◎Bi kịch ư? Hài kịch ư? Chính kịch ư?
●Tiền giả tiến vào cửa ngõ quốc gia rộng mở
Cải cách mở cửa, quốc môn rộng mở. Thế là, từng lớp người Trung Quốc mang theo nét quyến rũ phương Đông bước qua ngưỡng cửa này để tiến ra thế giới bên ngoài. Những người nước ngoài mắt xanh da trắng cũng mang theo văn minh phương Tây bước vào ngưỡng cửa này, đặt chân lên mảnh đất cổ xưa phương Đông. Từ đó, văn minh Đông - Tây lại một lần nữa giao thoa và hòa quyện trên mảnh đất Thần Châu. Kể từ đó, có sự tham gia của người Trung Quốc, mọi sự vụ trên thế giới đều trở nên muôn màu muôn vẻ hơn.
"Liên doanh" - đứa con mới chào đời của cải cách, nơi phục hồi kinh tế Trung Quốc.
Những năm gần đây, "liên doanh" đã trở thành cửa miệng của các quan chức hành chính địa phương Trung Quốc. Hễ xét đến thành tích chính trị của các quan phụ mẫu, số lượng dự án "liên doanh" lại trở thành một cái cân vô cùng quan trọng. "Liên doanh" ở Trung Quốc gần như đã trở thành từ đồng nghĩa với việc giải phóng tư tưởng của bách tính và quan chức một phương. Cá thể, tập thể, doanh nghiệp quốc doanh, đơn vị sự nghiệp, thậm chí cơ quan hành chính đều đang tìm mọi cách để thu hút vốn nước ngoài, mở rộng kênh "liên doanh". Có được tấm biển vàng "liên doanh" này, doanh nghiệp có thể hưởng chế độ miễn thuế, công nhân viên có thể ra nước ngoài đào tạo, lãnh đạo có thể đi khảo sát nước ngoài, về nước lại có thể ngồi xe hơi cao cấp. Sau khi "liên doanh", một bộ phận người đã được hưởng những phúc lợi và đãi ngộ trước đây chưa từng dám tưởng tượng. Do đó, không thể nói "liên doanh" không có chỗ tốt. Còn về việc thương hiệu nổi tiếng trong nước "liên doanh" xong biến thành một thương hiệu khác, nhuệ khí công nghiệp dân tộc suy giảm, sa sút không gượng dậy nổi... những hiện tượng này xuất hiện, rất ít người đi tìm hiểu xem nó và "liên doanh" có tồn tại mối liên hệ tất yếu nào hay không. Hiệu quả thực tế của "liên doanh" ra sao, rất ít người chịu cân nhắc, chịu tham khảo. "Liên doanh" bị hủy bỏ, phá sản, chắc chắn sẽ không gây ra rung động lớn nào trong lòng bách tính, bởi trong tâm trí họ đã có một quan niệm định kiến từ trước: "Liên doanh" đều đại diện cho kỹ thuật và văn minh khoa học tiên tiến nhất thế giới hiện nay. Chỉ cần ở nước ngoài có người đề nghị mở "liên doanh" tại Trung Quốc, bất kể bối cảnh chính trị, lịch sử cá nhân của nhà đầu tư ra sao, trước tiên đều có thể nhận được sự tiếp đãi cao nhất. Số vốn đầu tư càng lớn, đãi ngộ càng cao. Tục ngữ có câu: "Người nghèo chí ngắn, ngựa gầy lông dài", cảnh "liên doanh" này chính là minh chứng cho điều đó. Kinh tế Trung Quốc muốn chấn hưng thì thứ cần thiết chính là vốn và kỹ thuật, đã có người quăng ra "bánh thơm", ai mà nỡ từ chối? Vẫn là "chủ nghĩa mang về" (lấy của người làm của mình) là tốt nhất.
Các doanh nghiệp "liên doanh" xuất hiện khắp thành thị nông thôn Trung Quốc. Từ việc sản xuất máy bay, ô tô cho đến các món hàng tạp hóa dùng hằng ngày, thứ gì cũng có. Những năm qua, đóng góp của các doanh nghiệp "liên doanh" đối với sự phát triển kinh tế Trung Quốc là điều ai cũng thấy rõ, nó đã trở thành dũng sĩ trong lĩnh vực kinh tế Trung Quốc, không ai có thể thay thế được. Chính sách liên doanh nới lỏng của Trung Quốc đã trải ra một con đường rộng thênh thang cho việc du nhập kỹ thuật và vốn phương Tây, tuy nhiên, đằng sau dòng chảy du nhập này cũng mang theo một số thứ không hài hòa với văn minh. Đây chính là cái mà người ta thường nói: mở cửa sổ ra, mấy con "ruồi" và "rệp" liền bay vào. Người Trung Quốc vốn không biết "bột trắng" (ma túy) là gì đã phải chịu sự xâm hại của ma túy; xã hội đen Hồng Kông, Đài Loan tràn vào đại lục, mưu đồ mở rộng địa bàn; băng đĩa đồi trụy, kích dục tràn vào đại lục, ăn mòn tâm hồn thuần khiết của một thế hệ thanh thiếu niên; và cũng chính vào lúc "cửa sổ đại lục mở rộng", "tiền giả" đã theo các món hàng buôn lậu tiến thẳng vào đại lục, hơn nữa thế còn rất hung hãn.
Thuở mới cải cách, người Trung Quốc bừng tỉnh sau cơn ác mộng vẫn còn biết rất ít về thế giới bên ngoài. Kinh tế Trung Quốc đang trong giai đoạn khởi động, của cải vật chất của nhân dân còn chưa phong phú, thậm chí còn có phần thiếu thốn. Sự thỏa mãn về đời sống vật chất trở thành nhu cầu số một của người Trung Quốc. Vật chất và tiền bạc vốn là một, cũng có thể hoán đổi cho nhau, nhưng trong các thời kỳ khác nhau, bối cảnh lịch sử khác nhau, hai thứ này lại không dung hòa được với nhau.
●Bàn thờ hoang đường
Thập niên bảy mươi, cơn bão đỏ cuồng phong tiến lên. Vai trò của tinh thần và ý thức bị phóng đại không giới hạn, những thứ vật chất bị phê phán và chà đạp tơi bời. Cái logic hoang đường "càng nghèo càng làm cách mạng" bị đưa lên bàn thờ của cánh tả cách mạng. Trong thời đại trắng đen lẫn lộn, thị phi đảo lộn ấy, kinh tế sụp đổ, vật chất thiếu thốn. Tác dụng của tiền giấy bị thu hẹp đến mức không thể nhỏ hơn được nữa. Thứ mà bách tính thời đó cần nhất là vật chất thực thụ, chứ không phải ký hiệu của hàng hóa - tiền giấy. Có đôi khi, việc sở hữu tiền giấy lại còn rước lấy tai họa vô tận - dưới khẩu hiệu "càng nghèo càng vinh quang", những kẻ mưu cầu giàu sang cuối cùng đều có kết cục bi thảm. Quan hệ nước ngoài trở thành một tội trạng lớn chính là minh chứng rõ nhất.
●Tại sao trên tờ đô la Mỹ lại in đè chân dung Mao Trạch Đông?
Tại Hồng Kông từng diễn ra một vở hài kịch về tiền tệ, cuối cùng dẫn đến một cuộc khủng hoảng ngoại giao nghiêm trọng.
Ngày 12 tháng 4 năm 1973, học sinh Trần Kỳ Bật của trường Trung học Thạch Cẩu, công xã Thạch Cẩu, huyện Tứ Hội, tỉnh Quảng Đông nhận được một bức thư thường gửi từ Hồng Kông. Người gửi ký tên là "Ngọc Hoa". Trong phong bì không có một dòng thư nào, chỉ có một tờ tiền 1 đô la Mỹ được in phóng to. Kỳ lạ là chân dung Washington trên tờ đô la Mỹ lại bị thay thế bằng chân dung Mao Trạch Đông. Bức thư này lập tức được chuyển đến các bộ phận liên quan xử lý. Cuối cùng, Cục điều tra Tỉnh ủy Quảng Đông đã lập án điều tra vụ việc này. Kẻ nào dám phạm thiên hạ đại bất vi, in đè hình ảnh huy hoàng của "lãnh tụ vĩ đại nhất" lên đồng tiền của đế quốc Mỹ, động cơ là gì, có bối cảnh chính trị nào? Vụ án này được liệt vào vụ án chính trị đặc biệt nghiêm trọng.
Cục điều tra Tỉnh ủy Quảng Đông phái lực lượng tinh nhuệ sang Hồng Kông điều tra, phát hiện ra rằng trên đường phố Hồng Kông đâu đâu cũng có bán loại tiền đô la Mỹ in phóng to này như một món đồ thủ công mỹ nghệ. Lần theo manh mối, cuối cùng xác minh được một thương nhân Hồng Kông vì mục đích thương mại đã phát minh ra loại tiền đô la Mỹ in phóng to này để bán công khai. Vị thương nhân này nhờ đó mà kiếm được một khoản tiền lớn.
Mặc dù vị thương nhân Hồng Kông kia chỉ vì mục đích thương mại, nhưng hành vi in lén chân dung của "lãnh tụ vĩ đại nhất" lên tờ đô la Mỹ là điều không thể dung thứ, các bộ phận liên quan của chính phủ đã gửi văn bản kháng nghị mạnh mẽ nhất tới chính quyền Hồng Kông thuộc Anh.
●Làm giả đạt đến đỉnh điểm, cảnh sát khó lòng đề phòng
Bước vào giữa thập niên tám mươi, kinh tế Trung Quốc bắt đầu hé lộ ánh bình minh. Thị trường xuất hiện cảnh tượng phồn vinh. Cùng với sự đi sâu của cải cách, mảnh đất Thần Châu bắt đầu có sự luân chuyển lớn về người, tài, vật, bắt đầu xuất hiện các khu vực mở cửa ven biển. Kinh tế Trung Quốc thể hiện sự khao khát tối đa đối với vốn và kỹ thuật. Quan hệ nước ngoài trở thành một tấm biển vàng. Viện trợ nước ngoài và ngoại tệ thông qua con đường này không ngừng chảy vào quốc môn. Thế là, những tờ ngoại tệ hoa mỹ bị thu hút vào các quầy hàng Trung Quốc, xuất hiện trong túi tiền của bách tính. Tuy nhiên, việc tốt không bền, trong túi tiền của bách tính cũng phát hiện lẫn vào tiền nhân dân tệ giả, đô la Mỹ giả, yên Nhật giả, đô la Hồng Kông giả.
Ngày 24 tháng 8 năm 1988, cơ quan công an Thâm Quyến phá thành công một vụ án tiền giả. Tại hiện trường thu giữ hơn 50.000 tệ tiền nhân dân tệ giả loại mệnh giá 100 tệ. Lúc này, đúng là 100 ngày sau khi nước ta phát hành tiền nhân dân tệ bản thứ tư. Không thể không nói tốc độ của bọn tội phạm thật là thần tốc. Sau đó điều tra làm rõ, vụ án tiền giả lớn này xuất phát từ tay xã hội đen Hồng Kông, cũng là vụ án lớn đầu tiên về việc xã hội đen nước ngoài làm giả tiền nhân dân tệ mà cảnh sát đại lục phá được trong thập niên tám mươi. Giai đoạn này, tiền giả phát hiện ở nước ta đều xuất hiện ở khu vực ven biển Đông Nam, cuối cùng truy tìm nguồn gốc tiền giả thì đều ở ngoài biên giới, có cái ở Đài Loan, Hồng Kông, có cái còn ở Đông Nam Á.
Nước ta mở cửa đối ngoại, bọn xã hội đen nước ngoài, đặc biệt là thế lực xã hội đen vùng Hồng Kông, Đài Loan nhìn trúng cơ hội này, trong khi hung hăng buôn lậu hàng hóa vào đại lục, cũng bắt đầu làm giả tiền tệ đại lục để mưu cầu siêu lợi nhuận. Khi đó, chính quyền đại lục và Đài Loan vẫn đang trong giai đoạn đối đầu, tiền nhân dân tệ không được pháp luật bảo hộ ở Đài Loan, Đài Loan trở thành căn cứ tuyệt vời cho các hoạt động làm giả của bọn xã hội đen. Hồng Kông là một vùng đất nhỏ hẹp, nhưng lại là nơi in tiền giả lớn nhất Đông Nam Á, cũng là một trong những trung tâm sản xuất tiền giả lớn nhất thế giới. Tiền giả ở Hồng Kông hình ảnh chân thực, bách tính rất khó phân biệt bằng mắt thường, đặc biệt là đô la Mỹ, yên Nhật, đô la Hồng Kông... làm giả, trong điều kiện bách tính đại lục rất ít khi nhìn thấy những ngoại tệ này nên càng dễ dàng xâm nhập thị trường đại lục. Hiện nay, đại lục nước ta tổng cộng phát hiện có 10 loại tiền nhân dân tệ giả được in bằng máy, trong đó đã làm rõ, xuất phát từ tay xã hội đen Hồng Kông, Đài Loan có đến 8 loại.
Năm 1990, cơ quan công an tỉnh Phúc Kiến đã thu giữ hơn 9 triệu tệ tiền nhân dân tệ giả tại hai nơi là huyện Bình Đàm và thành phố Hạ Môn. Sau đó qua xác minh của Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế (Interpol), lô tiền giả này cùng một phiên bản với 10,71 triệu tệ tiền nhân dân tệ giả do cảnh sát Cao Hùng, Đài Loan thu giữ năm 1991. Tháng 6 năm 1989, cảnh sát Hồng Kông đã phá hủy thành công một xưởng in tiền dưới lòng đất ở khu vực Cửu Long, tổng cộng thu giữ 206.500 tệ tiền nhân dân tệ giả (loại mệnh giá 100), 16.600 đô la Mỹ giả (loại mệnh giá 100), còn có các công cụ gây án như máy in, máy cắt, máy chế bản, mực in và kẽm bản để làm tiền giả. Lúc này, các hoạt động làm giả của các tổ chức xã hội đen nước ngoài đã đạt đến đỉnh điểm, tiền giả tính bằng đơn vị hàng trăm triệu tệ thông qua đủ loại con đường cuồn cuộn chảy vào đại lục, đồng thời cũng kích động tội phạm làm tiền giả ở nội địa đại lục. Giai đoạn này, các vụ án làm giả ở đại lục nổi cộm, thế lực hung hãn, khiến cảnh sát đại lục khó lòng đề phòng.
◎Mạng lưới tiếp thị lớn nhất
●Dòng chảy ngầm của tiền giả "Nam tiến Bắc tiêu"
Khi nước ta hạn chế nghiêm ngặt việc mang tiền mặt nhân dân tệ ra vào biên giới, tiền nhân dân tệ giả không thể "đường đường chính chính" đi qua hải quan. Thế lực xã hội đen ngoài biên giới dù có gan đến đâu cũng không dám coi thường cửa ngõ quốc gia Trung Quốc, đi phạm vào điều cấm kỵ của thiên hạ. Ban đầu, tiền giả xâm nhập đại lục đều là buôn lậu qua đường biển, sau đó thông qua những kẻ hợp tác ở đại lục để đại lý bán tiền giả. Những kẻ bất hảo ở nội địa thấy tiền là sáng mắt, cùng hội cùng thuyền với bọn tội phạm tiền giả, cấu kết với nhau. Tội phạm ở ven biển Đông Nam bán sỉ tiền giả lần thứ nhất cho những kẻ buôn tiền giả từ nội địa đến. Những kẻ buôn tiền giả này sau khi mang tiền giả về nội địa lại bán lại cho những kẻ buôn tiền giả khác. Cứ như thế, từ ngoài biên giới đến đại lục, từ ven biển đến nội địa, hình thành một dòng chảy đục ngầu của tiền giả "Nam tiến Bắc tiêu". Từ năm 1988 trở lại đây, tiền giả do cơ quan công an của hơn 20 tỉnh thành trên toàn quốc thu giữ đều có nguồn gốc từ một số trấn ở thành phố Sán Vĩ và Sán Đầu, tỉnh Quảng Đông.
