Hố Đen Tội Ác

Lượt đọc: 42 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
Ô Hô! Những Hộ Chuyên Nghiệp Lấy Giả Đánh Tráo Thật

❊ ❊ ❊

◎ Họa từ ác dục mà ra

● Dân nghèo tất sinh gian tà

Vào thời kỳ đầu cải cách, nền kinh tế cá thể và tập thể của nước ta vẫn chỉ hoạt động với vị thế của những "cầu thủ dự bị" tại các vùng thành thị và nông thôn. Sau khi thể chế kinh tế chuyển đổi, kinh tế cá thể cuối cùng cũng thoát khỏi cảnh kìm kẹp, trút bỏ tấm khăn che mặt ngượng ngùng, hiên ngang bước lên sân khấu chính của nền kinh tế Trung Quốc, tạo thế đối trọng với kinh tế nhà nước. "Cá thể" không còn là một cái tên e dè nữa. Cơn sốt "xuống biển" (bỏ việc nhà nước ra làm riêng) sầm uất chính là nhắm vào "cá thể" mà tới, thế là trong một thời gian, các thành phần kinh tế ở Trung Quốc xuất hiện cục diện chư hầu tranh hùng. Dù là kinh tế nhà nước, kinh tế cá thể hay "liên doanh", dưới quy luật của nền kinh tế thị trường, tất cả đều là "ưu thắng liệt bại, thích giả sinh tồn" (người giỏi thì thắng, người kém thì bại, kẻ thích nghi thì sống sót). Cho đến nay, các nhà kinh tế học trong và ngoài nước vẫn không thể hiểu nổi hiện tượng phát triển mạnh mẽ của kinh tế cá thể ở Trung Quốc. Trong sự kìm kẹp giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, kinh tế cá thể vẫn có thể tồn tại kiên cường, không ngừng mở rộng địa bàn của mình, quả là một kỳ tích. Kỳ thực, những người hiểu rõ tình hình đất nước Trung Quốc sẽ không cảm thấy kỳ lạ về lịch sử phát triển của kinh tế cá thể nước này. Kinh tế cá thể tạo thuận lợi cho đời sống cư dân, bổ sung cho những khiếm khuyết của kinh tế nhà nước, công lao này ai cũng thấy rõ, vì vậy được người dân hoan nghênh và được chính trị Trung Quốc thừa nhận. Điều này trước hết là có mảnh đất cần thiết để nó sinh tồn. Chiến lược sinh tồn của kinh tế cá thể không thể không là gốc rễ của thắng lợi "lấy yếu thắng mạnh". Người ta dùng một câu để tóm tắt chiến lược sinh tồn này: Không có đồng tiền nào mà không dám kiếm.

Kiếm tiền là động cơ hàng đầu của những người làm kinh tế cá thể. Còn trách nhiệm xã hội, trách nhiệm đạo đức và hàng loạt yếu tố phi kinh tế khác, đều không nằm trong danh sách cân nhắc đầu tiên của họ. Câu nói "Lừa ông Trương xong lại lừa ông Lý" đã khắc họa sinh động chiến lược kinh doanh của đại đa số người kinh tế cá thể. Đạo đức không phải là yếu tố kinh tế, tất nhiên không nằm trong danh mục "kiếm tiền". Khi tâm thái người dân vẫn còn trong trạng thái mất cân bằng tâm lý, họ thường tỏ ra khinh thường hoặc coi rẻ đối với những người và hành vi xem thường đạo đức. Hệ thống giáo dục coi trọng đạo đức xã hội, coi nhẹ kinh tế thương mại được hình thành từ lâu, khiến trong tinh thần người dân nảy sinh một dạng dị hình khó mà diễn tả bằng lời, đó chính là sự "siêu việt" của đạo đức. Thường thì mỗi khi nhắc đến chuyện làm "cá thể", người dân lại im lặng như ve sầu mùa đông, không chỉ mất mặt mà còn không có thân phận. Trong lựa chọn nghề nghiệp, lưu hành một câu cửa miệng: "Ở đây không giữ ông, ắt có chỗ giữ ông, chỗ nào cũng không giữ ông, thì anh em ta đi làm hộ cá thể". Hộ cá thể trở thành "Lương Sơn Bạc" trên con đường chọn nghề. Chỉ khi bị dồn vào đường cùng, người ta mới nghĩ đến việc bước lên con đường mạo hiểm này. Từ đó, hộ cá thể bị người dân cố ý xem nhẹ một bậc là điều tất yếu. Sau khi trải qua sự tôi luyện của kinh tế kế hoạch, khi cùng bước ra biển lớn của kinh tế thị trường và cuối cùng ngộ ra mối quan hệ giữa đạo đức và tiền bạc, người dân cũng bắt đầu có cách hiểu mới về hộ cá thể, thậm chí có người còn dũng cảm gia nhập ngành này.

Dù việc chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường đã trải qua hai năm, nhưng để thực sự hoàn thành mệnh đề lịch sử này vẫn cần một giai đoạn lịch sử khá dài. Kinh tế cá thể với kỹ thuật và vốn liếng ít ỏi, lại muốn tranh hùng thiên hạ với gã khổng lồ là kinh tế nhà nước trong thị trường. Dù là điều không thể, nhưng "cá có đường của cá, tôm có đường của tôm". Kinh tế cá thể biết rõ mình không đủ sức kháng cự, đành phải đổi sang chiến lược sinh tồn và phát triển tự thân: "Nhường đường lớn, chiếm hai bên".

Kỹ thuật lạc hậu, vốn liếng không đủ, quy mô sản xuất của kinh tế cá thể tất yếu yếu kém, sản phẩm tất yếu không được như ý. Nhìn tổng quan tình hình trong nước, dù sản phẩm cá thể cũng xuất hiện không ít "sản phẩm mũi nhọn" chiếm lĩnh thị trường trong nước hoặc quốc tế, nhưng cái danh xấu "hàng giả, hàng kém chất lượng" quá khó để xua tan. Mỗi lần chống hàng giả, kinh tế cá thể lại là đối tượng chịu ảnh hưởng đầu tiên. Đặc biệt là những bộ phận kinh tế cá thể ở các vùng núi nghèo khó, một không kỹ thuật, hai không vốn liếng, khởi nghiệp bằng tay trắng, cái gọi là sinh tồn phát triển cũng chủ yếu dựa vào "lừa lọc, dối trá". Thế là, trong vòng tròn của kinh tế cá thể, cái gì kỳ lạ cũng có, cái gì cũng làm. Rượu giả, thuốc giả, súng giả, buôn bán ma túy, v.v., những hoạt động bất hợp pháp này đã sớm được người đời biết đến. Thế nhưng, hộ cá thể làm tiền giả thì người đời vẫn chưa biết hết.

Sau khi dịch bệnh tiền bạc lan tràn khắp đại lục Trung Quốc, những vụ làm ăn "vốn một lời bốn" đã khơi dậy dục vọng tham lam của những kẻ bất lương. Đặc biệt là những tay lão luyện trong nghề làm giả từng có "ngón nghề sở trường" trước giải phóng hoặc đầu thời kỳ giải phóng, lại một lần nữa nhìn thấy cơ hội kiếm tiền, thế là không kìm lòng được mà quay lại nghề cũ. Với sự tham gia của những "cốt cán già" này, đội ngũ làm giả ở Trung Quốc ngày càng lớn mạnh, hình thành cơ cấu tuổi tác phối hợp cả già, trung, trẻ.

Một số ngôi làng miền núi ở các tỉnh ven biển như Quảng Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến đã mang cái danh xấu "làng tiền giả" từ thời Quốc dân đảng. Khi đó, chiến tranh loạn lạc, phỉ tặc nổi lên bốn phía. Những ngôi làng miền núi "trời cao hoàng đế xa" ấy đã trở thành căn cứ an toàn nhất để làm tiền giả. Lịch sử làm giả của những ngôi làng này đã không thể khảo chứng, nhưng theo lời khai của tội phạm, từ thời nhà Minh, ở đó đã có người làm nghề này. Cứ thế, đời đời truyền lại, kỹ thuật làm tiền giả đã tích tụ vào mảnh đất cằn cỗi đó. Có những ngôi làng mà thuật làm giả đàn bà trẻ con đều biết, khi đi bán hàng giả thì cha con cùng xuất trận, nhà nhà đều có xưởng. Thời Quốc dân đảng cai trị, làm giả kim nguyên phiếu, đô la Mỹ, rải ra khắp thiên hạ, kiếm được những khoản tiền bất nghĩa lớn. Đầu thời kỳ giải phóng, nhân lúc chính quyền ở những vùng núi xa xôi chưa ổn định, một số dân làng vẫn không ngừng làm điều ác. Làm giả bộ tiền nhân dân tệ thứ nhất, vận chuyển vào trong thâm sơn cùng cốc, lừa gạt những dân làng ngu muội, hô ứng từ xa với đặc vụ Quốc dân đảng, làm tay sai cho cọp dữ. Về sau, chính phủ áp dụng biện pháp mạnh, trấn áp một số lượng lớn kẻ làm giả tội ác tày trời, tăng cường xây dựng chính quyền cơ sở. Từ đó về sau, các hoạt động làm giả mới tiêu tan.

Sau khi nông thôn nước ta thực hiện chế độ khoán sản xuất, một số nơi thậm chí xuất hiện nguy cơ chính quyền cơ sở tê liệt. Dân làng sau khi "thả dê" (tự do làm ăn) như cát rời, ai cũng khoe tài, phô diễn tuyệt chiêu của mình. Sai lầm lớn này của chính quyền địa phương đã tạo cơ hội tuyệt vời cho những kẻ làm giả "tái phát bệnh cũ". Sự thâm nhập của "dịch bệnh" tiền bạc từ bên ngoài núi càng khiến lòng dân ở vùng núi xao động bất an. Cùng với "làn sóng dân công xuống phía Nam", những tay lão luyện làm giả cũng bọc những bộ dụng cụ đã cất giấu mấy chục năm vào trong chăn mền rách rưới, bước lên con đường "làm giàu". Vài năm trôi qua, trong những góc núi "chim sẻ tìm mồi cũng không xuống dốc" ấy cũng mọc lên một hai tòa nhà nhỏ kiểu tây. Cũng xuất hiện những vị sư phụ có học trò đầy khắp thiên hạ, cũng có những đồ đệ ngược xuôi phương Nam cầu "nghệ". Từ đó, chốn rừng núi có được sự náo nhiệt và phồn vinh chưa từng có. Trong nhóm người làm giả này đã xuất hiện một số cao thủ "nổi danh khắp chốn" như Tần Văn Khê, Hứa Vận Xương, Phạm Kim Nguyên, v.v., những "tay giỏi" làm tiền dân gian. Đằng sau sự cung kính của người đời đối với những kẻ này là tích tụ cả một chuỗi tội ác không thể dung tha. Trong những bức tường của những tòa nhà kiểu tây ấy là sự đau khổ và ai oán của vô số người lương thiện bị tiền giả hãm hại. Trong không khí náo nhiệt này ẩn giấu những ám khí bắn thẳng vào nền kinh tế Trung Quốc.

◎ "Chuyên gia đúc tiền dân gian"

● Bến đỗ đời đời của những kẻ có tay nghề phi phàm

Tần Văn Khê đã là lần thứ ba đến Quý Châu truyền "nghệ".

Trong các ngôi làng miền núi ở Quý Châu có bao nhiêu học trò của hắn, hắn khó mà nhớ rõ. Tại ngôi làng trong thung lũng nghèo khó ở huyện Bắc Lưu, Quảng Tây, chính Tần Văn Khê là người đầu tiên xây dựng ngôi nhà ngói hai tầng khiến hàng xóm láng giềng ngưỡng mộ. Tiền xây nhà đều là kiếm được từ ngón nghề của hắn — tiền bái sư của những học trò đến xin học. Ở vùng giáp ranh của ba huyện Dung Giang, Lê Bình, Tùng Giang thuộc Quý Châu, trong phạm vi vài km, Tần Văn Khê đã giành được tôn xưng "chuyên gia đúc tiền dân gian".

