trên khuôn mặt chúng. Một bức ảnh làm tan nát trái tim cô. Ba đứa nhóc xếp hàng trước mặt Opal. Opal với ánh mắt tĩnh lặng, tỉnh táo, khắc kỷ, dõi theo Jacquie trong suốt những năm qua với tất cả những việc họ cùng trải qua. Hãy đến đón chúng, chúng là của chị, nét mặt của Opal nói. Đứa nhỏ nhất mỉm cười nửa vời như thể một trong những nhóc anh trai vừa đấm vào tay nó, nhưng Opal đã bảo chúng phải tươi lên để chụp ảnh cho đẹp. Đứa đứng giữa đang giả vờ (hoặc thực sự) giơ tay ngang ngực, trông như biểu tượng băng đảng, nở một nụ cười toe toét. Cậu bé trông giống con gái Jacquie nhất, Jamie. Đứa lớn nhất không cười. Thằng nhóc có vẻ ngoài của Opal, cũng là vẻ ngoài của Vicky, mẹ của Jacquie.

Jacquie muốn đến với chúng. Cô muốn một cốc rượu. Cô muốn uống rượu. Cô cần một cuộc trị liệu. Trước đó, cô đã thấy thông báo về một cuộc gặp mặt sẽ diễn ra ở tầng hai, lúc bảy giờ ba mươi mỗi tối. Luôn có các cuộc gặp mặt dành cho kẻ nghiện rượu tại những hội nghị về chủ đề phòng chống lạm dụng dược chấtsức khỏe tâm thần, kín đầy những người như cô, những người đã tự trải qua điều đó và hy vọng hiểu được ý nghĩa của nó trong sự nghiệp giúp đỡ người khác tránh mắc phải mớ sai lầm mà họ đã sa chân vào. Khi cô lau mồ hôi trên mặt bằng tay áo, cô nhận ra điều hòa nhiệt độ đã tắt. Cô đi đến chỗ máy lạnh và chỉnh mức nhiệt xuống thật thấp. Cô thiếp đi trong làn hơi mát mẻ.

❀ ❀ ❀

[1] Tức là Washington, thủ đô của Hoa Kỳ.

Jacquie vội vàng bước vào phòng, nghĩ rằng mình đã muộn. Ba người đàn ông ngồi thành một vòng tròn nhỏ xếp từ tám chiếc ghế xếp. Đằng sau họ là những món ăn vặt chưa ai chạm tới. Căn phòng là một mớ hỗn độn của ánh đèn huỳnh quang, một phòng hội thảo nhỏ với tấm bảng trắng trên tường, ánh sáng trắng xóa, bao trùm tất cả trong cảm giác an lành, khiến mọi thứ trông như chương trình tivi của thập kỷ trước.

Jacquie đi đến dãy bàn phía sau và nhìn vào chỗ thực phẩm tự chọn - một máy pha cà phê phin nhỏ trông rất cũ, phô mai, bánh quy giòn, thịt và cần tây xếp hình vòng cung. Jacquie nhặt cây cần tây, rót cho mình một tách cà phê và bước tới chỗ mọi người.

Tất cả bọn họ đều là đàn ông bản địa lớn tuổi với mái tóc dài, hai trong số họ đội mũ bóng chày, người còn lại - trông có vẻ như thủ lĩnh của nhóm - thì đội mũ cao bồi. Mũ cao bồi tự giới thiệu mình là Harvey. Jacquie quay đầu đi, nhưng khuôn mặt đầy đặn, mắt, mũi, miệng, chúng là anh ta. Jacquie tự hỏi liệu Harvey có nhận ra cô không, bởi vì anh ta đứng lên, nói rằng mình phải đi vệ sinh.

Jacquie nhắn tin cho Opal. Đoán xem ai đang trong cuộc trị liệu với chị?

Opal trả lời ngay lập tức. Ai?

Harvey ở Alcatraz.

Ai cơ?

Harvey, kiểu: bố đẻ con gái đầu lòng của chị.

Không đời nào!