●Nàng phong lưu sa chân vào vụ án tiền giả
Năm 1990, Cục Công an Bắc Kinh, Cục Công an Đại Liên dưới sự chỉ huy thống nhất của Bộ Công an đã phá thành công vụ án tiền giả "2.20".
Chúng ta hãy cùng nhìn lại vụ án làm giả lớn nhất kinh thành này, có thể nhìn thấy rõ ràng mạng lưới tiếp thị tiền giả nối liền Hồng Kông - Ma Cao và mấy tỉnh đại lục.
Ngày 20 tháng 2 năm 1989, khu vực chùa Long Phúc, quận Đông Thành, Bắc Kinh vẫn tấp nập, người đông như kiến cỏ. Đây là một trong bốn trung tâm thương mại lớn nổi tiếng của Bắc Kinh, có những cửa hàng lâu đời nức tiếng cả nước, mỗi ngày thu hút đông đảo khách buôn và khách du lịch từ khắp nơi đổ về.
Sáng hôm đó vào lúc 10 giờ, một quý cô trẻ tuổi đi vào cửa hàng thời trang "Teray". Nàng đeo máy nhắn tin bên hông, phì phèo điếu thuốc, phong thái kiểu "chị đại" đang thịnh hành trên đường phố.
Chủ tiệm thấy "chị đại" ghé thăm thì tươi cười hớn hở, trong lòng thầm mừng.
"Chị đại" đi đến trước gian hàng, đứng hồi lâu, đôi mắt sau cặp kính râm quét qua toàn bộ cửa hàng hai lần rồi đưa bàn tay thon dài chỉ vào chiếc áo len có ghi nhãn hiệu nhập khẩu trên giá: "Lấy ra xem thử."
Chủ tiệm thấy diện mạo này liền cảm thấy có mối làm ăn.
"Chị đại" lật xem chiếc áo len trong tay rồi hỏi: "Bao nhiêu tiền?"
Chủ tiệm vội tiếp lời: "Tiểu thư xinh đẹp chịu ghé thăm, cửa hàng xin giảm giá 20%, 338 tệ nhân dân tệ."
"Chị đại" phóng khoáng rút trong túi xách ra 4 tờ bạc 100 tệ ném lên quầy.
Nhân viên bán hàng nhận lấy 4 tờ tiền đó, cầm trên tay uốn thành hình rẻ quạt, theo phản xạ đưa lên chỗ có ánh sáng soi một cái, tức thì kinh hãi: Màu sắc, hoa văn của mấy tờ tiền này sao lại có vẻ không đúng lắm nhỉ? Ngày hôm qua cảnh sát khu vực vừa mới triệu tập nhân viên bán hàng, phục vụ các điểm kinh doanh cá thể trong khu vực quản lý đến họp, nhắc nhở mọi người: gần đây ở khu vực Vương Phủ Tỉnh liên tiếp xảy ra mấy vụ dùng tiền giả mua hàng, hy vọng mọi người nâng cao ý thức phòng chống hàng giả, hễ phát hiện tiền khả nghi phải báo án ngay. Không ngờ hôm nay mình lại đụng phải.
Nhân viên bán hàng nháy mắt với ông chủ một cái rồi nói với "chị đại": "Tiền của cô sao lại có vẻ không đúng thế này?" "Chị đại" kia vừa thấy tiền có vấn đề, liền đưa tay giật lấy tiền từ trong tay nhân viên bán hàng, quay người bước ra ngoài.
Lúc này sao có thể để cô ta thoát. Nhân viên bán hàng chạy ra khỏi quầy, nắm chặt lấy cánh tay "chị đại", không cho đi. Không lâu sau, cảnh sát đồn công an nhận được tin báo đã đến hiện trường, đưa "chị đại" về đội cảnh sát hình sự thuộc Cục công an quận Đông Thành.
Sau khi xác nhận, bốn tờ tiền mệnh giá 100 tệ mà "chị đại" sử dụng chính là tiền giả in bằng máy.
Hai cảnh sát lập tức thẩm vấn, "chị đại" cứ ấp a ấp úng, mãi đến gần 7 giờ tối cô ta mới khai ra.
Cô ta tên là Ngụy Quyên, năm nay 31 tuổi. Ngụy Quyên sinh ra trong một sân nhà cũ kỹ ở phía nam thành phố. Cha dựa vào việc làm "xe ôm ba gác" để kiếm tiền nuôi Ngụy Quyên và em trai. Mẹ để phụ giúp cuộc sống đã thông qua hội phụ nữ khu phố làm một giấy phép kinh doanh cá thể, dựng một chiếc lều nhỏ ở góc ngõ, buôn bán "que kem". Cuộc sống gia đình Ngụy Quyên tuy nghèo khó một chút nhưng cũng tạm ổn. Năm 21 tuổi, Ngụy Quyên kết hôn với một thanh niên trí thức hồi hương. Không ngờ cưới nhau chưa được hai năm, chàng trai đó tham gia vào một vụ ẩu đả lưu manh. Lúc đó đúng thời điểm toàn quốc đang trong đợt "nghiêm trị", thủ phạm chính hai bên ẩu đả đều bị xử tử tại chỗ. Chồng của Ngụy Quyên chỉ là đồng phạm, giữ được cái đầu nhưng bị kết án 15 năm tù giam, đưa đi cải tạo tại nhà tù Tân Cương, hộ khẩu thành phố bị xóa bỏ.
Hôn nhân gặp tai họa này, tâm hồn Ngụy Quyên bị đả kích nặng nề. Ngụy Quyên chủ động đề nghị hủy bỏ quan hệ hôn nhân với người chồng đang ngồi tù, cô thực sự không muốn chịu đựng sự chờ đợi đằng đẵng trong đau khổ. Ngụy Quyên lại quay về nhà mẹ đẻ, nhưng căn nhà cấp bốn rộng 15 mét vuông của nhà mẹ thực sự không thể đón nhận người con gái đã gả đi này. Em trai của Ngụy Quyên đã lớn khôn, gia đình bốn người, 15 mét vuông sao mà sống nổi.
Trong thời gian Ngụy Quyên yêu chàng trai đó, cha mẹ kiên quyết phản đối họ qua lại. Chàng trai đó không có kỹ năng gì, lại là thanh niên trí thức vừa hồi hương, cả ngày ngoài uống rượu ra thì chỉ có tán dóc, than thở. Chính trải nghiệm sống không bình thường của chàng trai đã hấp dẫn trái tim ngây thơ của Ngụy Quyên. Phận gái trao thân, thề không lấy ai khác. Hai người thường xuyên lén lút vụng trộm, Ngụy Quyên chủ động trao thân, không lâu sau phát hiện có thai, chàng trai đó đành cắn răng đến nhà họ Ngụy cầu hôn. Thấy việc đã rồi, "gạo nấu thành cơm", nhà họ Ngụy sợ chuyện xấu lan ra ngoài, đành phải đồng ý cuộc hôn nhân này.
Bây giờ, Ngụy Quyên thầm uống chén rượu đắng của cuộc hôn nhân bất hạnh này, lại quay về. Mẹ vẫn rất nhiệt tình đón nhận cô con gái bị tổn thương của mình, nhưng nút thắt trong tình cảm thì vĩnh viễn không thể cởi bỏ. Lúc Ngụy Quyên mới kết hôn, mẹ cô từng tức đến mức đổ bệnh nằm liệt giường. Mẹ hy vọng thông qua con đường hôn nhân, có thể khiến con gái thay đổi vận mệnh hiện tại. Không ngờ con gái không hiểu tấm lòng yêu thương của mẹ, khăng khăng muốn lấy một tên lưu manh lêu lổng. Cuối cùng gặp phải tai nạn này. Có lẽ đây chính là tạo hóa của số phận.
Sau khi ly hôn, Ngụy Quyên ở tạm nhà mẹ vài ngày, cảm thấy chỗ nào cũng rất gượng gạo, cả nhà đối với cô đều rất lạnh nhạt. Thế là cô dọn ra khỏi nhà mẹ đẻ, tìm được một chỗ nằm trong ký túc xá tập thể của đơn vị, trú thân ở đó. Những năm sau đó, Ngụy Quyên cũng từng vài lần bước lên cầu Ô Thước, nhưng đều không gặp được lang quân như ý. Vết thương lòng do cuộc hôn nhân thất bại đầu tiên gây ra vẫn chưa từng khép miệng, trở thành một bóng ma tâm lý. Thường xuyên nảy sinh tâm lý chán nản với việc tái hôn, vì vậy, mấy năm trôi qua, vẫn chỉ là độc thân một mình.
Đến năm 1989, sản phẩm của nhà máy nhỏ nơi Ngụy Quyên làm việc bị tồn kho nhiều, lương công nhân không có chỗ lo, công nhân người đi kẻ ở, tan tác tơi bời. Ngụy Quyên cũng từng muốn rời nơi này, tìm việc khác. Liên hệ mấy doanh nghiệp, họ đều đồng ý nhận cô, nhưng không nơi nào sắp xếp được ký túc xá, đành bỏ cuộc. Ngụy Quyên đành chìm xuống cùng với nhà máy nhỏ sắp phá sản này. Thời đó, "tam bồi" (tiếp rượu, tiếp nhảy, tiếp ngủ) ở kinh thành đã âm thầm thịnh hành. Ngụy Quyên dưới sự khai sáng của một người chị em, cũng lén lút gia nhập hàng ngũ "tam bồi". Ban ngày đến nhà máy điểm danh, tan làm sớm, tối đến phòng khiêu vũ tiếp khách uống rượu, nhảy múa. Ban đầu, Ngụy Quyên chỉ tiếp khách nhảy múa uống rượu, thấy ông chủ vung tiền như rác, Ngụy Quyên cũng dần dần cởi mở bản thân mình. Chỉ cần khách thích, cô đều đáp ứng, tiếp uống, tiếp bơi, tiếp ngủ, việc gì cũng làm, chỉ có điều, Ngụy Quyên không bao giờ tiếp khách qua đêm tại phòng khách sạn, cô sợ bị bắt vào đồn. "Tam bồi" như vậy, Ngụy Quyên làm gần một năm, tài khoản ngân hàng cũng đã gửi được năm sáu vạn tệ. Công việc ở nhà máy trở thành nghề tay trái của cô, ký túc xá tập thể cô cũng rất ít khi quay về ngủ lại một đêm, Ngụy Quyên còn thỉnh thoảng gửi cho mẹ và em trai vài nghìn tệ. Nói là kiếm được nhờ làm thêm với bạn bè bên ngoài.
Ngày 18 tháng 2 năm 1990, Ngụy Quyên trong lúc nhảy múa tại vũ trường của một khách sạn đã quen biết một thanh niên tên là Hứa Cương. Hứa tự xưng là nhân viên kinh doanh của Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật huyện Cao Dương, tỉnh Hà Bắc. Đêm này, người Ngụy Quyên tiếp nhảy không phải là Hứa Cương, mà là thông qua ông chủ phòng nhảy quen biết Hứa Cương. Khi nhạc dứt khách tan, Hứa Cương chủ động mời Ngụy Quyên hôm sau tiếp hắn nhảy, Ngụy Quyên liền nhận lời ngay.
Tối hôm sau 10 giờ, Hứa Cương và Ngụy Quyên hẹn gặp nhau tại phòng khiêu vũ của khách sạn Long Hương. Ngụy Quyên lăn lộn chốn thanh sắc, khiêu vũ thì không cần phải nói. Khách các loại cô đều có thể đối phó thành thạo. Huống hồ tối nay vị ông chủ nhỏ đến từ huyện tỉnh ngoài này, còn chưa nằm trong lòng bàn tay sao. Lúc này, hai người tâm đầu ý hợp, hắn mưu cầu vui vẻ, cô mưu cầu tiền tài, ai nấy đều có mục đích, ai nấy đều được thỏa mãn. Nhìn bước nhảy của Hứa Cương, một kẻ mù nhảy chính hiệu. Khiêu vũ đối với hắn chỉ là một phương tiện, phụ nữ mới là mục đích cuối cùng. Hôm qua ở vũ trường Hứa Cương đã quan sát Ngụy Quyên, khẳng định cô gái này không phải hạng lương thiện. Trên sàn nhảy, Hứa Cương ôm eo Ngụy Quyên, hai chân dậm tại chỗ, giả bộ say sưa, nhưng hai tay lại sờ soạng lên xuống mông bạn nhảy. Ngụy Quyên giả bộ hoàn toàn không biết, thỉnh thoảng còn liếc mắt đưa tình với nam bạn nhảy, khiến động tác của Hứa Cương càng thêm phóng túng.
Nửa đêm 12 giờ, Hứa Cương dẫn Ngụy Quyên đến quán cà phê khách sạn Tây Uyển uống cà phê. Ngay ngày hôm trước, Hứa Cương lúc chia tay với Ngụy Quyên đã đưa cho Ngụy Quyên một gói giấy, bên trong là 500 tệ tiền mặt. Ngụy Quyên tự nhiên hiểu ý nghĩa số tiền này: đêm hôm sau, cô phải tiếp Hứa ông chủ một đêm, có lẽ còn có chương trình phục vụ trên giường. 500 tệ là giá thị trường lúc đó, cũng là tiền đặt cọc, ông chủ xem chất lượng phục vụ của tiểu thư mà trả tiền đặt cọc, sau khi xong việc còn có tiền bồi thường. Ngụy Quyên nhận tiền mặt, không nói một lời, quay người bỏ đi.
Khoảng nửa đêm 0 giờ 30 phút, một thanh niên chừng 20 tuổi xách một chiếc túi xách đến quán cà phê, đưa cho Hứa Cương. Ngụy Quyên tưởng đây là giao dịch giữa những người làm ăn, không để ý. Sau khi thanh niên rời đi, Hứa Cương cố tình kéo mở một góc túi xách lắc lư trước mắt Ngụy Quyên. Không xem thì thôi, vừa nhìn Ngụy Quyên giật bắn mình. Trong túi xách đầy ắp những xấp tiền mới cứng. Ngụy Quyên chưa bao giờ nhìn thấy nhiều tiền như vậy, tức thì tim đập nhanh hơn, tin chắc rằng mình đã gặp được một ông chủ đại phú đại quý.
Ngụy Quyên vốn là một người phụ nữ khá nhiều tâm kế, nhìn thấy nhiều tiền như vậy, lập tức giả bộ vẻ mặt ngây thơ hồn nhiên: "Ôi, nhiều tiền quá, Hứa ông chủ quả thực là đại phú ông lớn nhất mà tôi từng gặp."