Tần Văn Khê, 58 tuổi, sống bằng nghề nông. Cha và ông nội của Tần đều từng là cao thủ làm tiền ở vùng Bắc Lưu. Trước giải phóng, gia đình Tần sống sung túc, ở địa phương được gọi là đại gia đình, cuộc sống gia đình chủ yếu dựa vào ngón nghề làm tiền giả độc truyền đó. Ở nhà họ Tần lúc bấy giờ có một "gia quy" nghiêm ngặt: Kỹ thuật làm giả chỉ truyền cho con trai không truyền cho con gái. Ba đời nhà họ Tần đều là truyền đơn độc, nên ngón nghề này mới có thể lưu truyền trọn vẹn. Trong thời loạn lạc, bọn buôn tiền giả khắp vùng Tây Nam đều công nhận hàng của nhà họ Tần là "hàng hiệu", nên công việc làm ăn của nhà họ Tần đương nhiên hưng thịnh, tiền vào như nước. Tần Văn Khê từ nhỏ đã tai nghe mắt thấy, đối với việc làm tiền giả có linh tính nhạy bén. Khi mới giải phóng, Tần Văn Khê lúc đó còn là thiếu niên đã cùng các bậc cha chú buôn bán tiền giả. Chẳng bao lâu sau, cha của hắn vì là phần tử cầm đầu và một nhóm đối tượng làm tiền giả đã bị Chính phủ Nhân dân xử tử tại chỗ vì tội gây rối trật tự tài chính. Tần Văn Khê vì còn nhỏ nên được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Kể từ đó, hoạt động làm giả ở Bắc Lưu tiêu tan.

Sau khi công xã hóa, Tần Văn Khê vì không biết làm ruộng nên được ủy ban thôn sắp xếp đến một thị trấn nhỏ gần đó mở một xưởng khắc dấu, vừa có thể kiếm chút thu nhập cho thôn, vừa có thể phát huy sở trường điêu khắc của mình. Phải nói, kỹ thuật điêu khắc của Tần Văn Khê ở địa phương vẫn chưa có ai dám so bì cao thấp. Thế là, Tần Văn Khê bình yên được mấy chục năm.

Sau khi nông thôn thực hiện chế độ khoán sản xuất, Tần Văn Khê cũng được chia vài sào ruộng nước và vài mẫu ruộng cạn. Tần Văn Khê "ngũ cốc bất phân" (không biết làm ruộng) đành phải cho dân làng khác thuê lại đất để canh tác, bản thân vẫn tiếp tục khắc dấu ở thị trấn. Tuy công việc không nhiều nhưng cũng đủ để nuôi gia đình.

Cùng với sự đi sâu của cải cách mở cửa, người dân ở thị trấn nhỏ cũng bắt đầu hoạt bát hơn. Trên phố bắt đầu có doanh nghiệp tư nhân, có xưởng gia đình. Và thế là xuất hiện những tên phất lên nhanh chóng, xuất hiện những "đại gia". Cũng thỉnh thoảng có làn gió phương Nam thổi vào, có những nhóm thanh niên xuống phía Nam xông pha thế giới. Tần Văn Khê lúc đã xế chiều nhìn thế giới hoa lệ bên ngoài, cũng nảy sinh ý định kiếm tiền.

Một ngày nọ, một "đại gia" đến xưởng khắc dấu của Tần Văn Khê, yêu cầu khắc gấp một con dấu công ty, tuyên bố: "Công ty sắp ký hợp đồng với một thương nhân nước ngoài, cần làm một thủ tục, cần gấp khắc một con dấu". Nói xong, người kia lấy ra một nắm tiền từ trong túi nhét vào túi áo Tần Văn Khê. Cũng vì bị tiền làm mờ mắt, ngay cả giấy chứng nhận do cơ quan công an địa phương cấp mà đáng lẽ phải có, Tần Văn Khê cũng quên kiểm tra, lập tức khắc con dấu cho người kia. Rất nhanh, một con dấu chuẩn xác đã được trao vào tay người khách. Tối đến, sau khi Tần Văn Khê về nhà, lấy nắm tiền trong túi ra đếm, không thiếu một đồng, tròn hai ngàn tệ, tương đương với thu nhập lao động một năm của Tần Văn Khê.

Sau khi Tần Văn Khê lần đầu nếm được cảm giác hạnh phúc khi kiếm tiền dễ dàng, dù có vài lần cảm thấy sợ hãi, nhưng sau đó vẫn tiếp tục giúp người khác khắc vài con dấu như vậy. Số tiền kiếm được đương nhiên gấp mấy chục thậm chí cả trăm lần một con dấu bình thường. Của cải bất nghĩa cuối cùng đã khơi dậy lòng tham của hắn. Sau đó thì cứ đến là nhận, gan ngày càng lớn, việc làm ăn ngày càng nhiều, tiền bạc tích tụ ngày càng dày. Trong nhà không chỉ thực hiện điện khí hóa sớm hơn hàng xóm vài năm, mà trong ngân hàng còn có một khoản tiền không nhỏ, vốn chuẩn bị để dành về quê xây nhà. Cũng là quả báo cho sự làm nhiều điều bất nghĩa của Tần Văn Khê, công ty kia vốn là một công ty "túi da" (công ty ma), chuyên lừa tiền bằng chiêu "tay không bắt giặc". Một lần,Cư nhiên (thật sự) kết nối được với một thương nhân nước ngoài, đang định ra tay lừa một vố thì bị người ta phát hiện. Cơ quan kiểm sát lập án điều tra, lần theo manh mối tìm ra kẻ chủ mưu làm giả con dấu. Tần Văn Khê từ đó bị kết án 2 năm tù, tài sản phi pháp bị tịch thu sung công quỹ. Sau khi Tần Văn Khê vào tù, vợ dẫn theo đứa con trai duy nhất rời bỏ hắn.

Tần Văn Khê cuối cùng đã tự mình hại mình.

Giấy phép của xưởng khắc dấu đã bị tịch thu, Tần Văn Khê đành phải quay về quê làm ruộng.

Năm đầu tiên, khi đến kỳ quyết toán cuối năm, Tần Văn Khê không những không trả hết các loại thuế cho nhà nước và địa phương, mà còn nợ dân làng một khoản lớn.

Tết năm ấy, dân làng thấy cửa nhà Tần Văn Khê treo một chiếc khóa sắt lớn, tưởng hắn đi thăm người thân nên chẳng ai để tâm. Mãi đến khi sang xuân, dân làng thấy ổ khóa nhà họ Tần vẫn treo ở đó mới chợt nghĩ có lẽ hắn đã đi làm thuê ở xa rồi. Năm nay, người Bắc Lưu đi làm thuê ở xa đặc biệt nhiều.

Tần Văn Khê chọn một đêm trời tối gió cao, lặng lẽ rời khỏi thôn. Hành lý tùy thân của hắn ngoài một chiếc chăn bông cũ ra, còn có một bộ dụng cụ điêu khắc.

Sau khi rời khỏi thôn, Tần Văn Khê nhớ đến người bạn tù Vương Quân. Hai người từng ở chung một buồng giam, hơn nữa còn nằm giường trên giường dưới, lại còn ra tù cùng một ngày. Vương Quân là người Dung Giang, Quý Châu, kém Tần 10 tuổi, vẫn là gã độc thân.

Ngày ra tù, Vương Quân hỏi Tần Văn Khê có dự định gì. Tần chỉ trả lời một câu: "Về nhà gặp vợ con rồi tính tiếp". Vương Quân không nói gì, để lại địa chỉ của mình, từ đó hai người không gặp lại nhau.

Tần Văn Khê về đến nhà mới biết người đi nhà trống, bản thân đã thành gã độc thân. Lúc đó, Tần còn một người mẹ già còn sống, cần người chăm sóc, Tần kìm nén dã tâm muốn ra ngoài của mình, ở lại bên cạnh mẹ già. Không ngờ trước Tết, mẹ già của Tần đổ bệnh, chẳng bao lâu sau đã qua đời. Cũng nhờ sự giúp đỡ của hàng xóm láng giềng mới mai táng vội vàng cho mẹ.

Đúng vào ngày trước Tết, Tần biến mất khỏi thôn.

Tần Văn Khê đến Dung Giang, Quý Châu, rất dễ dàng tìm thấy Vương Quân.

Hơn một năm không gặp, Vương Quân đã phất lên. Trong nhà cưới được một người vợ trẻ đẹp, xây được một tòa nhà nhỏ kiểu tây. Đồ điện trong nhà về cơ bản đã đầy đủ.

Tối hôm đó, Vương Quân sắp xếp tại một nhà hàng sang trọng nhất địa phương để đón tiếp "tri kỷ hoạn nạn" trong tù này.

Rượu qua ba tuần, Vương Quân hỏi về việc Tần Văn Khê đến Quý Châu. Tần đã như con chó rơi xuống nước, nhìn thấy người bạn tù cũ mình một lòng muốn dựa dẫm nay đã trở nên giàu có như vậy, như nhìn thấy cứu tinh, liền nói hết hoàn cảnh của mình khi về nhà. Sau đó, Tần thuận nước đẩy thuyền, nói thẳng: "Đại ca lần này ra ngoài là một lòng muốn đến nương nhờ tiểu đệ kiếm bát cơm ăn. Không biết tiểu đệ có chê không". Trong bữa tiệc, Vương Quân không hề nói cho Tần biết nội dung kinh doanh của mình. Trước đây, Vương Quân từng có vài lần chuyên môn đến Quảng Tây tìm Tần, đều vì không biết địa chỉ cụ thể của Tần Văn Khê mà bỏ cuộc. Vương Quân vào tù là vì buôn bán đồ đạc mà phạm sự. Một lần, hắn tham gia một băng nhóm buôn lậu cổ vật cấu kết trong và ngoài nước mà bị bắt vào tù. Sau khi ra ngoài, vẫn không biết hối cải, còn biến bản chất xấu xa hơn. Không chỉ buôn lậu cổ vật, có thể nói cái gì kiếm ra tiền là hắn buôn cái đó. Việc buôn bán tiền giả cũng là một phần lớn trong công việc kinh doanh của hắn. Sau khi kiếm được một khoản tiền đen, Vương Quân bỗng nhớ đến Tần Văn Khê và chuyện vào tù của mình, cảm thấy bán hàng giả kiếm tiền chậm nên bắt đầu lên kế hoạch làm giả. Vì không tìm được đồng bọn "chí đồng đạo hợp" như Tần nên đành thôi, không ngờ hôm nay, Tần tự mình tìm đến tận cửa, Vương Quân cảm thấy niềm vui từ trên trời rơi xuống. Hắn cũng đem những lời gan ruột nói hết cho Tần Văn Khê nghe. Cảnh đẹp cuộc sống ăn chơi trác táng lập tức lay động trái tim Tần. Chẳng bao lâu sau, tại một thị trấn nhỏ ở Dung Giang đã treo lên tấm biển "Xưởng khắc dấu".

Kể từ đó, ở vùng giáp ranh ba huyện Dung Giang, Lê Bình, Tùng Giang của Quý Châu, xuất hiện một nhà máy làm tiền giả lưu động. Tần Văn Khê lấy ra ngón nghề gia truyền của nhà mình, từ khắc bản đến lên màu, in ấn, v.v., quy trình nào hắn cũng tự mình làm lấy. Sau đó tuyển thêm ba gã thanh niên cùng hội cùng thuyền, chỉ phụ trách canh gác và vận chuyển đồ đạc, không được phép lại gần xưởng nửa bước. Sản phẩm đều do Vương Quân phụ trách tiêu thụ. Tiền kiếm được, Tần và Vương Quân chia sáu ba, phần còn lại cho nhân công.

Chưa đầy ba tháng, trong túi Tần Văn Khê đã nhét đầy 20 ngàn nhân dân tệ thật. Vì sản phẩm của Tần làm công phu tinh xảo, những tờ tiền mệnh giá lớn được chế tạo hình ảnh chân thực, hình chìm chính xác, nên tiêu thụ khá tốt, thậm chí còn cung không đủ cầu. Trong thời gian này, trong túi Vương Quân cũng nhét đầy mấy chục ngàn. Vương Quân tuân thủ nghiêm ngặt kinh nghiệm "thỏ không ăn cỏ gần hang", toàn bộ số tiền giả đều được tiêu thụ ra vùng Trung Nguyên và Quan Ngoại. Cơ quan công an nhất thời khó mà phát hiện ra vụ án này, khiến băng nhóm này nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật một thời gian dài, gây ra tác hại cực kỳ lớn cho xã hội.