Vậy đấy.

Chị chắc không?

Chắc.

Chị sẽ làm gì?

Chị không biết.

Không biết?

Anh ta mới quay lại.

Opal gửi một bức ảnh chụp lũ trẻ trong phòng ngủ, chúng nằm giống hệt nhau, đầu đeo tai nghe, mắt nhìn lên trần nhà. Đây là bức ảnh đầu tiên Opal gửi qua tin nhắn kể từ khi Jacquie bảo cô đừng, rằng cô chỉ được phép gửi qua mail ảnh lũ trẻ vì việc đó có thể khiến Jacquie thẩn thờ cả ngày. Jacquie bắt tay từng người để chào hỏi.

Sẽ nói chuyện với anh ta sau buổi họp, Jacquie nhắn rồi chuyển điện thoại sang chế độ im lặng và cất nó đi.

Harvey ngồi xuống, không nhìn Jacquie. Anh ta hướng lòng bàn tay lên, chỉ vào cô. Việc anh không dám đối diện cô, cộng với chuyện đi vào phòng vệ sinh làm cô đoán chắc rằng Harvey hẳn phải biết. Bất kể ra sao, khi đến lượt cô chia sẻ câu chuyện của mình, chia sẻ bất cứ điều gì cô muốn, anh ta sẽ nhận ra ngay khi cô nói tên mình. Jacquie đặt khuỷu tay lên đầu gối, hướng về phía nhóm người.

“Tên tôi là Jacquie Red Feather. Tôi sẽ không nói câu: Tôi là một con nghiện rượu. Tôi sẽ nói: Tôi đã không uống nữa. Tôi đã từng uống và bây giờ thì không. Tôi đã tỉnh táo trong vòng mười một ngày. Tôi biết ơn khi được ở đây và được các bạn dành thời gian cùng ở đây. Cảm ơn sự lắng nghe của mọi người. Tôi đánh giá cao nỗ lực của các bạn.” - Jacquie ho khan, cổ họng cô đột nhiên khô ráp.

Cô nhỏ một giọt thuốc ho vào miệng, thành thục đến mức người khác có thể nhận ra cô đã uống rất nhiều thuốc ho và hút rất nhiều thuốc lá, và không bao giờ cố ngừng lại, có lẽ ngừng lại chỉ để uống thuốc, vì vậy mà cô phải dùng nó liên tục: “Uống rượu đã luôn là một vấn đề nghiêm trọng đối với tôi trước cả khi tôi bắt đầu uống. Không phải tôi muốn đổ lỗi cho quá khứ của mình, hay rũ bỏ nó. Chúng tôi đã đến đảo Alcatraz, tôi và gia đình, trong thời gian biểu tình, vào năm 1970. Mọi chuyện bắt đầu với tôi ở đó, với một đứa trẻ bất hảo...” - Jacquie nhìn thẳng vào Harvey khi cô nói điều này.