Hứa Cương cố tình khoe giàu, tự nhiên là ý tại "Bái Công". Thấy vẻ mặt kinh ngạc của cô gái họ Ngụy, tự nhiên sẽ đạt được mục đích. Người phụ nữ trước mắt đã nằm gọn trong lòng bàn tay. Hứa Cương tuy còn trẻ, nhưng quanh năm xông pha bên ngoài, chơi bời lăng nhăng, chuyện phong lưu chơi rất thuần thục. Người phụ nữ hắn để mắt đến, mười phần thì chín phần có thể dụ dỗ lên giường hắn. Đối với cô gái như Ngụy Quyên, chỉ cần tiền là có thể giải quyết được cô ta.
Dưới ánh sáng của tiền bạc, tình dục trở thành một loại hàng hóa. Nam có tình nữ có ý, có sự giúp đỡ của tiền mặt, cái ác không còn đáng sợ. Đêm này, Ngụy Quyên theo Hứa Cương về phòng trọ của hắn. Hứa Cương chi ra 500 tệ tiền mặt giành lấy niềm vui mà hắn muốn, Ngụy Quyên nhận được 500 tệ trả giá những thứ cô bắt buộc phải trả. Việc mua bán giữa nam và nữ đã được thực hiện trên giường, số tiền giao dịch 500 tệ nhân dân tệ. Đêm này, Ngụy Quyên phô diễn hết công phu giường chiếu, chỉ vài hiệp đã đánh cho Hứa ông chủ bỏ giáp quy hàng.
Kể từ lúc vào phòng, ánh mắt Ngụy Quyên luôn nhìn chằm chằm vào chiếc túi xách trong tay Hứa ông chủ. Ngay cả khi hai người đang mây mưa trên giường, Ngụy Quyên cũng không quên nhìn chằm chằm vào chiếc túi xách để trên kệ sách. Sau khi cuộc chiến kết thúc, Hứa Cương ngủ chết, Ngụy Quyên mãi không ngủ được, trong lòng vẫn đang tính toán chiếc túi xách kia. Khoảng 3 giờ sáng, Ngụy Quyên lay lay Hứa ông chủ bên cạnh, không có phản ứng. Ngụy Quyên thấy thời cơ đã đến, nhẹ nhàng bước xuống giường, mò đến kệ sách cạnh tường, đưa tay rút một xấp tiền từ trong túi xách nhét vào túi xách tay của mình.
Đêm này, Ngụy Quyên không ngủ lại nữa. Trời vừa hửng sáng, Ngụy Quyên đã lặng lẽ dậy. Lúc ra về, Hứa ông chủ hẹn tối gặp cô tại quán cà phê khách sạn Yến Kinh.
Ngụy Quyên tổng cộng trộm ra 15 tờ tiền 100 tệ mệnh giá lớn từ trong túi xách của Hứa Cương. Ngày hôm đó, Ngụy Quyên nôn nóng đến trung tâm thương mại Long Phúc chọn mua thời trang. Không ngờ thứ mình trộm được lại là một xấp giấy lộn, hơn nữa còn rước lấy một tai họa.
7 giờ 20 phút, một chiếc xe cảnh sát lao ra từ sân Đội cảnh sát hình sự thuộc Cục Công an quận Đông Thành. Ngồi bên trong là Đội trưởng đội cảnh sát hình sự Chu Hiển Thụy và các chiến hữu của ông. Trong đó còn có một cảnh sát hình sự từng "chạm điện", đó chính là người thủ vai Mã Tam Nhạc trong bộ phim truyền hình "Cảnh sát thường phục" - Diêu Vũ. Diêu Vũ làm cảnh sát hình sự so với đóng phim còn tự nhiên chân thực hơn nhiều. Trong Đội cảnh sát hình sự quận Đông Thành, Diêu Vũ xứng đáng là một mãnh tướng. Lần này phá án lớn, lãnh đạo Cục đã tổ chức một đội hình hùng hậu hơn 20 người, tự nhiên không thể thiếu mãnh tướng Diêu Vũ này.
7 giờ 36 phút, các cảnh sát hình sự đã đến trước quán cà phê khách sạn Yến Kinh. Vừa bố trí xong xuôi, Hứa Cương cùng bốn người khác xuất hiện đúng giờ tại quán cà phê. Con mồi rơi vào lưới đã giăng, sao có thể để nó chạy thoát. Chu Hiển Thụy ra lệnh một tiếng, cảnh sát thường phục mai phục bốn phía lao thẳng về phía "con mồi". Chưa đợi bốn tên kia hiểu chuyện gì xảy ra, đã bị một trận "vòi rồng" cuốn ra ngoài cửa, ấn vào những chiếc xe hơi đang đỗ bên ngoài.
Thẩm vấn đột xuất đến tận đêm khuya, trước tiên mở được nút thắt từ phía phạm nhân Cao Bách Đồng.
●Kẻ bán hàng bẩn, cao thủ hớ hênh sa lưới
Cao khai nhận tiền giả là do một người Bắc Kinh tên là Mã Ngọc Dân đến Thâm Quyến mua được từ tay một người Hồng Kông tên là "A Thất". Cách thức giao nhận là: Mã Ngọc Dân gọi điện từ Thâm Quyến sang Hồng Kông, "A Thất" nghe điện thoại xong sẽ mang tiền giả đến Thâm Quyến giao cho Mã Ngọc Dân, Mã sau đó mang tiền giả về Bắc Kinh, bán sỉ cho Cao Bách Đồng, Hứa Cương và những người khác để đưa ra thị trường. Vào tháng 2, Mã Ngọc Dân từng giao hơn 6 vạn tệ tiền giả cho Hạ Long Xuân, Viên Cửu Khuê... làm khoản tiền trả nợ. Còn mang 4 vạn tệ tiền giả đến Đại Liên giao người cất giữ. Cao Bách Đồng từng mưu đồ dùng 20 vạn tệ tiền giả ở Bắc Kinh để đổi lấy ngoại tệ, bị người ta phát hiện nên không thành. Tiền giả đều để ở trong nhà. Phạm nhân Cao còn khai, Mã Ngọc Dân có một đồng bọn tên là Vương Giang, là giám đốc Công ty Thực nghiệp Hoa Lợi thành phố Trương Gia Khẩu.
Dựa theo lời khai của Cao Bách Đồng, cảnh sát hình sự lập tức lái xe đến nhà Cao lục soát, dưới chiếc ghế sofa trong nhà, phát hiện hơn 17 vạn tệ tiền nhân dân tệ giả.
Cả đêm tra cứu hồ sơ hộ khẩu, toàn thành phố cũng không phát hiện có ai tên là Mã Ngọc Dân. Lẽ nào, lời khai của phạm nhân Cao là giả. Vậy thì Mã Ngọc Dân sẽ là ai đây? Vụ án rơi vào tình trạng "núi cùng nước cạn, không còn đường nào đi".
Các cảnh sát hình sự đang lúc không biết làm sao, thì ngày 22 tháng 2, nhận được một tin báo từ Cục Công an thành phố Đại Liên, đưa vụ án đến "liễu ám hoa minh hữu nhất thôn".
Ngày 21 tháng 2, đội liên phòng ga tàu Đại Liên bắt giữ một gã say rượu quậy phá, người này chừng 30 tuổi, đang mượn hơi men làm càn trên đường phố, một tay nắm một xấp tiền lớn, một tay túm chặt áo chủ tiệm đòi rượu uống. Các thành viên đội liên phòng đưa gã say về đồn cưỡng chế giải rượu, kiểm tra số tiền của gã say thì phát hiện toàn bộ đều là tiền giả.
Đội cảnh sát hình sự Cục Công an thành phố Đại Liên nghe tin liền xuất động, tiếp quản vụ án này. Vừa vào phòng thẩm vấn, gã say cũng tỉnh rượu. Ba hỏi hai hỏi, gã say lập tức như trúc đổ đậu - khai sạch sành sanh: Tiền là lấy trộm từ trong ví da của vợ hắn. Vợ hắn tên là Cận Ny, vì vợ chê hắn kiếm tiền không bằng cô ta, thường xuyên mượn cớ cãi vã rồi về nhà mẹ đẻ ở, lại còn tư thông với người đàn ông khác, thế là, hắn mượn rượu giải sầu.
Cảnh sát hình sự lập tức triệu tập mẹ của Cận Ny, mẹ Cận phản ánh: Cận Ny và một người đàn ông Bắc Kinh tên là Mã Ngọc Dân vào ngày 22 tháng 2 đã ngồi tàu hỏa chuyến 83 đến Bắc Kinh.
Lại là Mã Ngọc Dân. Cả hai vụ án tiền giả đều liên kết đến người này. Xem ra, kẻ cầm đầu buôn tiền giả không nghi ngờ gì chính là Mã Ngọc Dân. Lúc này, nhất định phải tìm ra Mã Ngọc Dân. Thế là, cảnh sát Bắc Kinh và Đại Liên đã giăng lưới trời lồng lộng.
Cũng thật là khéo, ngày 25 tháng 2, cảnh sát hình sự phát hiện trong sổ đăng ký khách lưu trú của Khách sạn Tây Trực Môn có một người đàn ông tên là Mã Ngọc Dân đang ở khách sạn này. Trung Quốc trùng tên trùng họ rất nhiều, người đàn ông này hiện tại có phải chính là người đang tìm kiếm khắp nơi hay không? Để đảm bảo, cảnh sát lặng lẽ đưa người đàn ông này về đồn thẩm vấn. Người đàn ông đó vừa thấy là vào đồn cảnh sát, chân cẳng trước tiên đã mềm nhũn. Không cần cảnh sát tốn nhiều lời, anh ta khai ra hết: Anh ta không gọi là Mã Ngọc Dân, mà gọi là Thương Lương.
"Anh quen Mã Ngọc Dân thế nào?"
"Năm 85, khi tôi và Mã Ngọc Dân cùng chấp hành án ở Tân Cương thì ở cùng một đội cải tạo. Khi hắn đến Tân Cương, tôi sắp ra tù rồi. Mã Ngọc Dân ở đội cải tạo được lòng người, ai cũng biết hắn. Tôi quen hắn khi sắp ra tù, tại công trường lao động."
"Có biết Mã Ngọc Dân vào tù vì chuyện gì không?"
"Có một lần nghe hắn kể, hắn lừa của người ta 2 vạn tệ."
"Sau đó các người liên lạc lại với nhau thế nào?"
"Sau khi tôi ra tù, bắt đầu buôn bán nhỏ, sau đó chạy vận tải, kiếm được ít tiền, hai năm sau, tôi mở một công ty vận tải, bản thân cũng có xe ô tô riêng. Trong thời gian này, tôi và Mã Ngọc Dân thường xuyên thư từ qua lại. Sau khi Mã Ngọc Dân mãn hạn tù, hắn đến Lan Châu tìm tôi. Tôi muốn giữ hắn ở lại công ty tôi làm việc, hắn không chịu, hắn muốn về Bắc Kinh làm ăn. Tôi đưa hắn ít tiền, hắn liền về Bắc Kinh."
"Tại sao anh lại dùng tên Mã Ngọc Dân để lưu trú?"
"Cuối năm ngoái, Mã Ngọc Dân có đến Lan Châu một chuyến, tìm tôi mượn xe hơi Volga đi, giao hẹn chỉ mượn một tháng là trả. Bây giờ mượn đã 3 tháng rồi mà vẫn chưa trả cho tôi. Lần này tôi đến Bắc Kinh chính là chuyên đến đòi xe ô tô. Trước khi đến Bắc Kinh, Mã Ngọc Dân đã dùng tên của hắn đặt phòng trước cho tôi."
"Đến Bắc Kinh rồi, có gặp Mã Ngọc Dân không?"
"Ngày thứ hai tôi đến Bắc Kinh, chính là chiều hôm qua, Mã Ngọc Dân dẫn một người đàn bà đến phòng tìm tôi. Ngồi được nửa tiếng, họ liền đi."
"Họ đi đâu? Anh có quen người đàn bà đó không?"
"Mã Ngọc Dân không bao giờ nói cho người khác biết địa chỉ của hắn. Người đàn bà hắn dẫn theo, tôi cũng là lần đầu tiên gặp. Mã Ngọc Dân gọi cô ta là Ny muội. Cô ta tên gì, tôi cũng không biết."
Lời khai của Thương Lương có đầu có đuôi, không sơ hở, không thể không khiến người ta tin.
Từ lời khai của Thương Lương, ít nhất có thể khẳng định, Mã Ngọc Dân đang hoạt động tại Bắc Kinh, hơn nữa, chiếc xe "Volga" đó đã trở thành mục tiêu tuyệt vời cho các cảnh sát hình sự tìm kiếm. Hổ đi để lại dấu, nhạn bay để lại tiếng. Con mồi xảo quyệt nhất cũng sẽ để lại manh mối của mình. Thợ săn thông minh đều dựa vào việc tìm kiếm dấu vết để bắt con mồi. Lúc này Mã Ngọc Dân đã là ba ba trong rọ.
Đêm đó khoảng 11 giờ, tại bãi đỗ xe khách sạn Hoa Đô, cuối cùng đã phát hiện chiếc "Volga" đó, nhưng trong xe không có người. Cảnh sát hình sự quyết định "ôm cây đợi thỏ". Không bao lâu sau, một người đàn bà từ khách sạn đi ra, đi thẳng đến bên chiếc xe. Chờ cô ta vừa ngồi vào ghế, cảnh sát ập đến bao vây. Con mồi đầu tiên sa lưới, thẩm vấn tại chỗ, người này chính là tình nhân của Mã Ngọc Dân - Cận Ny. Theo Cận Ny khai, sau khi Mã Ngọc Dân quay về Bắc Kinh, vì sợ lộ danh tính nên ít khi ở cùng cô ta. Mã Ngọc Dân một mình ở tại Tân Nguyên Lý.
Không để lỡ thời cơ, Chu Hiển Thụy lập tức điều binh khiển tướng mai phục xung quanh nơi trú chân của Mã Ngọc Dân tại Tân Nguyên Lý. 0 giờ 3 phút, một chiếc taxi đỗ trước tòa nhà. Một người đàn ông bước xuống xe, tay xách một chiếc cặp số, nghênh ngang đi về phía trước tòa nhà. Dưới ánh đèn đường, được Cận Ny xác nhận, người này chính là Mã Ngọc Dân. Nói thì chậm, khi đó thì nhanh, không đợi chỉ huy ra lệnh, các cảnh sát hình sự từ bốn phía ập đến, Mã Ngọc Dân còn chưa kịp hoàn hồn, đã bị tống vào chiếc xe cảnh sát đỗ trong lùm cây.
Sau vụ án, cảnh sát hình sự mới biết, vài năm trước, Mã Ngọc Dân lang thang đến Thiên Tân, từng vì lừa đảo tiền của người khác hơn 2 vạn tệ, bị kết án hai năm tù giam, đưa đi Tân Cương thực hiện lao động cải tạo và xóa bỏ hộ khẩu thành phố của hắn. Sau khi ra tù, Mã Ngọc Dân quay về Bắc Kinh, trở thành một "hộ khẩu đen", vì vậy ở Bắc Kinh không thể tìm thấy hắn.