Ba tháng sau, Tần Văn Khê vì "làm việc" không kể ngày đêm trong căn phòng nhỏ hẹp đó, cuối cùng đổ bệnh một trận nặng. Nửa tháng sau mới bình phục. Trong lúc ốm, Tần Văn Khê cảm thấy năm tháng chẳng tha ai. Bản thân mình có chút lực bất tòng tâm. Cộng thêm làm nghề trộm cướp, sợ đêm dài lắm mộng. Hắn quyết định chính mình ngừng đao, tuyển rộng học trò.

Một đêm xuân mưa dầm, Tần Văn Khê không từ mà biệt với Vương Quân. Hắn biến mất trong những dãy núi ở Kiềm Đông. Vương Quân không bao giờ còn gặp lại Tần Văn Khê nữa.

Tần Văn Khê không trở về quê hương mình, vẫn lưu lạc trong những dãy núi ở Kiềm Đông.

Mỗi khi tuyển một học trò, Tần Văn Khê thu học phí 400 tệ. Điều kiện là bao học thành nghề in ấn tiền nhân dân tệ, và khi xuất sư sẽ tặng một con dao khắc. Với kỹ nghệ cao siêu của Tần Văn Khê, đương nhiên là người hưởng ứng như mây. Đã thu nhận bao nhiêu học trò, Tần không nhớ rõ nữa. Chỉ là trong lần thứ hai và thứ ba Tần trở về Bắc Lưu, Quảng Tây để vinh quy bái tổ, trong túi đang nhét 30 ngàn tiền mặt, còn có không ít ngoại tệ, đây đều là một phần số tiền hắn kiếm được từ việc tuyển học trò trong ba năm đó.

Cũng nên là cái kết của Tần Văn Khê làm nhiều điều ác tất tự diệt. Vương Quân trong một lần buôn tiền giả đã sa lưới, trong lúc thẩm vấn đã khai ra Tần Văn Khê, Tần từ đó cũng rơi vào lưới pháp luật. Lần này, điểm gặp mặt cuối cùng của cặp tri kỷ trong tù này sẽ không phải là ở nhà giam, mà là ở dưới âm phủ.

Tần Văn Khê — vị chuyên gia đúc tiền dân gian này cuối cùng đã nhận được bến đỗ mà hắn đáng có — tử hình thi hành ngay lập tức.

Tần Văn Khê có thể gọi là "gia tộc đúc tiền" danh xứng với thực. Ba đời ông cháu dựa vào việc in ấn tiền bạc mà phát tài lớn, nhưng cuối cùng đều vì in tiền giả mà mất mạng. Đúng với câu cổ ngữ: "Làm nhiều điều ác tất tự diệt."

◎ Người chơi tiền rồi mất mạng

● Lấy giả đánh tráo thật để loạn thế

Tần Văn Khê dựa vào việc in tiền mà giàu sang phú quý, nhờ kỹ thuật điêu khắc trở thành thợ giỏi nổi tiếng một phương ở Quý Châu. Lúc sinh thời Tần Văn Khê quả thực đã huy hoàng được mấy năm, còn số phận của Phạm Kim Nguyên ở Giang Tô thì lại không được đỏ vận như Tần Văn Khê.

Nông dân Phạm Kim Nguyên ở thôn Mâu Tân, trấn Đường Thị, thành phố Thường Thục, gia cảnh nghèo khó. Bản thân vừa không có tay nghề, lại vừa lười biếng, đến 32 tuổi vẫn là gã độc thân.

Tháng 3 năm 1991, Phạm Kim Nguyên bắt xe đến Thượng Hải tìm việc làm. Vừa xuống xe đã nghe thấy: "Đổi tiền đi", một giọng trầm nhưng rất quyến rũ truyền đến, không khỏi thu hút bước chân của Phạm Kim Nguyên.

Chỉ thấy một người đàn ông dáng người thấp nhỏ, tay cầm xấp tiền "ông già" (chân dung Mao Trạch Đông) loại một trăm tệ, đứng trước mặt hắn không ngừng lắc lư.

"Tiền mà cũng đổi được à?" Phạm Kim Nguyên còn tưởng tai mình nghe nhầm, vội vàng bán tín bán nghi hỏi lại một câu.

"Đương nhiên là được, một tờ đổi năm tờ". Người thấp nhỏ vội vàng trả lời. Cách ăn mặc của Phạm Kim Nguyên, một hình tượng "nhà quê" mà người Thượng Hải coi thường. Người thấp nhỏ nhắm trúng hắn, trong lòng không hề có chút đề phòng.

Phạm Kim Nguyên lấy một tờ từ tay người thấp nhỏ, đưa ra dưới ánh mặt trời, nhìn đi nhìn lại mặt trước mặt sau mấy lần, cứ cảm thấy tờ tiền nhân dân tệ này có chút khác với tờ tiền thường dùng, nhưng nhất thời lại không nói ra được, khác ở chỗ nào. "Này người anh em, tôi thấy, tiền này có chút..." Phạm Kim Nguyên ở nhà không muốn làm ruộng, nên mấy năm nay phần lớn thời gian đều lang thang ở Thượng Hải, Nam Kinh, Tô Châu và các thành phố khác. Nhưng lần nào ngoài tiêu tiền ra thì chẳng học được gì, hắn cũng không muốn học, sợ ăn cái khổ đó. Đi làm thuê ở ngoài lâu, kiến thức cũng nhiều hơn, vì vậy khi thấy tiền của người thấp nhỏ có chút khác lạ, Phạm Kim Nguyên cố ý chỉ nói một nửa câu.

"Không giấu gì anh em, tiền này là làm giả đấy". Người thấp nhỏ thấy người đến cũng không phải kẻ tầm thường, nên nói thẳng thắn cho hắn biết trong tay hắn cầm là hàng giả.

"Tiền mà cũng làm được à, có chuyện này sao?" Phạm Kim Nguyên cố làm vẻ kinh ngạc.

"Chuyện này rất dễ, nếu anh em có hứng thú, tôi bao dạy bao biết". Người thấp nhỏ từ sắc mặt của người đến đã cảm nhận được trước mắt vị này có lẽ cũng là "người đồng đạo", nên cũng cố ý dùng lời để câu dẫn hắn.

"Người anh em thật lòng muốn dạy tôi?" Phạm Kim Nguyên được đằng chân lân đằng đầu.

Người kia đưa bàn tay phải ra, Phạm Kim Nguyên lập tức hiểu ý, cũng đưa tay phải ra. Hai tay nắm nhẹ, hai bên liền ngầm hiểu.

Dù sao cũng là làm trộm nên chột dạ. Phạm Kim Nguyên túm lấy tay người đàn ông đó, đi đến một nhà hàng gần đó. Gọi rượu và thức ăn, Phạm Kim Nguyên vừa than nghèo kể khổ, vừa cầu xin, như tìm được cứu tinh vậy. Người thấp nhỏ cũng không kiêng dè, tự giới thiệu một lượt: hắn họ Lư tên Công Hoa, nông dân huyện Hiệp, Quảng Tây.

Sau khi ăn uống no say, Phạm Kim Nguyên chủ động thanh toán tiền ăn uống này.

Lư Công Hoa dẫn Phạm Kim Nguyên đến một căn phòng đơn trong một khách sạn dưới lòng đất. Sau một hồi trả giá, Lư Công Hoa cuối cùng đồng ý với học phí 500 tệ sẽ dạy Phạm Kim Nguyên kỹ thuật in tiền nhân dân tệ.

Ba ngày sau, Phạm Kim Nguyên học thành nghề, chủ động đề nghị muốn về nhà. Trước khi đi, Phạm lấy ra ba trăm tệ, tìm Lư Công Hoa mua lại con dấu "hình ông già" và "hình phong cảnh" dùng để làm giả tiền nhân dân tệ trong tay hắn, cùng với một lọ thuốc biến màu và một lọ bột thuốc nhỏ.

Phạm Kim Nguyên mang theo báu vật làm giàu về đến nhà, không màng đến sự mệt mỏi của xe tàu bao ngày, ngay trong đêm chế tạo ra năm tờ tiền nhân dân tệ mệnh giá một trăm tệ.

Ngày hôm sau, ăn sáng xong, Phạm Kim Nguyên mang theo năm trăm tệ tiền giả đã in đi vào thành phố. Trong một cửa hàng bách hóa, Phạm Kim Nguyên mua liền một bộ vest và hai đôi giày da, còn có mấy bộ áo sơ mi và quần, tổng cộng gần năm trăm tệ tiền hàng. Khi Phạm Kim Nguyên đưa năm tờ tiền mệnh giá lớn vẫn còn tỏa ra mùi mực in cho nhân viên bán hàng, cẳng chân dưới quầy thu ngân của hắn cứ run lên bần bật.

Nhân viên bán hàng nhận lấy tiền, lắc lư dưới ánh đèn, thấy có hình chủ tịch (Mao Trạch Đông) làm hình chìm, liền thuận tay bỏ vào ngăn kéo tiền.

Khi Phạm Kim Nguyên xách những món đồ đã gói ghém rời khỏi cửa hàng bách hóa, trái tim trong lồng ngực vẫn còn treo lơ lửng nơi cổ họng.

Trở về nhà, nhìn những món đồ dễ dàng có được trước mắt, Phạm Kim Nguyên cảm thấy một sự khoái trá chưa từng có. Lần đầu tiên đắc thủ dễ dàng đã củng cố gan dạ của Phạm Kim Nguyên. Thế là, lại có lần thứ hai, lần thứ ba...

Làm giả tiền nhân dân tệ không những cần giấy chuyên dụng, mà mỗi khi in một tờ tiền nhân dân tệ, đều cần phải có một tờ tiền thật mới tinh làm mẫu bản gốc. Đây đều là những khoản đầu tư cần thiết, nhưng đây cũng là một khoản đầu tư không nhỏ. Số tiền Phạm Kim Nguyên bán tiền giả kiếm được, đều bị hắn tiêu sạch. Bên cạnh hắn không thể nào có tiền nhàn rỗi tồn tại. Thế là hắn nhớ đến một người bạn rượu thịt của mình, kẻ giàu có, tên là Đàm Kiến Tân, làm lái xe ở nhà máy nhựa công nghiệp trong trấn.

Một ngày sau khi tan làm, Phạm Kim Nguyên mời Đàm đến nhà uống rượu. Trong bữa tiệc, Phạm trước tiên đề nghị vay 1000 tệ để làm ăn. Đàm hoàn toàn không tin Phạm có thể làm ăn, sợ Phạm nghĩ cách lừa tiền mình, lập tức khéo léo từ chối yêu cầu của Phạm. Mặc cho Phạm Kim Nguyên khổ sở cầu xin, Đàm Kiến Tân nhất quyết không làm.

Sau khi uống vài chén rượu trắng vào bụng, Phạm Kim Nguyên đem hết chuyện học nghề và làm tiền kể ra một lượt. Đàm Kiến Tân nghe xong vẫn còn chút không tin, đề nghị không cho Phạm biểu diễn tại chỗ thì không được. Phạm Kim Nguyên không nói hai lời, nhân lúc có hơi men, trong phòng, ngay tại chỗ đã làm giả 500 tệ tiền nhân dân tệ. Đàm nhìn xong đại hỉ, ngay lập tức quay về nhà máy, vận từ kho hàng ra hơn một trăm cân giấy. Còn móc trong túi ra 1000 tệ đưa vào tay Phạm. Để đáp lại, Phạm cho Đàm năm tờ tiền nhân dân tệ làm giả để làm kỷ niệm. Hai người từ đó cùng hội cùng thuyền.

Để chế tạo thêm nhiều tiền hơn, Đàm Kiến Tân không tiếc đem cầm cố cả nhà mình, chạy vạy khắp nơi vay mượn được hai mươi lăm ngàn tệ cung cấp cho Phạm Kim Nguyên làm mẫu và đầu tư. Phạm Kim Nguyên càng thêm ham tiền, không quản ngàn dặm đường phó (đến) Quảng Tây tìm Lư Công Hoa mua về một cân thuốc nước và bột thuốc cùng các dụng cụ gây án. Những nông dân cùng thôn với Phạm là Uất Tổ Minh, Đàm Yếu Bảo, Uất Kiến Lương, v.v. sau khi nghe tin cũng lũ lượt gia nhập dưới trướng Phạm Kim Nguyên, khiến băng nhóm tội phạm này lăn càng ngày càng lớn, và trở thành một tập đoàn tội phạm có phân công nội bộ rõ ràng, có tổ chức có kỷ luật. Phạm Kim Nguyên chịu trách nhiệm làm giả, Đàm Kiến Tân chịu trách nhiệm cung cấp mẫu, những người khác chịu trách nhiệm bán buôn, đưa tiền giả ra thị trường.