Anh ta chuyển động thân thể thiếu thoải mái trên ghế, nhìn chằm chằm xuống đất trong tư thế lắng nghe: “Có thể anh ta thậm chí còn không hiểu mình đang làm gì, có thể anh ta chỉ đơn giản là thích thú việc làm tình với hàng tá phụ nữ, dùng vũ lực ép buộc, những thằng khốn như vậy, giờ tôi hiểu và ngờ rằng, từ những gì đã thấy khi dành quãng thời gian ngắn ngủi với anh ta trên hòn đảo đó, rằng anh ta sẽ tiếp tục làm điều đó trong tương lai. Sau khi mẹ tôi qua đời, chúng tôi sống trong ngôi nhà của một người lạ. Một người họ hàng xa. Tôi biết ơn điều đó. Chúng tôi có thức ăn trên bàn, có một mái nhà trên đầu. Nhưng tôi đã buộc phải cho đi đứa con gái đầu lòng vào thời điểm đó. Cái thai tôi có từ hòn đảo. Từ những gì đã xảy ra ở đó. Khi tôi cho đi con bé, tôi mới mười bảy tuổi. Tôi còn dại khờ. Tôi không biết phải làm thế nào để tìm con bé ngay cả khi tôi muốn. Đó là một cuộc nhận nuôi kín đáo. Và kể từ đó, tôi đã có thêm một cô con gái nữa. Nhưng tôi cũng làm hỏng tất cả vì cơn nghiện, với bất cứ thức uống có cồn nào rẻ hơn mười đô. Sau đó, mọi chuyện trở nên tồi tệ, họ nói rằng tôi phải ngừng uống nếu muốn giữ việc. Và rồi, để tiếp tục được uống, tôi đã bỏ việc. Lúc đó, con gái Jamie của tôi đã chuyển ra khỏi nhà, vì vậy tôi dễ dàng hoàn toàn buông xuôi. Và cuối cùng tôi ngồi ở đây, kể câu chuyện kinh dị không hồi kết của men say. Tôi đã cố gắng trở lại với cuộc sống. Con gái tôi đã chết, để lại ba đứa con trai, nhưng tôi cũng bỏ mặc chúng. Tôi đang cố gắng tìm đường trở lại, như tôi đã nói, mười một ngày. Chỉ là, ta bị mắc kẹt vào nó, càng ngày càng lún sâu, không cách nào thoát khỏi.” - Jacquie ngừng lại và hắng giọng, rồi im lặng.

Cô ngước nhìn Harvey, nhìn những người khác trong nhóm, đầu họ đều cúi xuống. Cô không muốn kết thúc câu chuyện như vậy, nhưng cô không thể tiếp tục: “Tôi không biết nữa. Vậy đấy, tôi nói xong rồi.”

Mọi người im lặng. Harvey nuốt khan.

“Cảm ơn!” - Harvey nói. Anh ta ra hiệu cho người đàn ông tiếp theo lên tiếng.

Đó là một người khá già, Navajo, Jacquie đoán. Ông bỏ mũ ra, theo cách những người đàn ông Indian vẫn làm khi họ chuẩn bị cầu nguyện.

“Với tôi, tất cả đã thay đổi trong một cuộc trị liệu...” - Ông nói: “Không phải kiểu gặp gỡ này. Tôi tham gia vào nhóm sau sự thay đổi. Tôi đã uống rượu và dùng thuốc trong phần lớn cuộc đời trưởng thành của mình. Cố xây dựng gia đình vài lần, rồi lại để họ tan vỡ vì tình trạng nghiện ngập của mình. Và rồi một người anh em của tôi đã tổ chức một cuộc gặp gỡ. Giáo hội người Mỹ bản địa...”

Jacquie ngừng nghe. Cô nghĩ việc nói về Harvey trước mặt mọi người sẽ khiến chuyện trở nên dễ chịu hơn. Nhưng nhìn anh ta lúc này, nghe câu chuyện từ người khác, cô nhận ra anh ta có lẽ cũng từng có một khoảng thời gian khó khăn. Jacquie nhớ lại cách anh ta nói về cha mình khi còn ở trên đảo. Rằng anh ta thậm chí còn không được nhìn mặt cha mình kể từ khi họ đến nơi đó. Nghĩ về hòn đảo, Jacquie nhớ đã thấy Harvey vào ngày họ rời đi. Cô lên thuyền, và thấy anh ta đứng trong làn nước. Hầu như không ai từng muốn xuống nước. Nước biển lạnh cóng. Và tất cả mọi người đều cho rằng ở đó có cá mập. Jacquie cũng thấy cả em trai của Harvey, Rocky, chạy xuống đồi, hét tên Harvey. Động cơ con thuyền được bật lên. Mọi người đã ngồi xuống, chỉ còn Jacquie là đứng. Mẹ đặt tay lên vai Jacquie vì tưởng con gái buồn, và để cô đứng yên như vậy trong vài phút. Harvey không hề bơi. Như thể nước là nơi trú ẩn. Sau đó anh ta đã hét đáp lại em trai. Rocky nghe tiếng Harvey và nhảy xuống với quần áo trên người. Thuyền bắt đầu di chuyển.