Trong chiếc cặp số của Mã Ngọc Dân có ba cuốn hộ chiếu giả đi Singapore, là Mã Ngọc Dân dùng 21 vạn tệ Hồng Kông mua từ tay những kẻ dẫn mối (người Hồng Kông gọi bọn tội phạm chuyên làm việc đưa người vượt biên là "đầu rắn") ở Hồng Kông. Hai cuốn dùng tên giả của Mã Ngọc Dân, một cuốn dùng tên thật của Vương Giang. Theo lời khai của Mã Ngọc Dân, chỉ cần chậm một ngày nữa, hắn đã bay ra nước ngoài rồi.
Từ xưa binh quý ở thần tốc, phá án cũng quý ở thần tốc.
Chuyên án phân tích, hộ chiếu của Vương Giang vẫn còn trong tay Mã Ngọc Dân, hắn chắc chắn vẫn đang chờ đợi trong nhà ở trong nước. Cùng ngày, chuyên án cử một cánh quân, do Chu Hiển Thụy dẫn đầu, thẳng tiến Trương Gia Khẩu. Dưới sự phối hợp tích cực của các bộ phận liên quan tại địa phương, cảnh sát hình sự đã xác định chính xác nơi ở của Vương Giang, áp sát, gõ cửa. Người mở cửa chính là Vương Giang. Nhìn thấy đứng trước mặt toàn là một đám cảnh sát vạm vỡ, hai tay Vương Giang vô lực buông thõng xuống. Hóa ra, Vương Giang là một tay "đảo gia" chính hiệu, chuyên làm ăn trên cả hai con đường "đen trắng". Buôn lậu ô tô, trộm ô tô, buôn lậu tiền giả, tóm lại là thứ gì cũng buôn, việc ác nào cũng làm. Theo lời hắn nói: Chỉ cần có tiền, việc gì cũng dám làm.
Vương Giang kém Mã Ngọc Dân hai tuổi, nhưng bàn về buôn tiền giả, Vương Giang có thể coi là "sư gia" của Mã Ngọc Dân. Lúc Mã Ngọc Dân còn đang ngồi tù ở Tân Cương, Vương Giang đã mở đường trên con đường này rồi. Trong giới đen làm tiền giả, Vương Giang có thể coi là kẻ tiên phong mở đường cho việc Nam tiến Bắc tiêu. Năm 87, Vương Giang quen Mã Ngọc Dân ở Bắc Kinh. Lần đó là quen biết gián tiếp thông qua một người bạn làm ăn. Lần đầu gặp mặt, không biết rõ gốc gác của nhau, chỉ là quen biết sơ giao. Sau này, Vương Giang làm ăn Nam Bắc đều phải quay vòng ở Bắc Kinh, lần nào cũng được Mã Ngọc Dân giúp đỡ và tiếp đãi. Trong lòng rất cảm kích. Một lần lạ hai lần quen. Chẳng bao lâu, Vương Giang dần dần giới thiệu đồng bọn mà hắn quen khi làm ăn tiền giả cho Mã Ngọc Dân. Không ngờ hậu sinh khả úy. Việc làm ăn tiền giả của Mã Ngọc Dân không chỉ Nam tiến Bắc tiêu, mà còn trực tiếp móc nối với bọn xã hội đen ngoài biên giới, trực tiếp nhập hàng từ tay bọn xã hội đen Hồng Kông. Vương Giang tự thấy không bằng, đành giới thiệu hết các mối quan hệ mà mình đã phát triển cho Mã Ngọc Dân. Vương Giang dần dần rút khỏi vòng làm ăn này, tự mình mở một công ty thực nghiệp ở Trương Gia Khẩu. Gọi là thực nghiệp, nhưng chẳng có lấy nửa phần đầu tư. Dự án thực sự của hắn là buôn lậu ô tô nguyên chiếc nhập khẩu và linh kiện gốc. Buôn lậu ô tô rủi ro lớn hơn buôn lậu tiền giả nhiều, nhưng tiền kiếm được cũng nhiều hơn nhiều. Đối với những kẻ liều mạng này, kiếm tiền là mục đích duy nhất của chúng.
Sau khi Vương Giang rút khỏi việc buôn tiền giả, liên lạc với Mã Ngọc Dân lại càng thường xuyên hơn. Hai người hiển nhiên trở thành đối tác làm ăn trên thương trường. Xe buôn lậu của Vương Giang thông qua Mã Ngọc Dân giúp đỡ né tránh thành phố Bắc Kinh, tiền giả của Mã Ngọc Dân thông qua các mối quan hệ cũ của Vương Giang để phát triển địa bàn, mở rộng mạng lưới tiếp thị. Quan hệ lợi ích tương hỗ khiến Vương Giang và Mã Ngọc Dân trở thành "châu chấu trên cùng một sợi dây". Sau mấy lần phối hợp, túi tiền của cả hai người đều chảy vào những khoản tiền bất nghĩa lớn. Mã Ngọc Dân dù sao cũng là người từng ngồi tù, sự khủng khiếp của sa mạc Tây Bắc đã để lại cho hắn những dấu ấn khó phai mờ. Hắn đã trải nghiệm sự lợi hại của nắm đấm sắt chuyên chính, thấu hiểu tư vị mất tự do, hắn càng hiểu rõ bất kỳ sai sót nào của bản thân cũng đồng nghĩa với cái chết. Hắn bắt đầu cảm thấy sự sợ hãi và bất an trong lòng. Trong lần đi Thâm Quyến nhập hàng này, Mã Ngọc Dân cũng đã chuẩn bị đường lui cho mình. Mã Ngọc Dân thông qua đồng bọn ở Quảng Đông đã chi 21 vạn tệ mua 3 cuốn hộ chiếu giả đi Singapore. 2 cuốn chuẩn bị cho bản thân, cuốn còn lại tặng cho Vương Giang. Mã Ngọc Dân định sau khi vào được Singapore sẽ chuyển hướng sang các nước phương Tây đầu quân cho thiên đường tự do. Chỉ tiếc là "gió Đông không thuận với Chu Lang". Tính toán trăm bề, cuối cùng lại làm hại chính mạng sống của mình. Sự giãy giụa cuối cùng của Mã Ngọc Dân, vừa hay đã đào sẵn nấm mồ cho nơi an nghỉ cuối cùng của bản thân.
Ngày 25 tháng 3, cơ quan công an thành phố Đường Sơn, tỉnh Hà Bắc dựa vào manh mối do đồng nghiệp Bắc Kinh cung cấp, lần theo manh mối, lần lượt bắt giữ tài xế taxi cá thể Viên Cửu Khuê, nhân viên thu ngân Ngân hàng Công thương thành phố Hạ Xuân Long, thu giữ 13.800 tệ tiền giả. Viên Cửu Khuê, Hạ Xuân Long là mạng lưới tiếp thị khác mà Mã Ngọc Dân phát triển thông qua Vương Giang. Viên Cửu Khuê và Hạ Xuân Long trong một lần đánh bạc đã thua hơn 1 vạn tệ tiền mặt, còn nợ 3 vạn tệ tiền đánh bạc. Chủ nợ giới hạn cho hai người trong 2 tháng phải trả sạch khoản nợ, nếu không, gia đình sẽ gặp tai họa. Vào lúc này, Viên Cửu Khuê thông qua Vương Giang giới thiệu quen Mã Ngọc Dân. Và dùng tỷ giá 1 đổi 4 mua từ tay Mã Ngọc Dân một lần 6 vạn tệ tiền giả. Định dùng 3 vạn tệ trả nợ bài bạc, 3 vạn tệ còn lại mưu đồ thông qua tay nhân viên thu ngân ngân hàng Hạ Xuân Long trà trộn vào lưu thông tài chính, lấy giả đổi thật, gỡ lại số tiền mặt đã thua bài bạc trước đây. Khi cơ quan công an phá vụ án này, 6 vạn tệ tiền giả mà Viên Cửu Khuê, Hạ Xuân Long mua từ tay Mã Ngọc Dân có 3 vạn tệ đã trả nợ bài bạc, 1 vạn tệ khác đã trà trộn vào lĩnh vực lưu thông tài chính.
Chuyên án đưa số tiền giả thu giữ được đi giám định tại Trụ sở chính Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, qua xác định của 7 chuyên gia kết luận: Tiền giả thu giữ được ở ba nơi Bắc Kinh, Đại Liên và Đường Sơn đều là in offset bốn màu thông thường, hơn nữa đều thuộc cùng một phiên bản in ấn. Những tờ tiền giả này là do Mã Ngọc Dân mang từ Thâm Quyến về, ít nhất có thể nói rõ ở Thâm Quyến có ổ nhóm trung chuyển tiền giả của xã hội đen Hồng Kông. Để thanh lọc triệt để tiền giả, chặn đứng nguồn gốc, Bộ Công an đề nghị do Bắc Kinh và Quảng Đông liên hợp thành lập tổ điều tra, làm rõ nguồn gốc tiền giả.
Giữa tháng 3, đúng lúc cảnh sát Trung Quốc đang tiến hành điều tra khẩn trương, chi nhánh Hồng Kông của Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế gửi thư cho Bộ Công an: Ngày 18 tháng 2, Sở cảnh sát Cửu Long, Hồng Kông phá được một vụ án băng nhóm, thu giữ 1985 tờ tiền nhân dân tệ giả từ một người đàn ông. Sau khi Trung tâm Cảnh sát Hình sự Quốc tế tại Trung Quốc liên lạc với phía Hồng Kông, đã nhận được tài liệu về tiền giả do đồng nghiệp Hồng Kông gửi đến, qua giám định của các bộ phận liên quan, kết luận là: "Tiền giả thu giữ được trong vụ án 2.18 tại Hồng Kông và tiền giả thu giữ được trong vụ án 2.20 tại Bắc Kinh thuộc cùng một phiên bản."
●Chuyên gia chống hàng giả lại chính là cao thủ làm hàng giả
Pháp luật Hồng Kông quy định, phải có chuyên gia được pháp luật công nhận lấy được mẫu tiền thật và dựa vào đó chứng minh tiền thu giữ được là giả thì mới có thể trừng phạt phạm nhân. Để lấy bằng chứng pháp đình, cảnh sát Hồng Kông sẽ phái chuyên gia chống tiền giả - ông Z của bộ phận điều tra tội phạm thương mại đến Bắc Kinh để lấy bằng chứng. Phía Đại lục vui vẻ đồng ý. Lúc này nguồn gốc vụ án buôn tiền giả đặc biệt nghiêm trọng này chính là ở Hồng Kông, cảnh sát Trung Quốc đang cần sự hỗ trợ từ phía Hồng Kông để cùng trừ tội phạm. Yêu cầu chủ động từ phía Hồng Kông, chính là "không hẹn mà gặp".
Thế nhưng, vài tháng sau khi Đại lục gửi văn bản trả lời vẫn không thấy ông Z đến. Đúng lúc các đồng nghiệp Đại lục đang mòn mỏi chờ đợi, một tờ báo lớn của Hồng Kông đã công khai lý do vì sao ông Z này không thể đến Đại lục công tác đúng hẹn.
Ngày 30 tháng 7 năm 1989, tờ "Văn Hối Báo" Hồng Kông đăng tải thông tin như sau:
Cảnh sát mấy ngày trước đã triệt phá một tập đoàn in tiền giả được tin là lớn nhất những năm gần đây, thu giữ một lô tiền nhân dân tệ giả đã in xong, và bắt giữ năm người nam nữ, trong đó một người lại chính là chuyên gia tiền giả của bộ phận điều tra thương mại cảnh sát.
Sau đó thông qua tình báo nội bộ xác nhận: Vị chuyên gia chống tiền giả bị bắt này chính là ông Z mà cảnh sát Đại lục ngày đêm chờ đợi.
Hóa ra, cảnh sát Hồng Kông vào tháng 6 năm 1989 nhận được tin báo: có một tập đoàn làm tiền giả hoạt động ở khu vực Cửu Long, thế là, cảnh sát lập tức triển khai điều tra, và phái cảnh sát hình sự thâm nhập vào nội bộ tập đoàn làm tiền giả. Sau khi nắm được hàng loạt sự thật phạm tội, tối ngày 20 tháng 7 đã lục soát "xưởng in tiền dưới lòng đất" núp bóng kinh doanh này, bắt giữ đầu sỏ tập đoàn Trần Tuyền Kim (nam, 40 tuổi, không nghề nghiệp), bắt giữ 11 tên tội phạm, thu giữ 2 triệu tệ tiền nhân dân tệ giả loại mệnh giá 100, hơn 16.000 đô la Mỹ giả.
Theo lời khai của phạm nhân, tập đoàn này từ tháng 9 năm 1988 đến tháng 1 năm 1989 đã liên tiếp 2 lần bán 30 vạn tệ tiền nhân dân tệ giả loại mệnh giá 100 cho Mã Ngọc Dân ở Bắc Kinh thông qua "A Thất". Một lần nữa qua giám định của chuyên gia, tiền giả mà Mã Ngọc Dân nắm giữ xác thực cùng một phiên bản với tiền giả thu giữ được tại Hồng Kông. Trong tập đoàn tội phạm này, Trần Tuyền Kim chủ yếu phụ trách liên hệ người mua cho xưởng in tiền, sau khi hắn thỏa thuận giá cả, địa điểm giao hàng và phương thức giao hàng cũng như thời gian với người mua ở Thái Lan và Đại lục, sau đó do "A Thất" và đám lâu la mang hàng đến tay người mua. Mà ông Z của cảnh sát Hồng Kông đảm nhận nhiệm vụ trong tập đoàn này là phụ trách giám định, sửa chữa mẫu tiền nhân dân tệ giả mệnh giá 100 mới thử nghiệm. Cuối cùng do hắn xác định xem có giống tiền thật hay không, đồng thời, hắn còn lợi dụng thông tin tình báo nắm được từ chức vụ để phụ trách báo tin. Thế nhưng tính toán trăm bề, cuối cùng chờ đợi họ lại là cuộc sống tù tội dài đằng đẵng.
Mã Ngọc Dân ở Bắc Kinh dưới sự dẫn dắt của Vương Giang, tham gia buôn tiền giả, ban đầu chỉ bán sỉ một lượng nhỏ tiền giả từ tay Vương Giang và những người khác rồi đi rải rác khắp nơi. Mã Ngọc Dân làm vài tháng sau, cảm thấy bán sỉ vốn ít lợi ít, kiếm tiền chậm lại gánh rủi ro, thế là giấu Vương Giang và những người khác tự liên hệ nguồn hàng, phát triển người mua. Có một lần, khi nhập hàng ở Quảng Đông, Mã Ngọc Dân thông qua một kẻ buôn tiền giả địa phương làm quen với "A Thất" (tên thật là Lâm Thất) ở Hồng Kông, Mã Ngọc Dân nghe người ta giới thiệu "A Thất" là trung gian chuyên trách phát triển liên lạc giữa bọn buôn tiền giả Đại lục và tập đoàn làm tiền giả Hồng Kông. Ở Thâm Quyến, bọn buôn tiền giả đều tôn "A Thất" là thần tài. Đủ thấy địa vị của "A Thất". Thực tế, "A Thất" trong tập đoàn làm tiền giả Hồng Kông chỉ là một "lâu la" phụ trách giao hàng, chạy việc, vì "A Thất" năm xưa từ Thâm Quyến đi làm thuê rồi chạy sang Hồng Kông, được Trần Tuyền Kim thu nhận. Vì vậy, Trần Tuyền Kim giao nhiệm vụ giao hàng và thu tiền ở phía Thâm Quyến và Đại lục cho "A Thất" và những người khác. "A Thất" tâm địa hiểm độc, tham lam không sợ chết. Có một người mua ở Đại lục sau khi nhận hàng, chậm trễ không đưa tiền mặt, một tối nọ bị nhóm "A Thất" chặt đứt một ngón tay cái, giết gà dọa khỉ, từ đó, người mua ở Đại lục không ai dám nợ tiền nữa. Thêm vào đó phía Hồng Kông có sự hướng dẫn của ông Z, kỹ thuật làm tiền giả ngày càng cao, sản phẩm bán chạy. Việc buôn bán phía Đại lục đặc biệt phát đạt.