Chiều ngày 22 tháng 8, lúc năm giờ, đúng lúc ngân hàng sắp tan làm bận rộn, băng nhóm Phạm Kim Nguyên đến chi nhánh ngân hàng nông nghiệp Bạch Mão. Phạm Kim Nguyên từ trong túi xách lấy ra mười lăm ngàn tệ đưa cho nhân viên bán hàng, yêu cầu gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Nhân viên bán hàng nhận lấy tiền, dùng tay bóp bóp, cảm thấy mực in trên mặt tờ tiền có chút trơn nhờn, buột miệng hỏi một câu: "Tiền này sao mà trơn thế". Phạm Kim Nguyên vội tiếp lời nói: "Tờ tiền có thể bị dính chút dầu máy". Vì đúng lúc đang tan làm quyết toán sổ sách, nhân viên bán hàng sau khi hỏi xong cũng không nói gì nữa. Sau khi đếm xong tiền, liền đưa sổ tiết kiệm cho Phạm Kim Nguyên. Từ đó về sau, Phạm Kim Nguyên cảm thấy kỹ nghệ tiến bộ vượt bậc, có thể đánh tráo thật giả, gan trộm ngày càng lớn. Tối hôm trở về từ ngân hàng, ngay trên con tàu vận tải của Đàm Căn Bảo, vài tên tội phạm thông đồng làm bậy, một lần làm giả hơn sáu ngàn tệ nhân dân tệ.

Mùa thu năm đó, chính là chưa đầy nửa năm sau khi Phạm Kim Nguyên học thành nghề trở về quê. Phạm Kim Nguyên lấy ra hơn hai mươi ngàn tệ, dỡ bỏ ngôi nhà ngói thấp lùn dột nát đó, xây lên ngôi nhà ngói hai tầng tại chỗ cũ. Nhà xây xong, còn đón được phượng hoàng bên ngoài về, từ đó Phạm Kim Nguyên cũng chia tay cuộc sống độc thân.

Tiếc là cảnh đẹp không dài. Do nhóm Phạm Kim Nguyên điên cuồng làm ác, trên thị trường thành phố Thường Thục xuất hiện một lượng lớn tiền nhân dân tệ giả có cùng số sê-ri. Hiện tượng này lập tức gây ra sự cảnh giác của ngân hàng. Cơ quan công an cũng đồng thời triển khai điều tra trên toàn thành phố. Nhân viên ngân hàng nông nghiệp Bạch Mão nghiêm túc hồi tưởng lại hình dáng của người gửi tiền giả. Dựa vào đó, cơ quan công an vào ngày 30 tháng 11 đã phát đi thông báo hiệp trợ điều tra, và công bố ảnh chân dung máy tính được thực hiện dựa trên mô tả của nhân viên. Các mạng lưới thương mại cũng nâng cao cảnh giác.

Sau đó, do áp lực của chính sách, Đàm Căn Bảo, Uất Kiến Lương cùng lúc dưới sự đi cùng của cha và vợ đã lần lượt ra đầu thú với cơ quan công an, yêu cầu được xử lý khoan hồng. Phạm Kim Nguyên sau khi nghe tin, vẫn không chết tâm, ngay trong đêm liền chuyển dụng cụ gây án đến chỗ ở của Uất Tổ Minh, chuẩn bị ngoan cố chống cự đến cùng. Tuy nhiên lưới trời lồng lộng, biết trốn vào đâu. Ngày hôm sau, Cục Công an thành phố Thường Thụcy pháp (theo pháp luật) thu giữ Phạm Kim Nguyên, Đàm Kiến Tân.

Sau khi thu thập một lượng lớn chứng cứ, ngày 19 tháng 2 năm 1992, Tòa án nhân dân thành phố Thường Thục sau khi xét xử công khai, với tội làm giả tiền tệ quốc gia đã tuyên phạt Phạm Kim Nguyên 7 năm tù có thời hạn, tước quyền chính trị 2 năm. Đàm Kiến Tân, Uất Tổ Minh, Đàm Căn Bảo, Uất Kiến Lương và bốn tên còn lại cũng lần lượt bị tuyên án tù có thời hạn. Dụng cụ gây án và tài sản phi pháp của chúng đều bị tịch thu.

Sau khi Phạm Kim Nguyên vào tù, vợ rời bỏ hắn mà đi. Hắn lại trở thành gã độc thân.

Chuyện đã đến nước này, ai có thể nói rõ là tiền đùa cợt Phạm Kim Nguyên, hay Phạm Kim Nguyên chơi tiền đây?

◎ Như thế mà "đào lý mãn thiên hạ" (trò giỏi khắp thiên hạ)

● Sư gia gặp phải cực hình

Ngày 8 tháng 1 năm 1991, cũng là một ngày tốt lành.

Ngày hôm nay, trấn Thành Quan, huyện Thanh Trấn, tỉnh Quý Châu lại khai trương một công ty mới. Trên tấm biển treo trước cửa công ty này viết: "Công ty TNHH Phát triển Văn hóa Tứ Hải". Tấm biển này treo ở một huyện nhỏ thuộc tỉnh Quý Châu vừa treo lên đã rất chói mắt. Người đi đường qua lại trước cửa công ty này thường không tự chủ được mà liếc thêm vài cái. Đối với người đứng sau tấm biển có chút ngưỡng mộ.

Trong đất nước coi trọng thể diện này, biển hiệu và thể diện quan trọng như nhau. Chẳng thấy những tấm biển hiệu đủ loại treo trên đường phố ngõ hẻm đó sao, tên cái sau còn kêu hơn cái trước, cái sau còn cứng hơn cái trước. Cái gì mà "Tứ Hải", "Ngũ Châu", "Vũ Trụ", "Quốc tế", v.v., chỉ cần không phải là hành vi xâm phạm quyền rõ ràng, đều dám thêm vào biển hiệu của mình. Còn hiệu quả mà biển hiệu mang lại thế nào, ít người đi quan tâm. Mua không bán không cũng được, lừa lọc dối trá cũng được, không phạm việc thì không ai đi tìm hiểu những vở kịch xấu xa đằng sau tấm biển này.

Nghiệp vụ đối ngoại của "Công ty TNHH Phát triển Văn hóa Tứ Hải" rất rộng rãi, lớn thì đến giao dịch tương lai, nhỏ thì khắc dấu công và dấu tư. Tôn chỉ của công ty là "dốc hết sức phục vụ xã hội, phục vụ quần chúng". Một câu: nhu cầu của quần chúng chính là nghiệp vụ của công ty này. Người không biết căn cơ cứ tưởng đây nhất định là một công ty dân doanh thế lực hùng mạnh.

Mãi đến tháng 12 cùng năm khi công ty bị cơ quan công an hốt trọn ổ, mới khiến nguyên hình của công ty này bày ra thiên hạ. Hóa ra, công ty này chỉ là tấm biển che mắt cho một nhóm tội phạm tiền giả, công ty chính là một căn cứ tội phạm. Công ty từ giám đốc đến nhân viên, tổng cộng chỉ có ba người. Chính là chủ phạm Hứa Vận Xương, tòng phạm Đại Phát Lâm, Điền Quý Tú.

Vẫn là vào mùa xuân năm 1990, trên đường Hứa Vận Xương xuống phía Nam đi làm thuê, quen biết một "gã đi làm thuê" đến từ Quảng Tây. Hai người cùng nhau đến Quảng Đông tìm việc làm. Ban ngày hai người đi ra ngoài tìm việc làm, ban đêm hai người ngồi buôn chuyện trong túp lều tạm bợ nơi ở. Thời gian lâu dần, hai người quen thân, chuyện gì cũng nói, việc gì cũng hỏi.

Một tối, sau một ngày lao động vất vả, hai "gã đi làm thuê" lại một bữa buôn chuyện trong túp lều ẩm ướt thấp bé.

Hứa Vận Xương ngửa mặt than dài: "Ai, ngày nào tôi mới có thể phát tài đây!"

"Gã Quảng Tây" thấy vẻ mặt thành kính của Hứa Vận Xương, trong lòng rất đồng cảm. Hắn tiếp lời trêu chọc nói: "Muốn phát tài, đi cướp ngân hàng ấy!"

Hứa Vận Xương biết đây là lời nói đùa, không để ý. Hai người tiếp tục "buôn" chuyện trời biển. Một lúc nói muốn đi trộm cắp, lại lo gan bé tay nghề thấp, thất thủ bị người ta bắt; một lúc nói muốn đi buôn ma túy, lại sợ mất đầu. Hai "gã đi làm thuê" người hỏi người đáp trò chuyện. Hứng thú đang nồng, đến đêm khuya vẫn không buồn ngủ. Những người làm thuê khác trong lều đều đã ngủ. Hứa Vận Xương và "gã Quảng Tây" liền ra ngoài lều tiếp tục trò chuyện.

"Gã Quảng Tây" thấy Hứa Vận Xương đầu óc linh hoạt, trọng nghĩa khí, liền có ý thức kéo câu chuyện lại gần. "Hiện giờ, có một mối làm ăn, có thể kiếm một khoản tiền lớn, không biết tiểu đệ có dám làm không". "Gã Quảng Tây" lớn tuổi hơn Hứa Vận Xương, đương nhiên gọi hắn là tiểu đệ.

Đâu có mối làm ăn kiếm tiền mà không làm. Hứa Vận Xương lần này có chút nghiêm túc. "Làm ăn gì?"

"Làm tiền".

Hứa Vận Xương trước kia từng nghe người ta nói chuyện làm tiền, cũng biết làm tiền là phạm pháp. Bất thình lình nghe được lời này từ miệng người bạn làm thuê xưng anh gọi em, thật sự có chút cảm giác bất ngờ. "Người anh em, không phải lấy tôi ra làm trò đùa đấy chứ".

Lần này sắc mặt của "Gã Quảng Tây" trở nên nghiêm túc. "Chuyện này tuyệt đối không phải đùa với tiểu đệ, chỉ cần tiểu đệ có thành ý, ngày mai có thể bái sư 'học nghệ'".

Hứa Vận Xương ra ngoài xông pha, trong lòng đương nhiên có chút lo lắng, chủ yếu vẫn là sợ. "Sẽ không phạm việc chứ".

"Gã Quảng Tây" hiểu tâm lý sợ hãi lúc này của Hứa Vận Xương, thế là, liền kể hết cảnh tượng học nghệ lúc đầu của mình cho Hứa Vận Xương nghe, giúp Hứa Vận Xương xóa tan lo lắng.

Kể từ đó, ngay trong túp lều tạm bợ đó, Hứa Vận Xương thành tâm bái "Gã Quảng Tây" làm thầy học nghệ.

Đến đêm thứ ba, Hứa Vận Xương đã thành thạo nắm vững kỹ thuật này.

Ngày thứ tư, Hứa Vận Xương đưa cho "Gã Quảng Tây" ba trăm tệ, mang theo kỹ thuật in ấn lên đường trở về quê.

Sau khi Hứa Vận Xương về đến Quý Châu, lập tức phát triển người bạn nhỏ thời ấu thơ của mình là Đại Phát Lâm, Điền Quý Tú gia nhập. Kể từ đó, trong địa phận tỉnh Quý Châu lại có thêm một băng nhóm làm giả mới. Để thiết lập vững chắc vị thế của mình trong băng nhóm, Hứa Vận Xương kiên quyết không truyền kỹ thuật in ấn cho hai người Đại, Điền. Ban đầu, họ lén lút làm giả một ít tiền giả mệnh giá nhỏ ở nhà tại nông thôn rồi mang ra chợ đổi lấy chút nhu yếu phẩm về dùng. Kinh tế địa phương còn chưa phát triển, nên mệnh giá tiền trong tay bách tính rất ít, tiền mệnh giá lớn làm giả rất khó tiêu thụ, hơn nữa nguy cơ bị phát hiện lớn. Hứa Vận Xương đành in số lượng nhỏ tiền giả để sử dụng. Cứ lén lút như vậy qua gần một năm, nhóm Hứa Vận Xương hành động cẩn trọng, ngay cả vợ hắn cũng không biết hắn làm giả, nên không để lộ sơ hở. Trong thời gian này, nhóm Hứa Vận Xương đã in và đưa ra thị trường hơn 2000 tệ tiền nhân dân tệ giả.

Đến cuối năm 1990, ba người Hứa Vận Xương bàn bạc xong chuẩn bị đến nơi khác để làm một vố lớn.