“Được rồi, chúng ta đang đi, hãy ngồi xuống ngay bây giờ, Jacquie.” - Vicky nói.

Jacquie ngồi xuống, nhưng vẫn nhìn về phía hòn đảo. Cô thấy bố anh ta chạy vội xuống đồi, cầm thứ gì đó trong tay, một cây gậy hoặc một cái dùi. Cảnh vật nhỏ dần và khuất tâm mắt khi con thuyền đi qua vịnh.

“Tất cả chúng ta đều trải qua rất nhiều thứ mà chúng ta không thể hiểu, trong một thế giới được tạo ra chẳng phải để nghiền nát chúng ta, cũng chẳng phải để làm cho chúng ta trở nên vững vàng đủ để đối diện với mọi điều trước mắt.” - Harvey đang nói.

Jacquie nhận ra cô ấy đã mất tập trung.

“Say xỉn, phê pha dường như là điều duy nhất còn lại để làm...” - Harvey tiếp tục: “Vấn đề không phải là rượu. Chẳng có mối quan hệ đặc biệt thân tình nào giữa người Indian và rượu. Nhưng nó rẻ, có sẵn, hợp pháp. Nó là thứ duy nhất còn lại khi chúng ta không còn gì. Tôi cũng đã uống. Trong một khoảng thời gian dài. Nhưng tôi đã ngừng câu chuyện mà tôi tự kể cho bản thân mình, rằng nó là cách duy nhất để đối diện với khó khăn, rằng tôi đã chật vật với câu chuyện về việc tự chữa khỏi căn bệnh đó suốt cả cuộc đời, lỗi của tôi, lỗi của lịch sử. Chỉ khi ta thấy rằng câu chuyện là cách chúng ta sống cuộc sống của mình thì ta mới có thể bắt đầu thay đổi, mỗi ngày một chút. Chúng ta cố gắng giúp đỡ những người giống mình, cố gắng làm cho thế giới xung quanh trở nên tốt đẹp hơn. Và đó là điểm khởi đầu của câu chuyện. Tôi muốn nói rằng tôi căm ghét bản thân, và hối lỗi.” - Harvey ngước nhìn Jacquie, cô dứt khỏi ánh mắt: “Tôi cũng cảm thấy xấu hổ nữa. Cảm giác tích tụ suốt nhiều năm trời, dài hơn cả quãng đời còn lại. Nỗi xấu hổ khiến tôi muốn chửi đổng và quay trở lại uống để cứ thế kết thúc. Tôi xin lỗi tất cả những người mà tôi đã làm tổn thương suốt thời gian đó, tôi trả giá từng giây cho tất cả những gì tôi đã làm. Không một lý do gì có thể biện minh. Lời xin lỗi thậm chí còn chẳng có ý nghĩa nhiều như vậy... Chỉ cần thừa nhận rằng mình đã là một kẻ khốn kiếp, làm tổn thương mọi người, và rằng bạn không muốn tiếp tục như vậy nữa. Đôi khi đó là phần khó nhất. Hãy để tối nay kết thúc như thường lệ, nhưng hãy lắng nghe lời cầu nguyện, và thành thật với bản thân. Lạy Chúa, xin ban cho con sự thanh thản...”

Họ đồng thanh nói điều đó. Lúc đầu Jacquie không định tham gia, nhưng rồi cô cảm thấy muốn chia sẻ với họ: “Và ban cho con sự khôn ngoan để phân biệt được đúng sai!” - Cô kết thúc.

Căn phòng dần trở nên trống trải. Tất cả mọi người lần lượt rời đi trừ hai người họ, Jacquie và Harvey.

Jacquie ngồi đó, hai tay đặt trong lòng. Cô gần như hoá đá.

“Lâu quá rồi nhỉ...” - Harvey nói.

“Phải.”

“Em biết đấy, tôi sẽ quay trở lại Oakland vài tháng vào mùa hè. Mục đích chính là để tổ chức powwow, nhưng cũng là để...”