Mã Ngọc Dân sau khi quen "A Thất" từng thông qua một đồng bọn nhét cho "A Thất" 1000 tệ Hồng Kông, từ đó, "A Thất" đối với Mã Ngọc Dân ở Bắc Kinh có cái nhìn khác biệt. Mã Ngọc Dân hai lần đến Thâm Quyến lấy hàng, lần nào "A Thất" cũng giao hàng chính xác đến địa điểm chỉ định.
Mã Ngọc Dân mỗi lần sau khi nhập hàng từ Thâm Quyến về, đều đi máy bay mang gấp về Bắc Kinh, đêm đó bán sỉ cho Vương Giang ở Trương Gia Khẩu, Viên Cửu Khuê, Hạ Xuân Long ở Đường Sơn, Hứa Cương ở Cao Dương, và cả Cận Ny ở Đại Liên... những kẻ buôn tiền giả, sau đó thông qua những người bán sỉ kiêm điểm bán lẻ này đưa ra xã hội. Ở Hoa Nam, Hoa Bắc, Đông Bắc, Mã Ngọc Dân đều xây dựng một mạng lưới tiếp thị khổng lồ. Thông qua mạng lưới tiêu thụ khổng lồ này, hàng triệu tệ tiền giả mà Mã Ngọc Dân buôn từ Hồng Kông về chỉ cần một ngày là có thể thoát hàng sạch sẽ, mỗi lần, Mã Ngọc Dân đều có thể dễ dàng kiếm được gần mười vạn tệ, hơn nữa không gánh rủi ro. Khi cảnh sát hình sự khám xét nơi ở của Mã Ngọc Dân, thậm chí không tìm thấy một tờ tiền giả nào. Có thể thấy tổ chức mạng lưới tiếp thị tiền giả mà Mã Ngọc Dân tự tay dàn dựng chặt chẽ đến mức nào.
Từ lúc phát án "20 tháng 2" đến lúc kết án "20 tháng 7" kéo dài nửa năm. Một mạng lưới tiêu thụ tiền giả khổng lồ đã bị tiêu diệt hoàn toàn, một con nhện độc khổng lồ đã bị tiêu diệt.
◎Lạ lùng thay! Doanh nghiệp liên doanh sản xuất tiền giả ra đời
●Hàng giả ngoại nhập, hàng giả nội chế và hàng giả kết hợp
Cuộc tấn công ồ ạt của tiền giả nước ngoài, tại một số khu vực kinh tế chưa phát triển hoặc khu vực ý thức phòng chống hàng giả của quần chúng còn kém ở nước ta, đã thông suốt không trở ngại, và hình thành tai họa công cộng. Một số kẻ buôn tiền giả trong nước sau khi nếm được vị ngọt, đã không cam tâm với công việc kinh doanh buôn bán sỉ nhỏ lẻ, cũng bắt đầu mày mò việc lập "thực thể". Thế là, đến cuối thập niên tám mươi, bọn bất hảo trong nước đã bắt đầu "tự lập môn hộ", tự mình luyện công việc làm giả. Kể từ đó, bọn làm giả ngày càng tụ tập đông đảo, cuối cùng hình thành một thế lực, hô ứng từ xa với thế lực xã hội đen nước ngoài, thông đồng làm bậy. Trong thị trường tiền giả Trung Quốc, kể từ đó không chỉ có "hàng ngoại" nhập khẩu, mà còn có "hàng nội" tự chế. Thậm chí ở khu vực ven biển giáp ranh Hồng Kông, Đài Loan còn xuất hiện "nhà máy liên doanh" làm tiền giả, điều này không thể không nói là một chuyện lạ.
Tất nhiên, doanh nghiệp loại này sẽ không có giấy phép kinh doanh do chính phủ hợp pháp cấp, nhưng ngoài điều này ra, nguồn vốn, kỹ thuật, quản lý tiếp thị... không gì là không giống với các "doanh nghiệp liên doanh" hợp pháp. Nó ra đời tại huyện Hải Phong, tỉnh Quảng Đông vào những năm tám mươi. Gần như cùng thời điểm với việc Trung Quốc mở cửa. Trải qua sự phát triển của mấy năm này, đã có quy mô kinh doanh đáng kể. Cho đến khi bị cơ quan công an của ta tiêu diệt, doanh nghiệp này vẫn đang phát triển sản xuất theo quy mô. Theo lời khai của chủ phạm; tập đoàn này còn mưu đồ chiếm lĩnh thị trường tiền giả ngầm của hơn một nửa Trung Quốc, không thể không gọi là "hùng tâm tráng chí". Sau khi cơ quan công an tiêu diệt loạt xưởng đúc tiền giả ngầm của tội phạm này, đã đặt tên cho hành động này cũng là vụ án "2.20". Tên vụ án này vừa khéo giống hệt vụ án tiền giả phá được ở Bắc Kinh, thời gian phá án vừa vặn chênh nhau một năm.
Huyện Hải Phong nằm ở phía đông nam tỉnh Quảng Đông, diện tích hiện nay là 1749,95 km vuông, dân số 62 vạn. Từ hơn 1600 năm trước, trên bản đồ Trung Quốc đã có địa danh Hải Phong. Hơn một ngàn năm qua, Hải Phong luôn bị coi là vùng đất hoang man, trở thành nơi lưu đày các quan lại triều đình qua các đời. Nó nổi tiếng vì vào những năm hai mươi của thế kỷ này, nơi đây đã sản sinh ra một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử cách mạng Trung Quốc, đó chính là người tiên phong của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhà lãnh đạo xuất sắc của phong trào nông dân - Bành Phái. Vì có ông, Hải Phong trở thành cái nôi của phong trào nông dân Trung Quốc. Từ đó về sau, trên mảnh đất Hải Phong này đã diễn ra từng màn kịch và bi kịch của phong trào chính trị Trung Quốc. Trong "Cách mạng Văn hóa", sự kiện chính trị chống lại liệt sĩ Bành Phái do Lâm Bưu và "Tứ nhân bang" dàn dựng đã khiến một số lượng lớn người Hải Phong chịu nỗi oan ức tày trời. Sau khi đập tan "Tứ nhân bang", do xuất hiện những kẻ cặn bã như Vương Trọng, khiến Hải Phong sa sút thành "trọng điểm" buôn lậu của cả nước. Sau đó trật tự xã hội ở Hải Phong mới được xoay chuyển. Sau khi cải cách mở cửa, Hải Phong dựa vào ưu thế của quê hương kiều bào, tích cực thu hút vốn và kỹ thuật nước ngoài, khiến kinh tế nhanh chóng tiến tới phồn vinh phú cường. Cùng với việc mở rộng đối ngoại, mối liên hệ với bên ngoài ngày càng mật thiết, an ninh xã hội của Hải Phong từ đó không ngừng xuất hiện sự lặp lại. Đặc biệt là các hoạt động buôn lậu trỗi dậy như tàn tro cháy lại, ngày càng nghiêm trọng, có lúc trở thành căn cứ để hàng lậu tuồn vào đại lục. Hàng hóa nước ngoài dù tiên tiến hay không, chỉ cần trong nước có thị trường, ở đây sẽ có người tìm mọi cách tuồn vào. Từ xe hơi cao cấp đến các sản phẩm đồi trụy, chỉ cần có thể kiếm tiền, sẽ có người không tiếc tán gia bại sản, không sợ đổ máu, không sợ mất mạng mà dám làm. Trên mảnh đất này, thỉnh thoảng lại xuất hiện những linh hồn vì tiền mà chết.
Đầu những năm chín mươi, chính là lúc tiền giả từ nước ngoài ồ ạt tràn vào đại lục, những kẻ bất hợp pháp ở Hải Phong nhắm vào cơ hội này, thêm dầu vào lửa, không chỉ làm cầu nối cho những kẻ bất lương nước ngoài trung chuyển tiền giả, mà còn có một đám liều mạng cấu kết với thế lực xã hội đen nước ngoài, dựa vào kỹ thuật và vốn của nước ngoài, mở ra các "nhà máy in tiền ngầm liên doanh Trung - ngoài" ngay trên mảnh đất Hải Phong, khiến thị trường tài chính vốn đã khói lửa ngút trời nay lại thêm một phần tai họa.
Ngày 20 tháng 2 năm 1992, Cục Công an huyện Hải Phong nhận được một lá thư từ Sở Công an đường sắt Liễu Châu, Quảng Tây, cho biết một phạm nhân đang bị giam giữ khai nhận, năm 1990 từng mua 3 vạn tệ tiền giả từ Lại Nam Tinh ở thị trấn Hải Thành, huyện Hải Phong để mang sang Quảng Tây bán.
Manh mối từ đồng nghiệp Quảng Tây lập tức khiến lãnh đạo Cục Công an huyện Hải Phong hết sức coi trọng. Họ thức đêm cử người đi tìm kiếm, trên thẻ hộ khẩu của phân cục Hải Thành đã tìm thấy đúng người tên Lại Nam Tinh (nam, 43 tuổi).
Trong hồ sơ hình sự của phân cục cũng có ghi chép về Lại Nam Tinh: kẻ này không có nghề nghiệp ổn định, thường xuyên đi xa, hành tung khả nghi.
Lập tức triệu tập Lại Nam Tinh. Lại thấy công an không lục soát ra được tờ tiền giả nào trong nhà hắn, tự cho rằng công an không có bằng chứng nên không dám làm gì mình. Công an thẩm vấn, hắn đều nhìn quanh đáp qua loa. Kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ, Lại Nam Tinh vẫn kiên quyết không chịu khai báo.
Một công an đột ngột hỏi: "Người huyện Tử Kim, Quảng Tây tìm anh mua tiền là chuyện thế nào?"
Lại Nam Tinh thấy cảnh sát đã lôi chuyện này ra, vốn đã chột dạ, bất ngờ như bị dội gáo nước lạnh, không khỏi run rẩy. Sự việc đã đến nước này, Lại Nam Tinh thấy chối cãi cũng vô ích, mới run rẩy khai ra hành vi phạm tội của mình và địa chỉ của một đồng phạm khác là Dư Ngâm Thi (nữ, 47 tuổi). Thông tin từ Quảng Tây cuối cùng đã được xác thực, vụ án bắt đầu lộ ra manh mối.
Khoảng 4 giờ sáng đêm đó, Dư Ngâm Thi sa lưới. Trong nhà thị, công an lục soát được giấy nợ mua tiền giả của Lại Nam Tinh và các đồng phạm. Để tranh thủ thời gian, công an thẩm vấn ngay tại chỗ, Dư lại khai ra ổ nhóm làm giả và kẻ cầm đầu là Mã Thế Lục.
Vừa qua năm giờ, công an xông vào căn nhà trọ mà Mã Thế Lục thuê, đeo "vòng sắt" vào tay Mã Thế Lục đang trong cơn mơ. Cũng là nhân tiện bắt gọn, kẻ buôn tiền giả Thạch Thế Tại đang ngủ nhờ ở nhà Mã Thế Lục cũng bị "còng" thức giấc ngay trong giấc mơ. Đến khi công an lục soát tại hiện trường ra hơn 41 vạn tệ tiền giả nhân dân tệ cùng công cụ làm tiền giả, Mã và Thạch hai tên sợ đến mức tè ra quần.
Thẩm vấn suốt đêm, chiến quả được mở rộng, vụ án phát triển theo chiều sâu.
Bảy giờ sáng, Phó cục trưởng Cục Công an huyện Hải Phong Trần Hoành Vũ dẫn theo năm cảnh sát hình sự đến phân cục Hải Thành tham chiến, chia làm ba mũi tấn công.
10 giờ sáng, mũi Hải Thành bắt giữ được Tô Táo Thanh, vợ hắn cũng bị bắt vì tội tiêu hủy tang chứng.
1 giờ chiều, mũi thị trấn Công Bình bắt giữ Lư Hán Khâm cùng 5 phạm nhân buôn tiền giả khác và phạm nhân làm tiền giả là Tô Thủy Thiêm.
7 giờ tối, mũi thị trấn Già Lãng dưới sự hỗ trợ của cơ quan công an thành phố Sán Vĩ đã khám xét ổ nhóm làm giả của Thạch Thế Tại, thu giữ tại chỗ hơn 231 vạn tệ tiền giả nhân dân tệ, một máy photocopy "Canon" và một loạt công cụ gây án. Nhóm hành động còn lục soát được 24,5 vạn tệ tiền giả trong nhà Thạch Thế Tại.
Từ lúc nhận tin báo đến khi phá án đúng 24 tiếng. Trong 24 tiếng này, cơ quan công an huyện Hải Phong đã triệt phá 4 ổ nhóm làm tiền giả, bắt giữ 3 phạm nhân làm tiền giả, 8 phạm nhân buôn tiền giả. Thu giữ tại chỗ hơn 297 vạn tệ tiền giả cùng một loạt công cụ gây án.
Vụ án vừa mới được phá, Cục trưởng Cục Công an huyện Mã Tiểu Kỳ đang đi công tác ở Quảng Châu nghe tin, lập tức gọi điện chỉ đạo: "Lập tức tổ chức lực lượng tinh nhuệ, thừa thắng xông lên, dù phải trả giá bao nhiêu cũng phải làm rõ đường đi của tiền giả, quyết không để lại hậu họa."
Tối ngày 21, Cục Công an huyện Hải Phong triệu tập hội nghị chuyên đề, quyết định tổ chức ba tổ truy bắt để truy nã tội phạm bỏ trốn và thu hồi tiền giả đang lưu thông ngoài xã hội. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Phòng Trinh sát hình sự thuộc Sở Công an tỉnh Quảng Đông, các tổ truy bắt đã ngược xuôi qua tám tỉnh như Hắc Long Giang, Cát Lâm, Quảng Tây, Hồ Nam, Tứ Xuyên... với 21 huyện, đi đường vòng vạn dặm, bắt giữ 13 phạm nhân buôn bán tiền giả như Đặng Liên Quân, Trần Vinh Kiềm... về quy án. Sở Công an tỉnh Quảng Đông còn phát thông báo truy tìm đến 24 tỉnh thành như Quý Châu, Liêu Ninh, Hà Nam, Hà Bắc... để truy bắt các phạm nhân còn lại và truy tìm số tiền giả đã lưu thông.