Ngày Tết năm 1991, Hứa Vận Xương cùng ba người đến trấn Thành Quan, huyện Thanh Trấn. Dựa vào vay vốn mở "Công ty TNHH Phát triển Văn hóa Tứ Hải". Vì công ty là treo nhờ (treo danh nghĩa) một cơ quan văn hóa, vào ngày khai trương, không thể thiếu sự cổ vũ của các nhân vật văn hóa và quan chức địa phương. Lễ khai trương được tổ chức náo nhiệt, không thể phong quang hơn.

Từ đó có tấm biển hợp pháp và một chỗ dựa không mềm không cứng, nhóm Hứa Vận Xương càng thêm không sợ hãi gì nữa.

Bình thường cũng nhận làm một số công việc làm ăn về văn hóa, nhưng đều chuyển tay bao lại cho công ty khác. Những người như Hứa Vận Xương chỉ có học vấn cấp hai đương nhiên sẽ không hiểu những thứ mới mẻ như lập kế hoạch, ý tưởng, v v., mục đích mở công ty cũng chỉ là để lừa dối thiên hạ mà thôi. Mỗi tháng chỉ cần nộp đủ tiền đặt cọc cho đơn vị treo nhờ, còn kinh doanh thế nào, dự án kinh doanh ra sao thì đơn vị treo nhờ sẽ không hỏi đến. Điều này càng cung cấp chiếc ô bảo hộ cho hoạt động tội phạm của nhóm người Hứa Vận Xương.

Sau khi công ty khai trương, ba người Hứa Vận Xương đã phân công chi tiết: Hứa Vận Xương là đại diện pháp nhân, chuyên phụ trách in ấn tiền giả. Đại Phát Lâm phụ trách tiêu thụ tiền giả do Hứa chế tạo, kiêm nhiệm nhiệm vụ tuyển học trò. Điền Quý Tú phụ trách an ninh bảo vệ của công ty (chủ yếu là canh gác).

Tháng 3 năm 1991, Công ty Phát triển Văn hóa Tứ Hải dán áp phích tuyển học viên lớp chuyên in ấn đối ngoại ở huyện Thanh Trấn và các huyện thị xung quanh. Đối tượng tuyển sinh chủ yếu là thanh niên, học kỳ ba tháng, ăn ở tự túc, học phí mỗi người một ngàn tệ. Đã là áp phích đương nhiên không thể thiếu chém gió lung tung. Trên áp phích đương nhiên không thể thiếu dòng chữ do danh gia giảng dạy vân vân. Ở nước ta chém gió không phạm pháp, có thể chém thì ai mà không chém. Áp phích dán ra ngoài thật sự có một số thanh niên đi hỏi thăm khắp nơi hoặc đến công ty tư vấn, nhưng nghe đến việc cần nộp một ngàn tệ học phí, nhiệt tình lập tức tiêu tan. Nửa tháng sau khi áp phích dán ra, vẫn chưa có ai đến báo danh.

Kỳ thực áp phích chỉ là quả bom khói mà Hứa Vận Xương thả ra. Giống như lớp học kiểu này mở miệng là đòi nộp học phí một ngàn tệ, còn không bao ăn ở, rõ ràng là sư tử ngoạm. Có mấy thanh niên hiếu học nào có thể theo học nổi. Ngay lúc áp phích của công ty bị gió thổi mưa dập trên phố, lớp học của Hứa Vận Xương đã khai giảng từ lâu. 13 "bóng ma" do Đại Phát Lâm cẩn thận tuyển chọn tập trung trong một căn phòng nhỏ đen tối bốn vách không thông gió, giống như ma cà rồng đang nghe Hứa Vận Xương giảng dạy kỹ thuật in ấn tiền nhân dân tệ. Bên ngoài căn nhà nhỏ, Điền Quý Tú giống như một con chó sói, dựng hai cái tai, cảnh giác động tĩnh xung quanh. Trong đêm khuya thanh vắng này, một băng nhóm tội phạm tội ác đang bành trướng, mầm độc đang sinh sôi.

Một đêm một tuần sau đó, 13 bóng ma rời khỏi căn phòng nhỏ đen tối tội lỗi, biến mất trong màn đêm.

Khóa đầu tiên khai giảng "Công ty TNHH Phát triển Văn hóa Tứ Hải" tổng cộng thu được 12000 tệ học phí, trong thời gian này tổng cộng làm giả gần 30 ngàn tiền nhân dân tệ giả.

Chưa đầy một tháng sau khi 13 bóng ma rời khỏi căn nhà nhỏ tối tăm, tại 13 huyện thị của Quý Châu đã câu kết những kẻ bất lương địa phương hình thành nên 13 băng nhóm làm giả. Hứa Vận Xương được 13 thành viên băng nhóm này tôn xưng là "Sư gia".

Sau khi Hứa Vận Xương tuyển khóa học trò đầu tiên, liền không dám tuyển học trò nữa, hắn tuyệt đối không ngờ rằng, thời gian thanh xuất ư lam (trò giỏi hơn thầy) lại nhanh như thế. 13 người học trò đó đi đâu cũng đội tấm biển "Sư gia", tự lập vương, không kiêng dè gì cả. Tiền giả hoành hành ở Quý Châu đến cùng cực, gây ra sự chú ý cao độ của cơ quan công an. Hứa Vận Xương tự cảm thấy tai họa ập đến, từ đó không dám tuyển học trò nữa. Nhưng hắn không thể hạn chế vòng luẩn quẩn học trò lại tuyển học trò. Sau đó, ở Quý Châu có bao nhiêu học trò tự xưng xuất thân từ môn hạ "Sư gia" đây? Hứa Vận Xương cũng không ước tính rõ được, ít nhất có thể nói, hắn cũng đã "đào lý mãn thiên hạ" rồi.

13 bóng ma chỉ sau một tháng đã sinh sôi thành 13 khối u, và phát tán mầm độc nhanh chóng vào thị trường tài chính.

Năm này, thị trường tài chính tỉnh Quý Châu báo động dồn dập, cơ quan công an mệt mỏi ứng phó.

Nhìn từ tiền giả thu giữ được, đều là xuất thân từ bản in thủ công.

Tháng 12 năm 1991, cơ quan công an huyện Thanh Trấn trong một đợt hành động lớn, phát hiện một điểm làm giả do một học trò của Hứa Vận Xương mở. Tại hiện trường người tang vật đều bị bắt. Thẩm tra xuyên đêm, từ miệng kẻ phạm tội móc ra thành tích tội ác của Hứa Vận Xương. Tối hôm đó, Hứa Vận Xương, Đại Phát Lâm, Điền Quý Tú ba người bị bắt về quy án. Ngày hôm sau, dưới sự chỉ huy thống nhất của Sở Công an tỉnh, toàn tỉnh nhanh chóng triển khai một đợt hành động lớn tấn công hoạt động làm giả. Trong vòng một tuần, 13 người học trò của Hứa Vận Xương đều bị bắt. Trận đánh này toàn tỉnh tổng cộng thu giữ hơn 500 ngàn nhân dân tệ tiền giả, cùng một lô dụng cụ làm giả tiền nhân dân tệ.

Hứa Vận Xương và những chủ phạm khác bị tuyên án cực hình, nhận được sự trừng phạt đáng có.

◎ Xuống biển lầm lạc vào biển nợ

● Vân du bốn phương lưu lạc đúc tiền

Chưa đầy 30 tuổi, Dịch Trung Minh đã thăng tiến làm chủ quản nghiệp vụ của một công ty thực nghiệp ở Trùng Khánh. Đây là một đơn vị doanh nghiệp sản xuất điện gia dụng kim khí. Đời người chưa đến tuổi ba mươi, nhưng đã có sự nghiệp thành công, nên nói Dịch Trung Minh là rất may mắn. Khó mà tưởng tượng, một thanh niên tiền đồ sáng lạn như vậy lại vì một lần "chuyển cơ" (cơ hội thay đổi) trên thương trường, mà từ chức bỏ hết vinh dự và địa vị có được nhờ phấn đấu, lại đi dựng lò riêng, làm hộ cá thể đúc tiền, đặc biệt không hay là, lần "chuyển cơ" này đã chuyển sạch sẽ tiền đồ tốt đẹp của Dịch Trung Minh.

Việc làm ăn của Dịch Trung Minh tuyệt đối khác với những người như Tần Văn Khê, Phạm Kim Nguyên, Hứa Vận Xương, v.v. Dịch Trung Minh đặt xưởng ở khu phố náo nhiệt của thành phố, còn sản phẩm của hắn chủ yếu bán lẻ trong khu vực thành phố bản địa. Từ đó đủ thấy Dịch Trung Minh gan to tày trời, là điều mà những hộ chuyên nghiệp khác không thể so sánh được.

Trước Tết năm 1990, Dịch Trung Minh với tư cách là chủ quản nghiệp vụ của công ty lại một lần nữa đến Quảng Châu, ký kết xong một bản hợp đồng sản xuất kinh doanh với một công ty nào đó. Công ty thực nghiệp mà Dịch Trung Minh đại diện là một doanh nghiệp vừa và nhỏ treo nhờ một đơn vị sự nghiệp nào đó, quy mô sản xuất và hiệu quả của nó, ở ngành kim khí Trùng Khánh còn có ảnh hưởng nhỏ. Dịch Trung Minh chủ yếu phụ trách tiêu thụ sản phẩm tại khu vực ven biển Đông Nam. Ở những vùng kinh tế phát triển này, các loại hàng ngoại và trào lưu tư tưởng văn hóa ngoại lai đang va đập mạnh mẽ vào mảnh đất này. Nghiệp vụ của Dịch Trung Minh triển khai rất không thuận lợi, đi khắp nơi chào hàng sản phẩm, chỗ nào cũng tỏ ra thấp hèn. Đặc biệt là mấy khoản phí công cộng có hạn mà công ty quy định, khó mà gõ mở được cửa của các nhà thầu lớn. Cơ hội ở Quảng Đông đến nhiều, tầm nhìn của Dịch Trung Minh cũng mở mang hơn nhiều. Ăn vặt, ăn đêm, ca vũ, đi taxi trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của hắn. Hưởng lạc cần sự hỗ trợ của những xấp tiền lớn, nhưng trong túi của Dịch Trung Minh, mỗi lần đến Quảng Châu chỉ có mấy ngàn tệ phí công cộng, còn chưa đủ để hắn huy hoàng một phen. Hắn càng ngày càng cảm thấy túi tiền eo hẹp; liền càng ngày càng nảy sinh một dục vọng chiếm hữu điên cuồng đối với tiền bạc.

Lần này đến Quảng Đông, Dịch Trung Minh ngoài đại diện công ty ký hợp đồng ra, còn nhân tiện tìm vài khách hàng đòi nợ. Ở Quảng Đông, khoản nợ của khách hàng lên tới 500-600 ngàn tệ. Dịch Trung Minh sau khi chạy vài nơi ở Quảng Châu, cuối cùng đến huyện Liêm Giang tìm thấy Trần mỗ. Trần mỗ ở địa phương là một kẻ vô công rỗi nghề, thân phận đối ngoại là một kẻ buôn chó, khi chó cưng trên thị trường bán chạy, Trần mỗ từ khắp nơi buôn một số chó cưng quý hiếm bán cho những "đại gia" ở Thâm Quyến, Quảng Châu, quả thực kiếm được mấy trăm ngàn. Sau khi có tiền, Trần mỗ cũng thử làm một số việc làm ăn, trên cả hai con đường đen trắng việc làm ăn gì hắn cũng dám làm. Một lần trong khách sạn ở Quảng Châu, Trần mỗ quen biết Dịch Trung Minh. Nghe nói điện gia dụng kim khí mà Dịch Trung Minh chào hàng có khó khăn, Trần mỗ khoe khoang, có thể giúp Dịch Trung Minh tiêu thụ 300 ngàn sản phẩm. Dịch Trung Minh đại hỉ, vội vàng cảm ơn. Sau khi trở về Trùng Khánh, Dịch Trung Minh theo hẹn gửi cho Trần mỗ 300 ngàn hàng hóa. Trần mỗ sau khi nhận hàng cũng gửi ra 200 ngàn tiền hàng, nhưng 100 ngàn tiền hàng còn lại đến cuối năm cũng không có tin tức gì. Dịch Trung Minh mấy lần hỏi thúc, Trần mỗ đều hứa hẹn ngay lập tức có thể chuẩn bị đủ tiền gửi đến. Lần này, Dịch Trung Minh đích thân đến Liêm Giang tìm Trần mỗ nhất định phải đòi lại 100 ngàn tiền hàng còn lại mới thôi.