“Chuyện này có nhất thiết phải diễn ra bình thường không, kiểu như tôi với anh đã từng là bạn hay gì?”

“Tôi tưởng em ở lại để nói chuyện?”

“Tôi không biết tại sao tôi ở lại.”

“Tôi đã nghe những gì em mới nói, những gì đã xảy ra, chuyện ở Alcatraz, chuyện em cho người ta nhận nuôi con bé. Và tôi xin lỗi vì tất cả. Tôi không hề biết. Tôi mới phát hiện ra mình cũng có một đứa con trai. Thằng bé liên lạc với tôi qua Facebook. Nó sống ở..

“Cái quỷ gì thế?” - Jacquie ngắt lời, rồi đứng dậy để rời đi.

“Chúng ta có thể bắt đầu lại không?”

“Tôi không quan tâm thằng con trai, hay cuộc sống của anh.”

“Nhưng có cách nào để tìm ra không?”

“Tìm cái gì?”

“Con gái chúng mình.”

“Nó không phải con gái anh.”

“Có thể nó muốn biết.”

“Sẽ tốt hơn cho tất cả mọi người nếu con bé không biết.”

“Nhỡ chúng ta có cháu thì sao?”

“Đừng nói nữa.”

“Chúng ta không cần tiếp tục thù ghét nhau...” - Harvey nói và bỏ mũ xuống, để lộ chỗ hói trên đỉnh đầu. Anh ta đứng dậy, đặt cái mũ lên mặt ghế.

“Anh sẽ nói gì với thằng bé?”

“Về cái gì cơ?”

“Về việc anh đã ở đâu trong suốt chừng ấy năm.”

“Anh cũng không biết. Nghe này, Jacquie, anh nghĩ em nên cân nhắc việc trở lại Oakland cùng với anh.”

“Chúng ta thậm chí còn không biết nhau.”

“Đó sẽ là một chuyến đi không tốn kém. Chúng ta sẽ lái xe cả ngày lẫn đêm cho đến khi tới nơi.”

“Rồi sao? Anh muốn làm gì?”

“Tôi chỉ muốn giúp đỡ. Không cách nào có thể bù đắp những chuyện tôi đã làm với em. Nhưng anh sẽ cố.”

“Anh đã bỏ rượu bao lâu rồi?”

“Từ năm 1982.”

“Mẹ kiếp, giỏi đấy.”

“Đám trẻ cần bà ngoại của chúng.”

“Tôi không biết nữa. Và chắc chắn là anh chẳng biết mẹ gì về cuộc sống của tôi.”

“Chúng ta có thể tìm được con bé.”

“Không.”

“Có rất nhiều cách để...”

“Chúa ơi, anh im đi. Ngừng hành động như thể anh biết tôi, như thể chúng ta thậm chí còn có chuyện để nói với nhau, như thể chúng ta muốn gặp lại, chúng ta đã cứ thế…” - Jacquie ngừng lại, rồi đứng dậy và bước ra khỏi phòng.

Harvey bắt kịp cô tại cửa thang máy.

“Tôi xin lỗi, Jacquie, làm ơn...” - Anh ta nói.

“Làm ơn cái gì? Tôi phải đi bây giờ.” - Cô đáp và nhấn nút thang máy.

“Em không muốn sau này phải hối tiếc về mọi thứ đúng không?” - Harvey nói: “Em không muốn tiếp tục chọn cách chạy trốn đúng không?”

“Anh thực sự nghĩ rằng anh sẽ là người thay đổi tất cả mọi thứ? Tôi sẽ tự giết mình nếu phải nhờ đến sự giúp đỡ của anh. Anh có hiểu điều đó không?”

Cửa thang máy mở ra và Jacquie bước vào.

“Phải có lý do cho tất cả những chuyện này. Chuyện chúng ta gặp lại nhau...” - Harvey nói, đặt một tay lên giữ không cho cửa đóng.