Sau hơn một tháng chiến đấu căng thẳng, hiện đã làm rõ, băng nhóm tội phạm chế tạo và buôn bán tiền giả do Tô Táo Thanh, Mã Thế Lục, Thạch Thế Tại cầm đầu có liên quan đến hơn 50 người tại 29 tỉnh thành trên cả nước. Kể từ tháng 1 năm 1990, dưới sự hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ tiền bạc của các phần tử xã hội đen nước ngoài, băng nhóm này đã lần lượt lấy thị trấn Công Bình, thị trấn Hải Thành của huyện Hải Phong và thị trấn Già Lãng thuộc khu vực thành phố Sán Vĩ làm ổ nhóm làm tiền giả, dùng máy photocopy in các tờ tiền mệnh giá 50, 100 tệ bán thành phẩm, sau đó nhuộm màu gia công thành thành phẩm, với tỷ giá cứ mỗi 100 tệ tiền giả đổi lấy 20, 30 tệ tiền thật, rồi giao cho những kẻ bất hợp pháp đi buôn bán. Lợi nhuận từ việc làm giả, các phần tử làm giả trong nước chia tỷ lệ với phần tử xã hội đen nước ngoài. Trong vòng hai năm, băng nhóm này đã chế tạo tổng cộng 586,73 vạn tệ tiền giả, trong đó số đã buôn bán đưa ra xã hội là hơn 262 vạn tệ, số còn lại hơn 324 vạn tệ đã bị cơ quan công an thu giữ.
◎ Trạm bán sỉ ngầm bí ẩn
● Thương nhân tiền giả tụ tập ở vùng duyên hải Đông Nam
Tiền giả nước ngoài ồ ạt tấn công đại lục, từ đường biển, đường bộ, đường hàng không, xâm nhập vào Trung Quốc đại lục qua mọi kênh có thể tận dụng, thế công mãnh liệt, điều này nằm ngoài dự đoán của cảnh sát đại lục. Sự cám dỗ cực lớn của tiền giả nước ngoài đã thu hút lòng tham của một lượng lớn kẻ bất hợp pháp trong nước. Cuối những năm tám mươi, những kẻ bất hợp pháp trong và ngoài nước dưới sự dụ dỗ của đồng tiền đã kết thành đồng minh ở vùng duyên hải Đông Nam, phối hợp với nhau, đẩy nhanh bước chân tội phạm tiền giả. Nhất thời, vùng duyên hải Đông Nam tập trung các "thương nhân" tiền giả trong và ngoài nước, hình thành nên dòng chảy đục ngầu "tuồn vào từ phương Nam, bán ra phía Bắc". Thâm Quyến của Quảng Đông, Hải Lục Phong, Hạ Môn của Phúc Kiến, Bình Đàm... đều được những kẻ buôn tiền giả trong và ngoài nước nhắm tới. Những nơi này dần dần trở thành thị trường giao dịch tiền giả ngầm. Tiền giả do thế lực đen nước ngoài chế tạo được lén vận chuyển đến các thành phố duyên hải này, sau đó thông qua những kẻ buôn ở đại lục bán sỉ và vận chuyển vào nội địa để phát tán. Khiến tội phạm tiền giả nhanh chóng lan ra các thành thị và nông thôn trên cả nước. Ngay cả những vùng sâu vùng xa ở Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông cũng từng phát hiện ra tiền giả từ các thị trường bán sỉ ngầm vùng duyên hải Đông Nam.
Thành phố Bạc Châu, tỉnh An Huy, nằm ở nơi giáp ranh giữa An Huy và Hà Nam, nhiều núi ít đất bằng, kinh tế không phát triển. Thế mà tại một khu vực như vậy, tháng 4 năm 1994, lại có 18 vạn tệ tiền giả chảy vào đây, suýt chút nữa lại đổ thêm dầu vào lửa cho nền kinh tế địa phương.
● Người và ma đấu trí: Ai cao tay hơn?
Gió xuân tháng 4 nhuộm xanh đất Bạc Châu, mạ non xanh mướt, hoa cải dầu nở rộ, một khung cảnh tràn đầy sức xuân.
Khi lên đèn, chính là lúc gà về chuồng chim về tổ, đại địa Trung Nguyên ồn ào dần trở lại yên tĩnh, ngoài những con chó hoang lang thang ban đêm, cánh đồng tĩnh mịch một mảnh.
Trong một ngôi nhà tứ hợp viện ở làng Lưu Bát Lâu, trấn Tam Quan, thành phố Bạc Châu, một nam một nữ đang ngồi uống rượu dưới ánh đèn. Người đàn ông chừng 50 tuổi, người phụ nữ đã ngoài 40. Nhìn tình hình không giống một cặp vợ chồng già đối ẩm dưới ánh đèn.
Người đàn ông đã đỏ bừng mặt, rõ ràng đã uống vài chén. Một tay ông ta cầm chén rượu, một tay cầm đũa tre, đôi mắt đỏ ngầu nhìn chằm chằm người phụ nữ trung niên trước mặt một cách suồng sã.
Người phụ nữ trung niên không né tránh, tay phải nhấc một miếng thịt mỡ đưa vào miệng người đàn ông, tay trái đã vươn sang đối diện, đặt lên bàn tay phải đang cầm chén rượu của người đàn ông, nhẹ nhàng xoa nắn. Bà ta nũng nịu nói: "Cha nuôi à, con gái sắp lấy chồng rồi, lần này anh từ Quảng Đông mang về món quà gì cho con thế?"
Người đàn ông nắm ngược tay người phụ nữ, thuận đà kéo người phụ nữ vào lòng mình, tay phải véo mạnh lên mặt người phụ nữ một cái, nâng chén rượu uống một ngụm, đắc ý nói: "Vội gì? Chẳng phải là một chiếc tivi màu sao? Ngày mai chúng ta sẽ đến Bạc Châu mua."
"Đừng có trêu tôi. Anh có tiền không?"
Nhắc đến tiền, người đàn ông càng thêm hăng hái, rung rung người, đầy vẻ kiêu hãnh nói: "Nói thật cho cô biết, lần này tôi làm một vụ làm ăn lớn, nhập một lô hàng đắt khách từ phương Nam về, chỉ cần bán hết chỗ hàng này, tôi sẽ phát tài, đừng nói là mua tivi màu, tôi đang định đưa cô đi dạo ở Hải Nam đây."
"Đó là làm ăn gì mà kiếm tiền thế?"
"Đây là bí mật, bây giờ vẫn chưa thể nói cho cô biết."
Người phụ nữ không hỏi thêm nữa, hai người lại một trận đùa vui. Đêm đó, người phụ nữ không rời khỏi người đàn ông kia.
Sáng sớm ngày hôm sau, người đàn ông và người phụ nữ ngồi xe khách chặng ngắn đến thành phố Bạc Châu chọn mua tivi màu.
Bạc Châu là một thành phố văn hóa lịch sử nổi tiếng, nơi đây nổi tiếng xa gần với rượu Cổ Tỉnh Cống, là tuyến đường giao thông kết nối Hà Nam và An Huy, từ xưa đã là một thị trấn quân sự quan trọng. Mỗi ngày thành Bạc Châu có không ít khách khứa qua lại phương Nam phương Bắc.
Đôi nam nữ trung niên đó đều cố ý ăn diện một phen. Cả nam và nữ đều mặc vest, vải là loại sợi hóa học đang thịnh hành ở địa phương, chân đi giày du lịch trắng sản xuất trong nước. Đi trên phố, hai người khoác tay nhau, tình tứ, trông như một cặp vợ chồng già đầu bạc răng long.
Họ bước vào tòa nhà bách hóa lớn nhất thành phố Bạc Châu, đi thẳng đến quầy điện gia dụng. Mấy năm nay, hàng hóa trên thị trường nước ta vô cùng phong phú, tốc độ lưu thông vật tư cũng nhanh lên cùng với sự lưu thông của con người. Ngay cả ở quầy hàng của những thành phố miền núi như Bạc Châu cũng bày bán đủ các nhãn hàng hàng hóa có ở các thành phố lớn. Tại đây, sức mua tiềm tàng của người dân thực sự không thể đong đếm được. Dàn âm thanh Pioneer và tivi 29 inch vẫn có người hỏi mua. Theo khảo sát, thu nhập bình quân tháng của người dân chỉ khoảng 400 tệ, rõ ràng là có sức mua như vậy, người dân chắc chắn còn có một khoản thu nhập ẩn không rõ ràng.
Đôi nam nữ này đang cẩn thận chọn tivi màu, cô nhân viên bán hàng kiên nhẫn hướng dẫn khách. Lúc này, một thanh niên nam cũng đang đứng chọn tivi màu bên cạnh chủ động bắt chuyện với người đàn ông trung niên: "Tivi này được đấy, nhìn dáng vẻ thì đại ca chắc là làm ăn phát tài rồi nhỉ?"
Người đàn ông trung niên thấy có người chủ động bắt chuyện, lập tức đáp lại một câu: "À, con gái sắp lấy chồng, định mua một chiếc tivi màu làm của hồi môn cho nó. Cậu cũng đến mua tivi màu à?"
Thanh niên đó đáp: "Con trai bạn sắp kết hôn, tôi đang nghĩ xem mua tivi màu hay dàn âm thanh để làm quà mừng cho nhà họ đây. Đang muốn tìm người bàn bạc, tình cờ gặp được đại ca, anh xem rốt cuộc mua cái gì thì tốt?"
Người đàn ông trung niên vừa trả lời vừa đánh giá thanh niên kia: "Xem ra chú em là người làm ăn lớn, tiền bạc rủng rỉnh, chuyện này thực sự làm khó đại ca rồi."
"Vậy thì ngại quá."
Người đàn ông trung niên đột ngột hỏi ngược lại: "Nghe giọng, chú em không phải người địa phương, ở đâu phát tài vậy?"
Thanh niên tỏ ra rất khiêm tốn đáp: "Lão huynh quả nhiên có ánh nhìn phi phàm, tôi tên là Trình Lập, nhà ở Trường Xuân, trước làm thu ngân ở một ngân hàng, vì phạm chuyện nên ra ngoài kiếm cơm. Chắc lão huynh là người địa phương nhỉ?"
Người trung niên thấy thanh niên là người ngoại tỉnh, mắt lập tức sáng rực lên, đặc biệt là phấn chấn, trước mặt người ngoại tỉnh ông ta chính là chủ nhà, dường như có được thân phận người làm chủ. Đối với người ngoại tỉnh tỏ ra hơi kiêu ngạo. Trước tiên tự giới thiệu một phen: "Tôi tên Khổng Kính Văn, nhà ngay ở thành phố này, đặc biệt thích kết giao tri kỷ bốn phương. Hôm nay, chúng ta có thể quen nhau ở Bạc Châu, thực sự là có duyên. Người Đông Bắc hào sảng, trượng nghĩa, tôi rất thích kết giao những người bạn như vậy. Bây giờ, chúng ta coi như là bạn bè rồi, chỉ cần chú em không chê lão ca, trưa nay tôi mời cơm, coi như là đón gió tẩy trần cho bạn."
Khổng Kính Văn quả nhiên có khí chất trượng nghĩa của người Trung Nguyên, mấy năm nay, đi Nam về Bắc chạy làm ăn, đầu óc cũng linh hoạt hơn, ở khắp nơi cũng kết giao được không ít bạn bè. Ông ta làm ăn có một chữ tín: Ở nhà dựa vào cha mẹ, ra ngoài dựa vào bạn bè. Vì vậy, khi nghe lời tự giới thiệu của thanh niên Trình Lập, ông ta đã bán tín bán nghi, coi hắn là bạn bè rồi. Đặc biệt là Trình Lập từng có kinh nghiệm "phạm chuyện", Khổng Kính Văn càng coi hắn là tri kỷ giang hồ.
Chọn tivi màu suốt một tiếng đồng hồ, nhưng không ưng ý được mẫu nào, ngược lại lại quen được một người bạn Đông Bắc. Cuối cùng vừa đi vừa trò chuyện, rời khỏi tòa nhà bách hóa.
Trình Lập thực sự không muốn để vị đại ca mới quen này tốn kém, nhất quyết muốn tự mình mời khách, vì quen được người anh em như lão ca mà uống một ly. Hai người vừa đi vừa tranh cãi. Trình Lập càng kiên quyết muốn tự bỏ tiền mời khách, mặt Khổng Kính Văn càng không giữ nổi, giả vờ hờn dỗi, nhất quyết phải làm chủ nhà. Trình Lập không từ chối được, đành phải theo ý Khổng Kính Văn.
Ba người chọn một nhà hàng tên là "Tứ Quý Hương", tìm một phòng nhã. Phòng không lớn, nhưng rất sạch sẽ. Khổng Kính Văn ngồi đối diện cửa phòng, bên phải là Trình Lập, bên trái là người phụ nữ trung niên kia.
Mời khách tất nhiên không thể thiếu thuốc lá rượu chè. Người Đông Bắc và người Trung Nguyên đều có cùng tính cách, nghiện rượu như mạng, bữa này chắc chắn là uống loại rượu danh tiếng của địa phương - rượu Cổ Tỉnh Cống. Ba chén hai ly xuống bụng, Trình Lập và Khổng Kính Văn mới cảm thấy cơ thể hơi nóng lên. Câu chuyện cũng bắt đầu mở ra. Trình Lập thăm dò hỏi Khổng Kính Văn: "Hiện tại, lão ca làm mảng nào?"
"Hắc bạch lưỡng đạo, cái gì ra tiền thì làm, còn chú?"
Trình Lập đáp: "Mấy năm nay việc làm ăn không còn dễ như trước, chú em chủ yếu là đến phương Nam nhập một ít hàng, sau đó buôn đi bán lại về phương Bắc. Kiếm chút tiền lẻ."
"Chủ yếu là có những hàng gì?"
"Không giấu gì anh, bất kể đường nào, chỉ cần ra tiền, cái gì cũng buôn. Xe hơi, máy quay phim, quần áo đều từng buôn qua."
"Chú không sợ mất tay à."
"Sợ chứ, ai mà không sợ. Sa chân vào thì không khéo còn mất cả đầu. Bây giờ cũng không quản được nhiều thế. Chẳng phải có câu, người liều ăn nhiều, người nhát chết đói sao."
Trình Lập, đúng là một vai liều mạng. Khổng Kính Văn đối mặt với thanh niên này cảm thấy mình chỉ đang làm công việc kinh doanh nhỏ lẻ, không đáng nhắc đến, cố tình muốn chuyển chủ đề. Trình Lập đang lúc hào hứng, sao chịu dừng lại ở đây.
"Xin hỏi lão ca hiện tại đang làm làm ăn gì?"
"Đều là kinh doanh vốn nhỏ, ngại nói lắm, chê cười rồi."
"Đều là bạn bè cả rồi, còn coi tôi là người ngoài."
"Chú đừng hiểu lầm, không có ý đó." Khổng Kính Văn nói xong liếc nhìn người phụ nữ bên trái. Người phụ nữ không đáp lại ánh mắt cầu cứu của ông ta, cứ tự mình cúi đầu ăn món ăn. Bà ta không hứng thú với câu chuyện của hai người đàn ông.
"Lão ca làm ăn nếu có gì khó khăn, chú em nhất định giúp đỡ. Người Đông Bắc nói chuyện chưa bao giờ lừa người."
Trình Lập dùng nhân cách của người Đông Bắc để bảo đảm.
Khổng Kính Văn quét nhìn xung quanh, thấy trong phòng chỉ có ba người họ, lúc này mới căng thẳng lấy từ trong lòng ra một tờ nhân dân tệ mệnh giá 50 tệ đưa cho Trình Lập, thần bí nói: "Vụ này thế nào?"