Trần mỗ thấy là người đòi nợ đã lên tận cửa, không thể trốn tránh được nữa. Đành phải mang gương mặt già nua gượng cười. "Thật ngại quá, vốn định sớm gửi nốt số tiền còn lại qua, không ngờ, việc làm ăn hiện tại làm đổ bể, vốn liếng cũng lỗ hết rồi, còn nợ người ta một khoản nợ nữa. Mấy ngày nay, kẻ đòi nợ cách vài hôm lại lên cửa, ép đến mức tôi không dám ở nhà".

Trần mỗ trước tiên đóng vai một bộ mặt khóc lóc. Dịch Trung Minh cười cũng không phải, giận cũng không phải. Lúc này lúc này, người có lý biến thành người chịu thiệt, Dịch Trung Minh thật không biết nên bắt đầu từ đâu. "Lần này đến, chính là chuyên môn đến đòi lại 100 ngàn tiền hàng đó, việc làm ăn đầu tiên của chúng ta cứ như vậy, chúng ta còn làm ăn tiếp thế nào?"

Trần mỗ vốn là kẻ lưu manh đầu đường xó chợ đó, với hắn căn bản không có đạo lý để nói. Mấy năm nay, Trần mỗ quả thực kiếm được không ít tiền. Nhưng Trần mỗ có một điểm yếu chí mạng, đó là thích đánh bạc thích chơi gái, tiền kiếm được phần lớn đều đưa lên chiếu bạc và trên giường phụ nữ. Làm ăn với loại người này, chỉ là bánh bao thịt đánh chó, có đi không về.

Dịch Trung Minh vô cùng hối hận vì lúc đầu đã giao số lượng lớn hàng hóa cho loại người này đi tiêu thụ, đã tìm đến tận cửa nhà Trần mỗ, Dịch Trung Minh cũng không cam tâm tay trắng trở về. Công nhân trong công ty còn chờ tiền hàng của hắn để phát lương ăn Tết! Hàng hóa mà Dịch Trung Minh gửi đi đã có hơn một triệu tiền hàng chưa về được. Lần này lại tay trắng trở về, làm sao đối diện với hơn trăm công nhân. Dịch Trung Minh quyết tâm sắt đá, nhất định phải đòi được tiền hàng. Dịch Trung Minh dứt khoát: "Anh không giao tiền hàng, tôi không về".

Hàng hóa Dịch Trung Minh gửi đến đã bán hết từ lâu, tiền hàng đang nắm trong tay Trần mỗ. Kẻ ăn quen cả hai con đường đen trắng như Trần mỗ làm sao chịu bình bình thường thường làm ăn cho anh. Lừa lọc dối trá là tín điều kinh doanh của hắn. Tiền mặt đã vào tay sao chịu dễ dàng giao ra. Dù sao cũng chột dạ có quỷ, Trần mỗ nói chuyện cũng không dám cứng rắn, cứ đóng bộ mặt đáng thương: "Khoản nợ anh, tôi nhất định sẽ nghĩ cách trả nốt. Chỉ là túi tiền quá eo hẹp, xin anh cho Trần mỗ vài ngày, sau Tết, nhất định tất cả gửi đến tài khoản công ty của các anh".

Dịch Trung Minh vô cùng tức giận. "Không được, công ty đang chờ khoản tiền này để phát tiền thưởng cuối năm đấy. Anh không đưa tiền, tôi không đi".

"Việc này bảo tôi làm thế nào, anh thấy đấy, trong nhà cũng không có thứ gì đáng giá, không được, anh xem trúng cái gì thì chuyển cái đó đi". Trần mỗ lập tức lộ ra bộ mặt vô lại. Đồ đạc cũ nát gom lại cũng chẳng đáng mấy đồng, Trần mỗ dứt khoát dở quẻ vô lại.

Dịch Trung Minh trước đây từng chứng kiến bộ mặt vô lại này, căn bản không ăn chiêu đó. "Anh muốn quỵt là gì, tôi không sợ, chúng ta nói thẳng đi, là công khai (quan tòa), hay là tư hòa, anh nói đi".

Trần mỗ đương nhiên biết ý nghĩa của công khai, tư hòa. Nếu công khai, sổ tiết kiệm trong nhà phải tịch thu hết, cuối cùng sẽ là kết cục xôi hỏng bỏng không. Công khai, thì phải chảy máu (mất tiền). Xem ra Dịch Trung Minh cũng là kẻ xông pha giang hồ, không dễ chọc. Làm không tốt, lưỡng bại câu thương. Trần mỗ suy đi tính lại, vẫn là lấy lùi làm tiến, ít rước lấy quan sự là hay nhất. Trần mỗ hiểu rõ mình ở địa phương tiếng tăm không tốt, lại không có hậu trường làm chỗ dựa, dính vào quan sự tuyệt đối không có trái ngon để ăn.

Trần mỗ bỗng nhiên nở nụ cười đầy mặt. "Vừa rồi đều là lời nói lúc nóng giận. Nhờ ông chủ Dịch nâng đỡ và tin tưởng, Trần mỗ quyết không làm chuyện hại người như vậy. Mọi người ra ngoài làm ăn đều không dễ dàng, nợ của ông chủ Dịch nhất định sẽ trả. Nhưng có việc này phải phiền ông chủ rộng lượng cho, hiện tại tiền nong trong tay quả thực rất eo hẹp, ông xem thế này có được không! Trả trước 5 vạn, 5 vạn còn lại sau Tết, đợi người khác trả tiền nợ tôi, tôi đảm bảo sẽ gửi cho ông."

Dịch Trung Minh im lặng không nói, đó là lời kháng nghị không lời.

Trần mỗ thấy Dịch Trung Minh không phản ứng, biết chủ ý này bị phản đối, vội vàng đổi giọng: "Công ty của ông chủ Dịch tài đại khí thô, Trần mỗ chỉ là buôn bán nhỏ, cơm ăn còn phải nhờ vào bạn bè như ông chủ Dịch giúp đỡ. Từ xưa tới nay người lớn không chấp kẻ tiểu nhân. Tể tướng trong bụng có thể chống thuyền. Lần này ông chủ Dịch tha cho Trần mỗ một lần, sau này nhất định có hậu báo."

"Đừng có đùa tôi. Tôi tha cho anh một lần, tôi về rồi thì ăn nói thế nào." Dịch Trung Minh vừa nghe đến "hậu báo" liền phấn chấn hẳn lên.

Trần mỗ lập tức hiểu ra ý tứ ngầm ẩn đó. "Trần mỗ trong tay đang có một vụ làm ăn lớn, nhất định có thể kiếm bộn tiền, không biết ông chủ Dịch có hứng thú không."

Nghe nói là "vụ làm ăn lớn", sự hứng thú của Dịch Trung Minh lập tức bị "kích thích".

"Nói nghe thử xem."

"Chỗ chúng tôi có rất nhiều người mua tiền giả mà phát tài lớn."

"Mua bán kiểu gì?"

"Ông chủ Dịch dùng tiền thật theo tỉ lệ 1 đổi 10 hoặc 1 đổi 15 mua vào tiền giả, vận chuyển về Trùng Khánh, rồi dùng tỉ lệ 1 đổi 5 hoặc 1 đổi 6 bán ra, chỉ cần qua tay như vậy, tiền đầy túi chẳng phải sẽ về tay sao?" Nói xong, Trần mỗ rút từ túi áo ra một tờ tiền giả 50 tệ đưa cho Dịch Trung Minh.

Dịch Trung Minh xem đi xem lại, vô cùng kinh ngạc: "Sao mà giống hệt tiền thật thế này."

Trần mỗ thấy gió đẩy buồm, "Việc làm ăn Trần mỗ giới thiệu, còn có thể sai được sao?"

Dịch Trung Minh đương nhiên biết buôn bán tiền giả là hành vi phạm tội. Nhưng lúc này lòng tham che mờ lý trí, sớm đã vứt pháp luật ra sau đầu. Mấy năm nay, sự nghiệp của Dịch Trung Minh có thể nói là thuận buồm xuôi gió, nhưng anh ta không hài lòng với mức lương nghìn tám trăm tệ công ty trả mỗi tháng. Anh ta khao khát cuộc sống xa hoa trụy lạc như những phú ông. Mỗi lần qua lại giữa Trùng Khánh và Quảng Châu, anh ta đều tìm cách tuồn lậu một ít hàng tư nhân, kiếm một khoản hoạnh tài. Thuốc lá ngoại, rượu ngoại, hàng lậu, thậm chí cả ma túy, Dịch Trung Minh đều đã từng làm qua, mỗi lần đều có thể kiếm được hơn chục nghìn tệ. Lần này nghe Trần mỗ giới thiệu, buôn bán tiền giả có thể nhận được thù lao cao ngất, lòng tham lam nhanh chóng bành trướng, không thể chờ đợi được nữa. "Có thể giúp tôi đổi một ít không?"

Trần mỗ cố ý muốn "câu" Dịch Trung Minh. "Hiện tại, gió đang gắt, không dễ làm. Thế này đi, đợi tôi lấy được hàng, lập tức thông báo cho ông."

Dịch Trung Minh ôm 5 vạn tiền nợ mà Trần mỗ trả cùng giấc mộng phát tài trở về Trùng Khánh đón Tết.

Một tháng sau, Dịch Trung Minh quả nhiên nhận được một bức thư của Trần mỗ. Trong thư viết: "Hàng đã chuẩn bị xong, mau đến lấy." Dịch Trung Minh mang theo vài nghìn tệ, vội vã chạy đến Quảng Đông.

Lần này là Dịch Trung Minh có việc cầu cạnh Trần mỗ. Dịch Trung Minh rất biết điều, không hề đả động đến chuyện nợ nần.

Trần mỗ ở nhà chờ đợi sự xuất hiện của Dịch Trung Minh. Trần mỗ trong lòng tính toán làm sao để trốn tránh khoản nợ này, thấy Dịch Trung Minh đến mà không nhắc tới chuyện nợ nần, hắn cũng càng lười nhắc đến chuyện này.

Trần mỗ lấy từ một chiếc thùng giấy ra 500 tờ tiền giả mệnh giá 10 tệ và 50 tệ đưa cho Dịch Trung Minh. "Đây là lô hàng mệnh giá 1 vạn, nể mặt bạn bè, lô hàng này coi như quà Trần mỗ tặng ông. Tiêu hết rồi bất cứ lúc nào cũng có thể đến lấy tiếp."

Dịch Trung Minh hiểu rất rõ. Nói là tặng, chẳng phải cũng là "lông dê mọc trên mình cừu" sao. Trần mỗ xảo quyệt rõ ràng là đang bịt miệng mình. Khoản nợ 5 vạn xem ra không đòi lại được nữa. Chi bằng cứ thuận nước đẩy thuyền. Kết thêm một người bạn trong xã hội. Hơn nữa, kẻ chịu tổn thất lại chẳng phải là công ty sao. Bản thân không mất một xu, tội gì mà không làm?

Dịch Trung Minh làm bộ làm tịch móc ví ra nhất quyết đòi trả tiền. "Sao có thể để bạn bè tốn kém được?"

Trần mỗ vội vàng chặn số tiền đưa tới lại. "Chúng ta là bạn bè một chuyến, đây là chút lòng thành, không đáng là bao."

Có là chút lòng thành hay không, hai người họ đều tự hiểu rõ trong lòng.

Dịch Trung Minh khoác túi tiền giả một vạn tệ rồi hớn hở trở về Trùng Khánh, còn về việc khoản nợ 5 vạn kia đã xóa sổ thế nào trong sổ sách công ty, thì không ai biết được. Nói đến khoản hoa hồng mà Dịch Trung Minh cá nhân nhận được từ đó chắc chắn sẽ không ít hơn số nợ này.

Một vạn tệ tiền giả vận chuyển về Trùng Khánh, Dịch Trung Minh liền không thể chờ đợi được nữa mà muốn thử nghiệm.

Tối hôm sau, Dịch Trung Minh mang theo hai tờ tiền giả mệnh giá 50 tệ nhân dân tệ đến phố Thạch Kiều Phố. Đi đến trước một quầy hàng bán đồ ăn chín cá thể, đòi mua 2 cân chân vịt luộc. Dịch Trung Minh đưa cho chủ quầy một tờ tiền mệnh giá 50 tệ. Chủ quầy đưa tờ tiền lên lắc lắc trước mắt, cảm thấy hình bóng chìm (watermark) của tờ tiền có chút mờ nhòe, tự lẩm bẩm: "Cái này không phải giả chứ."