“Lý do là tôi và anh đều là những kẻ khốn nạn và cộng đồng Indian thì nhỏ bé.”

“Vậy thì đừng đi cùng tôi, được thôi. Đừng bận tâm những lời của tôi. Nhưng em đã nói trong buổi gặp mặt. Bạn biết thứ bạn muốn. Em đã nói thế. Em muốn quay trở lại.”

“Được thôi.” - Jacquie nói.

“Được rồi. Em sẽ quay lại?”

“Tôi sẽ nghĩ về chuyện ấy.” - Cô đáp.

Harvey buông cửa thang máy.

Trở lại phòng, Jacquie thả người xuống giường. Cô đặt một chiếc gối lên mặt. Sau đó cô vô thức đứng dậy và đi đến chiếc tủ lạnh. Cô mở nó ra. Trong đó xếp đầy những chai rượu mạnh, rượu vang nhỏ xíu, bia. Lúc đầu điều này làm cô hạnh phúc. Ý tưởng về cảm giác lâng lâng, thoải mái và an toàn mà năm hay sáu cốc rượu đầu tiên mang lại, sau đó cô không thể tránh khỏi kéo dài đến cốc thứ mười hai, rồi mười sáu, bởi vì tấm mạng bao trùm mọi nơi, một khi bạn đã bị mắc kẹt, không có cách nào thoát ra. Jacquie đóng tủ lạnh, với tay ra phía sau để rút phích cắm điện. Cô nhấc cái tủ lạnh lên để cắm tivi, rồi dùng hết sức lực lôi nó ra cửa. Những cái chai kêu lách cách như thể phản đối. Dần dần, theo cách riêng của mình, cô mang được chiếc tủ lạnh ra bên ngoài hành lang, sau đó quay lại phòng và gọi cho quầy lễ tân bảo họ đến lấy nó. Jacquie đổ mồ hôi như tắm. Cô vẫn muốn uống. Vẫn còn thời gian trước khi họ đến mang nó đi. Cô cần phải rời khỏi chỗ này. Cô mặc đồ bơi vào.

Jacquie vòng qua cái tủ lạnh, đi xuống hội trường, nhận ra mình đã quên thuốc lá, Jacquie quay lại để lấy chúng. Cô vô tình đá vào nó khi trở ra khỏi phòng.

Mẹ kiếp, cô nói và nhìn xuống cái tủ lạnh. Jacquie ngó xem có ai xung quanh không, rồi mở tủ lạnh và lấy ra một chai. Rồi một chai nữa. Cô cuộn sáu chai trong khăn tắm. Rồi mười chai. Jacquie phải ôm chúng bằng cả hai tay trên đường đến thang máy.

Cô quay trở lại hồ bơi vắng người, lặn xuống nước cho đến khi ngực căng rát. Mỗi lần trôi lên, cô lại nhìn về chỗ rượu cuộn trong cái khăn. Khi bạn ngưng thở, cảm giác tù túng, bức bách và đau đớn. Khi bạn được hít vào một hơi thật sâu, cảm giác giải thoát lan truyền khắp thân thể. Nó cũng giống như việc bạn uống sau bao nỗ lực kiềm chế bản thân mình. Mọi thứ dường như vỡ tan vào một khoảnh khắc. Cả cho và nhận. Jacquie bơi qua lại dọc thành bể. Cô nghĩ về những đứa cháu của mình. Bức ảnh chụp chung cùng với Opal, khuôn mặt của Opal, đôi mắt của Opal với Jacquie. Hãy đến đón chúng.

Jacquie ra khỏi bể bơi và đi đến chỗ chiếc khăn. Cô nhấc những cái chai lên, cuộn vào khăn rồi ném chúng bay một vòng xuống nước. Chiếc khăn trắng từ từ chìm rồi nằm yên dưới đáy bể. Những cái chai cũng chìm xuống đáy. Cô quay người, đi ra cửa và trở về phòng.

Jacquie nhắn tin cho Opal thế này: Nếu chị về Oakland, chị có thể ở lại chỗ em được không?

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.