Trình Lập làm ra vẻ không biết gì: "Lão ca đừng lấy tiền ra trêu tôi."
Khổng Kính Văn chỉ vào chỗ có hình mờ trên mặt tờ tiền: "Nhìn kỹ lại đi."
"À, tiền này sao lại không giống vậy?" Trình Lập kinh ngạc.
"Không giấu gì chú, tiền này là tiền giả." Khổng Kính Văn trở nên cảnh giác.
"Hóa ra lão ca nói chính là vụ làm ăn tiền giả. Thứ này bán ra thế nào?" Trình Lập tiếp tục hỏi dồn.
"Cái này dễ thôi, thứ này ở Quảng Đông thì có đầy, ở đó cứ theo tỷ giá 1 ăn 10 là có thể mua được tiền giả nhập từ nước ngoài về. Sau đó lại theo giá 1 ăn 5 hoặc 1 ăn 4 bán sỉ cho người khác, chắc chắn lãi sáu phần."
"Có người mua không?"
Khổng Kính Văn vội gật đầu: "Người mua nhiều lắm. Hàng vận chuyển từ nước ngoài về chất lượng tốt thật, người dân thường dùng mắt thường căn bản không phát hiện ra. Mang nó ra chợ đông người tiêu, rất nhanh là tẩu tán hết. Dạo trước, ông chủ chúng tôi nhập mười vạn tệ hàng từ Quảng Đông về, chúng tôi giúp ông ấy tiêu thụ hết sạch ở gần Bạc Châu. Lần đó, riêng ông chủ đã kiếm được hai ba vạn tệ. Chúng tôi chỉ là những kẻ chạy chân sai vặt. Lần đó, tôi cũng được chia 5000 tệ. Vụ làm ăn này thực sự dễ làm."
"Trên đời còn có việc làm ăn như vậy, đa tạ lão ca chỉ điểm. Xem ra, tôi cũng nên đổi đường rồi, thôi thì cứ theo lão ca làm vụ này cho xong." Nghe lời của Khổng Kính Văn, Trình Lập kinh ngạc một hồi lâu.
Người phụ nữ bên cạnh lúc này mới hiểu vụ làm ăn lớn mà Khổng Kính Văn nói hôm qua là cái gì. Cũng vểnh tai lên nghe một cách say sưa.
Lần này đến lượt Khổng Kính Văn đắc ý. Dưới sự kích thích của cồn, miệng Khổng Kính Văn không hề che đậy: "Nghe ông chủ bảo, gần đây ông ấy lại chuyển từ Quảng Đông về mười mấy vạn tệ hàng nữa, đang gọi chúng tôi tìm khắp nơi để tìm người mua. Nếu chú em muốn làm vụ này, tôi có thể thành toàn cho chú."
Trình Lập cũng thừa lúc đang có men rượu, tiện miệng bịa đặt: "Nghe lão ca nói, vụ này thực sự đáng làm. Vậy đi, nể tình bạn bè, nhờ anh chuyển lời tới ông chủ, bảo chỗ hàng trong tay ông ấy, tôi - Trình Lập bao trọn gói với tỷ giá 1 ăn 5."
Đầu óc Khổng Kính Văn quay nhanh chóng, ông ta không hề say. Nếu giao dịch 20 vạn tệ hàng với tỷ giá 1 ăn 5, Khổng Kính Văn có thể rút tiền hoa hồng 20 phần trăm, tức là, 8000 tệ trong số đó sẽ thuộc về ông ta. Đây thực sự là một con số không nhỏ, tương đương với thu nhập lương một năm của cán bộ cơ quan địa phương. Khổng Kính Văn lập tức thấy lòng nở hoa, tự thấy mình có mắt nhìn người, không uổng công kết giao người bạn này.
"Chú em muốn bao giờ giao dịch?" Khổng Kính Văn có chút nôn nóng. Tuyệt đối không thể để con vịt đã nấu chín bay mất.
"Tôi có thể gặp trước ông chủ của các anh không?"
"Cái này e là không được. Quy tắc giang hồ, chú em chắc cũng hiểu. Ý của chú, tôi sẽ lập tức chuyển lời tới ông chủ."
"Hiện tại trong tay còn một vụ làm ăn lớn phải làm. Tôi đi phương Nam một chuyến trước. Vài ngày nữa, khi quay về Đông Bắc, tiện đường sẽ mang hàng về luôn. Lão ca có thể nói giúp trước mặt ông chủ một tiếng, tạm thời đừng đưa hàng cho người khác."
"Cái này thì dễ, nhưng phải theo cách cũ, chú em nếu tin tưởng người bạn này là tôi, tốt nhất là đặt cọc trước một khoản tiền, coi như là tiền cọc đi. Tôi nói với ông chủ cũng dễ ăn nói." Khổng Kính Văn rõ ràng có vẻ hơi bất đắc dĩ.
"Đương nhiên là được." Nói đoạn, Trình Lập lấy từ túi áo ra chiếc ví da, đếm 50 tờ tiền 100 tệ nhét vào tay Khổng Kính Văn, lộ vẻ khó xử nói: "Đi vội quá, không mang nhiều tiền. 5000 tệ này coi như tiền cọc. Vài ngày sau, tôi mang tiền đến Bạc Châu tìm anh. Chúng ta tiền trao cháo múc. Anh thấy thế nào?"
"Được, được." Khổng Kính Văn một tay cầm sấp tiền vội vàng đồng ý.
Sau khi ăn uống no say, Trình Lập xin địa chỉ liên lạc của Khổng Kính Văn rồi chia tay.
Trưa năm ngày sau, vẫn là nhà hàng "Tứ Quý Hương", vẫn là căn phòng nhã đó, cũng là ba người đó, cùng vị trí ngồi lần đó, nhưng lần này lại là Trình Lập rút ví, coi như đáp lễ lần trước.
Trình Lập mở lời trước: "Việc làm ăn ở phương Nam vừa xong, tôi liền vội vàng đến đây, hàng trong tay ông chủ anh có bao nhiêu, tôi lấy bấy nhiêu."
"Nghe ông chủ nói, có lẽ là 18 vạn."
"Vậy thì 18 vạn đi. Tốt nhất là tối nay giao dịch luôn. Mang nhiều tiền thế này trong người, một mình tôi cứ thấy không yên tâm."
"Sảng khoái, tôi thích làm việc nhanh gọn dứt khoát. Vậy chốt tối nay giao dịch. Địa điểm ở ngay bên cạnh con đường cách thị trấn Ngũ Mã 1 km về phía đông. Đến lúc đó, tôi dẫn ông chủ đến đó tìm chú."
Ăn cơm xong, Khổng Kính Văn dẫn người phụ nữ đó rời nhà hàng trước.
Sáu giờ tối, đúng lúc hoàng hôn, trời bắt đầu lất phất mưa xuân, mưa bụi bao phủ cánh đồng. Trình Lập xách vali mật mã đón taxi đến đúng địa điểm hẹn.
Khổng Kính Văn dẫn theo hai người đàn ông trung niên đã đến địa điểm hẹn trước đó.
Gặp Trình Lập, Khổng Kính Văn vội vã chạy lại, cười nói: "Vì cân nhắc an toàn, ông chủ tạm thời thay đổi địa điểm giao hàng. Chú đi theo chúng tôi đi."
Trình Lập thật muốn chửi Khổng Kính Văn một trận, nhưng lời đến cửa miệng lại nuốt vào. Không gặp được ông chủ, vụ làm ăn này coi như bỏ.
Trình Lập và Khổng Kính Văn cùng những người khác lên một chiếc xe van đỗ bên đường, chiếc xe dằn xóc chạy vào khu nội thành Bạc Châu. Sau khi chiếc xe van chạy vòng quanh thành phố Bạc Châu hai vòng, đột nhiên dừng lại bên cạnh cầu sông Oa.
Sau khi xuống xe, Trình Lập theo Khổng Kính Văn đi bộ dọc bờ sông Oa khoảng 500 mét, dừng lại trước một túp lều tranh. Trình Lập nhìn quanh bốn phía, cách túp lều 200 mét về phía trước chính là khu phố xá sầm uất, phía sau là sông Oa, gần đó có một vũng nước hôi hám. Nơi này quả thực là một địa điểm ẩn nấp tốt nhất.
Chẳng bao lâu, từ trong túp lều tranh đi ra một nam một nữ. Khổng Kính Văn vội vàng đón tiếp rồi giới thiệu với Trình Lập: "Đây chính là ông chủ Lý Tiên Khải, đây là bà chủ Vương Tố Vân."
Lý Tiên Khải nắm lấy tay Trình Lập chìa ra nói: "Chuyện của chú, lão Khổng đã kể hết với tôi rồi, chúng ta cũng là bạn bè rồi. Làm ăn thì phải dựa vào bạn bè." Vừa nói vừa mời Trình Lập vào nhà.
Trình Lập hơi do dự, dù sao mình cũng chỉ có một mình, thế đơn lực mỏng, lỡ có sơ suất gì, không chỉ mất sạch tiền lớn, có khi còn khó giữ được tính mạng. Cậu ta vừa ứng phó ở ngoài nhà, bước chân lại có chút chần chừ không tiến. Đúng lúc này, từ nơi không xa bỗng vang lên tiếng pháo nổ "tạch tạch pạch pạch". Lý Tiên Khải vội phụ họa: "Hỷ sự tới cửa, có người đốt pháo, chúc chúng ta làm ăn thành công." Nghe tiếng pháo, Trình Lập sải bước bước vào trong nhà.
Trong nhà ngoài một cái bàn ăn cũ nát, không còn vật dụng gì khác, rõ ràng nơi này lâu rồi không có người ở. Lý Tiên Khải trước là khách sáo một hồi, rồi hỏi han vài câu, nhất quyết không nhắc đến chuyện giao hàng.
Trình Lập tay phải nắm chặt tay cầm vali mật mã, đứng ngồi không yên. Trước khung cảnh này, cậu ta không khỏi hơi căng thẳng. Ông chủ không đả động gì đến chuyện giao hàng, chẳng lẽ trong đó có trá?
Trình Lập đi thẳng vào vấn đề: "Hàng trong tay ông chủ Lý, chúng tôi rất có hứng thú, lần này tôi đã mang theo toàn bộ tiền mặt, hai bên chúng ta hay là quay lại chuyện chính đi."
Lý Tiên Khải không nhanh không chậm nói: "Đừng vội, chúng ta mới gặp lần đầu, còn rất nhiều điều cần bàn. Hàng đã chuẩn bị sẵn cho chú rồi." Lời nói vừa mềm vừa cứng, từng chút một hỏi han về nguồn gốc xuất thân của Trình Lập.
Trình Lập cũng không hoảng không vội, cẩn thận từng chút một trả lời.
Bà chủ Vương Tố Vân đứng bên cạnh trong lòng không chịu nổi, sốt ruột lên: "Đổi thì đổi đi, đêm dài lắm mộng. Đừng để miếng thịt béo đã đến miệng rồi lại bay mất."
Trước lời cướp lời của Vương Tố Vân, Lý Tiên Khải không còn hứng thú vòng vo nữa, đi thẳng vào trong phòng bê ra một chiếc thùng giấy lớn. Đặt trước mặt Trình Lập. "Đếm đi."
Trong thùng giấy lớn đựng mấy hộp giày da. Trình Lập mở một hộp phía trên ra, bên trong chứa đầy tiền giả mệnh giá 50 tệ và 100 tệ. "Làm ăn của ông chủ Lý, tôi tin tưởng." Trình Lập lấy từ vali mật mã ra mấy sấp tiền đưa cho Lý Tiên Khải: "Đây là 9 vạn tệ, ông đếm trước đi."
Lý Tiên Khải nhận lấy tiền mặt vội nói: "Không cần đếm nữa. Không sai được đâu." Nhét tiền vào vali của mình, đứng dậy đi ra ngoài.
Chân trái vừa bước qua ngưỡng cửa, toàn thân Lý Tiên Khải không khỏi cứng đờ, chiếc vali từ tay phải từ từ rơi xuống. Xung quanh túp lều tranh đứng đầy cảnh sát mang súng đạn thật.
Lúc này, Khổng Kính Văn đứng trong nhà mới chợt tỉnh ngộ, rút từ trong lòng ra một con dao nhọn, lao mạnh về phía Trình Lập. Trình Lập đã có đề phòng từ trước, nghiêng người né tránh, Khổng Kính Văn vồ ếch ngay tại chỗ. Trình Lập rút còng tay, nhanh nhẹn còng tay ra sau lưng cho Khổng Kính Văn.
Công an nhanh chóng dọn dẹp hiện trường, bắt giữ 5 phần tử buôn tiền giả, thu giữ 18 vạn tệ tiền giả. Đến đây, một trận tiêu diệt đẹp mắt đã khép lại một dấu chấm tròn trịa.
Chiến thắng trọn vẹn của trận chiến này, công lao của Trình Lập không thể không kể đến. Tên thật của Trình Lập là Tôn Kiến Quân, Đội trưởng Đội Cảnh sát trị an Cục Công an thành phố Bạc Châu.
Đầu tháng 4, tại các nơi như Song Câu, Ngũ Mã, Thập Bát Lý, Thập Cửu Lý... của thành phố Bạc Châu lần lượt phát hiện tiền giả. Sau khi tổng hợp số tiền giả thu giữ được, Cục Công an thành phố phát hiện chất lượng in ấn của những tờ tiền giả này khá cao, mắt thường khó mà nhận biết, số hiệu trên tờ tiền lặp lại khá nhiều. Kết luận đây là một lô nhân dân tệ giả bản cơ chế do tay các phần tử xã hội đen nước ngoài ngụy tạo. Những tờ tiền giả này đồng thời xuất hiện ở những nơi khác nhau của Bạc Châu, có thể khẳng định, đây là do một băng nhóm tội phạm gây ra. Vì vậy Cục Công an thành phố chuyên thành lập tổ trinh sát thực hiện phá án. Các cảnh sát thông qua một lượng công việc lớn, chẳng bao lâu đã nắm được một manh mối quan trọng: gần đây bọn tội phạm lại mua về một lượng lớn tiền giả từ chợ đen Quảng Đông, đang chuẩn bị tung ra thị trường. Để nhanh chóng phá vụ án này, làm sạch tiền giả, tổ trinh sát quyết định chọn cử cảnh sát trẻ Tôn Kiến Quân lấy bí danh Trình Lập thâm nhập vào tập đoàn buôn tiền giả. Vì vậy mới có cảnh tượng kinh tâm động phách phía trên.
Tôn Kiến Quân trước tiên chọn Khổng Kính Văn làm điểm nổ của vụ án, chính là đã nắm được bản tính tham lam của Khổng. Khổng đã là người trung niên hơn 50 tuổi, vẫn không an phận thủ thường, không chừa thói trăng hoa, tư thông lâu năm với một phụ nữ ly hôn trong trấn. Cái mà ông ta gọi là giỏi kết giao tri kỷ, thực ra chỉ là để mở rộng đường tài lộc. Chỉ cần ai ném cho ông ta một khúc xương, ông ta đều coi là tri kỷ. Ở tòa nhà bách hóa, Tôn Kiến Quân dùng chút mưu kế, Khổng Kính Văn liền mắc câu. Thông qua Khổng Kính Văn, Tôn Kiến Quân từng bước lần mò vào nội tình của tập đoàn buôn tiền giả.