Dịch Trung Minh vốn định tận dụng ánh sáng lờ mờ lúc hoàng hôn để trà trộn cho qua chuyện, không ngờ vẫn khiến người khác nghi ngờ. Khi nghe thấy nữ chủ quầy tự lẩm bẩm, trán Dịch Trung Minh đột nhiên toát ra một lớp mồ hôi lạnh. Nhỡ đâu nữ chủ quầy này kêu lên, bản thân mình có mọc cánh cũng khó thoát. Dịch Trung Minh giật phắt tay, cướp lại tờ tiền, quay đầu chui tọt vào đám đông đang vội vã qua lại.

Gần như suốt nửa năm, Dịch Trung Minh không dám manh động nữa.

Đến tháng 9, Dịch Trung Minh trấn tĩnh lại, thấy xung quanh không còn nguy hiểm gì nữa, lại nhớ đến tiền giả. Dịch Trung Minh rút kinh nghiệm từ lần đầu tiên, lựa chọn kỹ càng những tờ tiền có chất lượng in ấn tốt, kỹ thuật khá chân thực từ trong một vạn tệ tiền giả, đảm bảo vạn vô nhất thất. Lần này quả nhiên thuận lợi đến kỳ lạ.

Dịch Trung Minh dùng tờ 50 tệ đi chợ nông sản mua thịt thà, thủy sản, thuốc lá rượu bia, dùng tiền mệnh giá 10 tệ để đi xe và mua kem. Trong gần một tháng, Dịch Trung Minh điên cuồng tiêu hết hơn 2000 tệ tiền giả, hơn nữa lần nào cũng hết sức thuận lợi.

Tháng 10, Dịch Trung Minh mang theo hơn 7000 tệ tiền giả còn lại lần nữa tìm đến Quảng Đông gặp Trần mỗ, một mặt là yêu cầu Trần mỗ thu hồi những sản phẩm kém chất lượng không tiêu thụ được này, mặt khác là bản thân muốn mua thêm một ít tiền giả.

Trần mỗ tuy trong lòng không vui, nhưng vẫn đồng ý với yêu cầu của hắn. Hắn biết mình đã gặp phải một kẻ khó chơi. Thay vì bị hắn tống tiền lâu dài thế này, chi bằng nghĩ cách xử lý gọn hắn một lần. Trần mỗ làm ra vẻ khó xử, nhún vai nói: "Hiện tại trong tay quả thực không còn hàng, nghe giới giang hồ nói, trong thời gian tới cũng không lấy được."

Dịch Trung Minh đã nếm được vị ngọt, sao có thể bỏ cuộc dễ dàng thế được. Anh ta có vẻ như đang cầu xin nói: "Giúp một tay đi, nghĩ cách khác xem?"

Trần mỗ đảo mắt: "Cách thì có cách, không biết ông chủ Dịch có chịu bỏ ra cái giá này không."

"Nói nghe thử xem."

"Tôi có một người bạn, xưng là chuyên gia đúc tiền dân gian. Lô hàng lần trước ông mang đi đều xuất phát từ tay người đó. Đúng dịp, vị bạn này đang ở Liêm Giang. Người ta có câu: mua của người khác không bằng tự mình đúc. Nếu ông chủ Dịch thực lòng muốn học, tôi có thể vứt bỏ cái mặt già này đi cầu vị bạn này nhận ông làm đồ đệ."

Dịch Trung Minh quả thực là cầu còn không được. "Bạn của anh thực sự muốn nhận người đệ tử như tôi sao?"

"Nể mặt tôi, anh ta chắc chắn sẽ đồng ý." Trần mỗ chỉ muốn sớm tống khứ Dịch Trung Minh đi, không bao giờ gặp lại nữa, sự giúp đỡ như vậy hắn tất nhiên rất vui lòng.

Tối hôm đó, Trần mỗ dẫn Dịch Trung Minh đến một nhà nghỉ, bái kiến vị chuyên gia đúc tiền dân gian này.

Vị chuyên gia này tự xưng họ Lưu, người trong giới đều gọi ông ta là "Thần Tài", còn tên thật họ thật của ông ta thì không ai biết. Hơn 50 tuổi, nói giọng Quảng Tây, vóc người không cao và tóc lưa thưa, mười ngón tay ngắn và thô, giống như cành thông nhỏ. "Thần Tài" đi khắp nơi huênh hoang, tự xưng cả đời mình là "một con dao khắc đi khắp thiên hạ", từ đó có biệt danh: "Lưu Nhất Đao".

Trần mỗ giới thiệu Dịch Trung Minh với "Lưu Nhất Đao". Dịch Trung Minh vừa gặp mặt liền miệng nam mô miệng dạ, còn đưa 1000 tệ tiền mặt, nói là tiền bái sư.

Lưu Nhất Đao vô cùng cảm động trước một đệ tử thành tâm hiếu kính như vậy, lập tức nhận lời thu nhận Dịch Trung Minh làm đồ đệ.

Sau khi làm lễ sư đồ, Trần mỗ rời khỏi nhà nghỉ, cũng rời xa Dịch Trung Minh. Từ đó về sau hắn không bao giờ còn nhìn thấy Dịch Trung Minh đến tận cửa đòi nợ nữa.

Dịch Trung Minh mừng rỡ khôn xiết, tôn "Lưu Nhất Đao" làm "Thần Tài", cung kính cung phụng "Lưu Nhất Đao" về nhà tại Trùng Khánh.

Để không làm đệ tử thất vọng, đêm đầu tiên đến Trùng Khánh, "Lưu Nhất Đao" ngay trong phòng của Dịch Trung Minh lấy dụng cụ từ trong ba lô ra, thực hiện tại chỗ in một tờ tiền 50 tệ làm mẫu. Dịch Trung Minh cầm tờ tiền giả gần như thật này mà mừng như điên. Từ đó, "Lưu Nhất Đao" trú ngụ tại nhà Dịch Trung Minh. Ban ngày, Dịch đi làm ở cơ quan, tối đến lại thành tâm đi theo "Lưu Nhất Đao" học thuật in ấn. Nửa tháng sau, Dịch Trung Minh tự tay in được một tờ tiền mệnh giá 50 tệ, trình độ kỹ thuật đã vượt cả sư phụ. Dịch Trung Minh nhìn những tờ tiền hoa lá cành kỳ diệu biến ra từ tờ giấy trắng qua đôi bàn tay mình, không kìm được mà nhảy cẫng lên, thần thái gần như điên cuồng. Trong phòng, Dịch Trung Minh nâng niu "kiệt tác" của mình vừa gào vừa thét: "Mình sắp phát tài rồi. Mình sắp trở thành tỉ phú..."

Nhìn kiệt tác của đệ tử, "Lưu Nhất Đao" cười hiểu ý. Vỗ vai Dịch Trung Minh nói: "Khá lắm, cuối cùng ngươi cũng xuất sư rồi." Đêm đó, Dịch Trung Minh thao thức suốt đêm. Anh ta mơ mộng về việc mình sẽ có ô tô, biệt thự, sẽ bước một bước vào tầng lớp giàu sang, có được cuộc sống của người trên người.

Lúc chia tay, "Lưu Nhất Đao" tặng cho đệ tử một con dao khắc làm kỷ niệm, còn để lại một ít giấy tờ đặc biệt và nước thuốc. Dịch Trung Minh đưa lên một phong bao giấy đỏ 1000 tệ. "Lưu Nhất Đao" rời Trùng Khánh rồi quay về Quảng Đông.

Dịch Trung Minh tự cho rằng kỹ thuật đã nắm trong tay, không kìm nén nổi ham muốn phát tài. Khi "Lưu Nhất Đao" vừa rời Trùng Khánh, Dịch Trung Minh liền tự mình mở lò, một mạch in 10 tờ tiền mệnh giá 10 tệ. Hôm sau, Dịch Trung Minh tại một quầy thuốc lá cá thể dùng 10 tờ tiền giả đổi lấy một bao thuốc Vân Yên một cách suôn sẻ.

Trận đầu thắng lợi, Dịch Trung Minh xây một gian nhà nhỏ rất hẹp trên ban công nhà mình, làm phòng tối để làm giả. Để làm rõ thành phần hóa học của nước thuốc "Lưu Nhất Đao" để lại, Dịch Trung Minh mang nước thuốc tìm đến một phòng thí nghiệm, nhờ một người bạn giúp phân tích. Vài ngày sau, người bạn nói với Dịch Trung Minh: "Thành phần nước thuốc đã rõ, nhưng loại nước thuốc này thuộc diện nhà nước quản lý đặc biệt, không bán trên thị trường, cũng không thể điều chế." Dịch Trung Minh không cam lòng, lại mang tờ giấy "Lưu Nhất Đao" để lại đi khắp nơi nhờ người nhận dạng, nhưng không ai nói rõ được đó là loại giấy gì. Giống giấy Tuyên, lại giống giấy da. Dịch Trung Minh đích thân đến vài công ty giấy để hỏi mua, cũng không phát hiện loại giấy tương tự nào được bán.

Đến đây, Dịch Trung Minh đành phải hoàn toàn dập tắt hy vọng này, từ xưa tới nay sư phụ dạy đệ tử đều giữ lại một ngón nghề, câu này quả không sai. "Lưu Nhất Đao" truyền thụ kỹ thuật in ấn cho đệ tử, nhưng lại "giữ lại một chiêu" đối với giấy tờ và công thức nước thuốc. Kỹ thuật in tiền và công thức đều vô cùng quan trọng, thiếu một trong hai không được. "Lưu Nhất Đao" chỉ truyền kỹ thuật, không truyền công thức, chiêu này quả thực rất hiểm.

Cũng may "Lưu Nhất Đao" khi đệ tử xuất sư đều tặng một ít giấy và nước thuốc cho đệ tử làm kỷ niệm, cũng là vốn liếng để đệ tử hành nghề. "Lưu Nhất Đao" để lại cho Dịch Trung Minh hơn trăm tờ giấy và nước thuốc. Dịch Trung Minh lợi dụng số giấy và nước thuốc này trốn trong mật thất chế tác tỉ mỉ, trong một năm, đã lần lượt làm ra hơn 6000 tệ tiền giả. Phần lớn tiền giả đã được Dịch Trung Minh lợi dụng việc mua các món đồ nhỏ lấy lớn đổi nhỏ để tung ra xã hội.

Mùa xuân năm 1991, "Lưu Nhất Đao" lại lưu lạc đến Trùng Khánh, vẫn tạm trú tại nhà người đệ tử đắc ý này của Dịch Trung Minh. "Lưu Nhất Đao" mỗi lần đi xa đều cố gắng nương nhờ nhà đệ tử. Không chỉ là để tiết kiệm chi phí đi lại, chủ yếu là vì lý do an toàn. Đây có lẽ cũng là bí quyết để "Lưu Nhất Đao" làm ác nhiều năm mà chưa từng thất thủ.

"Thần Tài" đến cửa, Dịch Trung Minh càng thêm cung kính. Nhường gian phòng phía Nam của nhà mình cho "Thần Tài" ở, mình ở phòng Bắc. Dịch Trung Minh chưa kết hôn, sống một mình, lại có hai phòng, cực kỳ thuận tiện cho hoạt động làm giả của anh ta. Dịch Trung Minh không bao giờ tùy tiện dẫn bạn bè người thân về nhà, vì thế, mật thất làm giả kia người khác cũng không hề hay biết. Dịch Trung Minh ở nhà làm giả cũng chưa bao giờ gây ra sự nghi ngờ của hàng xóm láng giềng, che giấu cực kỳ kỹ, mấy năm làm giả đều không bị cơ quan công an phát hiện.

Không có giấy và nước thuốc, Dịch Trung Minh buộc phải đình chỉ hành nghề. Đã hơn một tháng chưa chạm vào dao khắc, cũng cắt đứt đường tài lộc của mình. Đúng lúc đang sốt sắng vô cùng, sự xuất hiện của "Lưu Nhất Đao" khiến Dịch Trung Minh mừng rỡ khôn xiết.

Câu đầu tiên Dịch Trung Minh nói khi gặp mặt là: "Cuối cùng cũng đợi được ông đến rồi."

"Lưu Nhất Đao" khẽ cười: "Có phải không còn giấy và nước thuốc rồi không."