Thủ phạm chính Lý Tiên Khải lão luyện giảo hoạt, giấu sâu không lộ. Mỗi lần, đều là hắn đích thân đến "chợ đen ngầm" ở vùng duyên hải Đông Nam mua tiền giả với tỷ lệ 1 ăn 10, mang về Bạc Châu, sau đó bán sỉ với tỷ lệ 1 ăn 5 hoặc 1 ăn 4 cho những kẻ buôn như Khổng Kính Văn để tung ra thị trường. Lý Tiên Khải trở thành một nhà bán sỉ thực thụ. Thông qua bán sỉ sang tay, mưu lợi bất chính. Việc làm ăn của Lý Tiên Khải tất nhiên không thể so sánh với Mã Ngọc Dân ở Bắc Kinh. Việc làm ăn mà Mã Ngọc Dân thao túng đều khá có quy mô, còn Lý Tiên Khải cùng lắm cũng chỉ là một "trạm bán sỉ cấp hai". Nhưng có một điểm tương đồng là, cả hai người đều quản lý một mạng lưới tiếp thị tiền giả với số nhân sự không đều, quy mô không giống nhau, giống như một con nhện độc, thông qua những sợi râu độc dài ngoằng vươn nọc độc vào lĩnh vực lưu thông tài chính, đều là một lũ ác ma tội ác tày trời. Trước đây với những vụ buôn sỉ số lượng nhỏ, Lý Tiên Khải quyết không bao giờ trực tiếp liên hệ với "khách hàng" xa lạ, đều là thông qua liên lạc trung gian của Khổng Kính Văn và những kẻ khác. Lần này, khi Tôn Kiến Quân đề nghị muốn thu mua 20 vạn tệ hàng với tỷ lệ 1 ăn 5, Lý Tiên Khải đắc ý quên hình, đích thân ra mặt, cuối cùng đã sa vào bẫy.
Sau khi Tôn Kiến Quân tiếp cận Khổng Kính Văn, đề nghị muốn đi phương Nam bàn làm ăn, chỉ là kế hoãn binh. Một mặt trấn an tập đoàn buôn tiền giả, tránh để tiền giả bị tẩu tán, mặt khác tổ chuyên án tận dụng cơ hội này điều tra triệt để Khổng Kính Văn và những người xung quanh ông ta, nhưng đều không tìm thấy bằng chứng đắc lực và ổ nhóm của tập đoàn buôn tiền giả. Vài ngày sau, Tôn Kiến Quân lại tiếp đầu với Khổng Kính Văn, dùng số tiền lớn thực hiện kế dẫn xà xuất động. Lý Tiên Khải giảo hoạt lại đột ngột thay đổi địa điểm và thời gian giao hàng đã hẹn trước, tổ chuyên án đành phải thay đổi kế hoạch ban đầu, thực hiện phương án thứ hai. Khi Tôn Kiến Quân do dự bên ngoài túp lều tranh, từ nơi không xa vang lên tiếng pháo nổ, đây là tín hiệu các chiến hữu của Tôn Kiến Quân phát ra cho anh thực hiện phương án thứ hai. Do tổ chức chặt chẽ, cuối cùng đã triệt để phá hủy "trạm bán sỉ" tiền giả đang chiếm cứ tại thành phố Bạc Châu này.
◎ "Nhân dân tệ" bị nhiễm virus
● Báo động: Dịch bệnh tiền giả lan rộng dữ dội
Trên thế giới không có gì có sức hấp dẫn hơn tiền bạc để thu hút con người vì nó mà liều lĩnh, thậm chí là làm liều trái pháp luật. Từ xưa đến nay, lời dạy cổ "người chết vì tiền, chim chết vì mồi" đã kích thích sâu sắc thần kinh của những kẻ bị dục vọng làm mờ mắt, động cơ ban đầu của việc làm giả có lẽ là sự thấu hiểu sâu sắc nhất của kẻ làm giả đối với di huấn "có tiền có thể sai khiến quỷ thần". Trên đất Trung Quốc, có cái thật ra đời, thì có cái giả mọc lên. Thật thật giả giả tương sinh tương khắc trở thành một kỳ quan của nền kinh tế giai đoạn sơ cấp. Lớn thì xe hơi giả, nhỏ thì tã lót giả, các loại hàng hóa giả muôn hình vạn trạng, có thể nhặt được ngay trong tầm tay.
Hàng giả đã xâm nhập vào đại dương kinh tế hàng hóa, muôn màu muôn vẻ. Người dân vô cùng căm ghét điều này. Khi mua hàng lúc nào cũng phải cẩn thận, đề phòng khắp nơi, để tránh bị hàng giả hãm hại. Nhưng càng như vậy, đôi khi vẫn không cẩn thận, bị hàng giả lừa một vố. Chỉ đành kêu khổ không thôi. Sự tham gia của tiền giả khiến thị trường hàng giả đã không gì là không có, không lúc nào không hiện diện. Cuộc sống của bách tính Trung Quốc vốn đã rất mệt mỏi, cộng thêm sự hãm hại của hàng giả, tiền giả càng khổ không nói nổi. Người ta không khỏi nghi ngờ thế giới này còn cái gì là không giả nữa? Lương tâm có thể giả, tình yêu có thể giả, xác thịt con người cũng có thể giả sao? Hỏi trời cao, hỏi đất rộng, ai sẽ cho bạn một câu trả lời chân thực đây?
Kẻ làm giả chỉ vì tiền, đạo lý này ai cũng biết. Làm tiền giả cũng là vì tiền. Từ việc chuyển đổi hàng giả thành tiền mặt, ở giữa vẫn cần nhiều cửa ải hiểm hóc. Việc chuyển đổi tiền giả thành tiền thật, quá trình này đơn giản hơn nhiều, rủi ro cũng nhỏ hơn nhiều, đây có lẽ là nguyên nhân chính khiến những kẻ làm tiền giả ngày càng nhiều. Từ việc phần tử bất hợp pháp trong và ngoài nước cấu kết buôn giả đầu những năm tám mươi đến cuối những năm tám mươi, phần tử bất hợp pháp trong nước tự lập lò, tự dựng môn hộ. Cũng chỉ trải qua vỏn vẹn ba bốn năm ngắn ngủi. Lại qua một hai năm nữa, hoạt động làm giả ở Trung Quốc đại lục đã nở rộ khắp nơi, thế công mãnh liệt bất thường, và thể hiện xu thế đợt sóng sau cao hơn đợt sóng trước.
Nhìn từ số lượng nhân dân tệ giả thu giữ được từ hệ thống ngân hàng và công an: Kể từ năm 1988, hoạt động tội phạm làm giả và buôn bán tiền giả trên cả nước ngày càng nghiêm trọng, số lượng tiền giả thu giữ được tăng lên qua từng năm. Theo thống kê không đầy đủ:
Năm 1988, hệ thống ngân hàng và cơ quan công an thu giữ hơn 80 vạn tệ tiền giả.
Năm 1989, hệ thống ngân hàng và cơ quan công an thu giữ hơn 300 vạn tệ tiền giả.
Năm 1990, hệ thống ngân hàng và cơ quan công an thu giữ hơn 3000 vạn tệ tiền giả.
Năm 1991, hệ thống ngân hàng và cơ quan công an thu giữ hơn 2000 vạn tệ tiền giả.
Năm 1992, hệ thống ngân hàng và cơ quan công an thu giữ hơn 3000 vạn tệ tiền giả.
Năm 1993, hệ thống ngân hàng và cơ quan công an thu giữ hơn 7000 vạn tệ tiền giả.
Năm 1994, hệ thống ngân hàng và cơ quan công an thu giữ gần 1 trăm triệu tệ tiền giả.
Số vụ án tiền giả trên cả nước cũng tăng lên theo từng năm, theo thống kê không đầy đủ của Cục Trinh sát hình sự Bộ Công an, năm 1989 phát sinh 990 vụ; năm 1990 phát sinh 2900 vụ, năm 1991 phát sinh 3000 vụ. Năm 1992 chỉ tính các vụ án lớn đã hơn một nghìn vụ. Năm 1993 phát sinh hơn 3700 vụ. Năm 1994 số vụ án phát sinh hơn 4000 vụ.
Những năm gần đây, các loại ngoại tệ chính như đô la Mỹ, yên Nhật, đô la Hồng Kông... cũng trở thành đối tượng xâm hại của tội phạm làm giả, hơn nữa số lượng làm giả cũng tăng dần theo từng năm. Theo tài liệu do trụ sở Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc cung cấp, năm 1991, tổng cộng thu giữ hơn 8900 tờ đô la Mỹ giả, quy đổi thành nhân dân tệ là 250 vạn tệ. Cùng năm đó, cơ quan công an kiểm tra thu giữ hơn 17 vạn tệ đô la Mỹ giả, hơn 4 vạn tệ đô la Hồng Kông giả.
Nhìn từ những con số thống kê do cơ quan công an các tỉnh cung cấp, số vụ án tiền giả ở các địa phương cục bộ có xu hướng tăng rõ rệt hơn:
— Tỉnh Thiểm Tây năm 1988 toàn tỉnh phát sinh 58 vụ, số tiền liên quan là 400 tệ; năm 1989 phát sinh 114 vụ, số tiền 55.176 tệ, tỷ lệ phát sinh tăng 96,5% so với năm trước, năm 1990 phát sinh 148 vụ, số tiền 2.040.304 tệ, số vụ phát sinh tăng 29,8%; năm 1991 phát sinh tới 501 vụ, tăng 56,6% so với tổng cộng ba năm trước. Hiện đã lan tới hơn 90 huyện thị khu thuộc 10 địa thị toàn tỉnh. Trong đó các thành phố lớn và vừa như Tây An, Hàm Dương, Bảo Kê đặc biệt nổi bật, điều đáng chú ý là các vùng núi như Nam Thiểm, Bắc Thiểm cũng xảy ra án tiền giả.
— Từ năm 1988 đến nay, tỉnh Liêu Ninh lập án 258 vụ án tiền giả. Số vụ phát sinh năm 1989 gấp 5,4 lần năm 1988; số vụ phát sinh năm 1990 gấp 3,6 lần năm 1989; số vụ phát sinh năm 1991 tăng 3% so với năm 1990. Tội phạm làm giả và buôn bán tiền giả đã lan khắp toàn tỉnh Liêu Ninh.
— Năm 1988 tỉnh Hà Nam phát sinh 8 vụ án tiền giả, năm 1989 là 29 vụ; năm 1990 là 60 vụ, năm 1991 tăng vọt lên 233 vụ, gấp 4 lần năm trước, mà quý đầu tiên năm nay đã đạt 96 vụ. Tội phạm làm giả và buôn bán tiền giả đã lan khắp thành thị và nông thôn toàn tỉnh Hà Nam...
Tóm lại, các vụ án tiền giả ở nước ta đang tăng vọt, thế trận tội phạm mãnh liệt bất thường. Hơn nữa điều đáng chú ý là các vụ án lớn, trọng điểm chiếm tỷ trọng rất lớn. Kể từ năm 1988, sau khi vụ án tiền giả "8.24" ở Thâm Quyến thu giữ 5 vạn tệ tiền giả, năm 1989, vụ án "2.10" ở Bắc Kinh, Đại Liên thu giữ 24,5 vạn tệ tiền giả mệnh giá 100 tệ. Năm 1990, huyện Bình Đàm, tỉnh Phúc Kiến thu giữ 601 vạn tệ tiền giả, thành phố Hạ Môn thu giữ 318 vạn tệ tiền giả. Năm 1990, chỉ riêng số nhân dân tệ giả thu giữ được từ hai vụ án lớn ở tỉnh Phúc Kiến đã chiếm 71% tổng số tiền giả thu giữ được trong năm đó, cùng năm đó, số tiền giả thu giữ được từ các vụ án lớn trên 1 vạn tệ do Bắc Kinh, Hắc Long Giang, Phúc Kiến, Hà Nam, Quảng Tây, Tứ Xuyên... phá được chiếm hơn 95% tổng lượng tiền giả thu giữ được trên cả nước. Năm 1991, các vụ án lớn trên 1 vạn tệ trên cả nước tiếp tục tăng, 4 vụ án xảy ra tại Khu tự trị dân tộc Duy Ngô Nhĩ Tân Cương đều trên 1 vạn tệ. Từ năm 1992 đến nay, các vụ án đặc biệt nghiêm trọng liên tiếp xảy ra. Cơ quan công an huyện Khai Phong, tỉnh Hà Nam đã phá hai băng nhóm tội phạm chế tạo và buôn bán tổng cộng 380 vạn tệ nhân dân tệ giả.
Theo báo "Công an Nhân dân" đăng tải: Rạng sáng ngày 3 tháng 6 năm 1993, trạm công tác biên phòng cảng Sán Vĩ thuộc Tổng đội biên phòng công an tỉnh Quảng Đông đã phát hiện một vụ án đặc biệt nghiêm trọng cấu kết trong ngoài, lợi dụng tàu cá Đài Loan vận chuyển nhân dân tệ giả, thu giữ hơn 1.800 vạn tệ nhân dân tệ giả, bắt giữ 6 phần tử tội phạm quốc tịch Đài Loan, 3 ngư dân Sán Vĩ, Quảng Đông. Đây là vụ án nhân dân tệ giả lớn tiếp theo mà cơ quan biên phòng công an phá được sau vụ án thu giữ 600 vạn tệ nhân dân tệ giả tại cảng Văn Giáp, Phủ Điền do lực lượng biên phòng công an tỉnh Phúc Kiến phá được vào ngày 9 tháng 3 cùng năm.
Sau khi thẩm tra sơ bộ, tàu cá "Hâm Hoành Thăng Lục Hào" vận chuyển tiền giả thuộc sở hữu của người Bành Hồ, Đài Loan, thuyền trưởng Trần Kỳ Bằng và 6 người khác đều là người Bành Hồ, Đài Loan. Theo lời khai của Trần Kỳ Bằng, họ được một ông chủ tên là "A Lợi" thuê, tối ngày 1 tháng 6 xuất phát từ cảng Cao Hùng, Đài Loan vận chuyển tiền giả, khoảng 1 giờ sáng ngày 3 tới cảng Sán Vĩ. Năm thuyền viên trên tàu lên bờ đến "Tiệm cá Nguyên Hưng", liên lạc với những ngư dân Sán Vĩ chuyên làm nghề kinh doanh cá sống là Lữ Dật Sinh, Tô Thành Minh, Từ Hán Trung..., đang lúc chuẩn bị giao nhận tiền giả thì bị các chiến sĩ biên phòng phát hiện.
Hàng năm số tiền giả mà hệ thống ngân hàng và cơ quan công an thu giữ được chỉ có thể nói là một phần trong tay các phần tử chế tạo và buôn bán tiền giả, mỗi ngày, đều sẽ có một lượng lớn tiền giả đổ vào thị trường lưu thông, rơi vào túi tiền của người dân. Sự tồn tại của tiền giả, tất yếu sẽ giống như bệnh độc lây nhiễm tiền thật, làm rối loạn trật tự tài chính bình thường.
Có người kinh hô: Những năm chín mươi, tiền giả sẽ gây ra một dịch bệnh tiền bạc. Điều này không phải là lời đồn thổi gây hoang mang.
Sự thật chứng minh: Dịch bệnh này đang lan rộng.