"Ông đoán như thần, quả thực là Gia Cát Khổng Minh."

"Ngươi là đệ tử của ta, ta còn có thể không biết sao? Ước chừng một năm nay, số giấy và nước thuốc đó đã dùng hết rồi, có lẽ đang mong đợi ta."

"Lưu Nhất Đao" càng thể hiện càng củng cố thêm sự sùng bái của Dịch Trung Minh đối với mình.

Trong một năm này, Dịch Trung Minh tự phát triển hai đối tác tham gia vào hoạt động làm giả. Một người là người thân của anh ta - Dịch Bản Vân, hai người là bạn cùng lớn lên, tình như thủ túc, ngày thường chuyện gì cũng nói. Tết năm đó, Dịch Bản Vân đến nhà bố mẹ Dịch Trung Minh chúc Tết, khi hai người nói chuyện làm ăn kiếm tiền, Dịch Trung Minh tiết lộ với anh ta việc mình đang làm tiền giả. Dịch Bản Vân vốn là một kẻ liều mạng thấy tiền là mắt sáng lên, muốn tiền không muốn mạng, ngửi thấy "mùi tanh" sao có thể buông tha. Từ đó, Dịch Bản Vân là người đầu tiên nhập hỏa. Lúc này, đúng lúc giấy và nước thuốc đã cạn kiệt, công việc không nhiều, Dịch Bản Vân cũng không có nhiều việc để làm.

Có một lần, Dịch Trung Minh đưa cho Dịch Bản Vân 10 tờ tiền giả mệnh giá 10 tệ bảo anh ta đi mua rượu. Dịch Bản Vân cầm 100 tệ tiền giả này đến một cửa hàng thuốc lá rượu bia, thuận lợi mua được một chai rượu Lang, còn được nhận lại vài chục tệ tiền lẻ. Lần đầu tiên cứ thế thuận lợi đến kinh ngạc, lập tức khơi dậy khẩu vị của Dịch Bản Vân. Lúc này, mật thất của Dịch Trung Minh đã không còn nguyên liệu, cũng không còn sản phẩm nữa, Dịch Bản Vân vừa nếm được vị tươi mới cảm thấy ngứa ngáy khó chịu, suốt ngày cùng Dịch Trung Minh mong ngóng sự xuất hiện của "Thần Tài".

"Lưu Nhất Đao" đi xa có vài chuyện tuyệt đối sẽ không nói cho bất cứ ai, bao gồm cả người đệ tử đắc ý nhất của mình. Một là ẩn danh đổi họ, không mang căn cước công dân, cũng không ở khách sạn nhà nghỉ, tránh bị phiền phức. Hai là giữ bí mật địa chỉ và tên gia đình. Khi người khác hỏi gấp, ông ta lúc thì nói là người Quảng Tây, lúc thì nói là người Quảng Đông, đôi khi cũng bịa bừa một địa điểm, trên bản đồ tìm thế nào cũng không thấy. Ba là hành tung khó lường. "Lưu Nhất Đao" quanh năm như hạc nhàn mây dạo, đến không dấu vết, đi không hình bóng, khiến người ta khó mà nắm bắt. Ông ta có thể liên lạc với đệ tử của mình ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào, đệ tử lại vĩnh viễn không bao giờ biết được "sư phụ" đang ở chốn nào. Vì thế, khi giấy và nước thuốc của Dịch Trung Minh dùng hết, chỉ có thể chờ đợi "Thần Tài" đưa hàng đến tận cửa.

Đối với Dịch Trung Minh, sự xuất hiện bất ngờ của "Thần Tài" quả thực là phúc từ trên trời rơi xuống. Không những lại có được giấy và nước thuốc, còn có thể cùng sư phụ cắt xẻo kỹ nghệ một lần nữa. Đêm "Lưu Nhất Đao" đến Trùng Khánh, Dịch Trung Minh vội vàng thông báo cho Dịch Bản Vân. Trong tâm trí Dịch Bản Vân, dưới sự tâng bốc của Dịch Trung Minh, "Lưu Nhất Đao" đã trở thành một vị "Thần Tài sống". Dịch Bản Vân nghe tin, nhanh chóng chạy đến nhà Dịch Trung Minh.

Dịch Trung Minh tự hào giới thiệu người đồng bọn mà mình chiêu mộ với "Lưu Nhất Đao". "Lưu Nhất Đao" để không làm Dịch Bản Vân thất vọng, cũng muốn thể hiện trước mặt đệ tử, trên bàn ăn trong phòng khách, bày ra từng món dụng cụ. 10 phút đồng hồ, một tờ tiền trăm tệ được tạo ra. Dịch Bản Vân đặt tờ tiền giả dưới ánh đèn chiếu qua, hình bóng chìm và màu sắc giống hệt tiền thật, liên tục khen ngợi "Thần quá, thật là thần". Tối hôm đó, Dịch Bản Vân liền dùng tờ 100 tệ này đến cửa hàng thực phẩm mua về một lượng lớn hoa quả khô tươi, bày "Long Môn Trận" tại nhà Dịch Trung Minh, ba thầy trò quỳ gối tâm tình, thâu đêm suốt sáng.

Hôm sau, "Lưu Nhất Đao" lại đích thân chế tạo 10 tờ 100 tệ tặng Dịch Bản Vân làm kỷ niệm. Ai ngờ, kẻ tham lam Dịch Bản Vân lại giao 10 tờ tiền lớn này cho vợ mình đi mua bách hóa. Vợ Dịch Bản Vân không đi mua ở cửa hàng bách hóa, mà lại mang số tiền này đi trả nợ cho một người quen. Người quen đó phát hiện tờ tiền khả nghi, từ chối nhận, hai nhà tranh cãi không dứt. Người quen đó tức giận, lôi vợ Dịch Bản Vân đến đồn công an phân xử. Đến đây tờ tiền lớn này mới bại lộ thiên hạ. Vợ Dịch Bản Vân bị bắt giữ tại chỗ. Thẩm vấn ngay lập tức. Nghe nói là tiền giả, vợ Dịch Bản Vân sợ đến hồn bay phách lạc. Công an lục soát nhà họ Dịch cũng không phát hiện ra tiền giả nào khác. Thẩm vấn vợ Dịch Bản Vân, bà ta một mực khẳng định tiền là do một khách hàng trả tiền ăn khi mở quán cơm. Truy hỏi khách hàng đó là ai, bà ta tất nhiên không trả lời được. Từ đầu đến cuối, bà ta cũng không khai ra chồng mình, khiến Dịch Bản Vân may mắn thoát được một kiếp. Do bằng chứng không đủ, đồn công an cũng đành phải xử lý theo hướng vô tình vướng phải tiền giả, giam giữ vài ngày, vợ Dịch Bản Vân được thả vô tội.

Vợ Dịch Bản Vân liều chết bảo vệ được chồng mình, nhưng lại dọa chạy mất "Thần Tài". Vừa nghe tin vợ Dịch Bản Vân gặp chuyện, "Lưu Nhất Đao" thu dọn dụng cụ, trong đêm liền lên một con tàu sông rời khỏi Trùng Khánh. Tuy nhiên, lúc chia tay, ông ta để lại cho Dịch Trung Minh một đống lớn giấy tờ và nước thuốc, đủ để đảm bảo Dịch Trung Minh quậy phá trong mật thất một thời gian dài. Sự rời đi vội vàng của "Lưu Nhất Đao" khiến việc Dịch Bản Vân bái "Lưu Nhất Đao" học nghề đã bàn trước đó cũng tan thành mây khói. Dịch Bản Vân đành phải làm người giúp việc cho Dịch Trung Minh, chủ yếu chịu trách nhiệm tiêu thụ sản phẩm do Dịch Trung Minh chế tạo.

Không lâu sau khi "Lưu Nhất Đao" đi, Dịch Trung Minh lại tìm được một người giúp việc nữa. Người này tên là Điền Mậu Tư, tốt nghiệp chuyên ngành mỹ thuật cao đẳng, biết viết biết vẽ, khá có tài năng. Vì giúp những kẻ buôn sách bất hợp pháp vẽ tranh minh họa cho sách báo đồi trụy, nên bị cơ quan công an đưa đi lao động cải tạo hai năm. Sau khi hết thời hạn lao động cải tạo, vẫn không tìm được việc làm, nên đi lang thang khắp nơi.

Một lần, Dịch Trung Minh gặp Điền Mậu Tư ở Sa Bình Bá. Hai người đã quen biết từ trước, thường qua lại, biết rõ căn cơ của nhau. Dịch Trung Minh sợ khi tiêu thụ tiền giả bị thất thủ, muốn tìm một "kẻ thế mạng". Điền Mậu Tư đang lo lắng về sinh kế không chút do dự đồng ý lời mời của Dịch Trung Minh. Điền Mậu Tư cũng là một kẻ độc thân. Sau khi nương tựa vào Dịch Trung Minh, việc ăn ngủ nghỉ của Điền đều ở nhà họ Dịch, Dịch Trung Minh biết Điền Mậu Tư có chút thiên tài, đặc biệt giỏi điêu khắc, thế là nói với Điền Mậu Tư: "Nghe nói cậu giỏi điêu khắc, có thể giúp tôi khắc một con dấu hình bóng chìm 50 tệ không?" Kể từ khi bước lên con thuyền giặc này, Điền Mậu Tư đã không màng sống chết rồi. Dịch Trung Minh thu nhận anh ta, cho anh ta ăn ở, khiến con sói đói lang thang khắp nơi này có một chỗ dựa ấm áp. Vừa là báo ân, cũng là chung tay, Điền Mậu Tư lập tức đồng ý yêu cầu này của Dịch.

Điền Mậu Tư mua một con dấu bằng gỗ từ trên phố về, tập trung tinh thần nằm trên bàn khắc mất 2 tiếng đồng hồ. Sử dụng xong thấy hiệu quả không lý tưởng, thế là mài lại, khắc lại, mất trọn một tuần lễ, khắc chế thành một con dấu hình bóng chìm 50 tệ tinh xảo. Dịch Trung Minh xem xong vô cùng tán thưởng. Kể từ đó, ba bóng ma ngày ngày trốn trong mật thất, điên cuồng chế tạo số lượng lớn tiền giả chân thực. Tiền giả chế tạo ra đều thông qua tay Dịch Bản Vân và Điền Mậu Tư tung ra thị trường tài chính. Trong thời gian chưa đầy nửa năm, số tiền giả do hai người Dịch, Điền tung ra ít nhất cũng trên 2 vạn tệ. Ở các điểm thương mại chính và những nơi phồn hoa tại Trùng Khánh đều xuất hiện tiền giả xuất phát từ tay Dịch Trung Minh.

Mùa thu năm đó, Dịch Trung Minh ba người sợ hoạt động lâu dài ở Trùng Khánh, sự việc bại lộ thì lật thuyền, quyết định đi xa quê hương. Dịch Trung Minh cuối cùng cũng từ bỏ công việc khiến người ta ngưỡng mộ kia, thực sự trở thành một hộ chuyên doanh đúc tiền. Dịch Trung Minh, Dịch Bản Vân, Điền Mậu Tư mang theo dụng cụ lần lượt lưu lạc đến các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Quảng Đông, họ đi đến đâu, tiền giả xuất hiện đến đó.

Hành vi làm giả điên cuồng của Dịch Trung Minh và những kẻ khác; sớm đã gây ra sự chú ý cao độ của cơ quan công an thành phố Trùng Khánh. Cục Công an thành phố chuyên thành lập tổ trinh sát chuyên điều tra vụ án tiền giả. Qua điều tra thu thập chứng cứ tỉ mỉ, nắm chắc thực tế làm giả của băng nhóm Dịch Trung Minh. Mùa đông năm đó, Dịch Trung Minh ba người đi chơi năm tỉnh rồi quay trở lại Trùng Khánh. Lần này chờ đợi họ không còn là cuộc sống tốt đẹp muôn hoa đua nở, mà là nhà tù với tường cao vây quanh. Đêm Dịch Trung Minh về nhà, liền bị công an chờ sẵn lâu ngày bắt giữ quy án.

Dịch Trung Minh trẻ tuổi trên con đường làm giàu, quả thực đã chọn một "bước ngoặt" quan trọng, nhưng "bước ngoặt" này không giúp anh ta làm giàu triệt để, không giúp anh ta bước vào tầng lớp giàu sang, mà lại dẫn anh ta vào cuộc đời trong nhà tù nặng nề.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.